Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất các biện phápquản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vật thể trong trường trung học cơ sở nhằmnâng cao hiệu
Trang 1CHU THỊ NGÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2CHU THỊ NGÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 9 14 01 14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS ĐẶNG QUỐC BẢO
2 GS.TS PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan danh dự đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Chu Thị Ngân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn nghiên cứu 4
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Các luận điểm bảo vệ 6
9 Đóng góp mới của luận án 7
10 Kết cấu luận án 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn, phát huy văn hóa phi vật thể 8
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục văn hóa phi vật thể 10
1.1.3 Nghiên cứu về quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể 15
1.2 Khái niệm cơ bản của luận án 19
1.2.1 Văn hoá phi vật thể 19
1.2.2 Giáo dục văn hóa phi vật thể 22
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể 24
1.3 Một số vấn đề về giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở .26
Trang 51.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học
cơ sở 261.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục văn hoá phi thể cho học sinh Trung học cơ sở
311.3.3 Nội dung, nguyên tắc giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh Trung
học cơ sở 321.3.4 Hình thức và phương pháp giáo dục văn hoá phi thể cho học sinh Trung
học cơ sở 371.4 Nội dung cơ bản của quản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vật thể cho
học sinh Trung học cơ sở 421.4.1 Lập kế hoạch chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học
sinh Trung học cơ sở 431.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh
Trung học cơ sở 441.4.3 Chỉ đạo công tác giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 461.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh
Trung học cơ sở 471.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật
thể cho học sinh Trung học cơ sở 50Kết luận chương 1 54Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 552.1 Khái quát về công tác giáo dục văn hóa phi vật thể trong trường học ở
Việt Nam hiện nay 552.1.1 Chủ trương của Đảng và ngành giáo dục về công tác giáo dục văn hóa
phi vật thể cho học sinh, sinh viên 552.1.2 Chủ trương của Đảng bộ, cơ quan giáo dục tỉnh Bắc Ninh đối với việc
bảo tồn giá trị Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong công cuộc đổi mới giáodục hiện nay 572.1.3 Bức tranh chung về di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam 59
Trang 62.1.4 Tình hình giáo dục văn hóa phi vật thể trong trường học ở Việt Nam 62
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 65
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 65
2.2.2 Đối tượng khảo sát 65
2.2.3 Phạm vi khảo sát 66
2.2.4 Nội dung khảo sát 66
2.2.5 Phương pháp khảo sát và xử lý kết quả 67
2.3 Thực trạng giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh trường Trung học cơ sở ở nước ta hiện nay 67
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh trong trường Trung học cơ sở 67
2.3.2 Thực trạng giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 71
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 85
2.4.1 Lập kế hoạch chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 85
2.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 87
2.4.3 Chỉ đạo công tác giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở .91
2.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh trường Trung học cơ sở 94
2.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở 96
2.5.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 97
2.5.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 99
Kết luận chương 2 101
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 102
Trang 73.1 Nguyên tắc lựa chọn biện pháp 102
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 102
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 102
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 102
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 103
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về sự cần thiết phải giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở .103
3.2.2 Tăng cường giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở thông qua trải nghiệm di sản 106
3.2.3 Chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 109
3.2.4 Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực giáo dục văn hóa phi vật thể cho giáo viên Trung học cơ sở 115
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 120
3.2.6 Quản lý phối hợp các nguồn lực để giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở 123
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 127
3.3 Khảo nghiệm và thực nghiệm một số biện pháp quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở đã đề xuất 128
3.3.1 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất .128
3.3.2 Thực nghiệm một số biện pháp quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở đã đề xuất 133
Kết luận chương 3 149
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 150
1 Kết luận 150
2 Khuyến nghị 152
Trang 8DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 154TÀI LIỆU THAM KHẢO 155PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nxb : Nhà xuất bản
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại đối tượng khảo sát 66Bảng 2.2: Các trường tham gia khảo sát 66Bảng 2.3: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về khái niệm
giá trị văn hóa phi vật thể, giáo dục văn hóa phi vật thể 68Bảng 2.4: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về sự cần thiết
phải giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh 69Bảng 2.5: Nhận thức của cán bộ, giáo viên về ý nghĩa, vai trò của giáo dục
văn hóa phi vật thể cho học sinh 70Bảng 2.6: Sự lựa chọn của giáo viên, học sinh về các giá trị văn hóa phi vật
thể cần giáo dục trong nhà trường 74Bảng 2.7: Nhận thức của giáo viên Âm nhạc về nội dung giảng dạy Dân ca
Quan họ 75Bảng 2.8: Các con đường giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh được áp
dụng trong các trường THCS 78Bảng 2.9: Các con đường giảng dạy Dân ca Quan họ ở các trường THCS 79Bảng 2.10: Đánh giá của giáo viên các trường THCS về việc áp dụng các hình
thức giáo dục văn hóa phi vật thể 80Bảng 2.11: Đánh giá của học sinh về mức độ thực hiện các hoạt động giáo dục
văn hóa phi vật thể 81Bảng 2.12: Đánh giá của giáo viên về mức độ áp dụng các phương pháp giáo
dục văn hóa phi vật thể 82Bảng 2.13: Thực trạng tiếp nhận di sản âm nhạc truyền thống ở học sinh các
trường THCS trên địa bàn khảo sát 85Bảng 2.14: Nhận thức của cán bộ quản lý về sự liên hệ giữa kế hoạch giáo dục
di sản văn hóa phi vật thể với các kế hoạch khác trong trường 86Bảng 2.15: Mức độ thực hiện các biện pháp tổ chức giáo dục giá trị văn hóa
phi vật thể cho học sinh 87Bảng 2.16: Đánh giá của cán bộ quản lý về mức độ thực hiện của các biện
pháp chỉ đạo giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh 92
Trang 11Bảng 2.17: Đánh giá của cán bộ quản lý về mức độ thực hiện của các biện
pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giá trị văn hóa phi vật thể
cho học sinh 95
Bảng 2.18: Ý kiến đánh giá về các khâu trong công tác quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS 96
Bảng 3.1: Đối tượng tham gia khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 129
Bảng 3.2: Kết quả kiểm chứng sự cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 130
Bảng 3.3: Kết quả kiểm chứng về tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất .131
Bảng 3.4: Mức độ nhận thức của học sinh trước thực nghiệm 137
Bảng 3.5: Mức độ nhận thức của học sinh các lớp sau thực nghiệm lần 1 139
Bảng 3.6: Mức độ nhận thức của các lớp sau thực nghiệm lần 2 140
Bảng 3.7: Mức độ nhận thức của học sinh sau 2 lần thực nghiệm 140
Bảng 3.8: So sánh mức độ chênh lệch về nhận thức của học sinh các lớp giữa trước và sau thực nghiệm 141
Bảng 3.9: Ý kiến đánh giá mức độ hứng thú của học sinh với giờ dạy 143
Bảng 3.10: Mức độ nhận thức của học sinh trước thực nghiệm 146
Bảng 3.11: Mức độ nhận thức của học sinh sau thực nghiệm 147
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1: Ý kiến đánh giá về 4 khâu trong công tác quản lý giáo dục giá
trị văn hóa phi vật thể 97
Biểu đồ 3.1: Trình độ nhận thức của học sinh trước khi thực nghiệm 138
Biểu đồ 3.2: Mức độ nhận thức của học sinh sau 2 lần thực nghiệm 141
Biểu đồ 3.3: Nhận thức của lớp đối chứng trước và sau thực nghiệm 142
Biểu đồ 3.4: Nhận thức của học sinh lớp thực nghiệm trước và sau thực nghiệm .142
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu
Di sản văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng,truyền nghề, trình diễn… Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, việc bảo vệ các disản văn hóa phi vật thể là việc làm cần thiết để gìn giữ, khẳng định bản sắc riêngtrong quá trình hội nhập quốc tế: “Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đã mang lạinhiều cơ hội và thử thách đối với phát triển văn hóa dân tộc trong việc lựa chọnchính sách phù hợp với thực tiễn Di sản văn hóa truyền thống đồng hành cùng với
sự phát triển chung của xã hội, trở thành một yếu tố quan trọng đối với quá trìnhphát triển và hội nhập” [88; 415] Hơn nữa, giữ gìn văn hóa phi vật thể là bảo vệcon người Nhận thức đúng vấn đề đó, tại Đại hội X của Đảng, Đảng ta đã chỉ rõnhiệm vụ cấp bách trong xây dựng văn hóa hiện nay là: “Xây dựng và hoàn thiệngiá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộctrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡngcác giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống,lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam” [14;106] Chiến lược văn hóa, trong điều kiện mới, cần phải quán triệt sâu sắc quanđiểm, tư tưởng trên đây của Đảng: “Chiến lược văn hóa, trong điều kiện đó, phải tậptrung giải quyết hai nội dung cơ bản và cấp thiết có quan hệ biện chứng với nhau,
không tách rời nhau: thứ nhất, giữ gìn, kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc; thứ hai, phát huy văn hóa dân tộc, nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong
quá trình hội nhập Xây dựng và phát triển, giữ gìn và phát huy gắn bó chặt chẽ vớinhau trong chiến lược văn hóa” [40]
Tuy nhiên, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể không phải là côngviệc dễ dàng bởi: “Điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản vănhóa phi vật thể là làm cho di sản ấy sống giữa cuộ đời, như chính bản chất của nó.Làm sao để khơi dậy ý thức cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản vănhóa phi vật thể, để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của nó Liên quanđến vấn đề này là việc phổ biến, trao truyền di sản phi vật thể tới cộng đồng” [6;72] Xuất phát từ định hướng như vậy, trường học được xem là môi trường đặc biệtthích hợp để hoạt động lưu truyền văn hóa giữa các thế hệ diễn ra một cách sâu
Trang 14rộng Công tác giáo dục di sản là một trong những biện pháp để bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa phi vật thể Phát biểu khai mạc Hội thảo về Dạy học với di sản phi
vật thể vì một tương lai bền vững tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Vinh Hiển nhấn
mạnh: nhà trường Phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục, nâng cao nhận thức chohọc sinh, vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hóa để dạy học Việc làm này sẽmang lại những kết quả tích cực, vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thứcPhổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệmcủa học sinh đối với di sản văn hóa (…) Quan điểm chỉ đạo là lấy học sinh và hoạtđộng học tập là trung tâm, tận dụng khai thác nguồn học liệu tại chỗ là những di sảnvăn hóa gần gũi, xung quanh môi trường sống, dễ hiểu với học sinh và sử dụngnhững kinh nghiệm, tri thức của người dân địa phương [29]
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cùng với bậc Tiểu học, bậc học THCSthực sự có nhiều điều kiện phù hợp để tiến hành công tác giáo dục văn hóa phi vậtthể cho học sinh Các em chưa bị áp lực bởi định hướng nghề nghiệp, thi cử nhưhọc sinh THPT và giáo dục nghề nghiệp nên chương trình giáo dục khá “mở”.Ngoài những môn học văn hóa, học sinh còn được học các môn Âm nhạc, Mĩ thuật,
có nhiều thời gian để tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp khá đa dạng Đây làđiều kiện thuận lợi để tiến hành giáo dục văn hóa phi vật thể thông qua các môn họcchính khóa và hoạt động tập thể Mặt khác, hoạt động học tập ở tuổi học sinh THCSmang những sắc thái mới, có sự phân hóa sâu sắc hơn, điển hình hơn bởi sự pháttriển của cảm giác, tri giác, trí nhớ, sự chú ý và tư duy ở các em đều rất mạnh mẽ.Lứa tuổi này còn thể hiện sự hứng thú đặc biệt với những điều mới mẻ và tiếp nhậnnhững tri thức mới rất nhanh nhờ khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng mộtcách độc lập, chặt chẽ, có căn cứ và mang tính nhất quán Vì vậy, giáo dục văn hóaphi vật thể cho lứa tuổi này dễ tạo sự thu hút, lôi kéo các em vào các hoạt động, đặcbiệt là các hoạt động mang tính trải nghiệm bên ngoài giờ học
Tuy vậy, công tác giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS hiện cònphải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn như: nội dung chương trình giảng dạychưa nhiều cơ hội để lồng ghép giáo dục văn hóa phi vật thể; giáo viên chưa được trang
bị kiến thức, kỹ năng giáo dục văn hóa phi vật thể; Ban Giám hiệu chưa quản lý sátsao, nghiêm túc; Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn thiếu; Học sinh chưa hứngthú tiếp cận với các di sản phi vật thể… Điều đó dẫn đến việc đưa di sản văn hóa phivật thể đến với thế hệ trẻ chưa thực sự đạt như mong đợi Trong nhà trường, việc giáo
Trang 15dục văn hóa phi vật thể chỉ mới dừng ở mức như một hoạt động ngoại khóa, mang tínhchất giới thiệu, chứ chưa được đánh giá đúng vai trò.
Hiện nay, giảng dạy về di sản đã là yêu cầu với các trường Phổ thông Các dự
án đưa di sản vào trường học có được tác động tích cực, nhưng còn không ít tháchthức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa Về lâu dài, cần có thêm nhiều hướngdẫn, chỉ đạo về mặt chuyên môn lẫn sự phối hợp giữa hai cơ quan quản lý về văn hóa
và giáo dục để di sản văn hóa phi vật thể bước vào trường học một cách bài bản vàđạt hiệu quả cao hơn Trong khi đó, quá trình quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể lạicòn nhiều tồn tại, hạn chế ở khâu lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, chỉ đạo thực hiện,kiểm tra đánh giá… Cùng với đó là những hạn chế về kinh phí, nguồn lực tổ chức, sựphối kết hợp giữa các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục Điều này lại càngkhiến cho việc giáo dục văn hóa phi vật thể chưa đạt được mục tiêu đề ra
Trong bối cảnh ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài: " Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở" để nghiên cứu với mong muốn
góp phần tháo gỡ những tồn tại, thách thức hiện nay, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục văn hóa phi vật thể trong nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất các biện phápquản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vật thể trong trường trung học cơ sở nhằmnâng cao hiệu quả công tác giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh, góp phần bảotồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể dân tộc và phát triển, hoàn thiện nhân cáchhọc sinh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS
4 Giả thuyết khoa học
Nhà trường có vai trò và tiềm năng quan trọng trong việc giáo dục văn hóaphi vật thể cho học sinh Tuy nhiên, hiện nay hoạt động này trong các trườngTHCS còn tồn tại nhiều bất cập Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh THCS một cách khoa học, phù hợpvới đặc điểm của học sinh và điều kiện thực tiễn của từng địa phương thì sẽ nâng
Trang 16cao hiệu quả giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS, góp phần bảo tồn,lưu truyền và phát triển văn hóa phi vật thể trong cộng đồng hiện nay.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vậtthể cho học sinh THCS
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vậtthể cho học sinh THCS
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hoá phi vật thể chohọc sinh trường THCS
- Khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm để đánh giá sự phù hợp, tính khả thi
và hiệu quả của các biện pháp
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Địa bàn nghiên cứu
Bắc Ninh, Bắc Giang là hai trong số các tỉnh có di sản văn hóa phi vật thể đãđược tổ chức UNESCO công nhận Đây cũng là các tỉnh đã triển khai công tác giáodục văn hóa phi vật thể trong nhà trường Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọnkhảo sát 15 trường THCS thuộc tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang để triển khai khảo sát,đánh giá thực trạng
6.2 Thời gian nghiên cứu
Các số liệu thu thập, sử dụng nghiên cứu chủ yếu từ năm 2009 đến nay Một số
số liệu điều tra khảo sát để phân tích thực trạng quản lý giá trị văn hóa phi vật thể thôngqua hoạt động giáo dục trong các trường THCS tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang được lấytrong giai đoạn 2010 đến 2016
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
7.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Quan điểm này đòi hỏi khi nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp quản lýgiáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS phải xem xét đối tượng (công tácquản lý giáo dục văn hóa phi vật thể, các trường THCS, học sinh THCS ) một cáchtoàn diện, nhiều mặt, trong nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và pháttriển, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và quy luật vậnđộng của đối tượng
Trang 177.1.2 Quan điểm tiếp cận thực tiễn
Quan điểm này đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải bám sát thực tiễn củahoạt động giáo dục của các trường THCS, khả năng đáp ứng của các trường vớicông tác giáo dục và quản lý; phải nắm bắt được mối quan hệ giữa các giá trị vănhóa phi vật thể tại địa phương và tác động của nó đối với việc giáo dục Đồng thời,phải phát hiện được những mâu thuẫn, những khó khăn của quá trình giáo dục vănhóa phi vật thể trong các trường THCS trên thực tiễn để đề xuất các biện pháp quản
lý phù hợp, đạt hiệu quả
7.1.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử - logic
Khi nghiên cứu hoạt động quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể, phải tìm hiểu,phát hiện sự nảy sinh, phát triển của hoạt động này trong thời gian và không gian cụ thể
là giai đoạn 2010 đến nay, trong môi trường THCS, gắn với những điều kiện, hoàncảnh cụ thể để phát hiện ra quy luật tất yếu của quá trình dạy học - giáo dục
7.1.4 Quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách
Trong quá trình nghiên cứu, phải quan sát và căn cứ vào đặc điểm hoạt động,nhân cách của các đối tượng nghiên cứu như người cán bộ quản lý, giáo viên, họcsinh trường THCS để khám phá ra bản chất, quy luật vận động, phát triển của sựvật, hiện tượng, đề ra giải pháp giáo dục và quản lý phù hợp với đặc điểm hoạtđộng, nhân cách của đối tượng
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lýluận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương phápnghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: nghiên cứu các văn bản, tài liệu
và phân tích tài liệu thành các bộ phận: nhóm tài liệu về di sản văn hóa phi vật thể;nhóm tài liệu về giáo dục di sản; nhóm tài liệu quản lý giáo dục; liên kết, sắp xếpcác tài liệu, thông tin lý thuyết đã thu thập được để tạo ra hệ thống lý thuyết đầy đủ,
có tầm khái quát hơn
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập: phân tích và xâu chuỗicác nhận định độc lập về cùng vấn đề nghiên cứu
Trang 187.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn về tình hình giáodục văn hóa phi vật thể, tình hình quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinhTHCS để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứuthực tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra: dùng phiếu điều tra để thu nhận ý kiến đánh giá củacác đối tượng về thực trạng giáo dục văn hóa phi vật thể (ý nghĩa, nội dung, hìnhthức, phương pháp, các con đường giáo dục, kết quả giáo dục…) và quản lý giáo dụcvăn hóa phi vật thể (sự cần thiết, ý nghĩa của công tác quản lý, nội dung, hình thức,phương pháp quản lý, các khâu của quản lý…)
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: xem xét kinh nghiệm giáo dụcvăn hóa phi vật thể và quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể ở các trường THCS để rút
ra mặt tích cực, hiệu quả và mặt tồn tại, hạn chế, cần rút kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: nghiên cứu các sảnphẩm hoạt động giáo dục của nhà trường (hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt độnggiáo dục ngoài giờ…), hoạt động quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể như: giáo án,các loại kế hoạch, sổ ghi chép, bài làm của học sinh, hoạt động ngoại khóa của họcsinh… để làm căn cứ đánh giá thực trạng
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: xin ý kiến chuyên gia về các giải phápquản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cùng những ý kiến đánh giá về công trìnhnghiên cứu để có định hướng bổ sung, hoàn thiện
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: áp dụng thử nghiệm các biện pháp đềxuất trên thực tế để kiểm tra về tính khả thi, độ tin cậy của các giải pháp đã đề xuất
và củng cố thêm giả thuyết khoa học đã nêu
- Phương pháp thống kê toán học: chủ yếu để thống kê, xử lý các số liệu điềutra được về số lượng ra % và điểm trung bình (chương 2 và chương 3), làm căn cứđánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
8 Các luận điểm bảo vệ
- Giá trị văn hoá phi vật thể có ý nghĩa lớn đối với phát triển nền văn hoáViệt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Nếu những giá trị này được đưa vào trường Phổthông thì không những góp phần xây dựng văn hóa nhà trường, nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện mà còn có tác động tích cực đến việc bảo tồn, phát huy nhữnggiá trị văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc
Trang 19- Giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh ở các trường THCS tỉnh BắcNinh và Bắc Giang đã được quan tâm thực hiện, nhưng hiệu quả chưa cao, do thiềumột hệ thống những biện pháp thích hợp, đồng bộ.
- Để nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể chohọc sinh THCS, các trường cần tập trung vào chỉ đạo đa dạng hóa các phương pháp,hình thức giáo dục văn hóa phi vật thể, nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên, đảmbảo sự liên kết về giáo dục văn hóa phi vật thể với các hoạt động giáo dục khác trongnhà trường Trong đó, đặc biệt chú ý đến việc chỉ đạo tích hợp văn hóa phi vật thểtrong các môn học và giáo dục văn hóa phi vật thể thông qua trải nghiệm thực tế
9 Đóng góp mới của luận án
- Về lý luận:
Luận án đã bổ sung vào lý luận về giáo dục văn hóa phi vật thể, quản lý hoạtđộng giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh trung học cơ sở (THCS): Nội dung,nguyên tắc, hình thức, phương pháp giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinhTHCS và quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh trong các trường THCShiện nay Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho họcsinh THCS
- Về thực tiễn:
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho họcsinh trong các trường THCS tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Chỉ ra những ưu điểm,tồn tại, hạn chế, các biện pháp ảnh hưởng đến quản lý giáo dục văn hóa phi vật thểcho học sinh THCS
+ Đề xuất được 6 biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục văn hóaphi vật thể cho học sinh THCS
10 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể
cho học sinh Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho
học sinh Trung học cơ sở
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho
học sinh Trung học cơ sở
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn, phát huy văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, di sản văn hóa nói chung tạo nên bảnsắc văn hóa của từng quốc gia, dân tộc, là yếu tố cấu thành văn minh nhân loại Vìvậy, việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể trở thành mối quan tâm đặcbiệt của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khi di sản ấy đứng trước nguy cơ bịmai một, thất truyền
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), nhận thấy nguy cơ các di sản
văn hóa có thể bị hủy diệt, năm 1954 Công ước bảo vệ di sản văn hóa trong sự kiện
xung đột vũ trang (The convention for protection cultural heritage in event armed
conflict) ra đời đã thể hiện sự quan tâm của thế giới đối với vấn đề này Lời nói đầucủa Công ước này đã khẳng định: “bảo vệ di sản văn hóa là điều rất quan trọng đốivới tất cả mọi người trên thế giới và quan trọng là di sản đó phải nhận được sự bảo
vệ tầm quốc tế” [92] Đến năm 1971, tổ chức UNESCO có những bước chuẩn bị
đầu tiên cho việc xây dựng văn bản pháp lí về bảo vệ văn hóa dân gian thông qua
văn kiện mang tên Khả năng thiết lập các văn kiện quốc tế để bảo vệ văn hóa dân
gian (Posibility establishing international instrument to protect folklore) Sau Công
ước năm 1971, nhiều nước thành viên của tổ chức UNESCO đã kêu gọi xây dựng
hệ thống bảo tồn di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Vào năm 1989,
Đại hội đồng của UNESCO cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về việc bảo tồn các
di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Đại hội đưa ra đề xuất rằng các
nước thành viên cần phải thực hiện các chương trình tập huấn về công tác bảo tồncác di sản văn hóa phi vật thể và lập danh sách các di sản văn hóa này [91]
Năm 1992, một chương trình về di sản văn hóa phi vật thể đã được thiết lập.Đến năm 1998, tổ chức UNESCO lại tiếp tục thông qua chương trình bảo vệ cáckiệt tác văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng của nhân loại Điều này đãgiúp cho khái niệm “di sản thế giới” được hoàn thiện hơn khi mà trước đó chỉ đượchiểu là di sản thiên nhiên và các di sản văn hóa vật thể Đến năm 2003, sau rất nhiềuphiên họp thảo luận của UNESCO, Công ước về di sản văn hóa phi vật thể đã đượcthông qua
Trang 21Từ đó đến nay, UNESCO và các quốc gia đã có hàng loạt các hành động tíchcực, khẩn trương để bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể Đặc biệt, vào năm 2013,UNESCO đã chú trọng đến một con đường mới trong việc bảo tồn, phát huy di sảnvăn hóa phi vật thể là thông qua giáo dục di sản Chương trình này đã được thí điểmtại 4 quốc gia: Pakistan, Palau, Uzbekistan và Việt Nam và thu được tín hiệu khảquan ban đầu.
Ở Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều biện pháp khả thi để bảotồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể
Tác giả Đàm Hoàng Thụ (1996) trong công trình Nghiên cứu vấn đề bảo tồn
di sản văn hóa nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt
Nam đã đưa ra một số giải pháp bảo tồn, phát huy những di sản văn hóa nghệ thuậtnày, trong đó có việc đẩy mạnh giáo dục các loại hình nghệ thuật truyền thống chothế hệ trẻ [79]
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm (2001) trong công trình Xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội đã nhận định phương hướng xây dựng nền văn hóa trong thời đại hiện naychính là kết hợp các yếu tố văn hóa truyền thống với tinh thần thời đại, nói cáchkhác “đó là mối quan tâm thường xuyên đến nhân tố con người, không ngừng cổ vũ,hướng dẫn con người hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, phấn đấu cho hạnh phúcchính đáng của chính mình và góp ngày càng nhiều cho xã hội” [17]
Công trình Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở Thăng Long
-Hà Nội của tác giả Võ Quang Trọng (chủ biên), Nxb -Hà Nội, năm 2000; Công trình Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái vùng núi Bắc Bộ hiện nay do tác giả Cao Văn Thanh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia năm 2004 đều
nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thống trong một địa phương cụ thể và đềxuất một số biện pháp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống
đó Cụ thể, công trình của tác giả Võ Quang Trọng nghiên cứu một số vấn đề trọngtâm như: cơ sở lý luận và thực tiễn của bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phivật thể; các loại hình di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội; giá trị disản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội; các giải pháp bảo tồn và phát huygiá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội… [82]
Đặc biệt, vào năm 2014, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam đã tổ
chức Hội thảo Khoa học quốc tế 10 năm thực hiện Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa
Trang 22phi vật thể của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai Hội thảo
đã thu hút 60 tham luận đến từ các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, chỉ có duy nhất
một bài tham luận của tác giả Lê Thị Minh Lý “Đưa di sản văn hóa phi vật thể vào
chương trình giáo dục trong nhà trường” là có đề cập đến công tác giáo dục văn
hóa phi vật thể cho học sinh trong nhà trường Tác giả đã khẳng định sự cần thiết vàchỉ ra tồn tại, hạn chế cơ bản trong công tác giáo dục di sản ở nước ta hiện nay:
“Giáo dục di sản là một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ di sản văn hóaphi vật thể Việc khai thác các giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiên, di sản vậtthể và phi vật thể để dạy học, để tự học nâng cao tri thức, học tập suốt đời không xa
lạ với các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên, vấn đề tiếp nhận di sản, nhậndiện di sản như một nguồn dữ liệu văn hóa, khoa học để dạy và học chưa được các
cơ quan, tổ chức xã hội cũng như người dân ở Việt Nam quan tâm và đầu tư đúngmức cả về định hướng chiến lược và phương pháp thực hiện” [45; 384]
Ngoài ra, các bài báo: “Nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn di sản văn hóa
- Một nhiệm vụ trọng tâm của trường Đại học Văn hóa Hà Nội” của tác giả Trần
Đức Ngôn (2005); “Đổi mới hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản
văn hóa” của tác giả Trương Quốc Bình (2008), “Phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình hội nhập và phát triển” của tác giả Đặng Văn Bài (2009)… đều đã
đề cập đến việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tếhiện nay
Như vậy, nhìn chung các công trình nghiên cứu về bảo tồn, phát huy giá trịvăn hóa phi vật thể cho học sinh đều đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của văn hóa phivật thể đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân cách con người trong bốicảnh hiện nay Các tác giả dù tiếp cận di sản văn hóa từ phương diện khái quát hay
đi sâu tìm hiểu di sản văn hóa cụ thể ở từng địa phương đều khẳng định tầm quantrọng của việc bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh những di sản này đứng trướcnguy cơ bị mai một do sự xâm lấn của văn hóa nước ngoài Những giải pháp mà cáctác giả đề xuất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đều có tính khả thi cao
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục văn hóa phi vật thể
Một trong những biện pháp để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được thếgiới và chúng ta thống nhất chính là bảo vệ di sản thông qua con đường giáo dục.Biện pháp này đã được bàn đến trong nhiều cuộc hội thảo, công trình nghiên cứucủa nhiều nhà nghiên cứu
Trang 23Hội nghị Learning with intangible cultural heritage in education (Học
tập với di sản văn hóa phi vật thể trong giáo dục) do UNESCO chủ trì trong chuỗicác sự kiện bên cạnh phiên họp thứ 11 của Ủy ban liên Chính phủ về Bảo vệ di sảnvăn hóa phi vật thể Mục tiêu của sự kiện bên lề là chia sẻ kinh nghiệm gần đây từUNESCO và các quốc gia thành viên về việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thểtrong giáo dục, khuyến khích thảo luận và tạo ra sự quan tâm và ý tưởng cho côngviệc này trong tương lai Hội nghị đã điểm đến những thành công của công tác sửdụng di sản văn hóa phi vật thể trong giáo dục Đại học ở Mỹ La-tinh, vùng Ca-ri-bê
và châu Phi: “Tại châu Phi, một số quốc gia đã tiến hành các bước để tích hợp vănhóa phi vật thể trong giáo dục Ở cấp khu vực, Liên hiệp châu Phi đã thông quaHiến chương Phục hưng châu Phi Trong đó, các quốc gia cam kết phổ cập văn hóa
và giáo dục cho tất cả độ tuổi của dân số và bảo vệ, phát triển di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể” [94]
Dự án Học tập với Di sản phi vật thể cho một tương lai bền vững do
UNESCO triển khai năm 2013 Trong khuôn khổ Công ước 2003 về Bảo vệ di sảnvăn hoá phi vật thể, dự án này nâng cao nhận thức và năng lực của giáo viên để kếthợp di sản văn hóa phi vật thể địa phương vào giảng dạy và học tập để củng cốtính trung tâm của văn hoá như một phần cơ bản của giáo dục vì sự phát triển bềnvững: “Các dự án thí điểm tại bốn quốc gia được lựa chọn, Pakistan, Palau,Uzbekistan và Việt Nam Dự án đã tiến hành xây dựng các tài liệu hướng dẫn chung
và tài liệu thiết kế riêng dành cho giáo viên tại từng địa phương có di sản văn hóa.Các nhóm dự án đã tích cực làm việc với các giáo viên, giáo viên, sinh viên, cộngđồng, người cao tuổi tại địa phương, các nhà thực hành văn hoá và các nhà hoạchđịnh chính sách để kết hợp các yếu tố di sản văn hoá phi vật thể vào chương trìnhgiáo dục” [95]
Bài viết Creative Drama Study about Intangible Cultural Heritage: Turkish
Wedding Traditions (Sáng tạo trong học tập về di sản văn hóa phi vật thể: truyền
thống cưới Thổ Nhĩ Kỳ) trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học của Đại học Nigde, Thổ
Nhĩ Kỳ đã nghiên cứu nhận thức của thanh, thiếu niên khi được giáo dục một trongnhững giá trị văn hóa phi vật thể của Thổ Nhĩ Kỳ là truyền thống đám cưới của dântộc trong trường học Từ những kết quả thu nhận được, bài viết khẳng định: “Giáodục có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, là một phầnquan trọng của bản sắc văn hoá, và chuyển nó cho các thế hệ kế tiếp Trong Hiệp
Trang 24định Bảo vệ Di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO chấp thuận, cần phải sắp xếpcác chương trình giáo dục, tăng cường tính trách nhiệm của xã hội, đặc biệt là thanhthiếu niên" [93].
Ở Nhật Bản, công tác giáo dục văn hóa phi vật thể trong trường học đượcthúc đẩy thông qua các hoạt động giáo dục trong và ngoài trường học Với chủtrương phát triển đất nước trong sự kết hợp của truyền thống Nhật Bản và kỹ thuậtphương Tây, nội dung giáo dục văn hóa phi vật thể dựa trên luân lý Nho gia gắn vớinhững giá trị bản sắc văn hóa hình thành trong tiến trình phát triển lịch sử đã đượcxây dựng thành chương trình lồng ghép vào các môn học và những hoạt động giáodục phong phú khác
Ở Trung Quốc, việc giáo dục di sản văn hóa phi vật thể cho học sinh đượctiến hành trên cơ sở phát huy những ảnh hưởng tích cực của phương pháp giáo dụctruyền thống và tiếp thu các phương pháp giáo dục phương Tây như phương pháptrò chơi, phương pháp thảo luận, phương pháp diễn đàn… Ngoài ra, việc giáo dụccòn được thực hiện bằng các hoạt động giáo dục ngoài giờ học và các môn học có
ưu thế trong nhà trường như môn Ngữ văn, Lịch sử, Vật lý… Ngay cả môn khoahọc tự nhiên như Vật lý trong nhà trường cũng được yêu cầu gắn với việc giáo dục
về 4 phát minh lớn của Trung Quốc cổ - trung đại là thuốc nổ, la bàn, giấy, kỹ thuật
in ấn Môn Toán phải nhắc nhở cho các em tự hào về phép tính cửu chương do tổtiên tìm ra… Có thể thấy, việc giáo dục di sản văn hóa cho học sinh ở Trung Quốcluôn gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tinh thần tự hào dân tộc [87]
Ở Việt Nam, năm 1995, tác giả Trần Viết Hoàn nghiên cứu đề tài Luận án
Phó Tiến sỹ Khoa học Triết học Di sản văn hóa chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề
giáo dục thẩm mỹ cho quần chúng (thông qua việc phát huy các di sản tại Khu Di tích Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Công trình
đã khái quát những đặc trưng của các di tích lưu niệm nói chung, của khu di tíchPhủ Chủ tịch trong thiết chế văn hóa và đời sống đương đại Từ việc khẳng định giátrị thẩm mỹ trong đạo đức Hồ Chí Minh toát lên ở khu di tích lịch sử này, tác giảđưa ra giải pháp để tăng cường giáo dục thẩm mỹ cho quần chúng nhân dân thôngqua những di sản văn hóa mà người để lại [31]
Cuối năm 2005, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức Hội thảo Xây dựng
phương pháp đưa di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội vào bài giảng một số môn khoa học tự nhiên cấp THCS tại Hà Nội Dự án đã thí điểm thành công việc đưa di
Trang 25sản văn hóa rối nước, gốm, đèn kéo quân, trầu cau vào môn Vật lý và Hóa học lớp
8, 9 ở hai trường THCS tại Hà Nội
Đến năm 2010, tác giả Trần Thị Minh Huế đã hoàn thành nghiên cứu Luận
án Tiến sỹ Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên Sư phạm miền núi Đông
Bắc Việt Nam thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Trong luận án này,
tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc ViệtNam và bản sắc văn hóa dân tộc Tày - Nùng vùng Đông Bắc Việt Nam; góp phầnkhẳng định giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ cấp bách của quá trìnhđào tạo giáo viên ở các trường sư phạm hiện nay Luận án cũng đã xây dựng đượcnhiệm vụ nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên trường Sư phạmnói chung, nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên Sư phạm vùngĐông Bắc nói riêng Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn, tác giả đã xây dựngđược 6 biện pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm thôngqua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [34] Đây là tài liệu cung cấp cho chúngtôi những cơ sở lý luận và thực tiễn có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu đề tài
Đầu năm 2013, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Dulịch đã có văn bản hướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hóa vào dạy học, đượcthực hiện thí điểm tại 7 địa phương: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Phú Thọ,Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam với 3 môn Sử, Địa, Âm nhạc Cụ thể,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thí điểm ở mỗi Sở Giáo dục và Đào tạo chọn 2trường THCS, 2 trường THPT đưa vào giảng dạy lồng ghép ở các môn học thống
nhất trong học kỳ 2 Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu Tập
huấn Dạy học di sản tháng 01/2013 để giúp các trường định hướng tốt hơn trong
quá trình giáo dục di sản cho học sinh
Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã
ban hành Hướng dẫn Sử dụng Di sản văn hóa trong dạy học ở trường Phổ thông,
Trung tâm Giáo dục thường xuyên Bản hướng dẫn đã quy định mục tiêu, phương
thức tổ chức dạy học các nội dung di sản văn hóa trong trường Phổ thông, Trungtâm Giáo dục thường xuyên và trách nhiệm của các đơn vị trong việc giáo dục vàphối hợp giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Bản hướng dẫn đã chỉ rõ: sửdụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường Phổ thông, Trung tâm Giáo dục thườngxuyên nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giátrị của di sản văn hóa; rèn luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới
Trang 26phương pháp học tập và rèn luyện; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáodục, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của học sinh Nhà trường có thể lựachọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện thực tế như: Dạy học trên lớphoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà trường; Dạy học tại nơi có di sản vănhóa; Tổ chức tham quan - trải nghiệm di sản văn hóa; Dạy học thông qua cácphương tiện truyền thông, đa phương tiện… [5].
Đến năm 2014, tổ chức UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam phối hợp xuất bản tài liệu Các bước xây dựng kế hoạch dạy học
có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể (Hà Nội, 2014) Hướng dẫn chỉ ra các bước
có thể tiến hành khi xây dựng kế hoạch bài học nội khóa có sử dụng các di sản vănhóa phi vật thể tại lớp học, bảo tàng hoặc nơi có các di sản văn hóa đang tồn tại[86] Khi áp dụng các bước này, giáo viên phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phùhợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương
Tiếp đó, Hội thảo Tăng cường sử dụng văn hóa phi vật thể trong giáo dục vì
sự phát triển bền vững tại Khu vực châu Á - Thái Bình Dương khai mạc ngày
24/3/2015 tại Hà Nội do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phối hợp tổ chức Tại hội thảo, các đại biểu đãchia sẻ kinh nghiệm thực tế khi triển khai thí điểm công tác giảng dạy di sản trongmôi trường giáo dục được thực hiện trong hai năm (2013 - 2014) tại 4 quốc gia:Pakistan, Palau, Uzbekistan và Việt Nam; khám phá cách để tích hợp di sản văn hóaphi vật thể và phát triển bền vững trong giáo trình hiện tại
Ngoài ra, nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn tiếp cận với một số công trìnhnghiên cứu đề cập đến việc giáo dục di sản cho học sinh khác như: Nguyễn Dục
Quang (2004) trong bài viết “Về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục di sản
thế giới cho học sinh Phổ thông Việt Nam”; “Giáo dục trải nghiệm di sản ở nhà trường Phổ thông - hướng tiếp cận mới trong giáo dục truyền thống” của tác giả
Nguyễn Minh Nguyệt; “Quy trình giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Văn Huy; Lê Hà với bài viết “Tạo sức sống bền vững cho di sản
từ trường học”…
Trong đó, tác giả Nguyễn Dục Quang (2004) trong bài viết “Về mục tiêu, nội
dung, phương pháp giáo dục di sản thế giới cho học sinh Phổ thông Việt Nam” đã
đề cập đến việc giáo dục di sản thế giới thông qua các môn học Tác giả đã xác định
cụ thể mục tiêu giáo dục di sản thế giới trong nhà trường là để mở mang tri thức văn
Trang 27hóa, khoa học; góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Nội dung vàphương pháp giáo dục có thể tiến hành qua các hoạt động ngoại khóa hoặc qua cácmôn học ưu thế như Địa lý, Lịch sử, Sinh học, Vật lý… [63].
Tác giả Lê Hà trong bài viết “Tạo sức sống bền vững cho di sản từ trường
học” đã đưa ra kết quả khảo sát tại một số trường THCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo
cho thấy: có khoảng 21% học sinh biết được trên 10 bài dân ca Việt Nam, 73,4% họcsinh biết chưa đến 10 bài dân ca Việt Nam và khoảng 5% học sinh không biết một bàidân ca nào Từ đó, tác giả khẳng định: từ góc độ thực tiễn và quản lý, xây dựng chínhsách, để di sản vào trường học và thực sự có sức sống bền vững thì không thể có mộtcách áp dụng máy móc mà cần thiết phải được đặt trong bối cảnh nhà trường, chú ýđến các yếu tố như mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng tham gia và hiệu quả đàotạo trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản [21]
Các công trình nghiên cứu kể trên đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quýbáu cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài Tuy nhiên, cho đến nay, ngoài luận
án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Minh Huế Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
sinh viên Sư phạm miền núi Đông Bắc Việt Nam thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, ở trong nước vẫn chưa có một công trình nghiên cứu tập trung và hệ
thống về giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh, sinh viên Đặc biệt, với đối tượng
học sinh THCS - đối tượng rất phù hợp để tiến hành giáo dục, lưu truyền giá trị vănhóa phi vật thể, vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến việc giáo dục văn hóa phivật thể một cách hệ thống cho các em Khoảng trống đó chính là cơ sở để chúng tôitiến hành nghiên cứu đề tài, tập trung tìm ra giải pháp giáo dục văn hóa phi vật thểcho học sinh THCS trong bối cảnh công tác này còn khá mới mẻ đối với các nhàtrường ở Việt Nam hiện nay
1.1.3 Nghiên cứu về quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể
Quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể là một phần của quá trình quản lý tổngthể: quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Chính vì vậy, trước khi đi sâu phân tíchtình hình nghiên cứu về quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS,chúng tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung
Chủ trương đưa di sản vào trường học dù đã có từ rất lâu nhưng mới chỉchính thức được hiện thực hóa từ năm 2010 Điều này cho thấy, việc giáo dục di sản
là một điều mới mẻ và quản lý giáo dục di sản cho học sinh lại càng là vấn đề mới
mẻ hơn Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ công trình nào nghiên cứu về
Trang 28quản lý giáo dục di sản và quản lý giáo dục di sản văn hóa phi vật thể nói riêng mộtcách tập trung và hệ thống
Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã
ban hành Hướng dẫn Sử dụng Di sản văn hóa trong dạy học ở trường Phổ thông,
Trung tâm Giáo dục thường xuyên Văn bản này hướng dẫn các đơn vị thuộc ngành
Giáo dục và Đào tạo, trong đó có các cơ quan quản lý giáo dục thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Chủ trì phối hợp với các đơn vị ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch xâydựng kế hoạch triển khai cụ thể hướng dẫn liên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên địa bàn
- Cử cán bộ, giáo viên tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng cốt cán do BộGiáo dục và Đào tạo tổ chức về dạy học thí điểm các nội dung di sản văn hóa; tổchức các lớp bồi dưỡng ở địa phương
- Tổ chức dạy học nội dung di sản văn hóa Ở từng cấp (nhà trường, PhòngGiáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo) chú ý triển khai và rút kinh nghiệmthông qua các bước thí điểm và triển khai đại trà, đồng thời chuẩn bị tích cực cácđiều kiện hỗ trợ thực hiện
- Phối hợp với ngành văn hóa, thể thao và du lịch xây dựng:
+ Tài liệu giới thiệu về văn hóa địa phương, dân ca, trò chơi dân gian, di tích,
di sản tại địa phương để các nhà trường tham khảo trong quá trình tổ chức dạy học
Những quy định này sẽ giúp các cơ quan quản lý giáo dục định hướng đượcnhiệm vụ, mục tiêu của mình trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vậtthể trong trường cũng như phối hợp với các cơ quan hữu quan bên ngoài
Hội thảo Tăng cường sử dụng văn hóa phi vật thể trong giáo dục vì sự phát
triển bền vững tại Khu vực châu Á - Thái Bình Dương khai mạc ngày 24/3/2015 tại
Hà Nội do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Văn phòng
Trang 29UNESCO tại Hà Nội phối hợp tổ chức Tại hội thảo, các đại biểu đã nhấn mạnh đếnvai trò của yếu tố quản lý như là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầuquyết định đến sự thành công của công tác giáo dục di sản văn hóa phi vật thể Các
cơ quan quản lý giáo dục và văn hóa xác định việc gìn giữ văn hóa phi vật thể làbảo vệ con người Vì vậy, giáo dục di sản - đưa các loại hình di sản văn hóa phi vậtthể và giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường là một trong những giải pháp nhằmbảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thường được các nhà quản lý
đề cập Tuy nhiên, cách thức quản lý như thế nào thì lại chưa có tác giả nào làm rõ
Trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An có bài viết của tác giả Mai Thị Thùy Hương (2015) “Đưa dân ca vào trường học - tiếp cận theo quan điểm quản lý giáo dục” Tác
giả đã khái quát thực trạng dạy học dân ca trong nhà trường hiện nay, tập trung phântích những hạn chế, tồn tại của công tác này và cho rằng, để khắc phục tình trạng trên,cần phải bắt đầu từ những giải pháp về quản lý giáo dục: “Chúng ta cần nghiên cứuviệc đưa dân ca vào trường học từ tiếp cận quản lý giáo dục Theo đó, nhà trường cầnxác định đầy đủ mục tiêu, nội dung của môn học, các đối tượng tham gia và hiệu quảthu được từ môn học để đạt hiệu quả tốt nhất cho hoạt động giáo dục quan trọng này(…) Tuy nhiên, không thể có một cách áp dụng máy móc việc giảng dạy dân ca - với
tư cách là một truyền thống văn hóa địa phương, một di sản văn hóa phi vật thể - nhưcác loại hình nghệ thuật khác, mà việc giảng dạy dân ca - như trường hợp ví giặm - cầnthiết phải được đặt trong bối cảnh nhà trường, chú ý đến các yếu tố như mục tiêu, nộidung giáo dục, đối tượng tham gia và hiệu quả đào tạo trong quá trình bảo tồn và pháthuy giá trị di sản đặc biệt này của địa phương Tiếp cận từ góc độ quản lý giáo dục giúpchúng ta có thêm một cách nhìn về việc đưa di sản vào nhà trường, nhờ đó, di sản đượcthực sự sống trong bối cảnh xã hội đương đại, được bảo tồn và phát huy trong chínhcộng đồng của mình” [39] Tất nhiên, dân ca chỉ là một ví dụ đại diện cho tất cả disản văn hóa phi vật thể nói chung Việc đưa di sản vào giáo dục trong nhà trường làviệc cần làm nhưng không thể làm tùy tiện mà nhất thiết phải có khâu quản lý chặtchẽ, khoa học để công tác này đi đúng hướng, đạt được mục tiêu đề ra
Bao quát các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy:
Công tác giáo dục văn hóa phi vật thể đã được đặc biệt coi trọng, đề cao, nhất
là trong bối cảnh đổi mới giáo dục như hiện nay Các nhà giáo dục đã đề xuất nhữngbiện pháp trọng tâm, có tính khả thi để nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa phi vậtthể trên phạm vi toàn quốc nói chung và tại các cơ sở giáo dục cụ thể nói riêng
Trang 30Tuy nhiên, nếu việc nghiên cứu bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thểtrên thế giới và ở nước ta đã đạt được một số kết quả nhất định thì việc nghiên cứu vềgiáo dục văn hóa phi vật thể vẫn là vấn đề mới mẻ Thực tế là chỉ mới bắt đầu từ năm
2013, khi liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch có văn bảnhướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hóa vào dạy học, được thực hiện thí điểm tại 7địa phương: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên -Huế, Quảng Nam với 3 môn Sử, Địa, Âm nhạc, việc nghiên cứu về giáo dục văn hóaphi vật thể mới được đẩy mạnh Vì thế, kết quả nghiên cứu ở các công trình này vẫncòn rất khiêm tốn
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến giáo dục văn hóaphi vật thể như một bộ phận của giáo dục di sản văn hóa dân tộc - nghĩa là cách tiếpcận về vấn đề nghiên cứu vẫn chung chung, khái quát, chưa tính nhiều đến đặc thùcủa đối tượng nghiên cứu Trong khi đó, chúng ta biết rằng, giá trị văn hóa phi vậtthể vừa có nét tương đồng, vừa khác biệt so với giá trị văn hóa nói chung Một trongnhững đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể là giá trị cũng như biểu trưng của disản không phải luôn luôn bất biến mà ngược lại luôn đối mặt với thách thức bị maimột, biến đổi và hoàn toàn phụ thuộc vào con người với tư cách là chủ thể của disản Công tác truyền trao, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể là một phương thứcmấu chốt để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể Chính vì vậy, việc bảotồn, phát huy hay giáo dục giá trị di sản văn hóa phi vật thể cần phải có những giảipháp riêng chuyên biệt
Mặt khác, tiếp cận công tác giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh THCS
từ góc độ quản lý là một hướng đi mới mẻ, chưa nhiều tác giả chú ý Nội dung, hìnhthức, phương pháp quản lý cũng như các giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lýhoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể trong nhà trường vẫn cần phải được làm rõ.Trong khi đó, công tác giáo dục văn hóa phi vật thể dù đã được triển khai trong cáctrường học ở nước ta từ năm 2013 nhưng cho đến nay, vẫn chưa đạt được mục tiêumong muốn Thực tế đó đặt ra vấn đề cần phải có sự quản lý thống nhất, khoa họcngay từ khâu lập kế hoạch ban đầu cho đến khâu kiểm tra, đánh giá cuối cùng
Trong tình hình nghiên cứu như vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: Quản
lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở là việc
làm có ý nghĩa, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục di sản trong trườnghọc, tiến tới bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộctrong tương lai
Trang 311.2 Khái niệm cơ bản của luận án
1.2.1 Văn hoá phi vật thể
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những giá trịvật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra Năm 1943, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh rangôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp củamọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ranhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [46; 431].Federico Mayor, Tổng Giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, vănhóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đốivới những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khácvới dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng,phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồngquốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm
1970 tại Venise” [84] Theo Từ điển Triết học, văn hóa được hiểu là: “toàn bộ giátrị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử
và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội” [81; 656]
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trongquan hệ qua lại giữa con người và xã hội Nơi nào có sự hiện diện của con người,
có những nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, nơi ấy có văn hóa Vìvậy, theo nghĩa rộng nhất, chúng tôi tán đồng cách định nghĩa của nhà nghiên cứuTrần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội” [76; 10].
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trongcác kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng nhưtrong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Căn cứ vào dạng thức tồn tại, người ta phân chia văn hóa thành hai bộ phận:văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tất nhiên, sự phân chia này chỉ mang tínhchất tương đối: “Thực ra, mọi hiện tượng văn hóa đều ít nhiều tồn tại hay biểu hiện
Trang 32dưới dạng vật chất (vật thể) hay tinh thần (phi vật thể)” [56; 33]; “Bởi lẽ dưới cái vỏvật chất của sản phẩm văn hóa chứa đựng giá trị về năng lực sáng tạo, về thẩm mĩ,
về ý nghĩa và nội dung thể hiện gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan của mộtcộng đồng” [56; 47]
Tại Nhật Bản, Điều 2 của Luật Bảo vệ tài sản văn hóa có đưa ra định nghĩa
di sản văn hóa phi vật thể là nghệ thuật, kĩ năng thu nhận được từ các vở kịch, âmnhạc và nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật thể khác sở hữugiá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật đối với một đất nước Còn tại Hàn Quốc thì quanniệm tài sản văn hóa phi vật thể chỉ dẫn đến kịch, âm nhạc, nghề thủ công và cáchình thức biểu đạt di sản văn hóa phi vật thể khác có giá trị nổi bật về lịch sử, nghệthuật và học thuật nổi bật Cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể của Hàn Quốckhá gần với cách hiểu của Nhật Bản Với Myanmar, nước này không dùng phươngpháp liệt kê mà chỉ nêu ra đặc tính cơ bản của di sản văn hóa phi vật thể, theo đóvăn hóa vật thể là khía cạnh vật chất còn văn hóa phi vật thể là khía cạnh tinh thầncủa đời sống Những ngành nghệ thuật nhìn được bằng thị giác thuộc về văn hóa vậtthể, nghệ thuật biểu diễn là văn hóa phi vật thể Còn Croatia - một đất nước ở châu
Âu thì quan niệm rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể bao trùm các dạng đặc biệt
và các hiện tượng của hoạt động sáng tạo trí óc được truyền từ đời này sang đờikhác bằng bất kì cách thức nào, và đặc biệt là ngôn ngữ, thổ ngữ, tiếng bản địa vàtất cả các loại văn học truyền thống; sáng tạo dân tộc trong những lĩnh vực củanhạc, múa, truyền thuyết, trò chơi, lễ hội, phong tục cũng như các giá trị dân tộctruyền thống khác; kĩ năng truyền thống và nghề thủ công
Theo Khoản 1, Điều 2, Mục I của Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật
thể của UNESCO năm 2003 thì di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập
quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là nhữngcông cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộngđồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là mộtphần di sản văn hóa của họ [85] Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,
di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo
để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên vàlịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đókhích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con ngươi
Trang 33Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm của UNESCO và các nước, Việt Namcũng đã đưa ra quan niệm riêng về di sản văn hóa phi vật thể Luật Di sản văn hóanăm 2001 định nghĩa “di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằngtruyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, baogồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyềnmiệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ côngtruyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phụctruyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” (Khoản 1, Điều 4) [57; 7].Đến khi sửa đổi bổ sung luật này vào năm 2009 thì cách hiểu về di sản văn hóa phivật thể đã được khái quát là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân,vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thểhiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thứckhác” (Điều 1) [58] Là sản phẩm sáng tạo tinh thần, văn hóa phi vật thể bao gồmnhiều thành tố cầu thành: “Văn hóa phi vật thể là toàn bộ giá trị lịch sử - văn hóathuộc mọi lĩnh vực sáng tạo tinh thần, được lưu giữ bằng trí nhớ và và lưu truyềnbằng hình thức truyền miệng (đặc biệt với các dân tộc không có chữ viết), baogồm: luật tục, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, tín ngưỡng - tôn giáo, vănhọc dân gian và văn học diễn xướng (thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ,câu đố, ngụ ngôn, ca dao, sử thi, trường ca, lời khấn), nghệ thuật biểu diễn (âmnhạc, múa, sân khấu, trò chơi), văn hóa ẩm thực, y học dân tộc và cây thuốc, nghềthủ công và kinh nghiệm sản xuất và những giá trị văn hóa khác” [56; 47] Khácvới văn hóa vật thể thường có hình khối tồn tại trong không gian và thời gian, vănhóa phi vật thể có dạng thức tồn tại chủ yếu “tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành
vi, ứng xử và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giaotiếp xã hội, trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra khiếnngười ta nhận biết được sự tồn tại của nó” [56; 35] Chúng tôi thống nhất với địnhnghĩa trong Luật Di sản văn hóa năm 2009 và xem đây như là căn cứ lý luận
Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể được phân biệt theo nhiềucách khác nhau Nếu như di sản văn hóa vật thể là những hiện vật mang ý nghĩa lịch
sử của nhân loại trong quá khứ thì di sản văn hóa phi vật thể lại là những truyềnthống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những trải
Trang 34nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như di sản vănhóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể lạimang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian
1.2.2 Giáo dục văn hóa phi vật thể
Cổ nhân từng nói: “Cổ giả dịch tử nhi giáo chi” (Người xưa đổi con cho nhau
mà dạy dỗ) (Mạnh Tử) đề cao cách thức, phương pháp giáo dục, đồng thời cho thấy
cách hiểu súc tích về giáo dục (“giáo dục” tương đương “dạy dỗ”) Theo Từ điển
tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giáo dục là: “hoạt động nhằm tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm chođối tượng ấy dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [60;
379] Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia (http: //vi.wikipedia.org), mục từ giáo
dục được hiểu là: “Quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực” [1], nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người họcbằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại
và phát triển của con người trong xã hội đương đại Trong tiếng Anh, giáo dục
-education vốn có gốc từ tiếng La - tinh educare có nghĩa là "làm bộc lộ ra" Có thể
hiểu giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của
người được giáo dục
Trong khoa học giáo dục, giáo dục được hiểu là quá trình tác động có mục
đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng với những nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp để hình thành cho học sinh những phẩm chất của người công dân theo yêu cầu của xã hội, của thời đại Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực
của một mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định Đó là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại,trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục
Những nét đặc trưng chủ yếu của giáo dục là: Là một quá trình xã hội, được
tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, hướng vào truyền đạt và lĩnh hội cáckinh nghiệm xã hội, lịch sử để xây dựng và phát triển nhân cách ở người học; là sựtác động lẫn nhau giữa người giáo dục và đối tượng giáo dục, tạo nên một loại quan
hệ xã hội đặc biệt: quan hệ giáo dục (quan hệ sư phạm); Là quá trình nhà giáo dục
Trang 35tổ chức các loại hình hoạt động, hướng dẫn đối tượng giáo dục tích cực, tự giác,sáng tạo tham gia nhằm chiếm lĩnh các kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóacủa loài người.
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng có thể thấy, điểm chung nhất trongquan niệm về giáo dục là đều xem đây là một quá trình tác động có mục đích, kếhoạch của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm phát triển phẩm chất toàn diện(nhận thức, tình cảm, hành vi…) của người học
Từ đó, có thể thấy, giáo dục văn hóa phi vật thể là quá trình nhà giáo dục
xây dựng nội dung chương trình, sử dụng phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp để giúp học sinh hiểu biết về các giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương và dân tộc thông qua quá trình tiếp xúc, trải nghiệm những giá trị văn hóa này; bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào và ý thức giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể; góp phần định hướng và xây dựng những hành vi đúng đắn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Quá trình giáo dục văn hóa
phi vật thể bao gồm việc: xác định mục tiêu giáo dục, xây dựng nội dung chươngtrình; lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục; huy động cácnguồn lực phục vụ giáo dục; tổ chức giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục
Giáo dục văn hóa phi vật thể là một bộ phận của giáo dục tổng thể, hướngđến sự phát triển nhân cách toàn diện của người học Vì vậy, hoạt động này cũngmang những đặc trưng chung của hoạt động giáo dục Tuy nhiên, do những đặc thù
về đối tượng, nội dung, mục đích giáo dục nên giáo dục văn hóa phi vật thể cho họcsinh cũng có những đặc trưng riêng khu biệt so với các hoạt động khác
Về mục tiêu giáo dục: lâu nay, việc đưa di sản văn hóa phi vật thể vào giảngdạy trong trường học, ở một khía cạnh nhất định, cũng tương tự như giáo dục di sảnhay giảng dạy lịch sử, thường được thực hiện với mục tiêu bảo tồn và phát huy giátrị các di sản văn hóa phi vật thể trong xã hội đương đại Mục tiêu trên là đúng đắn,tuy nhiên chưa thực sự đầy đủ Việc đưa di sản văn hóa phi vật thể vào trường họckhông chỉ mang lại hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản vănhóa phi vật thể mà còn trong công tác giáo dục nhận thức, giáo dục giá trị thẩm mỹ,đạo đức cho học sinh Khi di sản văn hóa phi vật thể đã giúp nhà trường định hướngđược giá trị thẩm mỹ của học sinh, góp phần giáo dục các giá trị đạo đức, xây dựngnhân cách của học sinh thì có nghĩa là di sản văn hóa phi vật thể đã có ý nghĩa lớnlao trong tâm hồn của thế hệ trẻ Và lẽ tự nhiên như thế, di sản văn hóa phi vật thể
sẽ được chính thế hệ trẻ bảo tồn, gìn giữ và phát huy như giá trị của dân tộc mình,
Trang 36quê hương, gia đình và chính bản thân mình.
Về nội dung giáo dục: Di sản văn hóa phi vật thể vừa là sản phẩm sáng tạocủa quá khứ nhưng nó lại có đời sống riêng ở hiện tại, đang tiếp diễn Vì vậy, ngườigiáo dục phải tôn trọng tính “động”, tính “tiếp biến” của nó Nội dung giảng dạy disản văn hóa phi vật thể trong nhà trường cần chú ý vào 2 nội dung chính là kiếnthức di sản và kiến thức xã hội, lịch sử
Về hình thức và phương pháp giáo dục: Hiện nay nhiều nhà trường, nhiềuđịa phương đã chú trọng nâng cao hiệu quả giảng dạy di sản văn hóa phi vật thểbằng cách kết hợp cả chương trình chính khóa và các hoạt động ngoại khóa như:câu lạc bộ di sản văn hóa phi vật thể, thi tìm hiểu về di sản văn hóa phi vật thể…Các hoạt động này thu hút được sự tham gia của đông đảo học sinh, đưa các em đếngần hơn với di sản văn hóa phi vật thể, giúp các em chủ động nắm bắt và thể hiện disản văn hóa phi vật thể như một niềm đam mê
Khi tiến hành giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh, nhà giáo dục vàquản lý giáo dục phải căn cứ trên những đặc trưng này để đề ra những hình thức,phương pháp giáo dục và quản lý phù hợp, đạt hiệu quả nhất
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể
Quản lý đã xuất hiện và được áp dụng ngay từ buổi sơ khai của cuộc sốngcộng đồng, khi con người làm việc theo nhóm để thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh Con người không thể đạt được mục tiêu với tư cách là những cá nhân riêng lẻnên quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân,hướng tới những mục tiêu chung Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thànhmột môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thờigian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất nhưng thỏa mãn nhiều nhất
Cho đến nay, tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Các Mác nhấnmạnh đến chức năng của quản lý là điều phối hài hòa giữa hoạt động cá nhân vàhoạt động chung của tập thể khi cho rằng: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồngtrực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhấtđịnh đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân vàhình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khácvới sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó” [41; 199]
Frederics William Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất,
Trang 37rẻ nhất” [Dẫn theo 9; 89]
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có địnhhướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượngquản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ,các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng [9; 97]
Tác giả Đặng Quốc bảo lại xem xét khái niệm quản lý bằng việc tách khái niệmthành hai yếu tố “quản” và “lý”: “Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” vàquá trình “lý” Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ thống “Lý” là thanh lý, xử lý,biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát triển” [7; 24]
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa “quản lý là những tác động của chủ thể quản
lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồnlực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất” [42; 8]
Những khái niệm trên về quản lý khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho
thấy một ý nghĩa chung: quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Hoạt động quản lý phải là sự tác động có định
hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo đàcho một sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Trong các lĩnh vực quản lý, quản lý giáo dục là hoạt động quản lý đặc thùtrong trường học Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành,phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu
cầu phát triển của xã hội Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể là một chuỗi
tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến.
Căn cứ trên bản chất khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, có thể quan niệm
quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể là quá trình tác động có định hướng của chủ
thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục văn hóa phi vật thể như mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục nhằm thực hiện có hiệu
Trang 38quả mục tiêu giáo dục văn hóa phi vật thể Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục văn hóa phi vật thể (nâng cao hiểu biết với những giá trị văn hoá phi vật thể, giáo dục tình yêu, ý thức tự hào và hành vi đúng đắn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương và dân tộc).
Quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể bao gồm bốn khâu cơ bản:
- Lập kế hoạch quản lý: Đây là khâu xác định mục tiêu, nhiệm vụ, phươnghướng, các nội dung công việc và giải pháp thực hiện, các nguồn lực dự kiến màhoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể phải đạt được trong một quãng thời giannhất định
- Khâu tổ chức và chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hóa phi vật thể: Đây là haikhâu trọng tâm Ở đó, nhà quản lý huy động tất cả các nguồn lực vật chất và tinhthần, tập hợp, liên kết các đối tượng cùng tham gia vào hoạt động giáo dục văn hóaphi vật thể Nhà quản lý cụ thể hóa kế hoạch đã lập trên thực tiễn bằng cách dùng cácphương thức quản lý hành chính, kinh tế và tâm lý giúp quá trình giáo dục đi đúngtheo kế hoạch, đạt được mục tiêu đề ra, ngăn ngừa thấp nhất các sai phạm diễn ra
- Khâu cuối cùng là khâu kiểm tra, đánh giá và xử lý sai phạm Đây là khâuphát hiện, đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế của quá trìnhgiáo dục văn hóa phi vật thể, tìm ra nguyên nhân và chỉ đạo khắc phục, sữa chữacác sai phạm
Bốn khâu trên của quá trình quản lý giáo dục văn hóa phi vật thể có mốiquan hệ mật thiết, tác động qua lại Nếu khâu lập kế hoạch không tốt thì nhà quản lýkhông thể tổ chức, chỉ đạo quá trình giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh đạthiệu quả cao Cũng như vậy, không có khâu kiểm tra, đánh giá, xử lý sai phạm thìkhông thể đưa đến cho người học một sản phẩm giáo dục tốt nhất dựa trên tinh thầntrách nhiệm và kỉ luật làm việc Vì thế, khi thực hiện bốn khâu này, nhà quản lýphải chú ý đến tính thống nhất, đồng bộ của chúng
1.3 Một số vấn đề về giáo dục văn hoá phi vật thể cho học sinh Trung học cơ sở
1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục văn hóa phi vật thể cho học sinh Trung học
Trang 39cơ sở
Trước hết, vai trò quan trọng nhất của giáo dục văn hóa phi vật thể cho học
sinh THCS chính là góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tinh thần dân tộc
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, các quốc gia có điều kiện mở rộng giaolưu quốc tế, tạo điều kiện cho sự tiếp thu các thành tựu của văn hóa nhân loại cũngnhư phổ biến và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình Tuy nhiên, quá trìnhtoàn cầu hóa cũng đẩy các quốc gia tới nguy cơ bị mai một nền văn hóa dân tộc:
“Việc du nhập, học hỏi và xung đột giữa các nền văn hóa trong quá trình hội nhập
đã tạo ra nhiều thách thức cho xã hội, đặc biệt là các nước đang và kém phát triển làphải tìm ra cách thức, chiến lược thích ứng một cách có chọn lọc trong quá trình hộinhập trên tinh thần giữ vứng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc,đưa đất nước tiến lên phí trước” [8; 54] Một trong những đặc trưng của di sản vănhóa phi vật thể là giá trị cũng như biểu trưng của di sản không phải luôn luôn bấtbiến mà ngược lại luôn đối mặt với thách thức bị mai một, biến đổi và hoàn toànphụ thuộc vào con người với tư cách là chủ thể của di sản: “Trong thời đại ngàynay, việc bảo tồn văn hóa nói chung và văn hóa phi vật thể nói riêng gặp những khókhăn, thách thức do một loạt các vấn đề chủ quan và khách quan mang tính thời đại,tính toàn cầu Đó là các vấn đề toàn cầu hóa, thương mại hóa, đô thị hóa, du lịchvăn hóa đã và đang tác động mạnh mẽ đến việc bảo tồn giá trị truyền thống của disản Nhiệm vụ đặt ra đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phivật thể cần được quan tâm hơn nữa” [88; 428] Vì thế, công tác truyền trao, truyềndạy di sản văn hóa phi vật thể là một phương thức mấu chốt để bảo tồn và phát huygiá trị văn hóa phi vật thể Đưa các loại hình di sản văn hóa phi vật thể vào giớithiệu, giảng dạy trong trường học không chỉ là một biện pháp nhằm bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa phi vật thể mà còn góp phần đổi mới giáo dục Giáo dục nghệthuật, đưa di sản văn hóa phi vật thể vào giới thiệu, giảng dạy trong trường học cóthể đưa đến cho các bạn trẻ những hiểu biết về nghệ thuật, về di sản văn hóa Điềunày cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 8 khóa XI về đổi mớitoàn diện giáo dục và đào tạo: học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáodục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Thực tiễn đã chứng minh không ai có thể giữ gìn di sản văn hóa phi vật thểtốt hơn, hiệu quả hơn chính chủ nhân của các loại hình di sản văn hóa phi vật thểvăn hóa ấy Di sản văn hóa phi vật thể văn hóa không thể đứng ngoài sinh hoạt của
Trang 40cộng đồng dân cư hoặc đứng ngoài không gian văn hóa của nó Ðể có thể duy trìsức sống cho di sản văn hóa phi vật thể vốn đã được nhân loại tôn vinh, thì trướchết, các di sản văn hóa phi vật thể ấy phải được bảo tồn như nó vốn có, phải được
"sống", được tôn vinh, được người dân thừa nhận ngay trong chính đời sống củacộng đồng Muốn có được điều ấy, chúng ta cần tăng cường giáo dục thẩm mỹ, giáodục sự hiểu biết các tri thức văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể dân tộcnói riêng, từ đó khơi dậy và nhân lên niềm đam mê, ý thức bảo vệ di sản văn hóaphi vật thể trong thế hệ trẻ Phương thức giáo dục của chúng ta từ xưa đến nay làgắn lý thuyết với thực hành, gắn nhà trường với địa phương Nội dung các môn họcđều có đề cập đến giáo dục truyền thống (trong đó có văn hóa phi vật thể) Trongchương trình xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, có 2 nội dung liênquan đến bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: tổ chức đời sống văn hóa tinh thầntrong nhà trường gắn với việc khai thác văn hóa dân gian; chăm sóc di sản văn hóagắn với tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa, có nghĩa là bao gồm cả việc giáo dụcvăn hóa phi vật thể và giáo dục thông qua di sản văn hóa vật thể, làm cho học sinhhiểu biết về di sản văn hóa phi vật thể, từ đó có tình cảm, đạo đức, niềm tự hào vềcác giá trị truyền thống của dân tộc, đất nước
Trong khi cuộc sống xã hội ngày càng sôi động, thì không gian dành cho cácloại hình văn hóa truyền thống ngày càng thu hẹp hoặc bị thay đổi Không phảingười Việt Nam nào cũng hiểu hết giá trị lớn lao của những báu vật linh thiêng của
di sản văn hóa phi vật thể, nhất là trong xu thế bang giao hội nhập hiện nay Không
ít người, trong đó có cả giới trẻ chỉ biết nhìn ra thế giới bên ngoài mà thờ ơ và quên
đi một cách vô tình những thứ của cải mà mình sẵn có trong tay Giới trẻ hiện nay
số đông không hiểu hết giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể văn hóa, mà có xuhướng ưa chuộng những hình thức nghệ thuật mới, hiện đại, ít quan tâm tìm hiểu cáihay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc Vì vậy, việc giáo dục thế hệ trẻ trong việc bảotồn và phát huy được các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể văn hóa là điều rấtcần thiết trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trong khi đó, trong thời kỳ đổimới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền vănhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóaVIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quátrình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ