1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường liên ngân hàng tại việt nam

108 682 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc nghiên cứu, xa hơn nữa, tác giả mong muốn các đề xuất của mình có thể ứng dụng vào thực tế hoạt động của các ngân hàng, định chế tài chính và chính sách quản lý của Ngân hàng nh

Trang 1

-

HOÀNG ĐỨC LONG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG

LIÊN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2010

Trang 2

-

HOÀNG ĐỨC LONG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG

LIÊN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS BÙI KIM YẾN

TP.HCM THÁNG 11-2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG 10

1.1 Khái niệm về Thị trường liên ngân hàng 10

1.1.1 khái niệm và đặc điểm Thị trường liên ngân hàng 10

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của Thị trường liên ngân hàng 11

1.1.2.1 Đối tượng tham gia 11

1.1.2.2 Lãi suất liên ngân hàng 11

1.1.2.3 Cung và cầu trên Thị trường liên ngân hàng 11

1.1.2.4 Hàng hóa trên thị trường 12

1.1.2.5 Các công cụ giao dịch trên thị trường 12

1.1.2.6 Các yếu tố khác 12

1.2 Các chủ thể tham gia và vai trò của các chủ thể trên thị trường liên ngân hàng 12 1.2.1 Ngân hàng Trung ương 12

1.2.2 Ngân hàng thương mại 13

1.2.3 Các định chế tài chính phi ngân hàng 13

1.2.4 Các định chế tài chính khác 13

1.3 Các loại hình và công cụ giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng 14

1.3.1 Thỏa thuận tiền gửi (hay xác nhận hoặc hợp đồng tiền gửi) 14

1.3.2 Các hợp đồng mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (repo/reverse repo) 15

1.3.3 Các giấy tờ có giá 16

1.3.3.1 Tín phiếu Chính phủ, Tín phiếu Ngân hàng Trung ương và Tín phiếu Kho bạc nhà nước (Treasury bill) 16

1.3.3.2 Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of deposit), tín phiếu, kỳ phiếu 16

1.3.3.3 Các giấy tờ có giá ngắn hạn khác 17

1.3.3.4 Hình thức chung của giấy tờ có giá 17

Trang 4

1.3.4 Giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, cho vay cầm

cố và cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với các NHTM 18

1.3.5 Các giao dịch phái sinh tiền tệ 19

1.4 Nguyên tắc và phương thức giao dịch của thị trường liên ngân hàng 20

1.5 Chức năng và vai trò của Thị trường liên ngân hàng 21

1.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của thị trường liên ngân hàng 25

1.6.1 Các chỉ tiêu định lượng 25

1.6.2 Các chỉ tiêu định tính 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 28

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam 28

2.1.1 Lịch sử hình thành thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam 28

2.1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam 31

2.1.2.1 Giai đoạn từ năm 1990 đến 1997 31

2.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1998 – 2007 32

2.1.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay 32

2.1.3 Tính chất, đặc điểm, cơ chế vận hành và phương tiện giao dịch của Thịtrường liên ngân hàng tại Việt Nam 33

2.1.3.1 Tính chất đặc điểm và cơ chế vận hành 33

2.1.3.2 Phương tiện giao dịch trên thị trường 34

2.1.4 Các chủ thể tham gia Thị trường liên ngân hàng 34

2.1.4.1 Ngân hàng Nhà nước 34

2.1.4.2 Ngân hàng thương mại 34

2.1.4.3 Các định chế tài chính phi ngân hàng khác 36

Trang 5

2.1.5 Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt

Nam……… 36

2.1.5.1 Nghiệp vụ gửi và nhận vốn (vay và cho vay vốn) giữa các TCTD 36

2.1.5.2 Nghiệp vụ mua bán các GTCG 38

2.1.5.3 Nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, vay cầm cố GTCG, vay tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ 41

2.1.5.4 Quy trình giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng 42

2.2 Thực trạng của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nay 44

2.2.1 Phân tích tổng quan thực trạng tình hình thị trường liên ngân hàng Việt Nam từ năm 2008 đến nay 45

2.2.1.1 Diễn biến tổng quan thị trường năm 2008 45

2.2.1.2 Diễn biến tổng quan thị trường năm 2009 47

2.2.1.3 Diễn biến tổng quan thị trường 06 tháng đầu năm 2010 50

2.2.2 Phân tích các chỉ số của thị trường từ năm 2008 đến nay 55

2.2.2.1 Doanh số giao dịch trên thị trường 55

2.2.2.2 Diễn biến tình hình lãi suất giao dịch trên thị trường 63

2.3 Đánh giá về thực trạng và nguyên nhân của thực trạng thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nay 63

2.3.1 Những mặt tích cực 64

2.3.2 Các vấn đề tồn tại 65

2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

Trang 6

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ

TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 72

3.1 Các giải pháp đối với cơ quan quản lý 72

3.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý về Thị trường liên ngân hàng 72

3.1.2 NHNN cần ban hành và giám sát chặt chẽ việc chấp hành các tỷ lệ thanhkhoản, khả năng thanh toán và dòng vốn khả dụng của các TCTD 74

3.1.3 Nâng cao vai trò tham gia và điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN 78

3.1.4 Hoàn thiện cơ chế lãi suất giao dịch, đưa lãi suất VNIBOR trở thành lãi suất tham chiếu rộng rãi cho các giao dịch trên thị trường 79

3.1.5 Tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra của NHNN và nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát 80

3.1.6 Tăng cường công tác thông tin thị trường, công khai minh bạch về tình hình hoạt động của các TCTD, thực hiện tốt chế độ công bố thông tin, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác cảnh báo và dự báo 82

3.2 Các giải pháp đối với các chủ thể tham gia thị trường 84

3.2.1 Nâng cao năng lực, lành mạnh hóa hoạt động và khả năng quản lý thanh khoản an toàn, hiệu quả, đầu tư trang bị công nghệ thông tin hiện đại của các TCTD 84

3.2.2 Đa dạng hóa sản phẩm thị trường 86

3.2.3 Hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả của các công cụ thanh toán 89

3.2.4 Hiện đại hóa và áp dụng đồng bộ các công cụ giao dịch 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92

KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT CHUNG 93

PHỤ LỤC 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.1: Cơ cấu của Thị trường tiền tệ 10

Bảng 2.1: Doanh số giao dịch VND trên TTLNH từ ngày 14/5 đến 10/6/10 53

Biểu đồ 2.1: Doanh số giao dịch VND trên TTLNH từ 14/5 đến 10/06/2010 53

Bảng 2.2: Doanh số GD bình quân 1 tuần qua các giai đoạn từ năm 2008 đến nay 55

Biểu đồ 2.2:Doanh số GD bình quân 1 tuần qua các giai đoạn từ năm 2008 đến nay 56

Bảng 2.3: Doanh số giao dịch hàng tháng trong 6 tháng đầu năm 2010 57

Biểu đồ 2.3: Doanh số giao dịch hàng tháng trong 06 tháng đầu năm 2010 58

Bảng 2.4: Doanh số giao dịch hàng tuần trong tháng 06/2010 58

Biểu đồ 2.4: Doanh số giao dịch hàng tuần trong tháng 06/2010 59

Biểu đồ 2.5: Cơ cấu các kỳ hạn giao dịch trên TTLNH 06 tháng đầu năm 2010 60

Biểu đồ 2.6: Số dư nhận tiền gửi của một số TCTD năm 2009 61

Biểu đồ 2.7: Số dư tiền gửi và cho vay TCTD khác của một số NH năm 2009 61

Biểu đồ 2.8: Số dư vay NHNN của một số ngân hàng năm 2009 62

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

TMQD : Thương mại quốc doanh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản của thị trường tài chính–ngân hàng, thị trường là nơi diễn ra các giao dịch vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng và

định chế tài chính Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt

Nam và quá trình hội nhập của ngành ngân hàng vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới, Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam đã hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ theo tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, cũng giống như tất cả các chủ thể khác, Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam cũng phát sinh những vấn đề liên quan về chức năng, vai trò, cơ chế vận hành, phương thức hoạt động, các sản phẩm, chủ thể tham gia,…những vấn đề này cần phải

được tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể để nắm bắt được thực trạng nhằm có những giải

pháp để thị trường vận hành ngày càng hoàn hảo hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng hiện đại Đó cũng chính là lý do tôi quyết định

chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trường liên ngân

hàng tại Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn này

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục tiêu chính là:

Một là, góp phần tìm hiểu và nghiên cứu để làm rõ hơn cơ sở lý luận về Thị trường liên

ngân hàng; bao gồm khái niệm về thị trường, các tính chất, đặc điểm, cơ chế vận hành của thị trường và chức năng vai trò của thị trường

Hai là, phân tích về thực trạng và các vấn đề liên quan của Thị trường liên ngân hàng

tại Việt Nam trong thời gian vừa qua và trong giai đoạn hiện nay, tập trung nghiên cứu sâu về thực trạng của thị trường từ năm 2008 cho đến tháng 6/2010

Trang 10

Ba là, trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng của Thị trường liên

ngân hàng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian sắp tới

3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn này áp dụng theo phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng khoa học, duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu mô tả, tiếp cận một cách có hệ thống nhằm nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của Thị trường liên ngân hàng; đồng thời đưa ra một số kiến nghị và biện pháp mang tính chất thực tiễn nhằm cải tạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến thực

trạng của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2010 và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực tế hoạt động của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam, quá trình hình thành và phát triển và đặc biệt tập trung vào thực trạng của thị trường trong năm 2008, 2009 và 06 tháng đầu năm 2010 Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu và kiến thức, đồng thời tránh dàn trải nhiều vấn đề, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sâu vào các thị trường thành phần của Thị trường tiền tệ là TTLNH (interbank market) và thị trường các công cụ ngắn hạn giữa các ngân hàng, định chế tài chính và NHNN mà không nghiên cứu về thị trường hối đoái (forex market)

5 Kết cấu của luận văn

Trang 11

Luận văn này được trình bày với số lượng 105 trang, bao gồm phần mở đầu, phần kết luận, ba chương và phụ lục với kết cấu trình bày trong phần Mục lục của luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam,

mang tính chất vĩ mô Tác giả phân tích thực trạng kết hợp với nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia ngân hàng, nhất là những kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp trong quá trình tham gia hoạt động và công tác trong lĩnh vực này để đưa ra những ý kiến, nhận định và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường Qua việc nghiên cứu, xa hơn nữa, tác giả mong muốn các đề xuất của mình có thể ứng dụng vào thực tế hoạt động của các ngân hàng, định chế tài chính và chính sách quản lý của Ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của Thị trường liên ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính tiền tệ nói chung, góp một phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường

Trang 12

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm Thị trường liên ngân hàng

- Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản của Thị trường tiền tệ, là nơi diễn ra các giao dịch vay mượn vốn ngắn hạn lẫn nhau giữa các NHTM và các định chế tài chính, là nơi điều tiết nguồn vốn từ ngân hàng thừa vốn sang ngân hàng thiếu vốn thông qua các hợp đồng, xác nhận gửi nhận vốn hoặc hợp

đồng cho vay vốn

- Thị trường liên ngân hàng giúp cho dòng vốn được lưu thông thông suốt, nhằm

sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động của các NHTM và định chế tài chính,

đảm bảo khả năng thanh khoản tức thời của các NHTM

- Thị trường liên ngân hàng là thị trường bán sỉ nguồn vốn với các kỳ hạn khá đa dạng và ngắn hạn như qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng Các giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng hầu như thực hiện dưới hình thức tín chấp và dựa trên cơ sở uy tín, xếp hạng tín dụng và định mức tín nhiệm của các NHTM Các giao dịch được thực hiện thông qua các công cụ giao dịch điện tử và xác nhận bằng hệ thống SWIFT

Sơ đồ 1.1: Các thành phần của Thị Trường Tiền Tệ

THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ (MONEY MARKET)

THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI (FOREX MARKET)

TT CÔNG CỤ NỢ NGẮN HẠN (SHORT TERM LOAN

MARKET)

TT LIÊN NGÂN HÀNG

(INTERBANK MARKET)

Trang 13

1.1.2 Những yếu tố cơ bản của Thị trường liên ngân hàng

1.1.2.1 Đối tượng tham gia

Bất cứ một thị trường nào cũng đều có người mua và người bán Trên Thị trường liên ngân hàng, người mua và người bán chính là các NHTM và các định chế tài chính đủ

điều kiện tham gia thị trường Ngân hàng Trung ương cũng tham gia thị trường với vai

trò là người phát hành lần đầu và điều tiết thị trường

1.1.2.2 Lãi suất liên ngân hàng

Lãi suất liên ngân hàng (interbank offered rate) chính là giá mua bán vốn trên Thị trường liên ngân hàng, là một yếu tố cơ bản của Thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng là mức lãi suất tham chiếu hình thành trên cơ sở lãi suất của các giao dịch gửi và nhận vốn giữa các ngân hàng trên thị trường của từng khu vực, từng quốc qua Tùy theo khu vực hay quốc gia mà ta có lãi suất liên ngân hàng của khu vực hay quốc gia đó Chẳng hạn lãi suất LIBOR là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường Luân Đôn,

nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch của các loại tiền tệ cơ bản tại khu vực Châu Âu; lãi suất SIBOR là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường Singapore, nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch của các loại tiền tệ cơ bản tại Khu vực Châu Á; lãi suất VNIBOR là lãi suất liên ngân hàng của Việt Nam, Tình hình biến

động của lãi suất liên ngân hàng phản ánh cung cầu vốn trên thị trường và khả năng

thanh khoản của thị trường Lãi suất liên ngân hàng tăng phản ánh cung về nguồn vốn

ít, trong khi thị trường đang có nhu cầu vốn cao, nguồn vốn có dấu hiệu bắt đầu khan hiếm và lúc đó thanh khoản của các ngân hàng sẽ gặp khó khăn Ngược lại, lãi suất liên ngân hàng giảm phản ánh lượng cung vốn trên thị trường nhiều, trong khi nhu cầu nguồn vốn thấp, nguồn vốn trên thị trường dồi dào và lúc đó khả năng thanh khoản của các ngân hàng dồi dào

1.1.2.3 Cung và cầu trên Thị trường liên ngân hàng

Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn ra các giao dịch về vốn giữa các định chế tài chính nên thường xuyên phát sinh cung cầu về nguồn vốn giữa các định chế tài chính Tại cùng một thời điểm, đối tác này thì có nhu cầu về nguồn vốn, trong khi đối tác

Trang 14

khác lại có khả năng cung ứng về nguồn vốn, hai đối tác gặp nhau trên thị trường và thỏa thuận với nhau các điều kiện cụ thể để bên này có thể chuyển giao quyền sử dụng vốn cho bên kia trong một khoảng thời gian nhất định và với một chi phí nhất định là lãi suất

1.1.2.4 Hàng hóa của Thị trường liên ngân hàng

Bất cứ một thị trường nào thì cũng phải có sản phẩm hàng hóa để mua bán mới hình thành nên thị trường, sản phẩm của Thị trường liên ngân hàng chính là nguồn vốn (tiền), hàng hóa được luân chuyển từ người có nhu cầu sang người khả năng đáp ứng với một mức giá nhất định hình thành qua cung cầu về hàng hóa

1.1.2.5 Các công cụ của Thị trường liên ngân hàng

Các công cụ trên TTLNH là các phương tiện để người mua và người bán thực hiện các giao dịch với nhau trên thị trường Các công cụ giao dịch trên TTLNH bao gồm: thỏa thuận tiền gửi, GTCG đủ tiêu chuẩn các loại, các công cụ phái sinh và các công cụ khác được thị trường chấp nhận

1.1.2.6 Các yếu tố khác

Bao gồm các yếu tố giúp thị trường hoạt động và vận hành thông suốt như các quy

định, luật điều chỉnh, thông lệ, tập quán giao dịch trên thị trường, phương thức thanh

toán, phạm vi hoạt động của thị trường,…

1.2 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ TRÊN THỊ TRƯỜNG

Do tính chất đặc điểm của thị trường, Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn ra các giao dịch tiền tệ giữa các đối tượng sau đây:

1.2.1 Ngân hàng trung ương

Ngân hàng Trung ương tham gia Thị trường liên ngân hàng với vai trò người điều tiết, dẫn dắt và quản lý thị trường, Ngân hàng trung ương cũng tham gia thị trường với vai trò là nhà phát hành lần đầu các công cụ, sản phẩm giao dịch trên thị trường Việc

Trang 15

Ngân hàng trung ương tham gia vào thị trường sẽ giúp cho việc nắm rõ tình hình thực

tế và có những quyết sách kịp thời nhằm quản lý và điều hành thị trường hoạt động một cách hiệu quả

1.2.2 Ngân hàng thương mại

Đây là đối tượng tham gia đông đảo nhất trên thị trường Do tính chất hoạt động, thông

thường các NHTM tham gia giao dịch trên thị trường với khối lượng giao dịch tương

đối lớn so với các đối tượng khác Các NHTM tham gia thị trường với vai trò là người

mua và người bán vốn, hình thành nên cung cầu nguồn vốn trên thị trường Tất cả các hoạt động trên thị trường của NHTM phải tuân theo các quy định có liên quan do NHNN ban hành

1.2.3 Các định chế tài chính phi ngân hàng

Các định chế tài chính phi ngân hàng như các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính,…Đây cũng là đối tượng tham gia thị trường tương đối thường xuyên Tuy nhiên, với một số hạn chế về chức năng hoạt động nghiệp vụ nên các tổ chức này cũng

có những hạn chế khi tham gia thị trường Các công ty tài chính và cho thuê tài chính tham gia thị trường với vai trò là người mua và người bán vốn, tạo nên cung cầu nguồn vốn trên thị trường Tất cả các hoạt động trên thị trường của NHTM phải tuân theo các quy định có liên quan do NHNN ban hành

1.2.4 Các định chế tài chính khác

Gồm có các Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, Qũy đầu tư, Công ty bảo hiểm, và các tổ chức tài chính khác được tham gia thị trường với một số điều kiện nhất

định như quy mô vốn, tài sản, khả năng quản lý rủi ro, trình độ và đội ngũ nhân

viên,…các tổ chức này tham gia thị trường không thường xuyên do tính chất và phạm

vi hoạt động của các tổ chức này Các tổ chức này tham thị trường cũng với vai trò là người mua và người bán vốn, hình thành nên cung cầu thị trường và phải chấp hành các quy định có liên quan

Trang 16

1.3 CÁC LOẠI HÌNH GIAO DỊCH VÀ CÔNG CỤ GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

1.3.1 Thỏa thuận tiền gửi (hay xác nhận hoặc hợp đồng tiền gửi)

Các thỏa thuận hay xác nhận hay hợp đồng tiền gửi là một công cụ chủ yếu của Thị trường liên ngân hàng Thỏa thuận tiền gửi là việc hai đối tác cùng thỏa thuận với nhau

về việc đối tác này sẽ gửi hoặc nhận (vay và cho vay) một khối lượng vốn nhất định trong một kỳ hạn nhất định và với mức lãi suất cụ thể Các chi tiết của một thỏa thuận tiền gửi như sau:

- Số tiền: là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận đồng ý gửi và nhận gửi lẫn nhau,

số tiền này được xác định trên nhu cầu và khả năng đáp ứng của các bên khi tiến hành giao dịch

- Kỳ hạn giao dịch: là kỳ hạn được xác định do thỏa thuận giữa hai bên trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của mỗi bên

- Ngày giao dịch, ngày giá trị và ngày đáo hạn: Ngày giao dịch là ngày mà hai bên tiến hành thỏa thuận giao dịch với nhau, ngày giá trị là ngày có hiệu lực của thỏa thuận và ngày đáo hạn là ngày hết hạn của kỳ hạn giao dịch tính từ ngày giá trị

- Lãi suất và phương thức trả lãi: lãi suất là giá hay chi phí sử dụng vốn mà nên

sử dụng vốn phải trả cho bên có nguồn vốn, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên theo lãi suất thị trường và theo quy định của pháp luật Có hai loại lãi suất là lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi, thông thường lãi suất trong giao dịch tiền gửi là lãi suất cố định; đôi khi thị trường cũng thỏa thuận áp dụng lãi suất thả nổi đối với các kỳ hạn dài và khi thị trường có nhiều biến

động Phương thức trả lãi bao gồm trả lãi vào ngày đáo hạn, trả lãi trước hay trả

lãi định kỳ; phương thức trả lãi do hai bên thỏa thuận, thông thường các thỏa thuận tiền gửi đều áp dụng trả trả lãi cuối kỳ

Trang 17

- Cơ sở tính lãi: hai bên thỏa thuận xác định cơ sở tính lãi là một năm có bao nhiêu ngày và tính lãi theo số ngày thực tế hay tính tròn tháng, thông thường cơ

sở tính lãi của các thỏa thuận tiền gửi là một năm có 360 ngày và tính trên số ngày thực tế giao dịch

- Chỉ dẫn thanh toán, là việc hai bên thỏa thuận và chỉ ra phương thức thanh toán

và tài khoản thanh toán cho thỏa thuận tiền gửi tại ngày giá trị của giao dịch và ngày đáo hạn giao dịch

- Điều kiện đảm bảo giao dịch, là các điều kiện do hai bên thỏa thuận nhằm đảm

bảo cho việc thanh toán giao dịch khi đến hạn nhằm hạn chế rủi ro cho bên gửi vốn, tài sản đảm bảo cho các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng thường là các tài sản có tính lỏng cao như tài sản tài chính, các giấy tờ có giá

- Các điều kiện khác, là các điều kiện do hai bên thỏa thuận trên cơ sở pháp luật

có liên quan quy định về phạt chậm trả, điều chỉnh lãi suất, lãi suất tham chiếu khi điều chỉnh,

1.3.2 Các hợp đồng mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (repo/reverse repo)

Hợp đồng mua bán có kỳ hạn GTCG là thỏa thuận giữa hai đối tác về mua bán các GTCG, trong đó một bên sẽ cam kết với bên còn lại về việc sẽ bán và mua lại chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định với một mức giá nhất định (repo) hoặc mua và bán lại chính GTCG đó trong một kỳ hạn nhất định với một mức giá nhất định (reverse repo) Chênh lệch giá mua bán chính bằng lãi suất vay hoặc gửi vốn tính trên kỳ hạn giao dịch thực tế Hiện nay, đang tồn tại hai phương thức là có chuyển nhượng GTCG

và không có chuyển nhượng GCTG trong giao dịch mua bán có kỳ hạn GTCG (repo/veverse repo) Trường hợp không chuyển nhượng GTCG thì GTCG trong giao dịch này chỉ đóng vai trò làm đảm bảo cho giao dịch gửi, vay vốn giữa các đối tác Các GTCG được sử dụng trong giao dịch mua bán lại GTCG là Tín phiếu chính phủ, Tín phiếu ngân hàng trung ương, Tín phiếu kho bạc, Trái phiếu các loại, GTCG do các TCTD và doanh nghiệp phát hành, cổ phiếu và các GTCG khác do hai bên giao dịch thỏa thuận

Trang 18

1.3.3 Các giấy tờ có giá

1.3.3.1 Tín phiếu chính phủ, Tín phiếu ngân hàng Trung ương và Tín phiếu

kho bạc (Treasury bill)

Tín phiếu chính phủ, Tín phiếu kho bạc hay Tín phiếu ngân hàng Trung ương là các giấy tờ có giá ngắn hạn do Chính phủ, Kho bạc hoặc Ngân hàng Trung ương phát hành nhằm huy động vốn ngắn hạn hoặc điều tiết cung cầu tiền tệ của thị trường và đây là một công cụ nợ mà các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính mua đi bán lại trên thị trường tiền tệ nhằm tạo ra công cụ dự trữ thanh khoản thứ cấp hoặc kinh doanh kiếm lời Tín phiếu chính phủ là giấy tờ có giá có tính thanh khoản rất cao, có thể chuyển hóa thành tiền bất cứ lúc nào và có mức độ an toàn cao (hệ số rủi ro là 100%) nên các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính thường mua bán công vụ này nhằm mục đích dự trữ thanh khoản và kinh doanh chênh lệch lãi suất khi có biến động

về lãi suất thị trường, công cụ này có mức lãi suất thấp hơn các GTCG khác Tín phiếu

và kỳ phiếu do các cơ quan Chính phủ phát hành thường được phát hành dưới dạng chiết khấu và có kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng

1.3.3.2 Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposits), Tín phiếu, kỳ phiếu

Chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ huy động vốn do các

Tổ chức tín dụng và NHTM phát hành nhằm huy động vốn ngắn, trung và dài hạn, thông thường các chứng chỉ tiền gửi trên thị trường là ngắn hạn Chứng chỉ tiền gửi là một giấy chứng nhận trong đó xác nhận ngân hàng có nhận tiền gửi của khách hàng với

số tiền cụ thể, kỳ hạn cụ thể và một mức lãi suất xác định kèm theo các điều kiện có liên quan Các NHTM và các định chế tài chính thường mua đi bán lại các Chứng chỉ tiền gửi này nhằm mục đích kiếm lời do chênh lệch giá mua bán hoặc hưởng lãi suất nếu xác định đầu tư giữ đến ngày đáo hạn Chứng chỉ tiền gửi , kỳ phiếu, tín phiếu ngân hàng có thể dưới hình thức ghi danh hoặc không ghi danh Lãi suất chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu thường là cố định Một số loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu

được phát hành dưới dạng lãi chiết khấu, tức là giá phát hành nhỏ hơn mệnh giá, khi đến han người sở hữu sẽ được nhận lại bằng mệnh giá, chênh lệch giữa giá mua và

Trang 19

mệnh giá chính là tiền lãi khách hàng được hưởng Kỳ hạn của chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu đa số là ngắn hạn

cụ thể như sau:

- Thông tin về nhà phát hành: là các thông tin cơ bản về nhà phát hành như tên,

địa chỉ, điện thoại liên lạc, giấy phép hoạt động, …

- Hình thức GTCG: phát hành theo hình thức ghi danh hay không ghi danh, nếu là hình thức ghi danh phải ghi rõ các thông tin về người mua

- Mệnh giá và giá phát hành: là giá trị sổ sách của GTCG, giá phát hành là giá mà nhà phát hành bán thực tế cho người mua GTCG, có thể bằng mệnh giá, cao hơn mệnh giá hay thấp hơn mệnh giá

- Kỳ hạn: là thời hạn kể từ ngày phát hành cho đến ngày đáo hạn

- Lãi suất và cơ sở tính lãi: là mức lợi tức mà người nắm giữ GTCG được hưởng, GTCG phải xác định cơ sở tính lãi rõ ràng

- Phương thức trả lãi, hình thức phát hành: là hình thức nhà phát hành trả lãi cho người mua, có thể trả lãi trước (GTCG phát hành dưới hình thức chiết khấu), trả lãi sau hay trả lãi định kỳ

- Các điều kiện khác: là các điều kiện có liên quan đến GTCG như hình thức chuyển nhượng, hình thức tất toán, mua lại GTCG, hình thức đảm bảo,…

Trang 20

1.3.4 Giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, cho vay

cầm cố và cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với các NHTM

Các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG, nghiệp vụ thị trường mở, cho vay cầm

cố và cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với các NHTM là nhằm mục đích điều tiết thị trường tiền tệ, điều tiết cung cầu về nguồn vốn, thực hiện các chính sách về tiền tệ nhằm bình ổn thị trường, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội NHNN tham gia với tư cách là người phát hành lần đầu

- Chiết khấu GTCG: là việc NHNN mua lại các GTCG do các NHTM nắm giữ theo danh mục GTCG do NHNN quy định, kỳ hạn là lãi suất mua GTCG do NHNN quy định từng thời kỳ, có hai hình thức chiết khấu GTCG là chiết khấu toàn bộ và chiết khấu có kỳ hạn, thông thường hiện nay NHNN chỉ thực hiện hình thức chiết khấu có kỳ hạn nên bản chất của nghiệp vụ này giống với nghiệp

vụ cho vay cầm cố GCTG

- Tái chiết khấu GTCG: là việc NHNN mua lại các GTCG do các NHTM đã chiết khấu của khách hàng, các quy định và tính chất của nghiệp vụ này giống như

nghiệp vụ chiết khấu

- Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation - OMO): là nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn các GTGC nằm trong danh mục do NHNN quy định, đây là nghiệp vụ phổ biến hiện nay và được các NHTM sử dụng nhiều nhất Tùy theo tình hình thị trường và chính sách tiền tệ của NHNN và Chính phủ từng thời kỳ, NHNN sẽ thông báo về việc mua hay bán GTCG đối với các NHMT, nếu có chủ trương bơm tiền ra thì NHNN sẽ mua GTCG vào, nếu chủ trương hút tiền khỏi lưu thông thì NHNN sẽ bán GTCG ra Kỳ hạn, lãi suất và cơ cấu trong giao dịch thị trường mở sẽ do NHNN quyết định và thông báo từng thời kỳ Về cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở cũng không khác nhiều so với nghiệp vụ cho vay

hoặc đi vay có đảm bảo bằng GTCG

- Nghiệp vụ cho vay cầm cố: là nghiệp vụ trong đó NHNN sẽ xem xét cho các NHTM vay vốn trên cơ sở cầm cố bằng các GTCG do các NHTM sở hữu, việc

Trang 21

cho vay cầm cố GTCG chỉ nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt thanh khoản trong ngắn hạn của NHTM, không được sử dụng nguồn vốn này để phát triển tín dụng

tại NHTM

- Nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn, là việc NHNN xem xét cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các hồ sơ tín dụng mà các NHTM đã cho khách hàng vay chưa thu hồi được, mục đích của cho vay tái cấp vốn là bù đắp thiếu hụt tạm thời về nguồn vốn của NHTM, kỳ hạn và lãi suất cho vay tái cấp vốn do NHNN quy

định tùy theo chính sách từng thời kỳ, các NHTM phải thực hiện tái cơ cấu lại

nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh khoản, đảm bảo cân đối về nguồn vốn và

sử dụng vốn

Nói tóm lại, nhóm các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, thị trường mở, cho vay cầm

cố, cho vay tái cấp vốn là nghiệp vụ của NHNN đối với các NHTM nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, điều hòa cung cầu tiền tệ trên thị trường, phục vụ nhu cầu quản lý của NHNN Các NHTM và định chế tài chính có thể sử dụng linh hoạt các công cụ này

để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo an toàn thanh khoản và

sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có

1.3.5 Các nghiệp vụ giao dịch phái sinh tiền tệ

Các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường tiền tệ bao gồm: hợp đồng tương lai về lãi suất, hợp đồng hoán đổi và hợp đồng quyền chọn về lãi suất Đây là nghiệp vụ do các NHTM và định chế tài chính cung cấp và bán trên Thị trường liên ngân hàng cho những đối tác có nhu cầu trên cơ sở thỏa thuận chi tiết về các nội dung và điều kiện giao dịch Để cung cấp được dịch vụ phái sinh, các NHTM và định chế tài chính phải

được Ngân hàng Trung ương cấp phép trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện về vốn, quy

trình quản lý nghiệp vụ, quản lý rủi ro, khả năng và trình độ chuyên môn của nhân viên nghiệp vụ; đồng thời phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành

- Hợp đồng tương lai về lãi suất hay thỏa thuận về lãi suất kỳ hạn (forward rate agreement - FRA): là hợp đồng kỳ hạn mà trong đó các bên đồng ý mức lãi suất chắc chắn cho một kỳ hạn nhất định trong tương lai Hợp đồng tương lai về lãi

Trang 22

suất là một công cụ bảo hộ và bảo hiểm cho các tài sản tài chính một cách hữu hiệu và được sử dụng phổ biến ở các nước có thị trường tài chính tiền tệ phát triển Hợp đồng này được các NHTM cung cấp trên thị trường cho các khách hàng là các NHTM, định chế tài chính và các tổ chức trên cơ sở thỏa thuận

- Hợp đồng hoán đổi lãi suất (interest swap contract): hợp đồng hoán đổi lãi suất

là một công cụ phái sinh nhằm hạn chế rủi ro biến động lãi suất trên thị trường, hợp đồng hoán đổi lãi suất được sử dụng rộng rãi trên TTLNH ở nước ngoài, nhất là các nước có thị trường tài chính ngân hàng phát triển mạnh Hợp đồng hoán đổi lãi suất cho phép tổ chức có thể chuyển đổi một tài sản cơ sở có lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi hoặc từ lãi suất thả nổi chuyển sang lãi suất cố

định nhằm hạn chế rủi ro do biến động về lãi suất trên thị trường Hợp đồng này được các NHTM cung cấp trên thị trường cho các khách hàng là các NHTM, định chế tài chính và các tổ chức trên cơ sở thỏa thuận

- Hợp đồng quyền chọn lãi suất (interest option): là một công cụ phái sinh trên thị trường tiện tệ nhằm tạo ra công cụ bảo hiểm cho các sản phẩm tài chính và được

sử dụng nhiều tại các nước có thị trường tài chính và tiền tệ phát triển mạnh Hợp đồng quyền chọn về lãi suất cho phép người mua quyền có quyền chọn lựa mức lãi suất của tài sản tài chính trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai mà mình đang nắm giữ như trái phiếu các loại, các mức trần và sàn lãi suất,…hợp đồng quyền chọn còn cho phép người vay vốn có quyền chọn mức lãi suất đã định trước tại ngày đáo hạn hoặc theo lãi suất thị trường với điều kiện phải trả một khoản phí cho người bán quyền chọn này Hợp đồng này được các NHTM cung cấp trên thị trường cho các khách hàng là các NHTM, định chế tài chính và các tổ chức trên cơ sở thỏa thuận

- Các công cụ phái sinh khác trên thị trường

1.4 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

Trang 23

Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn ra các giao dịch về vốn giữa các NHTM và định chế tài chính, là thị trường trao đổi và mua bán vốn sỉ giữa các định chế tài chính cùng với sự tham gia mang tính chất điều tiết của NHNN Thị trường hoạt động trên cơ sở các quy định của cơ quan quản lý và pháp luật liên quan, các giao dịch trên thị trường phải được công khai và minh bạch Các đối tượng tham gia phải đảm bảo một số tiêu chuẩn nhất định và tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo thị trường vận hành một cách hiệu quả và an toàn Thị trường cho phép các bên tham gia thực hiện giao dịch trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện và hai bên cùng có lợi, không bên nào chịu áp lực hay khống chế của bất kỳ đối tượng nào

Nguyên tắc thực hiện giao dịch: các giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng giữa các

đối tác được thực hiện trên nguyên tắc tự do thỏa thuận về các nội dung và điều kiện

giao dịch trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi và phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan và các quy định của NHNN

Phương thức giao dịch:

Các đối tác thực hiện giao dịch với nhau thông qua các công cụ giao dịch được hai bên

đồng ý sử dụng Theo tính chất và thông lệ giao dịch của Thị trường liên ngân hàng

hiện nay, phương thức giao dịch chủ yếu giữa các đối tác là giao dịch qua các phương tiện điện tử, ít phát sinh giao dịch trực tiếp, các công cụ giao dịch điện tử như hệ thống giao dịch điện tử kết nối toàn cầu, giao dịch qua điện thoại có ghi âm, qua các màn hình giao diện giao dịch trực tuyến, qua fax, qua màn hình chat,…

1.5 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản và quan trọng hình thành nên thị trường tiền tệ Vì vậy, với tính chất và đặc điểm của TTLNH, nó có những chức năng, vai trò như sau:

Trang 24

Thứ nhất, Thị trường liên ngân hàng với vai trò là nơi điều tiết vốn giữa các ngân hàng thương mại và định chế tài chính Như chúng ta đã biết chức năng và vai trò

của các NHTM nói riêng và các TCTD nói chung là trung gian tài chính, đi vay để cho vay lại đối với các khách hàng, nguồn vốn tự có của TCTD chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn Như vậy, trong quá trình hoạt động của TCTD luôn phát sinh dòng tiền vào và dòng tiền ra TCTD phải thực hiện cân đối để làm sao đảm bảo dòng tiền vào và ra này có sự tương xứng hợp lý, vừa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động, vừa đảm bảo an toàn về thanh khoản và và khả năng chi trả lại vừa đảm bảo không lãng phí nguồn vốn để có lợi nhuận Tuy nhiên, trong nội bộ TCTD, không phải lúc nào dòng tiền vào và ra cũng có sự cân đối mà thường xuyên xuất hiện tình trạng mất cân đối cục bộ Tại cùng một thời điểm có thể dòng tiền vào lớn hơn dòng tiền ra dẫn

đến dòng tiền thuần dương do nguồn vốn huy động tăng cao hoặc tiền thu hồi các

khoản nợ đến hạn của khách hàng nhưng nhu cầu cho vay và sử dụng vốn khác lại chưa phát sinh; hoặc ngược lại cũng có thời điểm dòng tiền ra lớn hơn dòng tiền vào dẫn đến dòng tiền thuần bị âm do nhu cầu sử dụng nguồn vốn để cho vay hoặc đầu tư hay sử dụng khác phát sinh nhưng TCTD chưa huy động kịp hoặc các khoản nợ chưa

đến hạn thu hồi,…dòng tiền thuần dương hoặc âm vượt quá giới hạn đều không tốt đối

với hoạt động của TCTD, nó sẽ gây nên tình trạng trong nội bộ TCTD sẽ dư thừa hoặc thiếu nguồn vốn trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, tùy vào kỳ hạn của các khoản mục nguồn vốn và sử dụng vốn Để giải quyết vấn đề này, TCTD phải tổ chức

ra một bộ phận cân đối và quản lý nguồn vốn, thực hiện nhiệm vụ cân đối giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn cho vay, giữa tổng nguồn vốn và sử dụng vốn của TCTD;

đồng thời tham gia hoạt động giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng để vay hoặc cho

vay (nhận hoặc ký gửi) nguồn vốn đối với các đối tác khác nhằm cân bằng nguồn vốn, cân bằng dòng tiền ra và vào Việc cân đối nguồn vốn và tham gia thị trường tiền tệ là một nghiệp vụ cơ bản và phải được thực hiện thường xuyên liên tục nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản và sử dụng nguồn vốn hiệu quả của ngân hàng Chính vì vậy, TTLNH chính là nơi điều tiết cung cầu về nguồn vốn giữa các TCTD tham gia, điều

Trang 25

hòa giữa ngân hàng thừa vốn và ngân hàng thiếu vốn, các nội dung cụ thể thì do các bên tham gia thỏa thuận theo các quy định, thị trường có tác dụng làm cho các ngân hàng sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn của mình và đảm bảo khả năng thanh khoản, an toàn trong hoạt động

Thứ hai, Thị trường liên ngân hàng với vai trò tạo ra một công cụ kinh doanh vốn hiệu quả cho các ngân hàng thương mại và định chế tài chính Nghiệp vụ kinh

doanh của một NHTM hiện đại thì khá đa dạng, ngoài các nghiệp vụ truyền thống như huy động vốn và cho vay đối khách hàng, NHTM còn tham gia các hoạt động kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác Không chỉ tham gia Thị trường liên ngân hàng với mục đích cân đối, điều hòa cung cầu về nguồn vốn, các ngân hàng thương mại và định chế tài chính còn tham gia thị trường nhằm mục đích kinh doanh nguồn vốn nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng kinh doanh trên TTLNH thông qua thông qua các thỏa thuận tiền gửi có chênh lệch lãi suất giữa vai trò là người đi vay và người cho vay lại đối với các đối tác trên thị trường Việc kinh doanh vốn hay môi giới tiền tệ trên thị trường có tác dụng làm cho nguồn vốn luân chuyển liên tục trên thị trường, tăng nhanh vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Một hình thức kinh doanh khác là ngân hàng có thể tận dụng những biến động lãi suất thị trường để kiếm lợi nhuận từ việc mua đi bán lại các công cụ nợ và các giấy tờ có giá; ngoài ra, các ngân hàng cũng có thể thực hiện kinh doanh theo hình thức chênh lệch kỳ hạn trên cơ sở dự đoán tình hình biến động của thị trường Tuy nhiên, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro khi tình hình thực tế diễn biến khác với các dự đoán ban đầu Vì vậy, TTLNH cũng là một công cụ thể các NHTM và định chế tài chính kinh doanh tiền tệ cùng với các công cụ kinh doanh khác của ngân hàng

Thứ ba, Thị trường liên ngân hàng với vai trò phản ánh khả năng thanh khoản, sức khỏe của các đối tượng tham gia thị trường Căn cứ vào lượng cung cầu vốn trên thị

trường và khối lượng giao dịch thực tế phát sinh sẽ cho thấy được khả năng thanh khoản của các NHTM và các định chế tài chính Khi lượng cung vốn lớn và nhu cầu

Trang 26

vốn ít thì có thể khả năng thanh khoản của các NHTM tốt, nguồn vốn đang dư thừa và lãi suất thị trường có xu hướng sẽ giảm xuống; và ngược lại khi nhu cầu vốn trên thị trường cao hơn lượng cung vốn, các ngân hàng thiếu vốn, lúc này các NHTM và định chế tài chính có nhu cầu thanh khoản cao, lãi suất thị trường sẽ có xu hướng đi lên Sự quá dư thừa về nguồn vốn hoặc quá khan hiếm về nguồn vốn trên thị trường đều ẩn chứa những nguyên nhân và rủi ro TTLNH là nơi đáp ứng nhanh nhất các nhu cầu về vốn của các NHTM và các định chế tài chính, vì vậy thị trường cũng có phản ứng và biến động rất nhanh khi tiếp nhận các nhu cầu từ các đối tượng tham gia, bất cứ một sự

đột biến nào về nhu cầu giao dịch thì đều phản ánh tình hình thực tế của các đối tượng

tham gia và những bất thường nếu có Khi tham gia thị trường, các TCTD thường phải

có phát sinh nhu cầu và đáp ứng được một số điều kiện nhất định do các đối tác tác đặt

ra Chính vì vậy, để tham gia vào TTLNH, các TCTD cũng phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao khả năng quản lý và khả năng phòng ngừa quản lý rủi

ro Các TCTD tham gia thị trường hiệu quả là các TCTDT có tình hình tài chính tốt,

được đối tác đánh giá cao Ngược lại, những TCTD có tình hình tài chính chưa lành

mạnh thì sẽ bị hạn chế trong các giao dịch liên ngân hàng, các đối tác sẽ rất hạn chế trong việc cấp hạn mức giao dịch

Thứ tư, Thị trường liên ngân hàng là công cụ, là nơi để NHNN thực hiện chính sách điều tiết và quản lý thị trường tiền tệ, đảm bảo cho thị trường tiền tệ vận hành

và hoạt động một cách lành mạnh và hiệu quả NHHN tham gia Thị trường liên ngân

hàng với vai trò là người điều tiết thị trường, điều tiết dòng vốn đang lưu thông trên thị

trường và thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường tiền tệ thông

qua các nghiệp vụ cơ bản như chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn, thị trường mở, cho vay cầm cố, hoán đổi,…bằng các công cụ này, NHNN có thể bơm tiền ra thị trường khi thị trường khan hiếm nguồn vốn hoặc hút tiền khỏi thị trường khi thị trường

đang dư thừa vể nguồn vốn nhằm điều chỉnh cung cầu về nguồn vốn tạo ra sự cân bằng

và ổn định cho thị trường, duy trì mức lãi suất liên ngân hàng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ Việc bơm và hút tiền ra khỏi thị

Trang 27

trường đồng nghĩa với việc NHNN sẽ mua vào hoặc bán ra các GTCG, các GTCG này nằm trong danh mục do NHNN quy định Vai trò điều tiết của NHNN trên TTLNH

được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động của hệ

thống ngân hàng Ngoài ra, khi tham gia vào thị trường, NHNN cũng nắm được tình trạng của các TCTD trên thị trường để có biện pháp kịp thời hỗ trợ hoặc chấn chỉnh NHNN cũng cần có biện pháp và thống kê chi tiết về lượng vốn khả dụng của các TCTD để quyết định lượng tiền bơm ra hoặc hút vào cho phù hợp; đồng thời cũng có biện pháp kiểm tra kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn do NHNN bơm ra thị trường tại các TCTD để đảm bảo hạn chế các rủi ro phát sinh do các TCTD lạm dụng nguồn vốn này vào kinh doanh, không phát huy tác dụng vai trò điều tiết và ổn định thị trường

1.6 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

Thị trường liên ngân hàng là một thành phần trong thị trường tiền tệ, nếu TTLNH hoạt

động hiệu quả và lành mạnh thì góp phần quan trọng làm cho hoạt động của các

NHTM và định chế tài chính và thị trường tiền tệ ngân hàng thêm lành mạnh, ngược lại nếu TTLNH có những xáo trộn và bất ổn thì cũng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt

động của các NHTM, các định chế tài chính và thị trường tiền tệ ngân hàng nói chung

Để đánh giá tính hiệu quả của TTLNH ta phải dùng các chỉ tiêu định lượng và các chỉ

tiêu định tính

1.6.1 Các chỉ tiêu định lượng

- Doanh số giao dịch: là tổng khối lượng giao dịch thành công của thị trường

được thống kê trong một khoảng thời gian nhất định, hay trong một thời kỳ nhất định

- Đối tượng tham gia thị trường: là số thành viên tham gia giao dịch trên thị

trường, thành phần và số lượng, mức độ tham gia thường xuyên và ảnh hưởng của các đối tượng tham gia giao dịch đến thị trường

Trang 28

- Các sản phẩm, hàng hóa và công cụ của thị trường: thể hiện qua việc thị trường

đã có đầy đủ các sản phẩm, hàng hóa, công cụ giao dịch hay chưa

- Tốc độ tăng trưởng, phát triển của thị trường, thể hiện qua quy mô về doanh số giao dịch qua các thời kỳ, các giai đoạn so sánh

1.6.2 Các chỉ tiêu định tính

- Sự ổn định và an toàn của thị trường, thể hiện qua việc thị trường có hoạt động

thông suốt, an toàn và hiệu quả cho các đối tượng tham gia

- Cơ chế vận hành, quy trình, quy chế liên quan và sự quản lý, điều tiết của cơ

quan quản lý, thể hiện qua việc thị trường có được điều hành bởi một cơ chế thống nhất hay không, có đầy đủ quy trình, quy chế về nghiệp vụ nhằm tạo hành lang pháp lý và thông suốt trong hoạt động hay không, có đảm bảo các nghiệp

vụ được diễn ra đúng quy định hay không,…hiệu quả quản lý và điều tiết của cơ quan quản lý đến mức độ nào để nhằm làm cho thị trường ngày càng lành mạnh

và hiệu quả

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thị trường liên ngân hàng là một thành phần quan trọng trong thị trường tiền tệ Với những tính chất, đặc điểm riêng, thị trường là nơi diễn ra các giao dịch tiền tệ giữa các TCTD và định chế tài chính khác với nhau, không giao dịch với khách hàng cá nhân và

tổ chức kinh tế, thị trường có những nguyên tắc và thông lệ giao dịch riêng và có những vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động của các NHTM và việc quản lý của Ngân hàng Trung ương Về đặc điểm chung thì TTLNH đều giống nhau nhưng khi hình thành ở thị trường tiền tệ mỗi nước thì có những đặc thù riêng, thể hiện ở các sản phẩm dịch vụ, cơ chế và nguyên tắc vận hành và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường cũng như vai trò điều tiết của cơ quan quản lý TTLNH có vai trò nổi bật là nơi

điều tiết vốn khả dụng giữa các TCTD và các định chế tài chính, đảm bảo nguồn vốn được luân chuyển và sử dụng một cách hiệu quả, nâng cao khả năng sinh lời và góp

phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCTD và các định chế tài chính Hiểu và nắm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò của thị trường và vận hành thị trường hoạt động một cách hiệu quả là nhiệm vụ chung của cả hệ thống ngân hàng

Trang 30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG

TẠI VIỆT NAM

2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Lịch sử hình thành Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam

Thị trường liên ngân hàng có quá trình hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam Kể từ khi Pháp lệnh ngân hàng số 38/LCT-HĐNN ra đời, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liên bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam được hình thành và phát triển mạnh mẽ kể từ năm 1990 Cùng với sự ra đời của 2 bộ luật là Luật các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại

đã phát triển đầy đủ, bao gồm các loại hình ngân hàng thuộc các thành phần sở hữu

khác nhau, cụ thể là:

- Ngân hàng thương mại quốc doanh, là loại hình ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ 100% vốn: bao gồm 5 ngân hàng là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long Hiện nay, do chủ trương cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh nên đã có 2 ngân hàng hoàn thành cổ phần hóa là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, các ngân hàng TMQD còn lại vẫn đang có kế hoạch và chủ trương tiếp tục cổ phần hóa Tuy nhiên, Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ trọng vốn lớn trong các ngân hàng này

Trang 31

- Ngân hàng thương mại cổ phần, là các ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần: bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và thương mại

cổ phần nông thôn Các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam được hình thành trên cơ sở sáp nhập và giải thể các hợp tác xã tín dụng hoặc thành lập mới Hiện nay, hệ thống ngân hàng TMCP đã hình thành và phát triển được tổng số là 37 ngân hàng, huy động được một số lượng vốn góp khá lớn của các thành phần kinh tế trong xã hội Một số ngân hàng thương mại cổ phần ra đời từ rất sớm như Sài Gòn Công thương ngân hàng, Xuất nhập khẩu Việt Nam, Phát Triển Nhà TP.HCM, Á châu, Sài Gòn thương Tín,…các ngân hàng TMCP cũng

đã có mạng lưới hoạt động rộng khắp các địa bàn trong cả nước, kể cả các vùng

sâu, vùng xa

- Ngân hàng liên doanh, là hình thức liên doanh giữa các ngân hàng trong nước

và ngân hàng nước ngoài, hoạt động theo luật pháp Việt Nam, các ngân hàng liên doanh chủ yếu ra đời trên cơ sở liên doanh giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh tại Việt Nam và các ngân hàng lớn của các nước Châu Á Hiện nay

ở Việt Nam có 5 ngân hàng liên doanh, bao gồm: Ngân hàng liên doanh

Shinhan Vina, Ngân hàng Việt Thái, Ngân hàng Việt – Nga, Ngân hàng Vid Public Bank và Indovina Bank Các ngân hàng liên doanh cũng có mạng lưới hoạt động ở hầu hết các địa bàn trọng điểm của cả nước

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, là loại hình ngân hàng do các ngân hàng nước ngoài thành lập chi nhánh tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam,

được ra đời sau khi có luật đầu tư nước nước ngoài và có số lượng tương đối

nhiều, cho đến nay đã có đến 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài của hầu hết các ngân hàng lớn trên thị trường quốc tế hoạt động tại Việt Nam

- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, là loại hình ngân hàng 100% vốn của nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, đây là loại hình ngân hàng mới

được thành lập và hoạt động trên cơ sở chính sách và chủ trương đối với đầu tư

Trang 32

nước ngoài mới của Việt Nam, hiện nay đã có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã được cấp phép và đang hoạt động

- Công ty tài chính, là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thành lập và hoạt động từ rất sớm, công ty tài chính được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trực thuộc các tập đoàn và công ty có vốn đầu tư nước ngoài, hiện

đã có 16 công ty tài chính đang hoạt động trên thị trường

- Công ty cho thuê tài chính, là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thành lập và hoạt động từ rất sớm, công ty tài chính được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trực thuộc các ngân hàng thương mại và tập đoàn

và công ty có vốn đầu tư nước ngoài, hiện đã có 13 công ty cho thuê tài chính

đang hoạt động trên thị trường

- Ngoài ra còn có Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển VN và hàng trăm quỹ tín dụng nhân dân trung ương và địa phương (loại hình tổ chức tín dụng hợp tác)

Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là cơ sở tất yếu, khách quan và cơ bản cho Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam hình thành và phát triển Và với sự phát triển nhanh và mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng như hiện nay, TTLNH sẽ có cơ sở để phát triển ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn nữa theo thông lệ quốc tế Ngay từ khi mới hình thành, mặc dù quy mô giao dịch nhỏ và không thường xuyên nhưng Thị trường liên ngân hàng đã đóng vai trò là nơi mua bán, trao đổi nguồn vốn giữa các ngân hàng nhằm mục đích cân bằng và điều hoà nguồn vốn, giữa ngân hàng thừa vốn và thiếu vốn, giúp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hơn

Tại thị trường Việt Nam, để phân biệt TTLNH là nơi diễn ra các giao dịch giữa các TCTD với nhau và thị trường huy động và cho vay giữa các TCTD với khách hàng là

cá nhân và tổ chức kinh tế, người ta thường gọi TTLNH là thị trường 2 và thị trường giao dịch giữa TCTD với khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế là thị trường 1; và nguồn vốn huy động liên ngân hàng được gọi là vốn thị trường 2, nguồn vốn huy động

Trang 33

của khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế gọi là vốn thị trường 1 Trong các văn bản của NHNN thì chưa đề cập đến khái niệm này nhiều nhưng thực tế thông lệ thị trường

đã sử dụng khá phổ biến rộng rãi nên trong các phân tích dưới đây xin được thống nhất

dùng khái niệm này để nói về các mảng hoạt động nghiệp trong hoạt động của các TCTD trên thị trường tiền tệ

2.1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của Thị trường liên ngân hàng tại

Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển của Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam có thể chia ra các giai đoạn như sau:

2.1.2.1 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1997:

Đây là giai đoạn thị trường mới hình thành Thị trường liên ngân hàng trên cơ sở hình thành hệ thống ngân hàng thương mại, chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp, tách chức năng chức năng quản lý ra khỏi chức năng kinh doanh của ngân hàng Giai đoạn này là thời kỳ đánh dấu sự ra đời hàng loạt các ngân hàng TMCP Thị trường nội tệ liên ngân hàng chính thức ra đời theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, về việc cho phép các TCTD được thực hiện cho vay và đi vay lẫn nhau và chính thức hoạt động từ tháng 7/1993 Theo các quy định tại Quyết định số 114/QĐ-NH14 ngày 21/6/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TTLNH và Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của TTLNH, thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành dưới hình thức là một thị trường tập trung có tổ chức qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội) số lượng thành viên tham gia và doanh số hoạt động rất hạn chế; trong đó, những thành viên là ngân hàng TMQD có khả năng chi phối trên cả lĩnh vực huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về tài chính và uy tín; chưa hình thành các quy tắc và thông lệ giao dịch trên thị trường, quy mô và khối lượng giao dịch rất thấp và chưa thực sự có ý nghĩa đối với hoạt động của ngân hàng

Trang 34

2.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2007:

Từ năm 1997, hoạt động của Thị trường liên ngân hàng diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua NHNN Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm

Đây là giai đoạn thị trường có sự tham gia của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

các công ty tài chính và cho thuê tài chính, là giai đoạn thị trường có sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ về quy mô, khối lượng giao dịch và các đối tượng tham gia

Đây cũng là giai đoạn thị trường phát huy vai trò, chức năng vốn có của nó Các giao

dịch trên thị trường đã thật sự có ý nghĩa đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong giai đoạn này, NHNN đã ban hành quy chế về vay vốn giữa các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN và hiện nay vẫn đang còn áp dụng Quy chế này đã làm nền tảng và cơ sở pháp lý cho các giao dịch giữa các TCTD trên thị trường tiền tệ, góp phần quan trọng đẩy nhanh các hoạt động giao dịch vốn giữa các ngân hàng và định chế tài chính Giai đoạn này phải ghi nhận sự tham gia tích cực của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài không chỉ giao dịch với nhau mà còn mở rộng giao dịch với các ngân hàng thương mại cổ phần và quốc doanh Trong giai đoạn này, thị trường hoạt động khá an toàn và hiệu quả, không

có sự biến động gì lớn, các thông lệ và quy tắc giao dịch trên thị trường được hình thành và duy trì, các giao dịch đều thực hiện thông qua hình thức tín chấp, với quy mô giao dịch ban đầu chỉ vài ba tỷ đồng/giao dịch đã tăng lên hàng trăm tỷ đồng/giao dịch

và hàng ngày đều có hàng trăm giao dịch phát sinh trên thị trường giữa các ngân hàng với nhau Phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; các ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn chủ yếu dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau

2.1.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay:

Đây là giai đoạn phát triển khá đầy đủ của TTLNH cả về quy mô giao dịch, mức độ

thường xuyên, sản phẩm giao dịch và đối tượng tham gia thị trường nhưng đây cũng là

Trang 35

giai đoạn TTLNH nói riêng và thị trường tài chính tiền tệ nói chung có nhiều biến cố, thăng trầm và rơi vào khủng hoảng với tính chất nghiêm trọng và hệ thống, đây là giai

đoạn bùng phát những bất cập và khiếm khuyết của thị trường và cần phải có sự can

thiệp của NHNN Giai đoạn này có sự tham gia đầy đủ của tất cả các loại hình tổ chức tín dụng (quốc doanh, cổ phần, công ty tài chính, cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài) Giai đoạn này cũng là giai đoạn các TCTD bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến vấn đề quản lý rủi ro thị trường, rủi ro đối tác và rủi ro thanh khoản Hầu hết các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã rút khỏi thị trường theo yêu cầu của ngân hàng Mẹ hoặc co cụm giao dịch trong hệ thống các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với và với một vài ngân hàng TMCP lớn và quốc doanh

2.1.3 Tính chất, đặc điểm, cơ chế vận hành và phương tiện giao dịch của Thị

trường liên ngân hàng tại Việt Nam

2.1.3.1 Tính chất đặc điểm và cơ chế vận hành

Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam là một thành phần của thị trường tiền tệ ngân hàng, được quản lý thống nhất theo pháp luật ngân hàng và pháp luật của nhà nước Việt Nam có liên quan, được sự kiểm tra, kiểm soát của NHNN và các cơ quan quản

lý, thị trường vận hành theo cơ chế chung về cơ chế hoạt động của thị trường tiền tệ ngân hàng và cũng có những nguyên tắc riêng của nó

TTLNH cho phép các đối tượng tham gia là các ngân hàng thương mại, công ty tài

chính và các định chế tài chính khác giao dịch các giao dịch vốn ngắn hạn trên cơ sở

thỏa thuận các nội dung và điều kiện giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật và

các quy định của Ngân hàng nhà nước Việc giao dịch được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi, phù hợp nhu cầu mỗi bên

Hoạt động giao dịch trên thị trường tiền tệ Việt Nam chủ yếu được xác lập trên cơ sở

uy tín của các đối tác tham gia, chỉ một phần nhỏ các giao dịch là có tài sản đảm bảo Một số thông lệ trong giao dịch cũng đã được hình thành và áp dụng phổ biến như việc giao dịch qua điện thoại, xác nhận qua fax và gửi bản chính xác nhận sau đó Xác nhận qua điện thoại được coi là một giao kết không hủy ngang và bắt buộc các bên phải thực

Trang 36

hiện trừ trường hợp bất khả kháng Đối tác nào không giữ được uy tín và không tuân theo nguyên tắc này sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi và thị trường sẽ không chấp nhận giao dịch những lần sau đó

2.1.3.2 Phương tiện giao dịch trên thị trường

Hiện nay, các TCTD thường sử dụng công cụ giao dịch qua điện thoại ghi âm, do quy

mô và tính chất giao dịch ngày càng nhiều, các TCTD đã triển khai sử dụng công cụ giao dịch mang tính chất chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn và an toàn hơn là hệ thống giao dịch điện tử toàn cầu do Hãng Reuters và Bloomberge cung cấp, hầu hết các NHTM tại Việt Nam đã sử dụng công cụ giao dịch điện tử này Hệ thống giao dịch

điện tử cho phép các đối tác liên hệ và xác nhận trực tiếp với nhau về nội dung giao

dịch trên màn hình điện tử, các nội dung này được lưu giữ tại Trung tâm xử lý dữ liệu của nhà cung cấp và các đối tác có thể truy cập lịch sử các giao dịch bất cứ lúc nào tại thời điểm nhiều năm trở về trước Xác nhận qua hệ thống giao dịch điện tử này được coi là một giao kết hợp đồng có giá trị thực hiện đối với các bên vào ngày giá trị giao dịch và không hủy ngang

2.1.4 Các chủ thể tham gia thị trường

Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại và định chế tài chính khác, Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam hoạt động với sự tham gia của các chủ thể như sau:

2.1.4.1Ngân hàng Trung ương hay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: tham gia thị

trường với vai trò là người điều tiết cung cầu vốn, dẫn dắt thị trường, là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM và nền kinh tế

2.1.4.2 Ngân hàng Thương mại

- Ngân hàng TMQD: Bao gồm Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank,

hiện đã cổ phần hóa xong), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank hiện cũng đã cổ phần hóa), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) Các ngân hàng TMQD là các

Trang 37

đối tượng tham gia rất tích cực, quy mô giao dịch lớn, thường xuyên và có khả

năng định hướng, dẫn dắt và điều tiết thị trường

- Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng Phát triển VN

- Ngân hàng TMCP: Bao gồm 37 ngân hàng, trong đó có thể kể đến các ngân

hàng như Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Sài Gòn thương tín, Xuất nhập khẩu

VN, Đông á, Kỹ thương VN, Quốc Tế, Phát triển nhà TP.HCM,…các ngân hàng TMCP là một lực lượng đông đảo, tham gia một cách tích cực vào Thị trường liên ngân hàng nhất là trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay Các ngân hàng TMCP lớn như ACB, Sacombank, Eximbank, Kỹ thương,…có quy mô và khối lượng giao dịch khá lớn, chiếm tỷ trọng cao trong khối lượng giao dịch của toàn thị trường và có khả năng định hướng và chi phối thị trường

- Ngân hàng liên doanh: Bao gồm các ngân hàng Việt Thái, Shinhan Vina,

Indovina Bank, Việt Nga, Vid Public Bank Mặc dù có quy mô hoạt động chưa lớn nhưng các ngân hàng liên doanh cũng tham gia một cách đầy đủ vào các hoạt động trên TTLNH và có doanh số doanh dịch khá lớn, uy tín trong giao dịch của các ngân hàng này tương đối cao, chỉ sau các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng TMQD

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Bao gồm khoảng 40 chi nhánh, trong đó có

thể kể đến là Citibank, Deustche Bank, HSBC, Calyon, Bangkok bank, UOB, ANZ, Standard Chartered, …các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham thị trường với sự dè dặt và hạn chế đối tác, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 trở lại đây Việc giao dịch chỉ xảy ra trong nội bộ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với nhau hoặc với một vài ngân hàng TMCP lớn

và các ngân hàng TMQD Trước năm 2008, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quan hệ giao dịch khá rộng rãi với các đối tác trên thị trường, kể cả với các ngân hàng TMCP Trong thời gian tới, khi tình hình kinh tế vĩ mô và tình hình thị trường tiền tệ ổn định, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ khôi phục lại việc giao dịch với các đối tác Chính sách giao dịch trên TTLNH của

Trang 38

các chi nhánh ngân hàng nước ngoài phụ thuộc chặt chẽ vào chính sách của ngân hàng mẹ

- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: HSBC, ANZ, Standard Chartered, Hong

Leong VN, Shinhan,…là loại hình ngân hàng mới được thành lập theo chủ trương của nhà nước Việt Nam, các ngân hàng này cũng từng bước tham gia vào hoạt động giao dịch trên TTLNH

2.1.4.3 Các định chế tài chính phi ngân hàng khác

- Công ty tài chính: Bao gồm 16 công ty tài chính, trong đó phải kể đến là các

công ty tài chính Dầu khí, Tài chính điện lực, Dệt may, Hóa chất, bưu điện, than khoáng sản,…các công ty tài chính cũng tham gia khá tích cực vào thị trường Tuy nhiên, theo quy định hiện nay, các công ty tài chính chỉ được nhận tiền gửi trung dài hạn nên cũng gây khó khăn và hạn chế các giao dịch trên TTLNH TTLNH vốn là thị trường giao dịch vốn ngắn hạn Ngoài ra, các công ty tài chính còn bị hạn chế giao dịch do xếp hạng tín nhiệm thấp, rủi ro tín dụng cao nên các đối tác không cấp hạn mức giao dịch nhiều

- Công ty cho thuê tài chính: bao gồm khoảng 13 công ty cho thuê tài chính đang

hoạt động, các công ty cho thuê tài chính có nhiều hạn chế khi tham gia TTLNH

vì theo quy định công ty cho thuê tài chính chỉ được huy động vốn trung và dài hạn; đồng thời uy tín và năng lực của các công ty này cũng hạn chế, rủi ro tín dụng cao nên các đối tác thường ngại giao dịch với các công ty này, các giao dịch chỉ được thực hiện dưới hình thức có đảm bảo bằng tài sản

- Các định chế tài chính khác như các Qũy đầu tư, công ty chứng khoán, công ty

quản lý quỹ, công ty bảo hiểm,…

2.1.5 Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt

Nam

2.1.5.1 Nghiệp vụ gửi và nhận vốn giữa các TCTD (vay và cho vay)

Nghiệp vụ gửi và nhận vốn (vay và cho vay) giữa các định chế tài chính chiếm đến 90% khối lượng giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng tại Việt Nam Nghiệp vụ gửi

Trang 39

80-nhận vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo thanh khoản hàng ngày của các chủ thể tham gia, điều tiết và cân bằng nguồn vốn giữa ngân hàng thừa vốn và ngân hàng thiếu vốn ngắn hạn, giúp các ngân hàng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động Hình thức giao dịch thông qua thỏa thuận giữa các ngân hàng với nhau trên nguyên tắc tín nhiệm

và tự nguyện về số lượng gửi và nhận, kỳ hạn giao dịch, mức lãi suất và các điều kiện khác

- Điều kiện giao dịch:

Ngân hàng nhà nước hiện nay chưa có văn bản nào quy định các điều kiện cụ thể để có thể tham gia giao dịch trên TTLNH đối với các định chế tài chính Các định chế tài chính mặc nhiên được công nhận tham gia thị trường Do đó, để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro phát sinh, các ngân hàng và định chế tài chính thường tự mình đặt ra các quy

định và tiêu chuẩn đối với đối tác giao dịch đồng thời thực hiện cấp hạn mức giao dịch

cho từng đối tác cụ thể

- Kỳ hạn giao dịch:

Các kỳ hạn giao dịch trên TTLNH thông thường là các kỳ hạn ngắn (dưới 1 năm) và khá đa dạng, phổ biến nhất là kỳ hạn từ 3-6 tháng trở xuống, cụ thể các kỳ hạn giao dịch bao gồm: qua đêm (over night), 1, 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, kỳ hạn giao dịch được xác định hoàn toàn dựa vào thỏa thuận giữa hai đối tác trên cơ sở nhu cầu vốn của một bên và khả năng đáp ứng về nguồn vốn của bên còn lại

- Khối lượng giao dịch:

Khối lượng giao dịch là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận vay và cho vay (gửi hay nhận gửi) lẫn nhau, khối lượng giao dịch được thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của các bên

- Lãi suất giao dịch:

Lãi suất giao dịch chính là giá của nguồn vốn trên thị trường, lãi suất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên, tùy theo tình hình cung cầu vốn trên thị trường trong khuôn khổ biên độ lãi suất cho phép của NHNN Thực tế kể từ năm 2008 trở về trước, NHNN không quy định mức lãi suất trần giao dịch trên thị trường liên hàng, các

Trang 40

đối tác được toàn quyền thỏa thuận về lãi suất trên cơ sở nhu cầu và lãi suất thị trường,

sau cuộc khủng hoảng thanh khoản nghiêm trọng của Thị trường liên ngân hàng giữa năm 2008, NHNN bắt đầu áp dụng dụng cơ chế lãi suất trần trong giao dịch tiền gửi liên ngân hàng, bằng 150% lãi suất cơ bản của NHNN

- Các điều kiện đảm bảo giao dịch:

Các định chế tài chính tự thỏa thuận với nhau về hình thức đảm bảo cho giao dịch tiền gửi trên TTLNH, có hai hình thức cơ bản là tín chấp và có đảm bảo bằng tài sản Trong

điều kiện thị trường bình thường, phần lớn các giao dịch tiền gửi trên TTLNH là dưới

hình thức tín chấp Vì TTLNH diễn ra các giao dịch giữa các định chế tài chính nên mức độ uy tín cao, bên cạnh đó, trước khi giao dịch, các định chế tài chính cũng đã xem xét, đánh giá và cấp hạn mức giao dịch cho đối tác

- Phương thức thanh toán giao dịch:

Các đối tác tham gia giao dịch phải thỏa thuận xác định kênh thanh toán và tài khoản thanh toán cho giao dịch, hiện nay NHNN là cơ quan duy nhất cung ứng các dịch vụ thanh toán liên ngân hàng, gồm có các kênh thanh toán như thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ theo phiên, thanh toán bù trừ trực tiếp trong đó thanh toán

điện tử liên ngân hàng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó đảm bảo tiện lợi, nhanh

chóng, chính xác và an toàn Kênh thanh toán này đã được NHNN đầu tư và xây dựng khá hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh toán của các TCTD

- Các điều kiện khác:

Các điều kiện giao dịch khác do hai bên thỏa thuận trên cơ sở phù hợp các quy định hiện hành Các điều kiện giao dịch khác có thể là phương pháp tính lãi, trả lãi, hình thức đảm bảo giao dịch, hình thức xử lý tài sản đảm bảo, điều kiện tất toán trước hạn hợp đồng giao dịch,…

2.1.5.2 Nghiệp vụ mua bán các giấy tờ có giá

 Mua bán hẳn giấy tờ có giá ngắn hạn

Nghiệp vụ mua bán hẳn GTCG ngắn hạn trên thị trường tiền tệ bao gồm hai hình thức: mua bán trên thị trường sơ cấp từ nhà phát hành và mua đi bán lại trên thị trường sơ

Ngày đăng: 09/01/2018, 22:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w