1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần bưu điện liên việt

124 227 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

28 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHDN CỦA LIENVIETPOSTBANK 2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của LienVietPostBank ...30 2.2 Chính sách tín dụng của LienVietPostBa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LƯƠNG MINH KHOA

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP

BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT

Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM VĂN NĂNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

-ooOoo -

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG

TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG

TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT” là kết quả học tập và công trình nghiên

cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác và trung thực Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

Đề tài có sử dụng một số dữ liệu, thông tin nhạy cảm của các ngân hàng thương mại trong nước, kính mong các tổ chức tín dụng có liên quan thông cảm và hỗ trợ để đề tài được hoàn thành

Trang 3

LỜI CẢM Ơ N N

Việc theo đuổi và đạt được những thành quả trên con đường học vấn là ước mơ của rất nhiều người Đối với bản thân tôi, quá trình học tập đại học và sau đại học tại Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi tiếp thu được rất nhiều tri thức và thành tựu kinh tế của thế giới Từ đó, tôi có thể mở rộng được nhận thức, thế giới quan và nhân sinh quan của mình, giúp cuộc sống của tôi được trải rộng và đầy cảm nhận hơn Tôi chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô của Trường Đại Học Kinh

Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, những người đã giúp tôi viết tiếp ước mơ cuộc sống

Luận văn này được thực hiện và hoàn thành nhờ có sự hướng dẫn tận tâm và đầy trách nhiệm của người Thầy hướng dẫn Tôi rất kính trọng

và chân thành cảm ơn đến PGS TS Phạm Văn Năng – Nguyên Hiệu trưởng – Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh

Tôi cũng xin cảm ơn đến anh Lê Vĩnh Khương, em Võ Trần Nhật Linh và anh Lê Tất Thành, quản trị viên trang web www.rating.com.vn, là những người đã cung cấp tài liệu giúp tôi thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, để tri ân những người đóng góp thầm lặng trong cuộc sống, tôi cảm ơn đến mẹ và vợ, những người luôn bên cạnh, động viên và

hỗ trợ để tôi có thể thực hiện tiếp ước mơ của mình

Một lần nữa, tôi trân trọng và cảm ơn đến tất cả mọi người!

LƯƠNG MINH KHOA

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

GIỚI THIỆU

1 Lý do chọn đề tài .01

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 02

3 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 04

4 Cấu trúc luận văn 06

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 06

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 1.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng 07

1.1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng 07

1.1.2 Đối tượng của xếp hạng tín dụng 07

1.1.3 Tầm quan trọng của xếp hạng tín dụng 09

1.1.3.1 Rủi ro tín dụng 09

1.1.3.2 Thiệt hại từ rủi ro tín dụng 10

1.1.3.3 Vai trò của xếp hạng tín dụng trong quản trị rủi ro 11

1.1.4 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng 11

1.1.5 Mô hình xếp hạng tín dụng .12

1.1.6 Phương pháp xếp hạng tín dụng theo mô hình điểm số .12

1.1.7 Quy trình xếp hạng tín dụng .13

1.2 Một số nghiên cứu và kinh nghiệm về XHTD trên thế giới 13

1.2.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm của S&P, Moody’s và Fitch 14

1.2.2 Mô hình điểm số tín dụng DN của Edward I Altman 16

1.2.3 Sự tương đồng giữa mô hình điểm số tín dụng của Edward I Altman và xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor 20

Trang 5

1.3 Kinh nghiệm XHTD của một số NHTM tại Việt Nam 21

1.3.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm của CIC 21

1.3.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng của Vietinbank 21

1.3.3 Hệ thống xếp hạng tín dụng của Vietcombank 22

1.3.4 Hệ thống xếp hạng tín dụng của ACB 25

1.3.5 Bài học kinh nghiệm XHTD cho LienVietPostBank 27

1.4 Ý nghĩa của việc hoàn thiện hệ thống XHTD KHDN đối với các NHTM 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHDN CỦA LIENVIETPOSTBANK 2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của LienVietPostBank 30

2.2 Chính sách tín dụng của LienVietPostBank 31

2.3 Nguyên tắc chấm điểm và sử dụng kết quả XHTD 32

2.4 Mô hình tính điểm XHTD KHDN của LienVietPostBank 33

2.4.1 Mô hình chấm điểm XHTD doanh nghiệp tại chi nhánh của LienVietPostBank 34

2.4.2 Tổng hợp XHTD doanh nghiệp định kỳ tại hội sở của LienVietPostBank 39

2.5 Nghiên cứu một số tình huống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank 39

2.5.1 Nghiên cứu trường hợp thứ nhất: Doanh nghiệp đã được xếp loại A nhưng có xu hướng phát sinh nợ quá hạn 40

2.5.2 Nghiên cứu trường hợp thứ hai: Doanh nghiệp được xếp loại BBB và đã phát sinh nợ quá hạn .43

2.6 Đánh giá hệ thống XHTD nội bộ KHDN của LienVietPostBank 46 2.6.1 Những kết quả đạt được 47

2.6.2 Những hạn chế tồn tại cần khắc phục 48

Trang 6

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN

DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA LIENVIETPOSTBANK

3.1 Mục tiêu của việc hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách

hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank .52

khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank .53

dụng doanh nghiệp 53 3.2.2 Đề xuất sửa đổi bổ sung mô hình chấm điểm xếp hạng tín dụng

doanh nghiệp của LienVietPostBank 55 3.3 Kiểm chứng mô hình xếp hạng tín dụng khách hàng doanh

nghiệp của LienVietPostBank sau điều chỉnh 68 3.4 Các giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD KHDN tại Ngân

hàng TMCP Bưu điện Liên Việt .74

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

LIENVIETPOSTBANK

LIENVIETPOSTBANK

HƯỚNG DẪN CỦA NHNN PHỤ LỤC IV: TIÊU CHUẨN TÍNH ĐIỂM XHTD DOANH NGHIỆP THEO

ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI BỔ SUNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trang 7

PHỤ LỤC V: KẾT QUẢ CHẤM ĐIỂM XHTD DOANH NGHIỆP CỦA

CÔNG TY CP A BẰNG MÔ HÌNH SỬA ĐỔI THEO ĐỀ XUẤT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC VI: THUYẾT THIÊN NGA ĐEN

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Diễn giải

Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

Ngân hàng thương mại

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Hệ thống đánh giá tín dụng trong dài hạn của S&P và Fitch 14

Bảng 1.2: Hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của Moody’s 15

Bảng 1.3: Tương quan giữa chỉ số Z” điều chỉnh của Altman với hệ thống ký hiệu xếp hạng của S&P 20

Bảng 1.4: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD doanh nghiệp Vietinbank 22

Bảng 1.5: Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính chấm điểm XHTD doanh nghiệp của Vietcombank 23

Bảng 1.6: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD của Vietcombank 24

Bảng 1.7: Hệ thống ký hiệu xếp hạng doanh nghiệp của Vietcombank 25

Bảng 1.8: Hệ thống XHTD xét duyệt của ACB 26

Bảng 1.9: Hệ thống XHTD phân loại nợ của ACB 27

Bảng 2.1 Tóm tắt tình hình hoạt động của LienVietPostBank trong thời gian qua 31

Bảng 2.2: Hướng dẫn tính toán một số chỉ tiêu phân tích tài chính trong chấm điểm XHTD DN của LienVietPostBank 36

Bảng 2.3: Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính chấm điểm XHTD doanh nghiệp của LienVietPostBank 37

Bảng 2.4: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD doanh nghiệp của LienVietPostBank 37

Bảng 2.5: Hệ thống ký hiệu XHTD doanh nghiệp của LienVietPostBank 38

Bảng 2.6: Tình hình xếp loại và nợ xấu của nhóm đối tượng doanh nghiệp nghiên cứu 40

Bảng 2.7: Tóm tắt bảng cân đối kế toán năm 2010 của Công ty CP A 41

Bảng 2.8: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP A 42

Bảng 2.9: Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính của Công ty CP A 42

Bảng 2.10: Tóm tắt bảng cân đối kế toán năm 2010 của Công ty CP B 44

Bảng 2.11: Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính của Công ty CP B 45

Bảng 2.12: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD của Công ty CP B 45

Bảng 3.1: Thang điểm và trọng số các chỉ tiêu chấm điểm xếp hạng doanh nghiệp theo quyết định 57/2002/QĐ-NHNN 53

Bảng 3.2: Hệ thống ký hiệu xếp hạng doanh nghiệp theo quyết định 57/2002/QĐ-NHNN 54

Bảng 3.3: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính XHTD doanh nghiệp theo đề xuất sửa đổi của đề tài 56

Trang 10

Bảng 3.4: Chấm điểm các chỉ tiêu dự báo nguy cơ khó khăn tài chính

XHTD DN theo đề xuất sửa đổi của đề tài 57 Bảng 3.5: Chấm điểm các chỉ tiêu thông tin phi tài chính XHTD

doanh nghiệp theo đề xuất sửa đổi của đề tài 59 Bảng 3.6: Điểm tổng hợp XHTD doanh nghiệp theo đề xuất sửa đổi

của đề tài 66 Bảng 3.7: Đánh giá tình hình trả nợ của doanh nghiệp theo đề xuất

sửa đổi của đề tài 67 Bảng 3.8: Ma trận xếp loại khoản vay doanh nghiệp theo đề xuất sửa

đổi của đề tài 67 Bảng 3.9: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP B bằng

mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài 68 Bảng 3.10: Xác định chỉ số nguy cơ vỡ nợ của Công ty CP B bằng

hàm thống kê Z-score của Altman 69 Bảng 3.11: Chấm điểm các chỉ tiêu dự báo nguy cơ khó khăn tài chính

của Công ty CP B bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của

đề tài 69 Bảng 3.12: Chấm điểm các chỉ tiêu thông tin phi tài chính của Công ty

CP B bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài 70 Bảng 3.13: Điểm tổng hợp XHTD doanh nghiệp của Công ty CP B

bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài 73 I.1: Chấm điểm quy mô DN của LienVietPostBank Phụ lục I I.2: Xác định doanh nghiệp theo lĩnh vực, ngành nghề kinh

doanh của LienVietPostBank Phụ lục I I.3: Bảng điểm chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhóm ngành

Nông, lâm, ngư nghiệp theo LienVietPostBank Phụ lục I I.4: Bảng điểm chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhóm ngành

Thương mại – Dịch vụ theo LienVietPostBank Phụ lục I I.5: Bảng điểm chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhóm ngành

Công nghiệp nặng theo LienVietPostBank Phụ lục I I.6: Bảng điểm chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhóm ngành

Công nghiệp nhẹ theo LienVietPostBank Phụ lục I I.7: Bảng điểm chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhóm ngành

Đầu tư xây dựng cơ bản theo LienVietPostBank Phụ lục I I.8: Bảng điểm đánh giá nhóm chỉ tiêu Trình độ quản lý và môi

trường nội bộ theo LienVietPostBank Phụ lục I I.9: Bảng điểm đánh giá nhóm chỉ tiêu Các nhân tố bên ngoài

doanh nghiệp theo LienVietPostBank Phụ lục I I.10: Bảng điểm đánh giá nhóm chỉ tiêu Quan hệ với TCTD theo

LienVietPostBank Phụ lục I I.11: Bảng điểm đánh giá nhóm chỉ tiêu Các đặc điểm hoạt động

của doanh nghiệp theo LienVietPostBank Phụ lục I II.1: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP B Phụ lục II

Trang 11

II.2: Chấm điểm Trình độ quản lý và môi trường nội bộ của

Công ty CP B Phụ lục II II.3: Chấm điểm Các nhân tố bên ngoài của Công ty CP B Phụ lục II II.4: Chấm điểm Quan hệ với Ngân hàng của Công ty CP B Phụ lục II II.5: Chấm điểm Các đặc điểm hoạt động của DN của Công ty

CP B Phụ lục II III.1: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp ngành Nông, lâm, ngư nghiệp theo quyết định 57/2002/QĐ-NHNN Phụ lục III III.2: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp ngành Thương mại dịch vụ theo quyết định 57/2002/QĐ-NHNN Phụ lục III III.3: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp ngành Xây dựng theo quyết định NHNN Phụ lục III III.4: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp ngành Công nghiệp theo quyết định NHNN Phụ lục III IV.1: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

57/2002/QĐ-nghiệp nhóm ngành Nông, lâm, ngư 57/2002/QĐ-nghiệp theo đề xuất sửa đổi của đề tài Phụ lục IV IV.2: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp nhóm ngành Thương mại -Dịch vụ theo đề xuất sửa đổi của đề tài Phụ lục IV IV.3: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh

nghiệp nhóm ngành Công nghiệp nặng theo đề xuất sửa đổi của đề tài Phụ lục IV IV.4: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của DN nhóm

ngành Công nghiệp nhẹ theo đề xuất sửa đổi của đề tài Phụ lục IV IV.5: Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của DN nhóm

ngành Đầu tư XD CB theo đề xuất sửa đổi của đề tài Phụ lục IV V.1: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP A bằng

mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài Phụ lục V

V.2: Xác định chỉ số nguy cơ vỡ nợ của Công ty CP A bằng

hàm thống kê Z-score của Altman Phụ lục V

V.3: Chấm điểm các chỉ tiêu dự báo nguy cơ khó khăn tài chính

của Công ty CP A bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của

đề tài Phụ lục V

V.4: Chấm điểm các chỉ tiêu thông tin phi tài chính của Công ty

CP A bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài Phụ lục V

bằng mô hình sửa đổi theo đề xuất của đề tài Phụ lục V Thuyết Thiên nga đen Phụ lục VI

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, thế giới đang trải qua giai đoạn suy thoái kinh tế với mức độ sâu rộng chỉ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 mà chủ yếu bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ và khủng hoảng nợ công năm 2010, 2011 tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Euro zone)

Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam đang bước vào thời kỳ tăng trưởng ổn định sau giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Dù mức độ gia nhập WTO chưa sâu rộng, tuy nhiên, những ảnh hưởng của kinh tế thế giới vẫn có tác động khá rõ nét đến nhiều khía cạnh và phương diện của kinh tế nước ta

Một trong những nguyên nhân của giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay là

độ chính xác của các báo cáo xếp hạng định mức tín nhiệm của khách hàng vay (cá nhân, doanh nghiệp và định chế tài chính), định mức xếp hạng trái phiếu doanh nghiệp và báo cáo xếp hạng tín nhiệm của quốc gia Không phải chờ cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 xảy ra, người ta mới nói đến tính chính xác, khách quan và trung thực của các kết quả xếp hạng tín nhiệm được các tên tuổi lớn trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới công bố

Trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt được thành lập năm 2008, là ngân hàng đầu tiên được thành lập sau 15 năm ngưng cấp phép thành lập Do đó, thời gian hoạt động của LienVietPostBank khá ngắn so với mặt bằng “độ tuổi” chung của các ngân hàng thương mại khác Ngay trong năm 2008, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt đã ban hành quy định về xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng vay bao gồm khách hàng cá nhân, khách hàng doanh ngh iệp và khách hàng định chế tài chính Đến năm

2011, sau 3 năm hoạt động, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt đã gia tăng một cách đáng kể với tỷ lệ tương ứng là

Trang 13

3,14% và 2,05% tổng dư nợ vay vào ngày 30/09/2011 Các tỷ lệ trên đã vượt giới hạn cho phép của Ngân hàng Nhà nước và tỷ lệ nợ quá hạn của chính ngân hàng Với ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu an toàn và giữ ổn định trong hoạt động tín dụng, các nhà quản trị của LienVietPostBank đã có các quy định bổ sung về hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng vay Dù hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của LienVietPostBank có nhiều chỉnh sửa và hoàn thiện hơn so với hệ thống trước đây, tuy nhiên hệ thống XHTD nói chung và XHTD doanh nghiệp nói riêng vẫn còn một

số hạn chế cần phải được hoàn thiện và bổ sung hơn

Đề tài “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp

tại LienVietPostBank” đã chỉ ra cách đánh giá của hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội

bộ khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, hiện trạng

và các đề xuất giúp hoàn thiện hệ thống trên

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Thế giới

Các tổ chức tín dụng và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới khi cấp tín dụng cho một khách hàng bất kỳ hoặc theo yêu cầu nghiệp vụ, một trong những việc đầu tiên là việc đánh giá xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng đó, bất

kể khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hay một quốc gia Với bề dày quá trình hoạt động của mình, hệ thống và quy trình xếp hạng định mức tín nhiệm của các định chế tài chính này được cập nhật và hoàn thiện qua nhiều thập kỷ, do đó các hệ thống này đánh giá được toàn bộ các khía cạnh, triển vọng và rủi ro của đối tượng được xếp hạng

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới trong đó bao gồm Fitch Ratings, Moody’s và Standard & Poor's thường cập nhật và sửa đổi hệ thống xếp hạng tín nhiệm của mình thông qua các nghiên cứu và báo cáo khoa học của những tên tuổi lớn trong lĩnh vực này, trong đó có Edward I Altman với chỉ số Z (mô hình điểm số tín dụng), mô hình hồi quy Probit được phát triển tiên phong bởi Frankel và Rose (1996) và mô hình cấu trúc rủi ro tổng hợp của Merton, là các mô hình đang

Trang 14

được sử dụng hiệu quả tại nhiều nước trên thế giới để dự đoán nguy cơ phá sản và xếp hạng rủi ro tín dụng

2.2 Trong nước

Với mục tiêu tiếp cận các chuẩn mực quốc tế như Basel trong quản trị rủi ro các ngân hàng hiện đại, Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002 triển khai thí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp NHNN cũng đã yêu cầu tăng cường kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại

nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng

Hiện nay tại Việt Nam, hầu hết các ngân hàng thương mại vẫn đang thực hiện phân loại nợ theo điều 6 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản vay đang có dư nợ Các nhóm nợ theo điều 7 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN:

- Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

- Nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

- Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

- Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao

- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Khả năng nợ xấu thực tế của các ngân hàng thương mại có thể cao hơn con số chính thức các ngân hàng đưa ra mà trong đó có nguyên nhân không kém phần quan

Trang 15

trọng đó là hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa đánh giá được toàn diện và đầy đủ các điểm đặc trưng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của từng loại hình khách hàng, các rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn mà khách hàng và thậm chí là ngân hàng có thể gánh chịu

Hệ thống xếp hạng tín nhiệm của các ngân hàng thương mại trong nước hiện nay đã có nhiều bước hoàn thiện đáng kể nếu so với thời kỳ cuối thập niên 90 Đó cũng là kết quả tất yếu của quá trình hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các ngân hàng trong nước thường điều chỉnh hệ thống XHTD của mình, mà điển hình là theo mô phỏng hệ thống XHTD của các ngân hàng nước ngoài và các tên tuổi lớn khác trên thế giới Lý thuyết của Edward I Altman với chỉ số Z (mô hình điểm số tín dụng) được áp dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại trong nước, tuy nhiên vẫn còn nhiều yêu cầu cần được hoàn thiện ở các hệ thống XHTD này

3 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm trả lời câu hỏi của các nhà quản trị LienVietPostBank về tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của LienVietPostBank gia tăng một cách đáng kể so với tổng dư nợ từ 0,19% vào tháng 6 năm 2009 (với tổng dư

nợ quy đổi là 3.489 tỷ đồng) cho đến tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu vào cuối tháng 9 năm 2011 tương ứng là 3,14% và 2,05% (với tổng dư nợ quy đổi là 11.459 tỷ đồng)

Dù các nhà quản trị của LienVietPostBank đã áp dụng các chuẩn mực đánh giá xếp hạng khách hàng và quản lý nợ vay đúng theo quy định của Ủy ban Basel và của Ngân hàng Nhà nước nhưng các tỷ lệ nợ xấu vẫn tăng đáng kể Thực chất, tỷ lệ nợ xấu như công bố trên chưa chắc đã phản ánh đúng con số thực tế của ngân hàng, điều này còn phụ thuộc vào các mục đích công bố số liệu của các nhà quản trị ngân hàng, các cách thức ẩn dấu số liệu hay đơn giản chỉ là việc hướng đến một con số kế hoạch cho vừa sức trong tương lai

Luận văn cung cấp các khía cạnh để các nhà quản trị của LienVietPostBank

có thể tiếp cận cơ sở lý luận của các tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực xếp hạng tín

Trang 16

nhiệm trên thế giới như Moody’s và Standard & Poor với chỉ số Z (mô hình điểm số tín dụng) trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của mình Đề tài cũng cho thấy những hạn chế và các đề xuất khắc phục nhằm cải tiến và hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của LienVietPostBank

3.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài đươc giới hạn là mô hình các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến cuối năm 2011

Cơ sở của phạm vi và đối tượng nghiên cứu như trên là do LienVietPostBank bắt đầu ban hành quy định tạm thời hệ thống XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp vào ngày 15/12/2008 và quy định hệ thống XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp ngày 05/02/2010

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để tiếp cận chuyên môn

về đối tượng nghiên cứu theo nội dung, phương pháp và kỹ thuật xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank Nghiên cứu này sử dụng các quy trình, quy định xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank, các thông tin thứ cấp là kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại một Chi nhánh của LienVietPostBank và Bản tin tín dụng của Phòng Quản lý rủi ro LienVietPostBank (khối pháp chế & QLRR) trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2011

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích số liệu định tính để làm rõ hiện trạng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt Kết hợp với phương pháp so sánh với các tiêu chuẩn đánh giá phổ biến trên thị trường xếp hạng tín nhiệm quốc tế và trong nước, qua đó nghiên cứu đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD của LienVietPostBank

Trang 17

4 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc của luận văn đươc bao gồm phần giới thiệu và ba chương với cấu trúc như sau:

Phần giới thiệu: Sơ lược các nội dung về lý do chọn đề tài, tổng quan vấn đề nghiên cứu trong nước và thế giới, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu,

ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Chương I: Trình bày các vấn đề chung về hệ thống xếp hạng tín dụng bao gồm tổng quan về XHTD, kinh nghiệm XHTD doanh nghiệp ở các nước phát triển, nghiên cứu của Edward I Altman về mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp và tổng quan XHTD tại Việt Nam

Chương II: Trình bày thực trạng của hệ thống XHTD LienVietPostBank, kết quả thực tế các tình huống nghiên cứu XHTD của hệ thống Từ đó luận văn tiến hành phân tích, đánh giá, so sánh và kiểm chứng các chỉ tiêu so sánh trong mô hình xếp hạng để đưa ra các điểm đạt được cũng như các hạn chế tồn tại cần hoàn thiện,

bổ sung tăng cường hiệu quả ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng qua hệ thống sàng lọc khách hàng

Chương III: Trình bảy các giải pháp thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài trình bày sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp tại LienVietPostBank Đề tài tập trung vào phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra hướng kiểm chứng các chỉ tiêu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng bằng các công cụ tiên tiến và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng thực tiễn vào quá trình nghiệp

vụ xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank nhằm đáp ứng yêu cầu gia tăng tốc độ phát triển tín dụng gắn với tiêu chí ổn định bền vững

Trang 18

CHƯƠNG I:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG

DOANH NGHIỆP TẠI NHTM

Mục tiêu nghiên cứu của chương này nhằm tiếp cận một số một số cơ sở lý luận hiện đại trong lĩnh vực XHTD doanh nghiệp, những tham khảo về các hệ thống xếp hạng tín dụng hàng đầu của Mỹ, giới thiệu công trình khoa học điển hình của tác giả nước ngoài đã được công bố: Mô hình chỉ số tín dụng đa biến của Altman trong dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp Đề tài cũng trình bày về hệ thống XHTD của một số NHTM trong nước Qua đó có thể phát hiện những thành tựu mà các hệ thống XHTD của các tổ chức này đạt được để có giá trị xem xét đề xuất áp dụng hoàn thiện cho hệ thống XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp của LienVietPostBank

1.1 Tổng quan về XHTD

1.1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng

Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện chí trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu

1.1.2 Đối tượng của xếp hạng tín dụng

Hệ thống XHTD tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng, các NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của người đi vay mà đơn thuần là đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro, từ đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp Một sự xếp hạng cao của một khách hàng đi vay chưa phải là chắc chắn trong việc thu hồi đầy đủ các khoản gốc

và lãi vay, mà chỉ là cơ sở để đưa ra quyết định đúng đắn về tín dụng đã được điều chỉnh theo dự kiến mức độ rủi ro tín dụng có liên quan đến khách hàng là người đi vay và tất cả các khoản vay của khách hàng đó

Trang 19

Xếp hạng người đi vay chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản

là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ PD (Probability of Default) Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ trong vòng 5 năm trước đó của khách hàng, bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Dữ liệu được phân theo ba nhóm: nhóm

dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng; nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu

về khả năng tăng trưởng của ngành; và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ, tình hình số dư tiền gửi, tình hình nợ quá hạn, Các nhóm dữ liệu này được đưa vào một mô hình định sẵn

để xử lý, từ đó tính được xác suất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là

mô hình tuyến tính, mô hình probit, … và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

Xếp hạng khoản vay đựa trên cơ sở xếp hạng người vay và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính Rủi ro của khoản vay được đo lường bằng xác suất rùi ro dự kiến

EL (Expected Loss) Xác suất này được tính theo công thức EL = PD x EAD x LGD Trong đó, EAD (Exposure at Default) là tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ), LGD (Loss Given Default) là tỷ trọng tổn thất ước tính

Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp Hiệp ước Basel II yêu cầu tính EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa

sử dụng bình quân Trong đó, LEQ (Loan Equivalent Exposure) là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng, có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ "LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân" chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân

Trang 20

Tổn thất ước tính bao gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh như lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán, chi phí xử lý tài sản đảm bảo, chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan LGD là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ tính theo công thức LGD = (EAD – Số tiền có thể thu hồi)/EAD

1.1.3 Tầm quan trọng của xếp hạng tín dụng

Hệ thống XHTD của NHTM nhằm cung cấp những dự đoán khả năng xảy ra rủi ro tín dụng có thể được hiểu là sự khác biệt về mặt kinh tế giữa những gì mà người đi vay hứa thanh toán với những gì mà NHTM thực sự nhận được Khái niệm rủi ro được xét đến ở đây là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn có thể ước đoán được xác suất xảy ra Khái niệm tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể

1.1.3.1 Rủi ro tín dụng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả NHTM ra đời để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh

tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ NHTM là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn lãi suất huy động để thu lợi nhuận Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng ngân hàng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường Do đó có thể xem rủi ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ cùa ngân hàng

Trang 21

Ngân hàng nhà nước đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005: “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ hoặc thu không đúng kỳ hạn cả gốc lẫn lãi của khoản vay Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ, Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian

cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh được gọi là rủi ro do Nguyên nhân khách quan, bao gồm ảnh hường biến động quá nhanh và khó dự đoán của nền kinh

tế, môi trường pháp lý chưa thuận lợi và bất cập, trình độ quản lý vĩ mô yếu kém, sự kiểm tra và giám sát của các cơ quan chức năng chưa hiệu quả Rủi ro xuất phát từ người đi vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do Nguyên nhân chủ quan, bao gồm

sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay; năng lực tài chính của người đi vay yếu kém, thiếu minh bạch; khả năng quản trị kém; thông tin bất cân xứng; xem nhẹ công tác thẩm định và kiểm tra sau cho vay; sự yếu kém nghiệp vụ của CBĐG; lỏng lẻo trong công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

1.1.3.2 Thiệt hại từ rủi ro tín dụng

Khi rủi ro tín dụng ảnh hường nặng nề đến hoạt động kinh doanh của NHTM

sẽ gây tâm lý hoang mang lo sợ cho cả người gửi tiền và có thể những người gửi tiền sẽ ổ ạt rút tiền làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn Sự hoảng loạn này ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm cho sức mua giảm, giá cả

Trang 22

tăng, xã hội mất ổn định Rủi ro tín dụng của NHTM trong nước cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế các nước có liên quan do sự hội nhập đã gắn chặt mối liên hệ về tiền

tệ, đầu tư giữa các quốc gia

NHTM gặp rủi ro tín dụng sẽ khó thu được vốn tín dụng đã cấp cho khách hàng vay và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối thu chi, mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

1.1.3.3 Vai trò của xếp hạng tín dụng trong quản trị rủi ro

Hệ thống XHTD giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng NHTM có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua việc giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng có mức đánh giá tín nhiệm cao, tức là nhóm khách hàng an toàn

Như vậy, XHTD rất cần thiết và thiết yếu đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, vì XHTD là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng, nhằm phân loại khách hàng cho vay và là cơ sở để xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, là cơ sở phân loại

nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

1.1.4 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng

Khái niệm hiện đại về XHTD được tập trung vào các nguyên tắc chủ yếu bao gồm phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay và từng khoản vay; đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh

và xu hướng khả năng trả nợ trong tương lai; đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng

Trong phận tích XHTD, cần thiết phải sử dụng phân tích định tính để bổ sung cho những phân tích định lượng Các dữ liệu định lượng là những quan sát được đo

Trang 23

lường bằng số, các quan sát không thể đo lường bằng số được xếp vào dữ liệu định tính Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của trình độ công nghệ và yêu cầu quản trị rủi ro

1.1.5 Mô hình xếp hạng tín dụng

Mô hình đơn giản nhất được sử dụng trong XHTD là mô hình một biến số Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mô hình một biến số bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm: thời gian hoạt động của doanh nghiệp,

số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản trị cấp cao, triển vọng ngành Nhược điểm của mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa, mỗi người có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo một cách khác nhau Để khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát triển những mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị để dự báo thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích lôgích, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích phân biệt nhiều biệt số Các mô hình XHTD được sử dụng ổn định và có thể điều chỉnh sau vài năm

sử dụng khi thấy có nhiều sai sót giữa xếp hạng và thực tế phát sinh

1.1.6 Phương pháp xếp hạng tín dụng theo mô hình điểm số

Mục đích của XHTD là để dự đoán những khách hàng có khả năng rủi ro cao chứ không nhằm lý giải vì sao họ phá sản, hay tìm câu trả lời cho giả thuyết về mối quan hệ giữa khả năng phá sản với các biến số kinh tế xã hội Các phương pháp XHTD hiện đại bao gồm phương pháp nghiên cứu thống kê dựa trên sự hồi quy và cây phân loại còn được gọi là thuật toán đệ nhị phân định; hoặc phương pháp vận trù học dựa trên toán học để giải quyết các bài toán tài chính bằng quy hoạch tuyến tính, qua đó nhà quản trị có được quyết định hợp lý cho các hành động trong hiện tại và tương lai

Trang 24

XHTD theo mô hình điểm số là phương pháp khoa học kết hợp sử dụng dữ liệu nghiên cứu thống kê và áp dụng mô hình toán học để phân tích, tính điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trong mô hình một biến hoặc đa biến Các chỉ tiêu sử dụng trong xếp hạng tín dụng doanh nghiệp được xác lập theo nhóm bao gồm phân tích ngành, phân tích hoạt động kinh doanh và phân tích hoạt động tài chính Sau đó đưa vào mô hình để tính điểm theo trọng số và quy đổi điểm nhận được sang một biểu tượng xếp hạng tương ứng Như vậy, những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến kết quả XHTD KHDN là các hệ số tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, đặc điểm nội tại

và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.7 Quy trình xếp hạng tín dụng

Căn cứ vào chính sách tín dụng và các quy định có liên quan của từng ngân hàng nhằm xác lập quy trình XHTD Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản như sau:

(1) Thu thập thông tin liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích đánh giá, thông tin xếp hạng của các tổ chức tín nhiệm khác liên quan đến đối tượng xếp hạng

(2) Phân tích bằng mô hình để kết luận về mức xếp hạng Mức xếp hạng cuối cùng được quyết định sau khi tham khảo các ý kiến Hội đồng xếp hạng Trong việc xếp hạng tín dụng của các NHTM thì kết quả xếp hạng không được công bố rộng rãi

(3) Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng được xếp hạng để điều chỉnh mức xếp hạng, các thông tin điều chỉnh được lưu giữ Tổng hợp kết quả xếp hạng so sánh với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức xếp hạng đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mô hình xếp hạng

1.2 Một số nghiên cứu và kinh nghiệm về xếp hạng tín dụng trên thế giới

Nhằm tiếp cận những cơ sở lý luận hiện đại trong lĩnh vực XHTD doanh nghiệp, đề tài nghiên cứu sẽ giới thiệu mô hình chỉ số tín dụng đa biến của Altman,

Trang 25

áp dụng để dự doán khả năng phá sản của doanh nghiệp Mô hình toán học của Altman gồm nhiều biến số có thể dự báo tương đối chính xác trên 90% các trường hợp vỡ nợ trên thị trường tài chính ở những nước phát triển như Mỹ và Châu Âu

Đề tài trình bày về các hệ thống XHTD doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ - nước dẫn đầu trong lĩnh vực XHTD, hệ thống XHTD của một số NHTM trong nước Qua đó,

đề tài đề xuất hướng nghiên cứu vận dụng nhằm bổ sung cho mô hình tính điểm xếp hạng tín nhiệm một biến số đang sử dụng tại các tổ chức tín nhiệm và các NHTM tại Việt Nam

1.2.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm của S&P, Moody’s và Fitch

Standard & Poor‘s (S&P; thành lập năm 1860) và Moody’s Investors Service (Moody’s; thành lập năm 1909) là hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín và lâu đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có thêm Fitch Investors Service (Fitch ratings; thành lập năm 1924) Kết quả xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức này được đánh giá rất cao Khi thị trường tài chính phát triển ngày càng phức tạp, ba hãng đánh giá xếp hạng tín nhiệm này với vai trò là những phân tích độc lập đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu

Hệ thống xếp hạng của S&P bao gồm các mức đánh giá AAA, AA, A, BBB,

BB, B, CCC, CC, C, D; thể hiện trong Bảng 1.1 Theo đó, các đánh giá xếp hạng tín

nhiệm của S&P sẽ cho thấy mức độ tăng truởng, mức độ suy giảm hay trung tính của thị trường Khoảng $ 1,7 nghìn tỷ đô la các tài sản đầu tư được trực tiếp gắn với tên tuổi của chỉ số S & P và hơn $ 4,85 nghìn tỷ đô là các giá trị của chỉ số S & P, con số này lớn hơn rất nhiều so với tất cả các nhà cung cấp chỉ số chứng khoán khác gộp lại Tổng số tiền nợ xấu được chỉ số S&P đánh giá trên toàn cầu là khoảng 32 nghìn tỷ đô tại 100 quốc gia

Bảng 1.1: Hệ thống đánh giá tín dụng trong dài hạn của S&P và Fitch

AAA Công ty có chất lượng tốt nhất, tính ổn định và độ tin cậy cao Hạng

AA Công ty có chất lượng, tuy nhiên có rủi ro cao hơn so với hạng AAA

Trang 26

A Công ty có thể bị ảnh huởng bởi biến động tình hình kinh tế chung nên đầu

BBB Công ty trung bình, thích hợp để đầu tư ở thời điểm hiện tại

BB Công ty có xu hướng dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của nền

kinh tế trong quá khứ

Hạng không nên đầu

B Công ty có tình trạng tài chính dễ thay đổi

CCC Công ty hiện tại bị tác động và phụ thuộc vào tình trạng kinh tế

CC Công ty bị tác động mạnh bởi tình hình hiện tại, trái phiếu có những

biến động khó dự đoán

C Công ty bị tác động mạnh bởi tình hình hiện tại, gần nguy cơ phá sản

tuy nhiên vẫn tiếp tục thanh toán các khoản nợ

D Công ty được đánh giá là mất khả năng thanh toán hầu hết các khoản

ro và kiểm soát nội bộ Bảng xếp hạng chất lượng công cụ nợ dài hạn doanh nghiệp

của Moody’s được thể hiện trong Bảng 1.2

Bảng 1.2: Hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của Moody’s

Trang 27

đánh giá cùng với Standard& Poor, thể hiện trong Bảng 1.1 (Trang 14)

1.2.2 Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman

Các chỉ số tài chính riêng biệt thường được sủ dụng trong chấm điểm XHTD không thể dự báo chính xác xu hướng khả năng xảy ra khó khăn về tài chính của doanh nghiệp vì phụ thuộc vào nhận thức riêng của từng người

Nhằm tăng cường tính chính xác khi dự dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp trong các mô hình chấm điểm XHTD, các NHTM có thể sử dụng những mô hình dự báo nhiều biến số Có nhiều phương pháp dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp đã được xây dựng và công bố Tuy nhiên, ít có phương pháp được kiểm tra

kỹ lưỡng và chấp nhận rộng rãi như hàm thống kê Z-score của Altman, còn gọi là chỉ số Z

Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I Altman (1968), Đại Học New York Sau đó được Steele (1984), Morris (1997) và các nhà nhiên cứu khác phát triển thêm Dạng tổng quát của mô hình là Z=c+∑ciri (Trong đó: c là hàng số, ri là các tỷ suất tài chính và chỉ tiêu phi tài chính được sử dụng như những biến số, ci là các hệ

số của mỗi biến số trong mô hình) Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật

Trang 28

và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA)

Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:

X1=

Vốn luân chuyển Tổng tài sản

· Đo lường tỷ trọng tài sản lưu động ròng của doanh nghiệp trong tổng tài sản

· Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn

· Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1

X2 =

Lợi nhuận giữ lại

Tổng tài sản

· Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian

· Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận Theo một nghiên cứu của Dun & Bradstreet (1993), khoảng 50% công ty phá sản chỉ hoạt động trong 5 năm

X3=

EBIT Tổng tài sản

· Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo

ra lợi nhuận từ các tài sản của nó Vì vậy, tỷ số này, theo Atlman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lợi

X4 =

Giá thị trường của vốn cổ phần Giá sổ sách của nợ

Trang 29

· Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn

· Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi

· Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đây là một phiên bản đã được sửa đổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của trái phiếu (1959) Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao

· Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị

Một số nghiên cứu vào thập niên 1960 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là tỷ

số rất tốt để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòng tiền và khấu hao của các doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số Z của Altman không bao gồm các

tỷ số có liên quan đến dòng tiền Điều này khá phù hợp với thực trạng về thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hơn nữa chỉ số Z đã được sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác 95% đối với mẫu dữ liệu) và nhiều nước khác thì rất có thể cũng sẽ thực hiện tốt tại Việt Nam trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay

dự báo phá sản

Trang 30

Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,64X4 + 0,999X5

· Nếu Z >2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

· Nếu 1,8< Z <2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản

· Nếu Z <1,8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:

Z' = 0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3 + 0,42X4 + 0,998X5

· Nếu Z' > 2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

· Nếu 1,23 < Z' < 2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản

· Nếu Z' <1,23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao

Đối với các doanh nghiệp khác:

Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được bỏ ra

Z" = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4

· Nếu Z" >2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

· Nếu 1,1 < Z" < 2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản

· Nếu Z” <1,1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao Chỉ số Z (hoặc Z’ và Z”) càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp

Để tăng được chỉ số này đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản trị, rà soát để giảm những tài sản không hoạt động, tiết kiệm chi phí hợp lý, xây dựng thương hiệu Đó

Trang 31

chính là sự kết hợp gián tiếp của nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính trong mô hình mới được gọi là chỉ số an toàn

1.2.3 Sự tương đồng giữa mô hình điểm số tín dụng của Edward I Altman và xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor

Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 700 công ty

để cho ra chỉ số Z" điều chỉnh:

Z"điều chỉnh = 3,25 + Z" = 3,25 + 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4

Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S&P Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp chuyên gia

Bảng 1.3: Tương quan giữa chỉ số Z” điều chỉnh của Altman với hệ thống ký hiệu

xếp hạng của S&P

(Nguồn: Altman (2003), The use of Credit scoring Models and the Importance of a Credit Culture, New York University Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm")

Trang 32

1.3 Kinh nghiệm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của một số NHTM tại Việt Nam

Trong quản trị rủi ro, NHTM chủ yếu sử dụng hệ thống XHTD để đánh giá khách hàng Tuy nhiên trong một số trường hợp, NHTM cũng cần tham khảo thông tin xếp hạng tín nhiệm được công bố của các NHTM và tổ chức kiểm toán trong nước, nhất là đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng khác nhau

1.3.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm của CIC

Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC) thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp theo hướng dẫn của NHNN Việt Nam nhằm tiến tới tiêu chuẩn hóa đánh giá các chỉ tiêu tài chính có thể áp dụng cho các NHTM trong nước CIC hiện đang sử dụng mười một chỉ tiêu tài chính để chấm điểm theo hướng dẫn tại quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002 của NHNN Mô hình này còn có hạn chế do hạn chế trong việc cập nhật dữ liệu tài chính theo ngành nghề, thiếu đánh giá đồng bộ và đầy đủ các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế hiện hành

1.3.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng của Vietinbank

Hệ thống các chỉ tiêu tài chính được đánh giá trong mô hình XHTD của Vietinbank dựa theo hướng dẫn của NHNN và có một số điều chỉnh hệ số thống kê ngành theo tính toán từ dữ liệu hệ thống thông tin tín dụng của Vietinbank

Thông thường mỗi chỉ tiêu tài chính trong XHTD của Vietinbank đánh giá có năm khoảng giá trị chuẩn tương ứng là năm mức điểm 20 - 100 (các điểm ban đầu)

Và mỗi nhóm chỉ tiêu phi tài chính cũng được phân thành năm mức như trên, nhưng trong từng nhóm chỉ tiêu phi tài chính lại bao gồm năm nhóm chỉ tiêu chi tiết với hai thang điểm 4, 8, 12, 16, 20 và 2, 4, 6, 8, 10 (các điểm ban đầu) Tổng điểm đạt được sau khi đã nhân điểm ban đầu với trọng số sẽ là kết quả để xếp loại DN

Mô hình XHTD doanh nghiệp tại Vietinbank bao gồm 11 chỉ tiêu tài chính, phân theo 4 nhóm ngành và 3 mức quy mô doanh nghiệp Các nhóm chỉ tiêu phi tài

Trang 33

chính trong mô hình đánh giá có trọng số khác nhau giữa DNNN, DN có vốn đầu tư nước ngoài và DN khác, bao gồm: Lưu chuyển tiền tệ, năng lực kinh nghiệm quản

lý, uy tín giao dịch với ngân hàng gồm quan hệ tín dụng và quan hệ phi tín dụng, môi trường kinh doanh, các đặc điểm hoạt động khác

Bảng 1.4: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD doanh nghiệp Vietinbank

Thông tin tài chính không được kiểm toán

Thông tin tài chính được kiểm toán

(Nguồn: Vietinbank)

Để tính tổng điểm đạt được cuối cùng, XHTD của Vietinbank còn phân loại doanh nghiệp theo hai loại là doanh nghiệp đã được kiểm toán và doanh nghiệp

chưa được kiểm toán như trình bảy trong Bảng 1.4 Kết quả xếp hạng được phân

thành mười mức theo hệ thống ký hiệu giảm dần từ AA+ đến C

Mô hình chấm điểm XHTD doanh nghiệp chú trọng đến các chỉ tiêu tài chính với trọng số tương đối lớn Tuy nhiên, tỷ trọng các chi tiêu tài chính và phi tài chính vẫn tương đồng với nhau với độ lệch không quá lớn

1.3.3 Hệ thống xếp hạng tín dụng của Vietcombank

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) xây dựng hệ thống XHTD theo nguyên tắc hạn chế tối đa ảnh hưởng chủ quan của các chỉ tiêu phi tài chính bằng cách thiết kế các chỉ tiêu phi tài chính và cung cấp những huớng dẫn chi tiết cho việc đánh giá chấm điểm các chỉ tiêu Đây là một trong những NHTM tại Việt Nam đi đầu trong việc áp dụng phân loại nợ theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN

Các chỉ tiêu tài chính được đánh giá dựa theo khung hướng dẫn của NHNN và

có điều chỉnh vài hệ số thống kê ngành theo tính toán từ dữ liệu thông tin tín dụng

Trang 34

của Vietcombank Các chỉ tiêu tài chính đánh giá có mười khoảng giá trị chuẩn tương ứng với năm mức điểm 10, 20 đến 100 (điểm ban đầu), các chỉ tiêu phi tài chính đánh giá có năm khoảng giá trị chuẩn tương ứng với năm mức điểm 20, 40,

60, 80, 100 (điểm ban đầu), nhìn chung thang điểm các chỉ tiêu tài chính của Vietcombank có sự chia tách rõ ràng hơn

Doanh nghiệp được phân loại theo ba nhóm: doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp tiềm năng để xác định rõ mục đích của XDTD đối với doanh nghiệp đó Trong đó quy mô đối với doanh nghiệp thông thường là bốn nhóm quy mô lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ, trong đó quy mô siêu nhỏ đánh giá theo thang điểm riêng với các nhóm còn lại

Đối với các doanh nghiệp thông thường sẽ được chấm điểm theo hệ thống gồm 4 nhóm chỉ tiêu tài chính tương ứng với năm mươi hai nhóm ngành Hệ thống nhóm chỉ tiêu tài chính gồm: nhóm chỉ tiêu thanh khoản (Khả năng thanh toán hiện hành, Khả năng thanh toán nhanh, Khả năng thanh toán tức thời), nhóm chỉ tiêu hoat động (Vòng quay vốn lưu động, Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay các khoản phải thu, Hiệu suất sử dụng tài sản cố định), nhóm chỉ tiêu cân nợ (Tổng nợ phải trả/tổng tài sản, Nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu) và nhóm chỉ tiêu thu nhập (Lợi nhuận gộp/doanh thu thuần, Lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần, Lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu, Lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình quân, Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/lãi vay phải trả)

Hệ thống chỉ tiêu phi tài chính gồm hơn 40 chỉ tiêu đánh giá thuộc năm nhóm

được trình bày tại Bảng 1.5

Bảng 1.5: Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính chấm điểm XHTD

doanh nghiệp của Vietcombank

Nhóm chỉ tiêu DNNN DN có vốn đầu tư nước

ngoài

DN khác

DN có vốn đầu tư thuộc khối OECD

DN có vốn đầu tư nước ngoài khác

Công ty cổ phần đại chúng

DN khác

Trang 35

(Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam)

Hệ thống XHTD của Vietcombank còn phân loại doanh nghiệp theo ba nhóm chính là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (thuộc và ngoài khối OECD) và doanh nghiệp khác để tính điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính Ngoài ra Vietcombank còn phân loại doanh nghiệp theo hai loại là doanh nghiệp đã được kiểm toán và chưa được kiểm toán đối với quy mô doanh nghiệp

thông thường và doanh nghiệp siêu nhỏ như trình bảy trong Bảng 1.6

Bảng 1.6: Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm điểm XHTD của Vietcombank

Doanh nghiệp thông thường

Thông tin tài chính không được kiểm toán

Thông tin tài chính được kiểm toán

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Thông tin tài chính không được kiểm toán

Thông tin tài chính được kiểm toán

(Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam)

Căn cứ vào tổng điểm đạt được đã nhân với trọng số như đã trình bày nêu trên, doanh nghiệp được XHTD theo 16 nhóm giảm dần từ AAA đến D như trình

bày trong Bảng 1.7

Trang 36

Bàng 1.7: Hệ thống ký hiệu xếp hạng doanh nghiệp của Vietcombank

Tổng điểm Xếp hạng Phân loại rủi ro

(Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam)

1.3.4 Hệ thống xếp hạng tín dụng của ACB

Thông qua chương trình tư vấn của Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (E&Y), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cũng dần hoàn thiện hệ thống XHTD theo nguyên tắc hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong danh mục các khoản cấp tín dụng của ngân hàng

ACB đang tiến hành thí điểm việc áp dụng phân loại nợ theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, và ước tính dự phòng rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế IAS39 Những cải thiện về hệ thống này giúp ACB phân loại nợ và và trích lập dự phòng một cách chính xác hơn và tiến gần tới chuẩn mực quốc tế hơn

Hệ thống các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính được ACB xây dựng, bao gồm hai phần: Hệ thống chấm điểm phục vụ cho xét duyệt và Hệ thống chấm điểm phục

vụ cho phân loại nợ (sau khi cho vay và định kỳ 3 tháng/lần)

Việc đánh giá các yếu tố tài chính dựa trên phương pháp định lượng qua việc phân tích báo cáo tài chính năm gần nhất, các chỉ tiêu tài chính được xem xét bao

Trang 37

gồm: Nhóm chỉ tiêu thanh khoản, Nhóm chỉ tiêu hoạt động, Nhóm chỉ tiêu cân nợ, Nhóm chỉ tiêu thu nhập Các chỉ tiêu phi tài chính được đánh giá bằng phương pháp định tính và định lượng có năm khoảng giá trị chuẩn tương ứng với năm mức điểm

20, 40, 60, 80, 100; tỷ trọng cho từng chỉ tiêu thay đổi phụ thuộc vào quy mô và ngành nghề của doanh nghiệp

Tương tự như Vietcombank, ACB cũng phân chia quy mô doanh nghiệp thành các nhóm quy mô lớn, trung bình, nhỏ và quy mô rất nhỏ, trong đó quy mô rất nhỏ đánh giá theo thang điểm riêng với các nhóm còn lại

Hệ thống chỉ tiêu tài chính trong XHTD của ACB được đánh giá dựa vào báo cáo tài chính tròn năm, không sử dụng báo cáo tài chính hết quý Các thông tin tài chính được đánh giá thông qua một bộ chỉ tiêu gồm 14 chỉ tiêu tài chính

Hệ thống chỉ tiêu phi tài chính gồm hơn 70 chỉ tiêu đánh giá thuộc năm nhóm gồm Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp, Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý và môi trường nội bộ, Nhóm chỉ tiêu phản ánh quan hệ với ngân hàng, Nhóm chỉ tiêu phản ánh các ảnh hưởng đến ngành, Nhóm chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp ACB phân chia thành 26 ngành nghề tương ứng với 94 ngành chi tiết

Hệ thống XHTD của ACB còn phân loại doanh nghiệp theo loại hình sở hữu

là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp khác để tính điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính Ngoài ra ACB còn phân loại doanh nghiệp theo hai loại là doanh nghiệp chưa được kiểm toán và doanh nghiệp

đã được kiểm toán

Tổng điểm kết hợp của hai yếu tố định tính và định lượng sau khi nhân trọng

số sẽ giúp xác định mức phân loại của khoản cho vay theo Bảng 1.8 và Bảng 1.9

Bảng 1.8: Hệ thống XHTD xét duyệt của ACB

Tổng điểm Xếp hạng

Trang 38

(Nguồn: Ngân hàng TMCP Á Châu)

Bảng 1.9: Hệ thống XHTD phân loại nợ của ACB

Tổng điểm Xếp hạng Phân loại nợ

(Nguồn: Ngân hàng TMCP Á Châu)

1.3.5 Bài học kinh nghiệm XHTD cho LienVietPostBank

Thông qua các mô hình XHTD của các NHTM trong nước, đề tài rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá đối với mô hình XHTD hiện tại của LienVietPostBank

Mô hình XHTD KHDN của LienVietPostBank nên phân loại doanh nghiệp theo tính chất sở hữu vốn và theo tiêu chí đã kiểm toán hay chưa kiểm toán báo cáo tài chính để áp dụng và phân trọng số các nhóm chỉ tiêu tài chính và phi tài chính phù hợp hơn Mô hình XHTD nên phân chia quy mô doanh nghiệp theo quy mô rất nhỏ để có đánh giá theo thang điểm riêng với các nhóm quy mô còn lại, bên cạnh việc làm chi tiết hơn các điểm đánh giá ban đầu để phần chỉ tiêu tài chính được tách bạch hơn Việc XHTD tại LienVietPostBank phải được phối hợp thực hiện giữa CBĐG và cán bộ quản lý tín dụng để đảm bảo tính khách quan Ngoài ra,

Trang 39

LienVietPostBank cũng cần phải hướng đến việc phân loại nợ bằng phương pháp định tính theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN

1.4 Ý nghĩa của việc hoàn thiện hệ thống XHTD KHDN đối với các NHTM

Việc hoàn thiện hệ thống XHTD nói chung và XHTD KHDN nói riêng chính

là quá trình chỉnh sửa, sửa đổi bổ sung mô hình XHTD hiện tại với các giải pháp đề xuất và kiến nghị để dần hoàn chỉnh hệ thống XHTD Kết quả thể hiện của quá trình hoàn thiện XHTD là việc khắc phục được các hạn chế làm sai lệch kết quả XHTD, góp phần làm cho kết quả XHTD phản ánh chính xác, đúng bản chất tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp Qua

đó, thể hiện khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp được XHTD đối với NHTM

Thông qua việc sàng lọc, phân loại KHDN, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro một cách chính xác, quá trình hoàn thiện hệ thống XHTD KHDN của các NHTM có ý nghĩa giúp hạn chế và giới hạn rủi ro tín dụng ở mức mục tiêu, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận và bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng Khi các NHTM cho vay các khách hàng tốt, hệ số rủi ro giảm xuống, và tất yếu dẫn đến tài sản rủi ro tín dụng giảm Kết quả là hệ số an toàn vốn tăng, điều này dẫn đến hình ảnh ngân hàng trở nên đẹp hơn đối với thị trường, nhà đầu tư và các cơ quan giám sát

Kết luận các vấn đề nghiên cứu chương I:

Trong chương này, đề tài đã trình bày khái quát về rủi ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra sự cần thiết phải XHTD trong hoạt động tín dụng của các NHTM

Trong hoạt động tín dụng, các NHTM sẽ gặp phải rủi ro đó là điều không thể tránh khỏi Rủi ro tín dụng xảy ra do nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân khách quan, có những nguyên nhân chủ quan Biện pháp để nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của các NHTM

Trang 40

Để quản trị rủi ro tín dụng có nhiều công cụ, XHTD là một công cụ quản trị rủi ro tín dụng khoa học đã được sử dụng phổ biến tại các định chế tài chính trên thế giới và hiện nay cũng đang được các NHTM trong nước triển khai áp dụng

Đề tài cũng trình bày những cơ sở lý luận về XHTD, các mô hình XHTD của các tổ chức XHTD hàng đầu trên thế giới, yêu cầu đối với một hệ thống XHTD theo Basel II và một công trình nghiên cứu điển hình về XHTD với chỉ số Z-score của Altman Đồng thời, đề tài cũng đã trình bày các hướng dẫn về XHTD doanh nghiệp của NHNN, một số mô hình XHTD của các NHTM trong nước làm cơ sở để so sánh với mô hình XHTD đang áp dụng tại LienVietPostBank sẽ được trình bày trong Chương II của đề tài này

Ngày đăng: 10/01/2018, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm