Đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường nguy hiểm hơn so với trường hợp một chủ thể thực hiện bởi khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH XUÂN TÙNG
ĐồNG PHạM TRONG TộI LừA ĐảO CHIếM ĐOạT TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH XUÂN TÙNG
ĐồNG PHạM TRONG TộI LừA ĐảO CHIếM ĐOạT TàI SảN
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trịnh Xuân Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 Nhận thức về đồng phạm và khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9
1.1.1 Nhận thức về đồng phạm 9
1.1.2 Khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 14
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 21
1.2.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm 21
1.2.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm 23
1.2.3 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm 26
1.2.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm 27
1.3 Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 29
Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ ĐỒNG PHẠM TẠI THANH HÓA 35
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế, chính trị, an ninh ảnh hưởng tới diễn biến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 35
Trang 52.2 Tình hình giải quyết và những kết quả đạt được trong công tác
xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm tại tỉnh Thanh Hóa 39 2.3 Một số tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết các vụ án lừa
đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm tại tỉnh Thanh Hóa và những nguyên nhân cơ bản 47
2.3.1 Một số tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết các vụ án lừa đảo
chiếm đoạt tài sản có đồng phạm tại tỉnh Thanh Hóa 48 2.3.2 Những nguyên nhân cơ bản 55
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 60 3.1 Sự cần thiết, căn cứ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật,
hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 60
3.1.1 Sự cần thiết và căn cứ để tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ
luật hình sự năm 2015 về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 61 3.1.2 Hoàn thiện các quy định về phần chung của Bộ luật hình sự liên
quan đến đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 70 3.1.3 Hoàn thiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong phần các tội
phạm của Bộ luật hình sự năm 1999 74
3.2 Một số giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 78
3.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp
trong giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm 78
Trang 63.2.2 Tăng cường công tác giám đốc kiểm tra, tổng kết xét xử, xây
dựng án lệ về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 82
3.3 Một số giải pháp khác 84
3.3.1 Tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm lập pháp
hình sự về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 84 3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung, các quy định về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng 85
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sựXHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Thống kê các vụ án xét xử sơ thẩm đối với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản giai đoạn 2011-2016 trên địa bàn
Bảng 2.2 Thống kê các vụ án xét xử sơ thẩm đối với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản có đồng phạm giai đoạn 2011
Bảng 2.3 Bảng những loại người đồng phạm trong tội lừa đảo
Bảng 2.4 Bảng thống kê chế tài hình sự áp dụng đối với các bị
cáo đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 43
Bảng 2.5 Bảng thống kê kết quả xét xử phúc thẩm đối với các
bị cáo trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm diễn biến khá phức tạp ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng Tính phức tạp của loại tội phạm này thể hiện ở sự đa dạng ở phương thức, thủ đoạn, đặc biệt là sự câu kết của các đối tượng phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện bởi nhiều người thể hiện tính chất và mức độ phạm tội nguy hiểm hơn so với một người thực hiện Khi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự tham gia thực hiện bởi nhiều người và những hành vi này có mối liên hệ tương hỗ, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đồng phạm nói chung và đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện) Đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường nguy hiểm hơn so với trường hợp một chủ thể thực hiện bởi khi một nhóm người cùng cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội này sẽ tăng lên đáng kể
và hiệu quả đạt được mục đích phạm tội sẽ cao hơn, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức” Do đó việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có một số điểm khác với những trường hợp phạm này do một cá nhân thực hiện
Trong khoa học Luật hình sự, căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan và khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể chia ra nhiều hình thức: đồng phạm có
Trang 10thông mưu trước trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng phạm không có thông mưu trước trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đồng phạm giản đơn trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đồng phạm phức tạp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đó là lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức Trong các hình thức đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chỉ lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức là tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung hình phạt Chỉ trên cơ sở nắm vững về các vấn đề lý luận như hình thức đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc điểm đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cũng như hiểu rõ các quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn về đồng phạm và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì mới vận dụng tốt khi giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
Tuy nhiên qua đánh giá thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho thấy nhận thức về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay vẫn còn một số tồn tại vướng mắc giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Những khó khăn này đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm Do quy định của pháp luật về chế định đồng phạm chưa được hoàn thiện, nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn hạn chế nên việc phân định giữa các hình thức đồng phạm, xác định vai trò, tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm trong một số vụ án còn chưa thống nhất, chính xác, ảnh hưởng đến công tác xét xử của một số Tòa án tại tỉnh Thanh Hóa Những tồn tại, hạn chế này còn do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, song việc xác định, đánh giá đồng phạm trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản thiếu chính xác sẽ dẫn đến việc định tội danh, phân hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với các người đồng phạm nhiều khi bị đánh đồng, chưa lượng hóa được
Trang 11hình phạt phù hợp với vai trò và các tình tiết của vụ án đối với họ, ảnh hưởng đến trật tự pháp luật, quyền và nghĩa vụ của những người phạm tội, cũng như công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Những phân tích trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Đồng phạm
trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam” (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa) là quan trọng và cấp thiết trong việc trước
yêu cầu hoàn thiện và hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam nhằm bảo đảm xét xử các vụ án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và các vụ án có đồng phạm về tội này nói riêng được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu
Đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những vấn đề có nội dung phong phú và phức tạp được các luật gia và các nhà nghiên cứu luật quan tâm chú ý và đề cập đến trong những công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ luật hình sự, tội phạm học hoặc xã hội học pháp luật Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề đồng phạm nói chung
và đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng dưới các góc độ khác nhau ở mức chuyên sâu hoặc khái quát hóa đã được công bố trên các sách, tạp chí, luận văn luận án, nhưng tựu chung lại thì các nghiên cứu chủ yếu theo ba xu hướng đó là: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự
và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đồng phạm trong tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội
danh: lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;
Trang 12Một số vấn đề đồng phạm trong các tội xâm phạm sở hữu; Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu; Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật các số 11, 6, 2, 8 năm 1997 của PGS TS
Nguyễn Ngọc Chí; Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội
phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; TS.Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật Hình sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội; Lê Thúy Phượng
(1999), “Vấn đề định lượng tài sản bị chiếm đoạt trong bộ luật hình sự năm
1999”, Tạp chí TAND; Lê Thị Sơn (2004), “Về dấu hiệu định lượng trong BLHS”, Tạp chí luật học; Bùi Đăng Hiếu (2005), “Tiền một loại tài sản trong quan hệ pháp luật hình sự”, Tạp chí Luật học; TS.Nguyễn Khắc Hải (2007)
“Đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang
Nga”, Tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội, Số 23/2007; TS.Nguyễn Khắc Hải (2013), “Nhận diện tội phạm có tổ chức”, Kỷ yếu hội thảo khoa học về sửa đổi
Bộ luật hình sự năm 1999, Khoa Luật ĐHQGHN
Ngoài ra, còn phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành Tư pháp hình sự nghiên cứu có liên quan đến đồng phạm
trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: Nguyễn Ngọc Chí (2000), "Trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu", Luận án tiến sĩ luật học, Viện
Nhà nước và pháp luật, Hà Nội; Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Lê Thị
Khanh (2002), Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh
sát nhân dân, Hà Nội; Phí Thành Trung (2010), Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia
Hà Nội, Hà Nội; Trần Thị Phương (2011), Định tội danh đối với nhóm tội xâm
phạm sở hữu tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đề cập trên một số góc
Trang 13độ về trường hợp đồng phạm hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng chưa công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cả về phương diện lý luận và thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích một cách khoa học và có căn cứ một số vấn đề chung có liên quan đến đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để qua đó có được cái nhìn thống nhất, tương đối đầy đủ và đóng góp về mặt khoa học để góp phần giải quyết những vướng mắc đang được đặt ra khi xác định giải quyết các vụ
án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Cụ thể là:
- Khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Một số sai lầm, thiếu sót trong thực tiễn xét xử và nguyên nhân của nó đối với việc giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm tại tỉnh Thanh Hóa
Trang 14Về giới hạn không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về đồng phạm trong việc xét
xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Về giới hạn thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 05 năm từ 2012 - 2016
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài nêu trên là thành tựu từ các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, tội phạm học, lĩnh vực triết học, thành tựu từ các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, sách chuyên khảo cũng như các bài đăng trên tạp chí và các báo của các nhà khoa học – luật gia trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước trong việc giải thích thống nhất các trường hợp cụ thể trong thực tiễn xét xử có liên quan đến trường hợp trên trong các văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự do các cơ quan bảo vệ pháp luật ban hành ở các mức độ khác nhau
Phương pháp luận được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu là: phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật chủ nghĩa Mác – Lênin Để từ đó xây dựng, đề cập đến những vấn đề tương ứng trong các quan điểm về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, củng cố pháp chế và bảo vệ các quyền con người
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn đồng thời sử dụng các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từ vấn đề được đặt ra Các phương pháp tiếp cận được sử dụng đó là: phương pháp phân tích – chứng minh, logic, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử, liệt kê, Đặc biệt trong đó tác giả nhấn mạnh chú ý tới các phương pháp tổng hợp – hệ
Trang 15thống, đối chiếu so sánh, lịch sử phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn, phương pháp xã hội học, để qua đó đưa ra được những kết luận khoa học mang tính thuyết phục cao, đề xuất các phương án cụ thể sao cho phù hợp nhằm hoàn thiện và hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến vấn đề đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp xác định được
khái niệm, các đặc điểm của đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành; Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối trong vụ án có đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Việc xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp, đầy đủ, có hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu một cách khá toàn diện và có hệ thống về
việc áp dụng các quy định pháp luật về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, phân tích những vấn đề chung về giải quyết vấn đề đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh, từ đó tìm ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết vấn đề đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nêu lên những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về vấn đề này, đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến giải để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật hình sự Việt Nam và trong thực tiễn áp dụng những quy định này trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên,
Trang 16có tính hệ thống và tương đối toàn diện về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đồng phạm trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các cơ quan
tiến hành tố tụng xác định và áp dụng đúng đắn, thống nhất các vấn đề về định tội danh và quyết định hình phạt trong quá trình giải quyết vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng
phạm tại tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp bảo
đảm áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về đồng phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Nhận thức về đồng phạm và khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Nhận thức về đồng phạm
Đồng phạm là một khái niệm thể hiện việc nhiều người tham gia vào việc thực hiện tội phạm, phản ánh quy mô tội phạm Nhưng không phải cứ có nhiều người tham gia là đồng phạm, mà nhiều người tham gia đó phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nếu có nhiều người phạm tội nhưng không có
sự cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm Cùng cố ý
là có sự tiếp nhận về mặt ý chí giữa những người phạm tội Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm đồng phạm
như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự
tham gia của 2 người trở lên” [6, tr.458] Theo đó để được coi là phạm tội
trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi phải thỏa mãn các dấu hiệu khách quan
và các dấu hiệu chủ quan, tức là phải thỏa mãn “ba dấu hiệu khách quan và
hai dấu hiệu chủ quan có tính đặc trưng và bắt buộc” [64, tr.137]
Các dấu hiệu khách quan là sự tham gia của hai người trở lên vào việc
thực hiện tội phạm và có sự cùng chung hành động (hay liên hiệp hành động)
Sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện một tội phạm là dấu hiệu
bắt buộc thuộc về mặt khách quan của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu về số lượng người tham gia thực hiện một tội phạm thì sẽ không có cấu thành đồng phạm Tội phạm do một người thực hiện chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ, Cấu thành tội phạm độc lập, hậu quả phạm tội là do hành động và ý chí của một người gây ra Chỉ khi có từ hai hoặc nhiều người trở lên tham gia thực
Trang 18hiện tội phạm thì mới có sự bàn bạc và cùng nhau hành động Cùng chung
hành động (hay liên hiệp hành động) của những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm là dấu hiệu khách quan bắt buộc trong đồng phạm Thực tiễn
cho thấy không phải bất cứ trường hợp nào cứ có hai hoặc nhiều người có hành động phạm tội cố ý cùng một lúc, tại cùng một địa điểm thì có đồng phạm Đồng phạm đòi hỏi những người này phải cùng chung thực hiện một tội phạm
cố ý, có nghĩa là những hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của họ được thực hiện trong mối liên kết thống nhất, qua lại với nhau Dấu hiệu chủ quan là sự
cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm Sự cùng cố ý của
những người tham gia thực hiện tội phạm: Dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt chủ
quan của đồng phạm là phải có sự cùng cố ý của tất cả những người đồng phạm để tham gia vào việc thực hiện tội phạm cố ý Đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu này sẽ không có đồng phạm Sự cùng cố ý được thể hiện cả về lý trí và ý chí Về lý trí thì những người tham gia trong đồng phạm phải hiểu rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, cũng như hậu quả của nó [7, tr 252-255] Hoạt động phạm tội của những người phạm tội phải được tất cả biết rõ và họ muốn những người khác cùng mình hành động Về ý chí, trên cơ sở tiếp tục cho những cơ sở của lý trí, những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm thể hiện mong muốn có hoạt động phạm tội cùng nhau hoặc nếu hậu quả có xảy ra thì có ý thức bỏ mặc Nói cách khác, giữa những người đồng phạm đã cùng chung hành động hay liên hiệp hành động trong việc cùng thực hiện một tội phạm Hành vi của mỗi người là một khâu cần thiết cho hoạt động phạm tội chung,
"nhằm thực hiện một tội phạm nhất định và để đạt được một kết quả phạm tội thống nhất" [41, tr 196] Hay nói một cách khác, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm với hậu quả nguy hiểm cho
xã hội Mối quan hệ nhân quả có thể mang tính chất trực tiếp như cung cấp
Trang 19cho người thục hành công cụ, phương tiện phạm tội,… hoặc biểu hiện gián tiếp thông qua nhận thức của người thực hiện như: xúi giục người thực hành, giúp đỡ họ thực hiện tội phạm [67, tr.45] Có thể khẳng định: nếu không có mối quan hệ nhân quả nêu trên thì không xuất hiện đồng phạm (dấu hiệu khách quan về mối quan hệ nhân quả) Những dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm bao gồm: có sự cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm và động cơ - mục đích trong đồng phạm Đồng phạm phải do cùng thực hiện tội
phạm với lỗi cố ý thể hiện trên hai phương diện: lý trí và ý chí “Sự cùng cố ý
phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm được thống nhất với nhau và hành động phạm tội của mỗi người đều thống nhất trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý phạm tội” [63, tr.149] Có thể có nhiều người đồng
phạm khác nhau như người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục, người thực hành với những hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm tương ứng như hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức cho việc thực hiện tội phạm Tuy nhiên là luôn phải có hành vi của người thực hành, hành vi của những người đồng phạm khác chỉ thông qua hành vi của người thực hành để góp phần vào
kết quả chung của tội phạm "Hành vi của những người đồng phạm khác chỉ
tạo ra khả năng phát sinh hậu quả, muốn chuyển khả năng ấy thành hiện thực phải có hành vi của người thực hành" [62, tr.148]
Đồng phạm có thể phân loại thành đồng phạm thường, đồng phạm phức tạp và đồng phạm đặc biệt Trên phương diện lập pháp và thực tiễn thì đồng phạm có tổ chức còn chưa được làm rõ và gặp nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau Phạm tội có tổ chức với tính chất là đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận trong pháp luật hình sự hiện hành Tuy nhiên phạm tội có tổ chức vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau do sự ghi nhận còn chung chung, chưa làm rõ được sự “câu kết chặt chẽ” Có quan điểm cho rằng phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội đặc
Trang 20biệt có sự câu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các thành viên cùng một tổ chức tội phạm [6, tr.460-461] Sự câu kết chặt chẽ của những người đồng phạm chính là đặc điểm chủ yếu nhất nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn cả của hình thức đồng phạm này và nó thường có các dấu hiệu đặc trưng riêng về mặt khách quan và chủ quan Quan điểm khác lại cho rằng hình thức phạm tội có tổ chức được thực hiện bởi những người đồng phạm đã tham gia vào một tổ chức tội phạm được hình thành (hoặc không tham gia vào một tổ chức nào) với “phương thức hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững” [7, tr.267] Cũng có quan điểm nhận diện phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt – đó chính là đồng phạm có tổ chức Tính “có tổ chức” được thể hiện có sự bàn bạc, phân công vai trò người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện hành
vi phạm tội, có kỷ luật, có quy ước hoạt động trước khi thực hiện tội phạm
có vạch kết hoạch, có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng, có đề ra các tình huống xấu khi xảy ra … để cùng thống nhất hành động [69, tr.61] Theo tính chất tồn tại, phạm tội có tổ chức gồm: phạm tội có tổ chức một lần và phạm tội có tổ
chức kéo dài “Phạm tội có tổ chức một lần (hoặc một số lần) là hình thức
phạm tội có tổ chức có sự câu kết chặt chẽ giữa những người phạm tội trong thời gian tương đối ngắn để cùng nhau thực hiện một tội phạm hoặc một số tội phạm” [39, tr.12] Ở trường hợp này, những người đồng phạm mới chỉ
thực hiện tội phạm được một lần hoặc một số lần thì bị phát hiện, bị bắt và bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có thể thời gian câu kết để chuẩn bị phạm tội đã diễn ra trong thời gian tương đối dài Để tiếp cận khái niệm phạm tội có
tổ chức với tính chất là một hình thức phạm tội có tính nguy hiểm cao, trước hết cần làm rõ đến khái niệm tội phạm có tổ chức bởi tội phạm có tổ chức chính là hiện tượng tiêu cực mà trong đó những hoạt động phạm tội có tổ chức (hay còn gọi là đồng phạm có tổ chức) được thực hiện bởi một nhóm
Trang 21người có cơ cấu nhất định (câu kết với nhau) nhằm mục đích lợi nhuận hay các mục đích khác Ngoài những dấu hiệu mang tính chất của đồng phạm đã nêu trên, phạm tội có tổ chức còn mang các nét đặc biệt so với đồng phạm nói chung Phạm tội có tổ chức không thể là trường hợp đồng phạm đơn giản, vì nếu không có sự phân công vai trò thì không thể hiện được “tính có tổ chức” của loại đồng phạm đặc biệt này Cũng không thể đánh đồng phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước Phạm tội có tổ chức và đồng phạm
có thông mưu trước là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất Nội hàm của khái niệm phạm tội có tổ chức chứa đựng những dấu hiệu của đồng phạm có thông mưu và một số yếu tố khác Nếu xét về tính chất cấu kết cũng như mức
độ nguy hiểm cho xã hội thì phạm tội có tổ chức có sự cấu kết chặt chẽ hơn
và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn Điều này cho thấy: phạm tội có
tổ chức luôn là hình thức đồng phạm có thông mưu trước ở mức độ cao Đồng phạm có tổ chức có những đặc điểm cơ bản sau đây [42, tr.180-181]:
- Nhóm tội phạm trước hết phải có thông mưu trước, nhưng ngoài sự bàn bạc, thỏa thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm, những người đồng phạm thường chuẩn bị thực hiện và che giấu tội phạm một cách kỹ lưỡng với phương pháp, thủ đoạn thường tinh vi, xảo quyệt
- Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững, thường có sự phân công vai trò thực hiện tội phạm khác nhau giữa những người đồng phạm nhằm thực hiện nhiều tội, phạm tội nhiều lần
- Nhóm tội phạm ngoài ý đồ phạm tội thống nhất, phải có sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên trong nhóm chịu
sự điều hành chung thống nhất, đều thừa nhận và sử dụng nhóm phạm tội như
là một công cụ trong hoạt động phạm tội của mình
Trang 221.1.2 Khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lừa là thủ đoạn mưu mẹo hoặc thủ đoạn gian dối làm cho người khác
bị lầm mà tưởng thật Trong đó, lừa đảo là lừa bằng thủ đoạn xảo trá để chiếm đoạt của cải, tài sản [59] Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc làm cho người khác hiểu sai sự thật mà tin tưởng ủng hộ mình Để thực hiện thành công công việc chiếm đoạt tài sản của người khác thì người có hành vi lừa đảo thường sử dụng những lời nói gian dối như: thuyết trình, quảng cáo hay, tốt… nhưng tất cả những việc làm đó không đúng với bản chất của vật hoặc
sự việc; người lừa đảo còn sử dụng các thủ đoạn và các hành vi gian dối khác như: giả danh người có uy tín, có trách nhiệm, quyền hạn, có địa vị cao trong
xã hội hoặc làm giả các loại công văn, giấy tờ, chữ ký của những người có thẩm quyền để làm cho người có tài sản tin tưởng vào họ và giao tài sản [20]
Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân [7, tr 217] Chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác (hoặc của một nhóm người) thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm Hành vi chiếm đoạt có những đặc điểm sau:
- Chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu, đồng thời tạo khả năng cho người phạm tội có thể thực hiện được việc chiếm giữ, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó Hành vi chiếm đoạt là một quá trình được bắt đầu từ khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt và kết thúc khi đã tạo ra cho mình khả năng thực hiện các quyền của quyền sở hữu và cũng có nghĩa là chủ sở hữu mất đi khả năng thực hiện các quyền đó Quá trình này dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất tài sản
và thủ đoạn chiếm đoạt
Trang 23- Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu Thiếu đặc điểm này thì tài sản không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, như trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị thất lạc Vì vậy, chỉ khi tài sản còn đang do chủ sở hữu quản lý mới là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, mới làm mất khả năng chiếm giữ, sử dụng định đoạt tài sản của chủ sở hữu
- Chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của tội này là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết tài sản thuộc sở hữu của người khác và đang trong sự quản lý của họ, nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt và mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm Hành vi chiếm đoạt tài sản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn những đặc điểm của hành vi chiếm đoạt, nếu thiếu một trong các đặc điểm đó thì không được gọi là hành vi chiếm đoạt và
do đó không cấu thành tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Việc xác định không đúng hành vi chiếm đoạt có thể dẫn đến xác định sai lầm giữa phạm tội với vi phạm, giữa tội phạm này với tội phạm khác
Như vậy, dấu hiệu chiếm đoạt là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hình thức mục đích chiếm đoạt hoặc hành vi chiếm đoạt Hành vi chiếm đoạt
là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Tuy nhiên, xét về mặt khách quan hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó.Xét về mặt thực tế, chiếm đoạt là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó; xét về mặt pháp lý, quá trình này không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền
cụ thể của quyền sở hữu
Trang 24Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình Điểm cơ bản để phân biệt tội này với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản khác được quy định trong Bộ luật Hình sự bởi đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể là: trước khi thực hiện hành vi bằng hình thức lừa đảo, người phạm tội có ý thức chiếm đoạt tài sản từ trước Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải là những tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của người chủ tài sản
Người phạm tội chủ đích sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người bị hại trao nhầm tài sản.Vấn đề này được hiểu là người phạm tội sử dụng mọi phương pháp đạt được mục đích chiếm đoạt tài tản bằng cách đưa
ra những thông tin không đúng sự thật như dùng lời nói dối trá, giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên Với những thủ đoạn này người phạm tội làm cho người chủ tài sản nhầm tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay mà “tự nguyện” trao tài sản để họ chiếm đoạt tài sản đó Hành vi gian dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi chiếm đoạt Tức là, phải bằng hành vi gian dối thì người chủ tài sản mới tin và giao tài sản cho người phạm tội Như vậy, để thực hiện được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó mới dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu tài sản tin tưởng trao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là căn cứ để người bị hại “tự nguyện” trao tài sản.Như vậy, đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản (thủ đoạn gian dối xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt) Sở dĩ có được long tin ở người quản lý tài sản
Trang 25là do người phạm tội đã đưa ra các thong tin sai sự thật để tạo lòng tin ở người quản lý tài sản Hành vi gian dối có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi chiếm đoạt và là điều kiện để hành vi chiếm đoạt thực hiện được Mặt khác hành vi chiếm đoạt cũng là mục đích và kết quả của việc thực hiện hành vi gian dối [22, tr 292]
Như vậy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội
xâm phạm sở hữu của người khác, có tính chất chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, thông qua các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật
Tội phạm nói chung cũng như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng không chỉ thực hiện bởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người
mà giữa họ đã có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc biệt này trong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm
“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một
tội phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm đó
Với các phân tích trên cho thấy đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản là việc hai hay nhiều người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt trái pháp luật
Các dấu hiệu khách quan là sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và có sự cùng chung hành động (hay
Trang 26liên hiệp hành động) Sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật là dấu hiệu bắt buộc thuộc về mặt khách quan của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu về số lượng người tham gia thực hiện một tội phạm thì sẽ không có cấu thành đồng phạm Tội phạm do một người thực hiện chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ, cấu thành tội phạm độc lập, hậu quả phạm tội là
do hành động và ý chí của một người gây ra Chỉ khi có từ hai hoặc nhiều người trở lên tham gia thực hiện tội phạm thì mới có sự bàn bạc và cùng nhau
hành động Cùng chung hành động (hay liên hiệp hành động) của những
người tham gia vào việc thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu khách quan bắt buộc trong đồng phạm đối với tội phạm này Thực tiễn cho
thấy không phải bất cứ trường hợp nào cứ có hai hoặc nhiều người có hành động phạm tội cố ý cùng một lúc, tại cùng một địa điểm thì có đồng phạm Đồng phạm đòi hỏi những người này phải cùng chung thực hiện một tội phạm
cố ý, có nghĩa là những hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của họ được thực hiện trong mối liên kết thống nhất, qua lại với nhau Dấu hiệu chủ quan là sự
cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
của người khác thông qua các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài
sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật là dấu hiệu đặc trưng
thuộc mặt chủ quan của đồng phạm là phải có sự cùng cố ý của tất cả những người đồng phạm để tham gia vào việc thực hiện tội phạm này Đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu này sẽ không có đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Sự cùng cố ý được thể hiện
Trang 27cả về lý trí và ý chí Về lý trí thì những người tham gia trong đồng phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt phải hiểu rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi lừa đảo của mình và hậu quả do nó gây ra Hoạt động phạm tội của những người phạm tội phải được tất cả biết rõ và họ muốn những người khác cùng mình hành động Về ý chí, trên cơ sở tiếp tục cho những cơ sở của lý trí, những người tham gia vào việc thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện mong muốn có hoạt động phạm tội cùng nhau hoặc nếu hậu quả có xảy ra thì
có ý thức bỏ mặc
Trong thực tế, đồng phạm trong lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện dưới những hình thức khác nhau như đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp và phạm tội có tổ chức trong đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
có tổ chức là hình thức đồng phạm rất phổ biến, gây thiệt hại lớn cho xã hội
Đồng phạm đơn giản là hình thức đồng phạm không có sự thông mưu trước của những người cùng thực hiện tội phạm, tất cả những người đồng phạm đều có vai trò là người thực hành Có nghĩa là, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm của Điều 139 BLHS, tức là sử dùng các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật
Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm tại Điều 139 BLHS, tức là đưa ra các thông tin không đúng với sự thật bằng các thủ đoạn để người quản lý tài sản tin mà tự nguyện trao tài sản của mình cho những người phạm tội
Trang 28Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999)
Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 thì trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 khi giải thích khoản 3 Điều 20
BLHS năm 1999 về "Phạm tội có tổ chức" thì phạm tội có tổ chức phải có sự
câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, sự câu kết này,
có thể thể hiện dưới các dạng sau [52]:
a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những người chỉ huy, cầm đầu Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập trung những người chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội;
b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một
kế hoạch đã thống nhất trước;
c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã
tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỹ càng, chu đáo, có sự chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm
Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồng phạm này so với hình thức đồng phạm thông thường nên Điều 139 BLHS năm 1999 quy định tình tiết “phạm tội có tổ chức” là tình tiết định khung tăng nặng (điểm a Khoản 2 Điều 139 BLHS)
Trang 291.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Theo Điều 139 BLHS năm 1999 thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được ghi nhận như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” Điều 20 BLHS năm 1999 quy định “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”, do đó đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm theo đó cần dựa vào cả hai điều luật trên để phân tích theo bốn yếu tố là: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm
1.2.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
Một trong những nhiệm vụ của Luật hình sự là bảo vệ chế độ sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và của công dân trong xã hội, chống lại mọi hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu của tổ chức và của công dân, đó là quyền được bảo hộ trong
Hiến pháp và pháp luật Bộ luật dân sự Việt Nam tại Điều 105 ghi nhận “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có
và tài sản hình thành trong tương lai” Nội dung quyền sở hữu gồm ba quyền
theo Bộ Luật dân sự tại Điều 158 là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt [31] Khi xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ tài sản, hành
Trang 30vi chiếm đoạt tài sản đồng thời xâm phạm đến cả ba quyền trên Quyền sở hữu về tài sản được nhà nước bảo vệ thông qua các quy định của Hiến pháp
và các văn bản pháp luật khác Do vậy, khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản chính là sự xâm phạm vào quyền sở hữu hợp pháp của nhà nước, cơ quan, tổ chức, công dân Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của sự chiếm đoạt mà có các hình thức xử lý khác nhau về chế tài hình sự Hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm cho quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm, tức là họ không có khả năng thực hiện được các quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản của mình trên thực tế
Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Nhưng điều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp của công dân khác không
bị coi là phạm tội Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, dù tài sản đó là tài sản bất hợp pháp, vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, pháp luật hình sự xử lý người phạm tội lừa đảo để bảo vệ quyền
sở hữu và để đảm bảo trật tự an toàn chung của xã hội
Hành vi phạm tội trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, tức là dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản Tài sản có thể thuộc quyền sở hữu của công dân Việt Nam, của người nước ngoài của các tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam, của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như của các nước khác tại Việt Nam đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ Đối với hành vi lừa đảo tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản thì khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, đối với những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản như: tài sản do chiếm hữu bất hợp pháp, tài sản do phạm tội mà có trong trường hợp này khách
Trang 31thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ xã hội liên quan đến trật tự
an toàn xã hội Hành vi cố ý, bằng các thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trong trường hợp này về tính chất pháp lý hành vi trên vẫn cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Các quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ xã hội liên quan đến trật tự an toàn
xã hội (đối với những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản) chính là khách thể trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
bị người thực hành xâm hại Do đó khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (có nhiều người tham gia) cũng chính là khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (do một người thực hiện)
1.2.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
Nghiên cứu mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng
ta lần lượt nghiên cứu về hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội
và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho
xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, dấu hiệu hành vi thì hành vi nguy hiểm cho xã hội là nội
dung cơ bản nhất và được biểu hiện dưới hai hình thức:
- Hành động: là việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm;
- Không hành động: là việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều kiện để làm nhằm tránh nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội
Hành vi nguy hiểm cho xã hội ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi thực tế: hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản
- Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật
nhằm để người khác tin đó là sự thật
Về thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nhiều
Trang 32hình thức thực hiện khác nhau Việc nghiên cứu các hình thức thực hiện này không có ý nghĩa trong việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng xem xét hình thức thực hiện có giá trị lớn trong công tác chống và phòng ngừa tội phạm này
- Hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản
đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình
Hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hành vi lừa dối tạo điều kiện cho hành
vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khai, dễ dàng
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước, sau đó mới diễn ra việc giao tài sản giữa người
bị hại với người phạm tội Trường hợp thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Trong từng trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối hình thành sau khi người phạm tội nhận được tài sản có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thông thường, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay sau hành vi lừa dối, cũng có trường hợp giữa hai hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian
Hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác phải do hai người trở lên cùng tham gia thực hiện thì mới được coi là đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Họ có thể tham gia tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một trong các hành vi sau: hành vi thực hành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người có hành vi này gọi là người thực hành; hành vi tổ chức việc thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người có hành vi này gọi là người tổ chức; hành vi xúi giục người khác thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người có hành vi này gọi là người xúi giục; hành vi giúp người khác thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người có hành vi này gọi là người giúp sức
Trang 33Vấn đề phạm tội có tổ chức là trường hợp đặc biệt của đồng phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn trường hợp phạm tội thông thường vì chúng thể hiện sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Về mặt khách quan thì phạm tội có tổ chức thường có một số đông người tham gia thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong hoạt động phạm tội
Thứ hai, dấu hiệu hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây
ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội
phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, nghĩa
là trong cấu thành tội phạm có phản ánh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, có những trường hợp hậu quả chưa xảy ra vẫn có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hậu quả của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung
tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ngoài hậu quả (giá trị tài sản bị
chiếm đoạt) là dấu hiệu định tội thì thực tế hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn gây hậu quả nguy hiểm khác (ngoài hành vi xâm phạm chủ yếu của khách thể trực tiếp) đó là những thiệt hại về tài sản, về thể chất hoặc những hậu quả phi vật chất khác diễn ra ở những cấp độ khác nhau thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Những hậu quả này thường phát sinh do việc tài sản bị chiếm đoạt (có mối quan hệ nhân quả giữa việc tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả) Do đó khi
Trang 34xác định hậu quả là thiệt hại về tài sản thì phải xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt Hậu quả phi vật chất ở đây được biểu hiện: ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; gây ảnh hưởng
lớn đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Mỗi người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra.Mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được biểu hiện:
- Hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt tài sản
- Hành vi gian dối là cơ sở chủ yếu quyết định việc chiếm đoạt được tài
sản của người phạm tội
Vì việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội nên việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trên không chỉ có ý nghĩa về mặt định tội
mà còn có ý nghĩa trong quyết định hình phạt và phân hóa trách nhiệm hình
sự giữa những người đồng phạm trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.3 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sư và đạt đến độ tuổi luật định khi thực hiện hành vi phạm tội Đây là dấu hiệu về chủ thể của tội phạm nói chung và của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội có thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và điều khiển được hành vi đó Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác họ nhận thức được rằng hành vi của họ nằm ngoài chuẩn mực xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xã hội lên án Họ cũng nhận thức được tài sản bị chiếm đoạt là tài
Trang 35sản của người khác và thông qua hành vi phạm tội của họ thì họ tuy có được tài sản nhưng cũng làm mất đi tài sản của người khác
Khi thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đồng phạm thì người phạm tội không những hiểu hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội họ còn biết hành vi của những đồng phạm khác cũng gây nguy hiểm cho
xã hội và có quan hệ chặt chẽ với hành vi của họ, cùng góp phần gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản
Năng lực trách nhiệm hình sự của một người không có ngay khi người
đó sinh ra mà cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ sự giáo dục và tích lũy kinh nghiệm sống của mỗi người và đạt đến độ tuổi nhất định người ta mới có thể nhận thức được đòi hỏi của chuẩn mực xã hội khi đó họ mới có khả năng điều khiển được hành vi của mình theo chuẩn mực xã hội đó Điều 12 BLHS
năm 1999 qui định: "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội
phạm Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" Do chủ thể
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không có sự ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam Trừ một số người được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao
1.2.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm
Tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan Nếu mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, được đặc trưng bởi dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Trước hết lỗi của những người đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những
Trang 36người đồng phạm khác Về lý trí, mỗi người đồng phạm biết hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội và đều biết những người khác cũng có hành vi nguy hiểm cùng với mình, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi mình gây ra và hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện về lý trí và ý chí của những người đồng phạm Về lý trí thì những người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác; nhận thức rõ những thủ đoạn đưa ra là hoàn toàn không có thật, nhằm làm người khác tin
đó là sự thật Những người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa dối đã có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác Về ý chí thì những người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối đưa đến kết quả là chiếm đoạt được tài sản của người khác
Mục đích và động cơ phạm tội trong mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng có mối quan hệ với yếu tố lỗi Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể có nhiều động cơ khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội: có thể để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân, do tham lam… và đó là động cơ tư lợi Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dấu hiệu động cơ phạm tội không có ý nghĩa đối với việc định tội danh, chúng chỉ có ý nghĩa trong quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong muốn chiếm đoạt được tài sản Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực
Trang 37hiện hành vi phạm tội Có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, người phạm tội
có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng trong xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
và phân hóa trách nhiệm hình sự những người đồng phạm Động cơ trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tư lợi, người phạm tội bị thúc đẩy bởi mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu của mình
1.3 Trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đồng phạm là trường hợp nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm Hành động của những người tham gia thực hiện tội phạm là hành động liên hiệp Hành vi của người này là tiền đề, điều kiện cho hành vi của những người đồng phạm khác và là khâu cần thiết cho hoạt động tội phạm chung Hậu quả phạm tội là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia đưa lại Do vậy, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện Đồng thời, những người đồng phạm cũng phải cùng chịu về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, nếu họ đều biết, tức là đối với những tình tiết này họ cùng bàn bạc với nhau hoặc mọi người đều nhận thức và biết rõ về những tình tiết đó hoặc tuy không từng bàn bạc nhưng họ buộc phải thấy trước và có thể thấy trước tình tiết đó
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Bộ luật hình sự
Trang 38quy định đối với người phạm tội [65, tr 224] Xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm vừa phải tuân thủ quy định chung của chế định TNHS và quyết định hình phạt, vừa phải tuân thủ quy định đặc thù của trường hợp đồng phạm Các nguyên tắc đó bao gồm: nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện; nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện
vụ đồng phạm; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt của những người đồng phạm
Khi định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm, chủ thể định tội danh phải căn cứ chủ yếu vào quy định của Điều 139 và Điều
20 Bộ luật hình sự Hai điều luật này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác xác định
hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được thực hiện
bởi sự tham gia của từ hai người trở lên xảy ra trên thực tế có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp đồng phạm hay không; nếu phạm tội thì thuộc khoản cụ thể nào của điều luật đó Cùng với quy định của Bộ luật hình sự, quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự cũng
có ý nghĩa quan trọng trong định tội danh
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì về nguyên tắc phải tuân thủ nghiêm chỉnh vào những quy định chung về quyết định hình phạt Tuy nhiên đồng phạm là một chế định bổ sung cho chế định tội phạm, nó có những đặc điểm đặc thù riêng nên khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm Tòa án còn cần phải căn cứ vào những quy định bổ sung tại Điều 53
BLHS: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải
xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó”
Trang 39Trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm, tuy mỗi người
cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm, nhưng tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người lại khác nhau, nên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mỗi người đồng phạm cũng không giống nhau Do đó, khi xác định TNHS và hình phạt đối với mỗi người đồng phạm, Tòa án phải xét đến:
- Tính chất của đồng phạm: Đây là căn cứ mà Tòa án cần cân nhắc vì
nó ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung mà cả bọn cùng thực hiện
- Tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm: Trong một vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng một tội, nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người có khác nhau, do vậy tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi người cũng khác nhau Nếu chỉ dựa vào tính chất của đồng phạm để quyết định hình phạt thì tòa án mới chỉ xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội chung trong hành vi phạm tội của tất cả những người tham gia đồng phạm Nhưng trong luật hình sự Việt Nam quy định trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân cho nên khi xác định trách nhiệm hình sự cụ thể để quyết định hình phạt cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ sở hành vi cá nhân mỗi người đồng phạm Do vậy, căn cứ tiếp theo để tòa án quyết định hình phạt là phải cân nhắc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm
Tính chất tham gia vào việc phạm tội được quyết định bởi vai trò mà người đồng phạm thực hiện, bởi tính đặc thù của chức năng, nhiệm vụ cũng như tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung Làm sáng tỏ tính chất tham gia vào việc cùng chung phạm tội có nghĩa là phải xác định được người phạm tội đó là ai, họ là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hay là người giúp sức Thông thường người tổ chức, người xúi giục, người
Trang 40hoạt động đắc lực là những người có vai trò nguy hiểm cao hơn những người đồng phạm khác Chính vì lẽ đó nên Điều 3 BLHS quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối…” Việc đánh giá tính chất tham gia của từng người đồng phạm phải tùy thuộc vào tính chất đồng phạm, vào các tình tiết khách quan, chủ quan cụ thể có trong vụ án, và đặc điểm nhân thân của từng người đồng phạm
Mức độ tham gia của người đồng phạm được xác định bởi mức độ đóng góp thực tế của mỗi người đồng phạm vào việc thực hiện tội phạm và hậu quả chung của tội phạm Trong thực tế, để xác định mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm tòa án phải dựa vào các dấu hiệu như: phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm, mức độ quyết tâm phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội, hiệu quả của hành vi phạm tội của người đó trong hoạt động phạm tội chung…
Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, tòa án phải đánh giá tổng hợp cả tính chất và mức độ tham gia phạm tội của mỗi người đồng phạm Trong đó, tính chất tham gia phạm tội nói lên đặc tính về chất còn mức độ tham gia phạm tội nói lên đặc tính về lượng của hành vi phạm tội của mỗi người đồng phạm
- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người đồng phạm, thì chỉ áp dụng đối với người đó Đây có thể là những tình tiết thuộc về phương diện khách quan hoặc chủ quan của tội phạm, hoặc đó là những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, với giá trị tài sản trên hai triệu đồng, Điều 139 BLHS năm 1999 đã chia thành bốn khung hình phạt tùy vào các tình tiết định khung tăng nặng được ghi nhận như có tổ chức, gây hậu quả rất nghiêm trọng, giá trị tài sản rất lớn …
Những trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới hai triệu đồng và