Để hoàn thành luận văn: “Dạy học nhóm bài hội thoại trong môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học theo quan điểm giao tiếp” tôi đã sử dụng, kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu của các tác
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ KHÁNH
DẠY HỌC NHÓM BÀI HỘI THOẠI TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn: TS Đặng Thị Lệ Tâm
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn
đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS.Đặng Thị Lệ Tâm, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các thầy cô giáo
và các em học sinh trường Tiểu học Đồng Thịnh, trường Tiểu học Đức Bác, trường Tiểu học Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm sư phạm
Để hoàn thành luận văn: “Dạy học nhóm bài hội thoại trong môn Tiếng
Việt cho học sinh tiểu học theo quan điểm giao tiếp” tôi đã sử dụng, kế thừa có
chọn lọc các nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời nhận được rất nhiều
sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy, cô giáo; sự giúp đỡ của bạn bè, người thân
đã động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Khánh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Dự kiến đóng góp của luận văn 8
8 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỘI THOẠI TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 9
1.1 Một số vấn đề của lí thuyết hội thoại 9
1.1.1 Khái niệm về hội thoại 9
1.1.2 Vận động hội thoại 10
1.1.3 Các nhân tố giao tiếp và hội thoại 13
1.1.4 Cấu trúc hội thoại 14
1.2 Quan điểm giao tiếp 17
1.2.1 Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 17
Trang 61.2.2 Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học 18
1.3 Dạy học hội thoại ở tiểu học 20
1.3.1 Nội dung dạy học hội thoại trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 20
1.3.2 Vai trò của dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt trong cho học sinh 23
tiểu học 23
1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học với việc phát triển kỹ năng hội thoại 25
1.3.4 Khảo sát nội dung dạy học hội thoại trong Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 28
1.4 Thực trạng dạy học hội thoại ở tiểu học 32
1.4.1 Việc tổ chức dạy học của giáo viên 32
1.4.2 Năng lực hội thoại của học sinh 35
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM BÀI HỘI THOẠI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 38
2.1 Một số phương pháp đặc trưng dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh tiểu học 38
2.1.1 Phương pháp phân tích tình huống giao tiếp 38
2.1.2 Phương pháp rèn luyện theo mẫu 39
2.1.3 Phương pháp thảo luận nhóm 41
2.1.4 Phương pháp đóng vai - thực hành giao tiếp 43
2.2 Dạy học nhóm bài hội thoại ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp 46
2.2.1 Dạy học nhóm bài hội thoại theo quy định của chương trình 46
2.2.2 Dạy học hội thoại trong các bài học khác 62
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 72
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 72
Trang 73.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 72
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 73
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 73
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 73
3.3 Nội dung thực nghiệm 74
3.3.1 Thực nghiệm thăm dò 74
3.3.2 Thực nghiệm dạy học 75
3.3.3 Các tiêu chí đánh giá 83
3.3.4 Kết quả thực nghiệm và đối chứng 83
3.3.5 Kết luận chung về thực nghiệm 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Bảng thống kê lớp thực nghiệm và đối chứng 73 Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thực nghiệm của học sinh 83 Biểu đồ 3.1 Kết quả thực nghiệm - số lượng 84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất, là hệ thống tín hiệu đa dạng và phức tạp bậc nhất do con người sáng tạo ra Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp đã cho thấy ngôn ngữ là một hệ thống luôn vận động
và phát triển trong cơ chế hoạt động hành chức của nó Vì thế, dạy học ngôn ngữ bao giờ cũng phải gắn với hoạt động giao tiếp, phải xuất phát từ quan điểm giao tiếp để trang bị kiến thức cho người học Như vậy, giao tiếp là một quan điểm cơ bản trong dạy học tiếng Việt trong nhà trường Quan điểm giao tiếp chi phối toàn bộ quá trình dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông Giao tiếp vừa là điểm xuất phát, là đích hướng tới, vừa là nội dung vừa là định hướng phương pháp và là môi trường tổ chức dạy học các tri thức ngôn ngữ Quan điểm này nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học, phù hợp với mục tiêu dạy học tiếng mẹ đẻ hiện đại trên thế giới
“Ngôn ngữ cũng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (V Lênin), là điều kiện tồn tại của xã hội Quá trình giao tiếp chính là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm, vốn sống, vốn kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo.Vì vậy, phương tiện đạt hiệu quả cao nhất và đặc trưng cho loài người chính là ngôn ngữ
1.2 Dạy học hội thoại theo quan điểm giao tiếp đáp ứng được yêu cầu đổi mới theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho HS Giáo sư Đỗ Hữu
Châu khẳng định: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến
của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác…”[7, tr204] Hội thoại là một kĩ năng cần thiết, được sử dụng nhiều nhất
Việc đưa hội thoại vào nhà trường đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nội dung cũng như trong phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ và dạy ngoại ngữ
Định hướng giáo dục hiện nay nhằm hướng tới phát triển năng lực cho
HS, vì vậy khi đưa nhóm bài hội thoại vào dạy trong chương trình và trong
Trang 11SGK là hoàn toàn phù hợp Với các tri thức học được về hội thoại, HS có thể
áp dụng tri thức đó vào các môn học khác cũng như vào việc giao tiếp hàng ngày với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng tạo lập hội thoại sao cho cuộc giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học hiện hành đặt mục tiêu:
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc ,viết) để học tập ở nhà trường và giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc,tự nhiên, tự tin trong môi trường xã hội thuộc phạm vi hoạt động lứa tuổi” Hội
thoại là dạng điển hình của hoạt động giao tiếp nói Do vậy, xuất phát từ mục tiêu trên, chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học đã chú trọng đến dạy phát triển lời nói cho HS thông qua nội dung dạy hội thoại Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học quan tâm và đưa hội thoại thành một nội dung học tập, như một trong những mục tiêu chính của môn học Vì vậy, việc chú ý đến dạy kĩ năng hội thoại cho HS tiểu học là việc làm có ý nghĩa quan trọng, giúp HS nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Chương trình này đã quy định các kĩ năng cần rèn luyện trong phần nội dung chương trình và mức độ cần đạt được trong phần chuẩn kiến thức và kĩ năng
Mặc dù hội thoại được đưa thành một nội dung học tập trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học từ đầu những năm 2000, nhưng đối với nhiều
GV việc thực hiện giảng dạy các bài có nội dung hội thoại còn gặp khó khăn Bên cạnh đó, vẫn còn một số HS chưa phát huy được tính tích cực, chủ động trong từng loại bài thực hành về hội thoại Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là việc tổ chức rèn luyện kĩ năng hội thoại cho HS còn nhiều hạn chế, nhiều GV chưa có biện pháp và chưa xây dựng thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng hội thoại hợp lí cho HS
Để nâng cao chất lượng nội dung dạy hội thoại trong môn Tiếng Việt cho
HS tiểu học, ngoài việc trang bị kiến thức, kĩ năng cho HS, GV cần xây dựng, thiết kế một quy trình rèn luyện kĩ năng hội thoại cho HS một cách hợp lí, đảm
Trang 12bảo yêu cầu của thực tế giáo dục tiểu học Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn
nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài: “Dạy học nhóm bài hội thoại trong môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học theo quan điểm giao tiếp”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1.Nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Trong những năm qua, việc dạy kĩ năng hội thoại cho HS cấp tiểu học rất được quan tâm nghiên cứu tìm hiểu Nhiều đơn vị trường học trong cả nước cũng đã có những đề tài nghiên cứu mang chủ đề tương tự, những sáng kiến kinh nghiệm giúp cho việc dạy và học nội dung này đạt hiệu quả cao hơn
Trên bình diện lí thuyết, vấn đề dạy hội thoại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu như:
Nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán cho rằng:
“Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức là phải tìm mọi cách hướng học sinh vào hoạt động nói năng…Học tiếng Việt, học sinh không phải chủ yếu chỉ nghiên cứu về nó mà phải biết cách sử dụng thành thạo vũ khí này vào tư duy và giao tiếp…Nguyên tắc dạy tiếng hướng vào hoạt động giao tiếp chi phối trực tiếp việc lựa chọn nội dung và sắp xếp nội dung kiến thức tiếng Việt cần giảng dạy”[1, tr58]
Trong tạp chí Ngôn ngữ số 4 năm 2001, tác giả Lê A nhận xét chung về
việc học tiếng Việt của các em HS: “Năng lực tiếng Việt của các em còn nhiều
non yếu, không đáp ứng được yêu cầu giao tiếp trong công việc học tập cũng như trong lĩnh vực giao tiếp xã hội” [2, tr62] Từ đó, tác giả chỉ ra: “Chọn hoạt động giao tiếp làm đối tượng dạy học chẳng những bỏ qua các tri thức Việt ngữ mà còn góp phần làm cho những tri thức ấy linh hoạt, phong phú hơn và gắn với thực tế cuộc sống hơn” [2, tr62]
Lại một lần nữa, trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, tác giả
Lê A khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp giao tiếp khi dựa vào dạy
học tiếng Việt: “Phương pháp giao tiếp là phương pháp quan trọng trong việc
Trang 13tổ chức dạy học tiếng Việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Trên tinh thần này, phương pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu
để phát triển lời nói cho học sinh”[1, tr69-70]
Sau khi đi nghiên cứu ý kiến của các học giả về năng lực giao tiếp, trong
bài báo “Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong
nhà trường phổ thông hiện nay”, tác giả Vũ Thị Thanh Hương đã đưa ra nhận
xét: “Quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục tiêu giảng dạy
tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ thông hiện nay” [10, tr10]
Ngoài ra, còn có hàng loạt các nghiên cứu của các tác giả như: Đỗ Hữu
Châu với công trình “Đại cương ngôn ngữ học”; Nguyễn Đức Dân với cuốn
“Ngữ dụng học”; “Ngữ nghĩa lời hội thoại” hay Diệp Quang Ban với công
trình“Giao tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn”….Bên cạnh đó, còn có các
luận án, luận văn, các bài viết có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề dạy
hội thoại như Hồ Lê với bài viết “Tìm hiểu nội dung và cách thức hỏi trong Tiếng
Việt hiện đại” được in trên tạp chí Ngôn ngữ số 2/1978; Lê Đông với bài viết
“Câu trả lời và câu đáp câu hỏi” được in trên tạp chí Ngôn ngữ số 2/1985
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về hội thoại và lí thuyết hội thoại nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các công trình về cơ bản đã tạo được nền tảng lí luận cơ bản cho việc nghiên cứu sâu về hội thoại
2.2 Nghiên cứu về dạy học hội thoại theo quan điểm giao tiếp cho học sinh tiểu học
Bên cạnh những công trình nghiên cứu liên quan đến lí thuyết hội thoại thì vấn đề dạy học hội thoại cho HS cấp tiểu học cũng nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu
Trang 14Tìm hiểu tình hình nghiên cứu về vấn đề dạy hội thoại, đến nay chúng tôi
biết đến cuốn sách“Một số vấn đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí.Tác giả đã cố gắng chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối
thiểu về hội thoại dựa theo chương trình môn Tiếng Việt tiểu học hiện hành và lựa chọn cách trình bày các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng
cụ thể để người mới tiếp cận lý thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các kiểu bài tập dạy hội thoại trong bộ SGK Tiếng Việt tiểu học Trên cơ sở xác định mục đích, cấu trúc các kiểu bài tập đó, tác giả đề xuất ý kiến: Đóng vai là phương pháp đặc trưng dạy học các bài tập hội thoại nói chung và dạy học hội thoại cho HS tiểu học nói riêng Bài
viết “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo phương hướng giao tiếp ở một số
nước” của tác giả này đã bàn về cơ cấu hệ thống chương trình dạy ngôn ngữ
viết và ngôn ngữ nói cho HS tiểu học Theo tác giả, phương hướng dạy học giao tiếp và để giao tiếp đã thay đổi nhiều mặt của nội dung chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của một số nước trên thế giới
Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn kĩ năng nói theo hướng giao
tiếp trong công trình “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học
theo hướng giao tiếp” Tác giả trình bày các vấn đề hội thoại như: khái niệm,
cấu trúc hội thoại, các vẫn động hội thoại, các quy tắc hội thoại Làm cơ sở cho việc dạy học tiếng Việt theo hướng giao tiếp Đặc biệt từ lý thuyết hội thoại, tác giả đã rút ra một số vấn đề quan trọng, để HS làm một bài tập có nội dung hội thoại tốt, người GV cần chú ý tới một số điểm sau: phải chuẩn bị tốt cho nội dung bài nói, phải tạo được nhu cầu về hội thoại cho HS và tạo được hoàn cảnh giao tiếp tốt Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra một số kinh nghiệm giao tiếp thường dẫn đến thành công cho mỗi người khi tham gia giao tiếp như bình tĩnh,
tự tin, chú ý văn hóa cho lời nói và sử dụng ngữ điệu sao cho phù hợp với từng thời điểm nói
Trang 15Trong đề tài KH&CN “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng
nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt” của Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam (mã số V2007-06), tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho HS xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học, từ lí luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng nói độc thoại, nói hội thoại cho HS tiểu học
Hai tác giả Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga trong cuốn giáo trình
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” đã đưa ra một số vấn đề chung
về phương pháp dạy học các phân môn trong bộ môn Tiếng Việt Trong phần phương pháp dạy học các phân môn, các tác giả đã phân tích vai trò, nhiệm vụ dạy học, tìm hiểu cơ sở khoa học của việc dạy học, mô tả, phân tích nội dung
và tổ chức việc dạy học các phân môn
Như vậy có thể thấy lí thuyết hội thoại cũng như việc dạy hội thoại ở cấp tiểu học nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu, tìm hiểu một cách có cụ thể, toàn diện hệ thống nội dung dạy hội thoại trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Dạy học nhóm bài hội thoại trong môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học theo quan điểm giao tiếp”, luận văn nghiên cứu sự vận dụng các phương pháp tích cực và xây dựng quy trình dạy học nhóm bài hội thoại phù hợp với quan điểm giao tiếp nhằm hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài cần hoàn thành một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứ u những nô ̣i dung cơ bản về lý thuyết hô ̣i thoa ̣i, về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, về nội dung dạy hội thoại trong môn Tiếng Việt ở tiểu học cũng như đặc điểm ngôn ngữ của HSh tiểu học trong việc dạy học hội thoại
Trang 16- Tìm hiểu thực trạng dạy hội thoại cho HS tiểu học qua môn Tiếng Việt
- Nghiên cứu một số phương pháp dạy học để vận dụng dạy học nhóm bài hội thoại theo quan điểm giao tiếp
- Xây dựng quy trình dạy học nhóm bài hội thoại phù hợp với quan điểm giao tiếp để hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS
- Tổ chức thực nghiệm dạy học nội dung dạy hội thoại để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả nghiên cứu của đề tài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt ở tiểu học, trên cơ sở tìm hiểu và hệ thống hóa các vấn đề của ngôn ngữ học, giáo dục học, tâm lí học
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nhóm bài hội thoại trong các phân môn thuộc môn Tiếng Việt ở tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, khai thác các khía cạnh mà các công trình trước đó đã tiến hành làm cơ sở để tiến hành quá trình nghiên cứu tiếp theo của mình
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học nhóm bài hội thoại cho HS tiểu học hiện nay cùng với việc sử dụng các phương pháp dạy học hội thoại bằng cách dự giờ, quan sát, phỏng vấn, dùng phiếu hỏi ý kiến
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này dùng để xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lí và tính khả thi của việc dạy học nhóm bài hội thoại cho HS tiểu học theo quan điểm giao tiếp mà đề tài đề xuất Phương tiện chủ yếu để trắc nghiệm là các
Trang 17phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau, hướng tới đích điều tra về trình độ tư duy, kết quả học tập của HS
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần thực hiện mục tiêu của môn học theo hướng: hình thành và phát triển năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực giao tiếp
Trên cơ sở phân tích cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn, luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống phương pháp, quy trình dạy học nhóm bài hội thoại khi tiến hành dạy học hội thoại theo quan điểm giao tiếp
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy hội thoại trong
môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học theo quan điểm giao tiếp
Chương 2: Tổ chức dạy học nhóm bài hội thoại cho học sinh tiểu học
theo quan điểm giao tiếp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỘI THOẠI
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1.1 Một số vấn đề của lí thuyết hội thoại
1.1.1 Khái niệm về hội thoại
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các tác giả khi viết về vấn đề dạy học hội thoại, chúng tôi thấy có rất nhiều khái niệm khác nhau về hội thoại
Khi luận bàn về vấn đề hội thoại, trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, tác giả Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán có đưa ra quan niệm “Hội thoại là
hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [8, tr122]
Tác giả Nguyễn Trí trong Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu
học có viết “Hội thoại là cuộc giao tiếp bằng lời (ở dạng nói hay dạng viết) tối thiểu giữa hai nhân vật về một vấn đề nhằm đạt đích đã đặt ra” [30, tr11]
Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về hội thoại “Hội thoại là hình thức giao tiếp
thường xuyên và phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [7, tr201]
Hội thoại được hiểu là việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động xảy ra trong xã hội loài người, giữa người với người Đó là một hoạt động quan trọng, cần thiết, nhu cầu thiết yếu của con người để trao đổi thông tin, là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần phải sử dụng phương tiện giao tiếp để trao đổi thông tin Có hai loại phương tiện giao tiếp cơ bản là: phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (bao gồm: hành động, cử chỉ, động tác, hình vẽ, màu sắc, ) Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ tuy nhiều nhưng ít sử dụng do dung lượng thông tin ít
Trang 19Như vậy, căn cứ vào các quan niệm của các tác giả về hội thoại, theo
chúng tôi hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, có sự tham gia từ hai nhân
vật giao tiếp trở lên, có nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Khi tìm hiểu và nghiên cứu về hội thoại, các công trình của các tác giả thường tập trung vào các nội dung sau: vận động hội thoại; các nhân tố hội
thoại; cấu trúc hội thoại và các phương châm hội thoại
SP chỉ kí hiệu số người tham gia hội thoại, SP1 là vai người nói, SP2 là vai người nghe SP1, SP2 là các đối tượng tham gia hội thoại Trao lời là vận động mà SP1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía SP2 nhằm làm cho SP2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho SP2
Ví dụ: Trong giờ ra chơi, Tùng bảo Vinh:
- Cậu chơi cờ ca-rô với tớ đi!
Ở ví dụ trên là sự trao lời của người nói (Tùng) đã nói và đề nghị với người nghe (Vinh), chơi cờ ca-rô với mình trong giờ ra chơi
Trong vận động trao lời, sự có mặt của SP1 là điều tất yếu Điều đó được thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, quan điểm của SP1 trong nội dung của lượt lời trao Nói một cách tổng quát, trước khi SP2 đáp lời, tức thực hiện sự trao lời của mình, SP2 đã được đưa vào lượt lời, cùng tồn tại với ngôi thứ nhất trong lượt lời của người nói, thường xuyên kiểm tra và điều
Trang 20hành sự trao lời của người nói Trong hội thoại, dù trong những cuộc đối thoại tùy ý, ngẫu hứng thì SP1 cũng không hoàn toàn được tự do, muốn nói gì, nói theo cách nào thì nói, SP2 luôn luôn theo dõi và SP2 sẽ có phản ứng nếu như lượt lời của SP1 có gì không phù hợp với SP2
Chính vì vậy, phía mình SP1 là người trao lời phải nói trước, phải dự kiến trước, hình dung được và nắm bắt được tâm lí, tình cảm của SP2 trước khi nói Không những thế, SP1 còn phải dự đoán trước hiệu quả lượt lời của mình, dự đoán cả cách đáp lời của SP2 Thái độ, tâm lí về SP2 càng đúng với SP2 bao nhiêu thì khả năng thành công của sự trao lời của SP1 muốn nói trong hội thoại càng lớn bấy nhiêu
* Sự trao đáp
Cuộc hội thoại chính thức được hình thành khi SP2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của SP1 Trong vận động trao đáp, nội dung cuộc hội thoại sẽ diễn ra liên ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh, lúc chậm cùng với sự đổi thay liên tục giữa vai người nói, vai người nghe
- Không sao, mẹ ạ! Bạn Hà cũng chưa biết đọc [20, tr116]
Ở đoạn hội thoại trên có sự trao đáp luân phiên lượt lời của mẹ và bé, hai người thay nhau đáp lại lời nói của nhau
Cũng như vận động trao lời, sự trao đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, nhưng thường thì hai yếu tố này sẽ đồng hành với nhau Trong một cuộc hội thoại, diễn ngôn là sản phẩm của các hành vi ngôn ngữ Tất
cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể bằng các
Trang 21hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành các cặp hỏi/trả lời, chào/chào, đề nghị/nhận lời hoặc từ chối, cảm ơn/ đáp lời, xin lỗi/ đáp lời,
mà trong hội thoại gọi là các cặp kế cận
* Sự tương tác
Trong hội thoại, các nhân vật tham gia hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau, biến đổi lẫn nhau Trước khi thực hiện cuộc hội thoại, giữa các nhân vật có sự khác biệt đối lập, thậm chí trái ngược về các mặt (tâm
lí, tình cảm, mong muốn, ) Tuy nhiên, trong hội thoại không có sự khác biệt này thì cuộc giao tiếp trở thành thừa Trong hội thoại và qua hội thoại, những khác biệt này có thể sẽ giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên và biến thành xung đột Trên thực tế, vẫn có những cuộc thoại không thành công, làm người nói, người nghe thậm chí còn xa nhau hơn lúc ban đầu thực hiện cuộc thoại Điều này phụ thuộc phần lớn vào sự khéo léo của người nói
Tương tác là hoạt động chủ yếu trong hội thoại để giúp nhận biết xem hội thoại đó bắt đầu chưa, đang diễn ra hay kết thúc rồi Bởi hội thoại luôn luôn phải có sự luân phiên lượt lời (tương tác) giữa người nói và người nghe
Cuộc hội thoại có thể diễn ra ở hai cực: nhẹ nhàng, hợp tác hoặc vướng mắc, hỗn độn mà tiêu biểu là những cuộc tranh cãi Ở những cuộc tranh cãi ngoài cử chỉ, điệu bộ và ngữ điệu, sự trùng lời, cướp lời của nhau là dấu hiệu của cuộc hội thoại đi đến không có kết thúc, gây tâm lí khó chịu ở cả người nói
và người nghe Như vậy có nghĩa là trong các cuộc đối thoại đều phải có sự hợp tác (synchronisation) giữa các hoạt động của các nhân vật tham gia hội thoại về mọi mặt, trước hết là sự hòa hợp của lượt lời
Sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác là ba vận động đặc trưng cho hội thoại, trong đó hai vận động đầu do từng nhân vật tham gia hội thoại thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận động thứ ba Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật hội thoại sẽ hòa phối đề thực hiện sự liên hòa phối Đó là cốt lõi của vận động tương tác
Trang 221.1.3 Các nhân tố giao tiếp và hội thoại
Hội thoại bao gồm các nhân tố giao tiếp và hội thoại sau: nội dung giao tiếp, nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp
* Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp (hiện thực được giao tiếp) là sự vật, hiện tượng, những tâm trạng, tình cảm trong thực tế khách quan được đưa vào hoạt động giao tiếp Tùy theo hiện thực được nói tới, nhân vật giao tiếp lựa chọn nội dung
và cách thức giao tiếp phù hợp Nội dung giao tiếp chính là phạm vi hiện thực, thực tế khách quan được nói tới trong cuộc giao tiếp Mỗi phạm vi giao tiếp đều có cách giao tiếp khác nhau Để giao tiếp diễn ra bình thường và đạt mục đích đề ra, các nhân vật giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định Hiểu biết càng phong phú, càng cụ thể thì hiệu quả giao tiếp càng cao
* Nhân vật giao tiếp:
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia giao tiếp Có hai yếu tố của nhân vật giao tiếp ảnh hưởng đến cuộc thoại là vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Nói đến vai giao tiếp là nói đến vị trí của các nhân vật trong cuộc hội thoại Có hàng vạn, hàng triệu cuộc giao tiếp, cuộc hội thoại khác nhau nhưng tham gia vào các cuộc hội thoại chỉ có hai vai: người nói và người nghe Thông thường người nói đưa ra lời trao còn người nghe sẽ đưa ra lời đáp Cuộc hội thoại cứ thế tiếp diễn Như vậy luôn có sự đổi vai trong một cuộc hội thoại
* Mục đích giao tiếp:
Thực chất của hoạt động giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác nhằm thực hiện một mục đích nhất định Đó là hoạt động có ý thức của con người nên bao giờ mục đích của giao tiếp cũng chính là tác động: tác động nhận thức, tác động tình cảm và tác động hành động Như vậy, mỗi cuộc giao tiếp đều có đích giao tiếp, đều nhằm trả lời câu hỏi: giao tiếp nhằm mục đích gì? Có thể nói rằng chính đích giao tiếp sẽ quyết định toàn bộ diễn biến cuộc giao tiếp
Trang 23* Hoàn cảnh giao tiếp:
Bất kì cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra một bối cảnh cụ thể Hoàn cảnh giao tiếp (hay môi trường giao tiếp) chính là nơi chốn, thời gian, tình huống xảy ra cuộc giao tiếp được phân chia như sau:
+ Hoàn cảnh rộng: từ hoàn cảnh xã hội đến hoàn cảnh địa lí tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung của cộng đồng đến bối cảnh lịch sử, kinh tế chung
+ Hoàn cảnh hẹp: cụ thể là tình huống giao tiếp (ngữ cảnh)
Hoàn cảnh giao tiếp, đặc biệt là hoàn cảnh giao tiếp hẹp chi phối trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp Cùng nội dung giao tiếp nhưng sẽ dùng hình thức diễn đạt khác nhau trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau
Như vậy, việc nắm vững mục đích giao tiếp, các nhân tố giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp sẽ giúp người GV lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp để nâng cao hiệu quả dạy học hội thoại cho HS
1.1.4 Cấu trúc hội thoại
Khi khai thác về ngôn ngữ hội thoại, người ta khai thác ở phương diện cấu trúc, tổ chức và phương thức hội thoại Theo đó thì các cuộc hội thoại khi thực hiện sẽ không giống nhau, mỗi cuộc hội thoại sẽ có những nội dung (đề tài), cách trình bày, thời điểm phát ngôn, hoàn cảnh phát ngôn khác nhau nhưng tất cả đều phải chung một cấu trúc thực hiện
Nghiên cứu, tìm hiểu về lý thuyết hội thoại, GS.Đỗ Hữu Châu dẫn ra các quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Hội thoại là một tổ chức tôn
ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc của hội thoại từ lớn đến đơn vị tối thiểu là: cuộc thoại (còn gọi là cuộc tương tác), đoạn thoại, cặp trao đáp (còn gọi là cặp thoại), tham thoại và hành vi ngôn ngữ Trong
đó, cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại được hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại Hai đơn vị ngôn ngữ tham thoại và hành vi ngôn ngữ có tính chất đơn thoại, do một người nói ra
Trang 24Trong cuộc hội thoại, đơn vị cơ bản nhất là cuộc thoại Cuộc thoại lại được xem như sự hợp thành từ các đơn vị nhỏ hơn đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ Riêng chương trình Tiếng Việt ở tiểu học chỉ sử dụng các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại
* Cuộc thoại:
Cuộc thoại là đơn vị lớn nhất của hội thoại, là sản phẩm của tình huống hội thoại Cuộc thoại giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống hội thoại
Các tiêu chí để nhận diện một cuộc thoại:
+ Nhân vật hội thoại
+ Tính thống nhất về thời gian và địa điểm
+ Về đề tài diễn ngôn
+ Về ranh giới của cuộc thoại
Mô hình điển hình của một cuộc thoại gồm 3 loại đoạn thoại: đoạn thoại
mở đầu, các đoạn thoại phát triển nội dung hội thoại (tham thoại) và đoạn thoại kết thúc Tuy nhiên, những cuộc thoại không điển hình có thể thiếu một loại đoạn thoại nào đó
Ví dụ:
Có một thầy giáo dậy sớm, đi ra vườn theo cậu bé mù Thầy đến gần cậu
bé khẽ chạm vào vai cậu, hỏi:
-Em có thích bình minh không?
Trang 25Đoạn thoại được xây dựng trên cơ sở xác lập các cặp thoại liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung (chủ đề) và có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác tạo nên một cuộc thoại thành công Việc nhận biết một đoạn thoại đôi khi rất rõ nhưng đôi khi là khá mơ hồ, việc phân định đôi khi phải dựa vào các yếu tố: hoàn cảnh giao tiếp, mục đích, đề tài
Đoạn thoại ngắn nhất chỉ gồm một cặp thoại, đoạn thoại lớn nhất không hạn định số cặp thoại Tùy theo vị trí của đoạn thoại, ta có đoạn mở đầu hay kết thúc hoặc các đoạn thoại phát triển chung
Ví dụ:
Khỉ ngạc nhiên:
- Bạn là ai? Vì sao bạn khóc?
- Tôi là Cá Sấu Tôi khóc vì chả ai chơi với tôi
Khỉ nghe vậy, mời Cá Sấu kết bạn [21, tr50]
* Cặp thoại:
Cặp thoại là lượt lời có quan hệ với nhau về chức năng, nội dung và có thể liền kề hoặc dãn cách Lượt lời là sản phẩm ngôn ngữ mà người giao tiếp nói trong một lần nói liên tục, mỗi lượt lời có thể có một hay nhiều phát ngôn
có mối quan hệ với nhau về chức năng và nội dung
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời đáp (lời hồi đáp)
Ví dụ: Cặp thoại trong bài “Lòng dân”
“- Cai: Anh chị kia!
- Dì Năm: Dạ, cậu kêu chi?” [26, tr24]
Quy luật của hội thoại là trao gì đáp nấy Tuy nhiên, trong thực tế, có những cuộc hội thoại có một lời trao nhưng lại có nhiều lời đáp, mỗi lời đáp lại phù hợp với một tình huống hội thoại cụ thể Vì vậy, quy luật này chỉ có thể thực hiện khi gắn với các tình huống giao tiếp cụ thể
Trang 26* Hành vi ngôn ngữ:
Hành vi ngôn ngữ là khi chúng ta thực hiện một hành động mà sử dụng một phương tiện đặc biệt đó là ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất trong cuộc thoại
Ví dụ: Bạn đừng đi xe trên sân trường
Khi nói ra câu trên, người nói thực hiện hành vi cầu khiến với mong muốn người nghe đừng đi xe trên sân trường
Trong năm đơn vị hội thoại nêu trên thì ba đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại là ba đơn vị lưỡng thoại, do hai nhân thoại tạo nên trong quá trình trao đáp Còn hành vi ngôn ngữ là đơn vị đơn thoại do một nhân thoại tạo ra
1.2 Quan điểm giao tiếp
1.2.1 Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Dạy học tiếng Việt trong nhà trường theo quan điểm giao tiếp được thể hiện rõ nhất trong quan điểm dạy học - đó là việc vận dụng lí thuyết của quan điểm giao tiếp vào dạy học
Tác giả Lê A đã nghiên cứu và đưa ra định nghĩa: “Dạy học tiếng Việt là
dạy hoạt động giao tiếp, trong và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh” Định nghĩa này đã đề cập đến ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học tiếng Việt thể hiện quan điểm “dạy học tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp” bởi tiếng Việt là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để giao tiếp, khi nói tới ngôn ngữ là nói tới hoạt động giao tiếp và ngược lại
Thứ hai, bàn về cách thức dạy học tiếng Việt “trong và bằng giao tiếp” Xác định môi trường dạy học tiếng Việt phải là môi trường giao tiếp vì thế ngữ liệu dạy học phải được lấy ra từ thực tiễn cuộc sống, là sản phẩm của giao tiếp trong môi trường thực tiễn Khi GV dạy học nên cho HS quan sát cụ thể bằng tình huống, cho các em thực hiện chính sự giao tiếp đó để HS trải nghiệm và tự rèn luyện tiếng Việt cho mình Dạy học tiếng Việt chính là hoạt động giao tiếp,
Trang 27GV sử dụng tiếng Việt để tạo ra hoạt động giao tiếp thực tế và môi trường giao tiếp đó phải tạo được hứng thú cho HS trong quá trình học
Thứ ba, mục tiêu cơ bản của dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông là củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp của HS HS cần giao tiếp theo đúng chuẩn mực, có phong cách riêng, bên cạnh đó còn giúp HS phát triển tư duy, phát triển nhân cách để hoàn thiện bản thân Vì vậy, dạy học tiếng Việt chính là dạy cách giao tiếp cho HS
1.2.2 Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những quan điểm chủ đạo của chương trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học hiện nay: dạy học tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp Hiện nay các nước trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết cho học
sinh Quan điểm này thể hiện rất rõ mục tiêu môn học là: “hình thành và phát
triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi”, sách giáo khoa Tiếng
Việt lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ bản
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc….nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác….giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ
Đối với HS tiểu học, khi bước vào lớp Một, trẻ đã có ngôn ngữ nói thành thạo và bắt đầu học ngôn ngữ viết, thậm chí có em được người lớn dạy trước còn biết đọc, biết viết ít nhiều Tuy nhiên các kĩ năng hình thành ở lứa tuổi tiền học đường mới chỉ là kĩ năng giao tiếp thông thường Nhiệm vụ của nhà trường tiểu học là đào tạo cho các em có được những kĩ năng giao tiếp thành thục trong môi trường ngôn ngữ văn hóa Đến cuối cấp Tiểu học, HS đã thành thạo ngôn ngữ viết, bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Trong
Trang 28quá trình dạy học tiếng Việt, GV không những chỉ khai thác vốn hiểu biết về tiếng Việt của các em mà phải giúp các em hoàn thiện hơn nữa về các điều mà các em đã biết, giúp HS tiến hành hoạt động giao tiếp một cách chủ động, tự giác tích cực, có mục đích và phương pháp
Quan điểm dạy học giao tiếp trong chương trình Tiếng Việt tiểu học được thể hiện trên cả hai phương diện: nội dung và phương pháp dạy học Về nội dung, thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, SGK tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho
HS thông qua các phân môn như sau:
+ Phân môn Tập đọc rèn cho HS kĩ năng đọc, nghe và nói
+ Phân môn Luyện từ và câu cung cấp kiến thức về Tiếng Việt, rèn cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
+ Phân môn Chính tả rèn kĩ năng viết và nghe
+ Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết
+ Phân môn Kể chuyện rèn kĩ năng nghe, nói và đọc
+ Phân môn Tập làm văn rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết
Môn Tiếng Việt tạo cho HS các kĩ năng theo hướng phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp đồng thời tạo ra môi trường giao tiếp có chọn lọc
để HS mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Ví dụ: từ việc dạy HS các
kĩ năng cơ bản như nói lời xin lỗi, lời cảm ơn đến những kĩ năng giao tiếp chính thức, dạy ở mức độ cao hơn: phát biểu, viết thư, điều khiển cuộc họp…
Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết được dạy thông qua những bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên Các phương pháp đặc trưng nhất trong dạy các bài tập hội thoại cho HS phải kể đến như phương pháp đóng vai, phương pháp phân tích tình huống giao tiếp, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp rèn luyện theo
Trang 29mẫu, Mục đích của việc vận dụng các phương pháp dạy học này vào dạy các bài tập hội thoại là giúp HS có thể giao tiếp tốt trong các tình huống khác nhau
1.3 Dạy học hội thoại ở tiểu học
1.3.1 Nội dung dạy học hội thoại trong chương trình Tiếng Việt tiểu học
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học nhấn mạnh dạy tiếng Việt để giao tiếp và trong giao tiếp Có thể hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc….nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác….giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ
Môn Tiếng Việt tạo cho HS các kĩ năng theo hướng phát triển từ dễ đến khó, phát triển các kĩ năng giao tiếp thông thường từ đơn giản đến phức tạp đồng thời tạo ra môi trường giao tiếp có chọn lọc để HS mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp
Dạy tiếng Việt để giao tiếp liên quan đến việc xác định mục tiêu môn
học Chương trình đã đặt lên hàng đầu mục tiêu “hình thành và phát triển ở
học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi” Học và luyện tập các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt trở thành nội dung cốt lõi của môn Tiếng Việt Dạy tiếng Việt trong giao tiếp liên quan đến phương pháp dạy học đặc thù của môn học Mọi hoạt động học tập, luyện kĩ năng và kiến thức tiếng Việt phải được diễn ra trong môi trường giao tiếp
Và cũng xuất phát từ mục tiêu trên mà nội dung dạy tiếng Việt ở tiểu học
đã chú trọng đến dạy phát triển lời nói cho HS thông qua nội dung dạy hội thoại Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học đưa hội thoại thành một nội dung học tập Các chương trình này quy định các kĩ năng cần rèn luyện trong phần nội dung chương trình và mức độ cần đạt được trong phần chuẩn kiến thức và kĩ năng Nắm vững nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và kĩ
Trang 30năng có vai trò quan trọng để định hướng cho việc biên soạn SGK, xác định nội dung dạy học và yêu cầu cần đạt sau quá trình dạy học
Việc phát triển kĩ năng hội thoại là rất quan trọng vì hội thoại là một dạng hoạt động giao tiếp thường xuyên Nếu có kĩ năng hội thoại tốt thì học sinh sẽ dễ dàng tham gia hoạt động giao tiếp có hiệu quả Như vậy, rèn kĩ năng hội thoại cho HS là rèn một kĩ năng học tập và cũng là rèn kĩ năng sống
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học quy định các kiến thức và kĩ năng cần học và rèn luyện phục vụ cho dạy hội thoại như sau:
- Trong phân môn Tập đọc: Biết trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi (theo mẫu;
kể lại những câu chuyện trên lớp, nói lời chào hỏi, chia tay; nghe- trả lời câu hỏi và kể lại những mẩu chuyện có nội dung đơn giản; nói về mình và người thân bằng một vài câu đơn giản
Trang 31- Kể một ước mơ đẹp của em, của bạn; giới thiệu về một lễ hội, cảnh đẹp
ở địa phương em; kể về một nhân vật giàu nghị lực mà em biết;…
- Đóng vai để thực hiện cuộc trao đổi với người thân để nói lên nguyện vọng của bản thân hoặc trao đổi với người thân về tính cách đáng khâm phục của một nhân vật
* Lớp 5:
a) Kĩ năng:
- Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia; kể chuyện đã nghe, đã đọc
- Nghe và tham gia ý kiến trong trao đổi, thảo luận
b) Kiến thức:
- Viết tiếp lời thoại vào màn kịch, đóng vai, diễn lại màn kịch
- Viết tiếp lời thoại vào màn kịch: Xin Thái sư tha cho!,Giữ nghiêm phép
nước, Một vụ đắm tàu
Trang 32- Mở rộng lí lẽ, dẫn chứng, đóng vai và diễn lại màn kịch dựa trên lí lẽ,
dẫn chứng đã tìm được Màn kịch tranh luận Cái gì quý nhất; Ai là người cần
nhất đối với cây xanh; Vai trò của đèn và trăng
1.3.2 Vai trò của dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt trong cho học sinh tiểu học
Ở tiểu học, Tiếng Việt là môn học giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển các kĩ năng hoạt động lời nói cho HS
Mục tiêu giáo dục của môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học đã đề cập đến hai mặt: học để hình thành các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) và học để nắm các tri thức tiếng Việt Môn Tiếng Việt ở tiểu học vừa là một môn học, vừa là đối tượng nghiên cứu, vừa là công cụ để học tập các môn học khác Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học đề ra việc phát triển và rèn luyện kĩ năng nghe, kĩ năng nói cho HS trong cuộc thoại Việc rèn kĩ năng nghe, kĩ năng nói được tiến hành trong hầu hết các phân môn Tiếng Việt Đặc biệt là phân môn Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện…Chẳng hạn, ở phân môn Tập đọc, nội dung các thể loại bài đọc phong phú đa dạng Đặc biệt, các văn bản hội thoại đã được lựa chọn và đưa vào nội dung dạy Tập đọc ở lớp 2,3 Thông qua việc học đọc các văn bản hội thoại, HS sẽ được củng
cố thêm về tri thức hội thoại Ở phân môn Tập làm văn, nội dung rèn kĩ năng hội thoại cho HS thông qua những hành vi ngôn ngữ như hành vi biểu lộ (khen ngợi, chúc mừng, xin lỗi, cảm ơn, ), hành vi cầu khiến (yêu cầu, xin phép, đề nghị, ) Qua đó, dạy cho các em giá trị văn hoá của sự ứng xử người Việt để các em học hỏi, luyện tập theo
Chương trình Tiếng Việt rất quan tâm đến việc rèn kỹ năng nghe - nói trong hội thoại Điều này được thể hiện rõ trong nội dung dạy học của phân môn Tập làm văn: dạy nghe trong hội thoại gắn với sinh hoạt ở tiểu học (nghe, nhớ được lời người nói, hiểu nội dung lời nói) bước đầu nhận biết thái độ, tình cảm của người nói qua nội dung, ngữ điệu, cử chỉ
Trang 33Ví dụ: Nghe bạn trả lời câu hỏi ở bài tập 1, hãy nói lại những điều em biết về bạn ? [19, tr12]
Dạy nói trong hội thoại gắn với việc dạy các nghi thức lời nói trong các cuộc giao tiếp thông thường và chính thức như cách mở đầu, cách kết thúc trong hội họp, trong các cuộc thảo luận, sinh hoạt tổ, nhóm Dạy nói thành bài
để giới thiệu về bản thân gia đình, bạn bè, nhà trường, xã hội với một người khác (như bạn mới quen, khách đến thăm gia đình, thăm trường, lớp…)
Phân môn Tập làm văn đã được xây dựng thành hai mạch chương trình riêng: mạch chương trình dạy ngôn bản nói và mạch chương trình dạy ngôn bản viết Xây dựng theo cách này, việc dạy nói sẽ được chú trọng và vai trò của ngữ cảnh, của các quy tắc liên kết hội thoại, nguyên tắc tôn trọng thể diện chi phối mạnh mẽ việc dạy và học hội thoại Mặt khác, các kỹ năng sử dụng tiếng Việt được luyện tập ở tất cả các cấp độ từ thấp đến cao Ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3, HS được luyện tập các kỹ năng giao tiếp trong phạm vi gia đình, nhà trường ( như kỹ năng chào hỏi, chia tay, mời mọc, kỹ năng hỏi / trả lời, chào/ chào, nói lời cảm ơn/ đáp lời cảm ơn ) Việc dạy học kĩ năng nghe, nói ở giai đoạn này được tiến hành trong những tình huống giao tiếp thực có ở trường học, ở gia đình nhằm giúp HS biết chủ động trong khi nghe và chủ động diễn đạt ý nghĩ của bản thân khi nói (chào thầy cô giáo khi đến trường, chào bố mẹ khi vào lớp, xin lỗi, cảm ơn )
Lên lớp 4 và lớp 5, học sinh được luyện tập về kỹ năng giao tiếp trong các cuộc sinh hoạt mang tính chất chính thức như sinh hoạt nhóm, tổ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội, tranh luận, thảo luận , kỹ năng sử dụng ngôn ngữ mở đầu, kết thúc; kỹ năng sử dụng các đại từ xưng hô trong các cuộc sinh hoạt đó
Như vậy, nội dung chương trình Tiếng Việt ở tiểu học đã chú trọng cung cấp những kiến thức về các quy tắc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động hành chức Lý thuyết về ngôn ngữ được học không nhiều và các tri thức lý thuyết này cũng được trình bày ở mức độ đơn giản nhất, yêu cầu HS ứng dụng
Trang 34tri thức tiếng Việt đã học vào giải quyết các nhiệm vụ, các bài tập cụ thể trong các tình huống, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Các nội dung và yêu cầu luyện tập của môn Tiếng Việt luôn gắn với chức năng hành dụng Vì thế, năng lực giao tiếp của HS luôn được củng cố và ngày càng phát triển
1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học với việc phát triển kỹ năng hội thoại
Quá trình thụ đắc ngôn ngữ trước và trong tuổi đến trường của HS tiểu học ảnh hưởng đến việc rèn luyện kĩ năng hội thoại của các em Vì thế, việc nghiên cứu đúng hướng những đặc điểm ngôn ngữ này sẽ giúp chúng ta có được phương pháp phát triển kĩ năng hội thoại cho HS khi dạy học tiếng Việt
ở tiểu học
Trước tuổi đến trường trẻ em đã biết “bản ngữ” ở một góc độ nhất định
Sự hiểu biết này có được là do các em trong sự giao tiếp với người lớn, đã thông qua cái cơ trình “từ lời nói của những người xung quanh đến hệ thống ngôn ngữ của bản thân để thụ đắc bản ngữ một cách không có ý thức, không
có chủ định”
Ở giai đoạn đầu, những hành vi ngôn ngữ ở trẻ chủ yếu nhằm trực tiếp thoả mãn những nhu cầu và mong muốn có tính bản năng Hành vi ngôn ngữ chưa xa lắm với các tập tính khác Ngôn ngữ của trẻ lúc này thuần đơn thoại,
vì nội dung thông tin khách quan trong giao tiếp mà trẻ muốn gửi gắm vào chỉ xuất phát từ ý nguyện chủ quan của nó với một hệ thống nghèo nàn về phương tiện biểu đạt “Cái thông điệp khách quan” đó chỉ được người đối thoại hiểu ra nhờ vào hoàn cảnh phát ngôn của trẻ trong thời điểm cụ thể và chủ quan của mình tích luỹ được do tiếp xúc lâu với đứa trẻ
Dần dần, những hành vi trực tiếp này được thay thế nhờ phương tiện hiệu lực hơn: các phát ngôn chứa từ ngữ giống như cộng đồng đang dùng Đó
là hành vi ngôn ngữ đích thực vì đã chịu sự chi phối của tính quy ước và tự chiếm dụng lấy những vùng ngữ nghĩa độc lập Để đạt được bản chất gián tiếp, vốn từ và hình thức của vốn từ của trẻ phải được thay đổi về căn bản Với
Trang 35một điều kiện mới về phương tiện biểu đạt, trẻ tự tin bước vào thời kỳ ưa thích hội thoại
Nhờ hội thoại và cố gắng hội thoại, ngôn ngữ trẻ em đã hướng hoạt động của mình vào mục đích chính của quá trình thụ đắc ngôn ngữ để giao tiếp và bên cạnh đó phải thụ đắc cả kỹ năng giao tiếp
Về chiến lược giao tiếp, bước từ đơn thoại sang hội thoại đứa trẻ buộc phải tìm đến sự phân biệt giữa người lạ và người quen, giữa những lợi ích được và mất thông qua hành vi giao tiếp…Những cân nhắc đó dẫu còn là trực cảm, vẫn làm cho danh sách các thể thức và kỹ năng giao tiếp của trẻ tăng lên đáng kể
Như vậy, trẻ em trước tuổi đến trường đã có một hệ thống kỹ năng khá phong phú và phức tạp, giúp các em nghe và nói được khá nhiều Vốn ngôn ngữ này rất quý, vì nhờ nó mà trẻ em đã học được nhiều điều mới lạ và có thể lượm nhặt được những kinh nghiệm cần thiết cho bản thân đứa trẻ trong giao tiếp bằng ngôn ngữ Tuy nhiên vốn ngôn ngữ này mang đặc điểm tự nhiên và cảm tính chỉ thích hợp trong phạm vi giao tiếp hạn hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu mà nhà trường và xã hội đòi hỏi Đây chính là mặt hạn chế bởi những khả năng lứa tuổi
Lên 6 tuổi trẻ em bước vào tuổi đi học Những năm tháng học tập với những điều kiện học tập hoàn toàn mới đang chờ đợi các em Từ môi trường giáo dục ngôn ngữ thiên về gia đình, các em bước vào giai đoạn học tập và trau dồi ngôn ngữ mang tính xã hội quốc gia
Ở trường tiểu học, hoạt động chủ đạo của HS là hoạt động học tập, một hoạt động mang tính chất trí tuệ Nhưng hằng ngày trẻ em luôn ở trạng thái hoạt động Ngoài hoạt động học tập thì một hoạt động cơ bản và không kém phần quan trọng là hoạt động giao tiếp
Trang 36Hoạt động giao tiếp của HS tiểu học thường diễn ra ở dạng điển hình là đối thoại giữa hai hay nhiều người với nhau, có bên người nói, có bên người nghe và thường xuyên diễn ra hiện tượng đổi vai cho nhau: đầu tiên HS A nói cho HS B nghe, rồi sau đó đến lượt HS B lại giữ vai trò người nói, HS A chuyển sang vai người nghe Khi thực hiện hoạt động giao tiếp, hai HS A và B tất nhiên là phải nhằm mục đích trao đổi "thông tin" về chuyện gì đó, việc gì
đó với nhau Nhưng mục đích đó không phải tự nhiên sinh ra, tự nhiên là có,
mà phải xuất phát từ chỗ: HS A cảm thấy có một nhu cầu nào đó thôi thúc em cần trao đổi thông tin với HS B
Như vậy, thông qua hoạt động giao tiếp, vốn ngôn ngữ của HS tiểu học ngày càng tăng lên và cũng thông qua hoạt động này, những tri thức về hội thoại của các em sẽ được củng cố và khả năng hội thoại sẽ phát triển theo lứa tuổi
Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy được một số hạn chế về đặc điểm hội thoại của HS tiểu học trong học tập cũng như trong các cuộc giao tiếp hàng ngày Nếu quan sát, chúng ta sẽ thấy cuộc thoại của các em thường không có
mở đầu, kết thúc Các em chưa quan tâm, chưa có ý thức về lượt lời của mình Tuy các em đã biết tuân theo quy tắc luân phiên lượt lời trong các cuộc song thoại, nhưng với các cuộc thoại có nhiều hơn hai người thì sự luân phiên không được đảm bảo Những tham thoại đa ra chủ yếu là những hành vi ở lời trực tiếp, chưa biết sử dụng các hành vi gián tiếp theo quy tắc lịch sự Chẳng hạn: Khi yêu cầu, đề nghị thì dùng câu khiến:
Ví dụ: - Cho tớ mượn cái bút!
Trang 37Như vậy, với trình độ thu ̣ đắc ngôn ngữ hội thoại của HS lứa tuổi tiểu học thì các em có đủ điều kiện để tiếp thu các tri thức hội thoại được dạy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Vấn đề đặt ra đối với chúng ta là cần phải có hướng nghiên cứu những đặc điểm (hay và dở) trong vốn ngôn ngữ nói chung
và trong ngôn ngữ hội thoại nói riêng của HS tiểu học để từ đó có thể giúp các
em không những nói những câu đúng ngữ pháp nhưng vẫn rất đa dạng, sinh động mà còn giúp các em nói năng có văn hoá của một người được giáo dục Đúng như nhà giáo dục J.A.Komenshi từng nói: "Mọi điều phải tiến hành theo một trình tự liên tục sao cho tất cả những điều có hôm nay phải củng cố cái hôm qua và mở ra con đường cho ngày mai”
1.3.4 Khảo sát nội dung dạy học hội thoại trong Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học đưa hội thoại thành một nội dung học tập Các chương trình này quy định các kĩ năng cần rèn luyện trong phần nội dung chương trình và mức độ cần đạt được trong phần chuẩn kiến thức và kĩ năng Nắm vững nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và kĩ năng có vai trò quan trọng để định hướng cho việc biên soạn SGK, xác định nội dung dạy học và các yêu cầu cần đạt sau quá trình dạy học Chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học ban hành năm 2006 quy định các kiến thức và kĩ năng cần học và rèn luyện phục vụ cho dạy hội thoại như sau:
* Lớp 1:
1 Kiến thức ngữ pháp
- Dấu chấm, dấu chấm hỏi
- Nghi thức lời nói: Chào hỏi, chia tay
2 Kĩ năng
a) Nghe:
- Nghe- trả lời câu hỏi và kể lại những mẩu chuyện có nội dung đơn giản
- Nghe- viết khổ thơ, đoạn văn ngắn
Trang 38b) Nói
- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học
- Trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)
- Kể lại những mẩu chuyện được nghe kể trên lớp (kết hợp nhìn tranh minh họa và đọc lời gợi ý dưới tranh
- Nói về mình và người thân bằng một vài câu
* Lớp 2:
1 Kiến thức tập làm văn
- Sơ giản về đoạn văn và nội dung của đoạn văn
- Một số nghi thức lời nói: chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu,
đề nghị, tự giới thiệu; đáp lời chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, đề nghị, tự giới thiệu
- Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, đề nghị, tự giới thiệu; đáp lời cảm
ơn, xin lỗi, lời mời, trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng
- Trả lời và đặt câu hỏi đơn giản
- Kể một mẩu chuyện hoặc một đoạn của câu chuyện được nghe
- Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý
Trang 39* Lớp 3:
1 Kiến thức tập làm văn
- Sơ giản về bố cục của văn bản
- Sơ giản về đoạn văn
- Một số nghi thức giao tiếp chính trong sinh hoạt ở trường, lớp: thư, đơn, báo cáo, thông báo,
2 Kĩ năng
a) Nghe
- Nghe và kể lại những câu chuyện đơn giản, thuật lại nội dung chính của các bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học có nội dung phù hợp với lứa tuổi
- Nghe - viết đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn
- Ghi lại một vài ý khi nghe văn bản, có nội dung đơn giản
b) Nói
- Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội
- Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời câu hỏi của người đối thoại
- Kể từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe
- Thuật lại nội dung chính của bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học có nội dung trong phù hợp với lứa tuổi
- Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp, chi đội
* Lớp 4
1 Kiến thức Tập làm văn
- Kết cấu ba phần của bài văn kể chuyện và miêu tả (mở bài, thân bài, kết bài) Lập dàn ý cho bài văn kể chuyện, miêu tả
- Đoạn văn kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, cây cối, con vật)
- Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận: thư, đơn
Trang 402 Kĩ năng
a) Nghe
- Nghe và kể lại câu chuyện có nội dung đơn giản, phù hợp với lứa tuổi Nhận xét về nhân vật
- Nghe và thuật lại các bản tin Nhận xét về một vài chi tiết trong bản tin
- Nghe - viết chính tả đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ
- Nghe - ghi lại một số thông tin của văn bản đã nghe
- Sơ giản về liên kết câu, đoạn văn
- Văn miêu tả (tả người, tả cảnh)
- Văn bản thông thường: đơn, báo cáo thống kê, biên bản, chương trình hoạt động
- Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận
2 Kĩ năng
a) Nghe
- Nghe và kể lại câu chuyện Nhận xét về nhân vật trong truyện
- Nghe - thuật lại bản tin, văn bản phổ biến khoa học
- Nghe và tham gia ý kiến trong trao đổi, thảo luận
- Nghe, viết chính tả một đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ
- Nghe - ghi chép một số thông tin, nhân vật, sự kiện