Mặc dù phong trào sản xuất cà phê được chứng nhận TMCB tại Tây Nguyên đang có xu hướng phát triển nhưng về mặt nghiên cứu, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
LÊ CHÍ HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH
CÀ PHÊ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG TẠI XÃ THUẬN AN,
HUYỆN ĐĂK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
LÊ CHÍ HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH
CÀ PHÊ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG TẠI XÃ THUẬN AN,
HUYỆN ĐĂK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thế Anh
HÀ NỘI – 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Lê Chí Hiếu
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ, người dân xã Thuận An, Ban quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Công bằng Thuận An đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài tại địa bàn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH BỀN VỮNG TRONG PHÁT TRIỂN CÀ PHÊ 6
1.1 Cơ sở lý thuyết về khoa học bền vững 6
1.1.1 Một số khái niệm về tính bền vững 6
1.1.2 Các loại tính bền vững trong phát triển 7
1.1.3 Các giá trị cốt lõi của tính bền vững 10
1.2 Phát triển cà phê bền vững 10
1.2.1 Tính bền vững trong sản xuất cà phê 10
1.2.2 Quan điểm về phát triển cà phê bền vững 13
1.3 Vấn đề tính bền vững đối với cà phê Việt Nam 15
1.3.1 Thực trạng sản xuất cà phê tại Việt Nam 15
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ của một số cà phê có chứng nhận bền vững tại Việt Nam 21
1.4 Mô hình cà phê Thương mại công bằng 28
1.4.1 Quá trình phát triển và đặc điểm của Thương mại công bằng 28
1.4.2 Nghiên cứu tính bền vững của cà phê TMCB trên thế giới và Việt Nam 35
1.4.3 Tính bền vững của mô hình cà phê TMCB 37
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Thuận An và HTX Nông nghiệp Công bằng Thuận An 38
Trang 6iv
2.1.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận 41
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Đánh giá hiện trạng áp dụng mô hình cà phê TMCB tại xã Thuận An 48
3.1.1 Hiện trạng và tính bền vững về mặt kinh tế 48
3.1.2 Hiện trạng và tính bền vững về mặt xã hội 51
3.1.3 Hiện trạng và tính bền vững về mặt môi trường 53
3.2 Đề xuất các giải pháp duy trì và phát triển bền vững sản xuất cà phê TMCB tại khu vực nghiên cứu 57
3.2.1 Tổ chức, vận hành mô hình sản xuất cà phê TMCB của HTX 57
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện mô hình sản xuất cà phê TMCB 57
3.2.3 Xúc tiến việc bán hàng, nâng cao nhận thức sản xuất và tiêu dùng cà phê có chứng nhận 58
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Khuyến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 7v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
for Coffee Community
Bộ quy tắc ứng xử chung cho cộng đồng cà phê
FLO Fairtrade Labelling Organization
International
Tổ chức dán nhãn Thương mại công bằng quốc tế
ICO International Coffee Organization Tổ chức cà phê quốc tế
ILO International Labour Organization Tổ chức lao động quốc tế
NN&PTNN Agriculture and Rural
Development
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
WFTO World Fair Trade Organization Tổ chức Thương mại công bằng
thế giới
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Công suất các nhà máy chế biến cà phê……… 19 Bảng 1.2: Danh sách 30 thị trường tiêu biểu nhập khẩu cà phê Việt Nam 2015………… 19 Bảng 1.3: Danh sách các đơn vị cà phê đạt chứng nhận TMCB của FLO tại Việt Nam… 27 Bảng 2.1: Đặ điểm nông hộ trồng cà phê TMCB tại Thuận An……… 39 Bảng 2.2: Sự phát triển của HTX Nông nghiệp Công bằng Thuận An (2011-2015)…… 40 Bảng 3.1: Việc sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trong sản xuất cà phê của nông dân tham gia chứng nhận………
51
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam từ 2005-2014…… ……… 15
Hình 1.2: Diện tích cà phê theo vùng từ niên vụ 2006/2007 đến niên vụ 2014/2015…… 16
Hình 1.3: Mười thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam……… 17
Hình 1.4: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam……… 17
Hình 1.5: Các quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới 2015……… 18
Hình 1.6: Biến động giá cà phê trong nước giai đoạn 2014 – 2015……… 20
Hình 1.7: Mười nguyên tắc của tổ chức Thương mại công bằng Thế giới……… 29
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí địa lý khu vực nghiên cứu……… 38
Hình 2.2: Cấu trúc kiến thức cho Khoa học bền vững……… 42
Hình 2.3: Mô hình tác động của TMCB……… 44
Hình 2.4: Khung phân tích nghiên cứu đánh giá tính bền vững của cà phê TMCB…… 46
Hình 3.1: Năng suất, giá bán và doanh thu của nông hộ trồng cà phê tại Thuận An…… 49
Hình 3.2: Nhận thức của người dân về hiệu quả kinh tế khi tham gia chứng nhận TMCB 50 Hình 3.3: Đánh giá của nông dân tham gia chứng nhận về mối quan hệ trong cộng đồng 52 Hình 3.4: Sử dụng phân bón giữa hộ tham gia chứng nhận và hộ đối chứng……… 53
Hình 3.5: Tỷ lệ nông dân áp dụng các giải pháp tiết kiệm nước tưới cho cây cà phê…… 54
Hình 3.6: Nhận thức về cải thiện môi trường trong sản xuất cà phê của nông dân tham gia chứng nhận TMCB………
56
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết
Với sản lượng trên 1,6 triệu tấn cà phê nhân/năm, Việt Nam liên tục là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới Cà phê đóng góp khoảng 10% GDP nông nghiệp, 5% tổng giá trị xuất khẩu, cung cấp hơn 1 triệu việc làm và tạo 50% sinh kế cho người dân Tây Nguyên [3] Là một trong những ngành hàng chiến lược của Việt Nam, cà phê có
ý nghĩa quan trọng đặc biệt trọng đối với đời sống kinh tế của người dân, đặc biệt là người nghèo và dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, khu vực có diện tích cà phê lớn nhất
cả nước
Ngoài những thành công đã đạt được, ngành cà phê Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức mà Chiến lược phát triển cà phê bền vững đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã nêu
Về sản xuất cà phê thời gian qua, diện tích trồng cà phê ở Việt Nam thiếu kiểm soát nên đang tăng rất nhanh, đạt 620.000 ha trong đó hơn 570.000 ha đang cho thu hoạch Tổng diện tích cà phê 20 năm tuổi cho năng suất thấp đã lên tới 86.000 ha Ngoài ra có tới trên 40.000 ha cà phê dưới 20 tuổi nhưng có biểu hiện thoái hóa, cho năng suất và chất lượng thấp không đáp ứng nhu cầu Trong 5 đến 10 năm tới diện tích
cà phê cần được tái canh lên tới 140.000 đến 160.000 ha Bộ NN&PTNT đã ra quyết định Quy hoạch phát triển cà phê giữ diện tích cà phê kinh doanh ở mức 600.000 ha Năng suất cà phê có xu hướng giảm và chênh lệch lớn giữa các vùng [2]
Bên cạnh đó kỹ thuật trồng cà phê thời gian qua bị coi là yếu kém và thiếu bền vững với 90% diện tích áp dụng phương pháp thâm canh truyền thống, thiếu cây che bóng và cây đai rừng, lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, gây ô nhiễm nước mặt, 40% diện tích tưới quá yêu cầu làm mực nước ngầm suy giảm Nông dân không tiếp cận được vốn để đổi mới công nghệ Điều kiện cơ sở hạ tầng trong vùng sản xuất cà phê chưa hoàn thiện (giao thông, điện phục vụ sản xuất, hệ thống thủy lợi, sân phơi và kho chứa)
Về xã hội, Cà phê là mặt hàng nông sản nhạy cảm với thị trường thế giới trước các biến động về giá cả Trong quá trình phát triển cà phê đã có những thời gian điểm giá cà phê cao kỷ lục rồi lại xuống thấp không kiểm soát tạo nên sự bất ổn trong quy hoạch cà phê, người nghèo và dân tộc thiểu số bị loại ra khỏi chuỗi giá trị, khoảng cách giàu nghèo giữa các nông hộ trồng cà phê là dân tộc thiểu số bản địa và dân di cư
có xu hướng tăng
Trang 11Đề án phát triển Ngành cà phê bền vững đến năm 2020 đã đưa ra các nhiệm vụ cấp thiết nhất để góp phần giải quyết các thách thức nói trên, trong đó có rà soát quy hoạch phát triển cà phê, trồng tái canh và ghép cải tạo khoảng 120.000 ha cà phê; chuyển đổi cơ cấu giống sang giống mới có chất lượng cao và tăng tỷ lệ cà phê chè; áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất cà phê bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường hệ thống thu mua, chế biến cà phê; xúc tiến thương mại và xuất khẩu Kèm theo các nhiệm vụ này, nhà nước đã tiếp tục triển khai và ban hành các nhóm chính sách quan trọng về tái canh, phát triển giống, tín dụng, khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất và phát triển hợp tác xã, hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
Cũng theo đề án này, hướng tới phổ biến quy trình thực hành sản xuất cà phê bền vững cho người sản xuất, đến năm 2020 khoảng 80% diện tích cà phê được áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (có chứng nhận như UTZ Certify, 4C, TMCB, Rainforest Aliance và VietGAP…) và 80% sản lượng cà phê quả tươi đạt tiêu chuẩn TCVN 9728 – 2012 [2]
Hiện nay, việc sản xuất cà phê bền vững có chứng nhận quốc tế đang được thực hiện rộng khắp ở Tây Nguyên Các loại hình cà phê chứng nhận phổ biến là 4C, UTZ, Rainforest Aliance, và TMCB Tại Đăk Lăk, đến nay cà phê có chứng nhận đã chiếm 1/3 diện tích, và đạt tới 58% tổng sản lượng cà phê của tỉnh Tính chung toàn ngành cà phê, niên vụ vừa qua, cà phê có chứng nhận quốc tế đã đạt trên 50% sản lượng, sớm hai năm so với mục tiêu mà Bộ NN&PTNT đặt ra
Tuy nhiên sản xuất cà phê có chứng nhận không phải càng nhiều càng tốt, vì thực
tế đã bắt đầu xuất hiện những doanh nghiệp khó bán loại cà phê này, không những cần
áp dụng quy trình sản xuất chặt chẽ mà hiện nay nhu cầu cho cà phê có chứng nhận tặng chậm hơn so với lượng cung cấp Do đó ngành cà phê Việt Nam cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc đưa ra những chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển cà phê có chứng
Trang 12Chứng nhận TMCB yêu cầu đảm bảo tính bền vững và công bằng trên ba khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên việc triển khai chứng nhận TMCB trên cà phê hiện này cũng đang gặp một số khó khăn về phí gia nhập, thị trường và nhận biết của cộng đồng Phí gia nhập được đánh giá là khá cao đối với một doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ hai là vấn đề đầu ra cho sản phẩm Hiện nay trong tổng số sản lượng cà phê sản xuất ra m ới chỉ tiêu thụ được 1/5 sản lượng Thứ ba, chứng nhận cà phê TMCB chưa phổ biến ở Việt Nam so với các loại chứg nhận khác như chứng nhận 4C, Rainforest Alliance, UTZ [9]
Mặc dù phong trào sản xuất cà phê được chứng nhận TMCB tại Tây Nguyên đang có xu hướng phát triển nhưng về mặt nghiên cứu, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diện về tính bền vững của mô hình cà phê TMCB và những tác động đến đời sống người dân Để có cái nhìn tổng thể và tình hình thực tế việc áp dụng các tiêu chí tuân thủ của chứng nhận TMCB tại Tây Nguyên nói chung
và xã Thuận An nói riêng tác giả đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá tính bền vững của mô hình cà phê Thương mại công bằng tại xã Thuận An, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông” Kết quả đề tài hướng tới giúp các nhà hoạch định
chính sách, nông dân và các tổ chức sản xuất có thêm thông tin hữu ích, làm cơ sở ra quyết định đúng đắn trong sản xuất và kinh doanh cà phê
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định và đánh giá được các yếu tố cấu thành nên tính bền vững của mô hình
cà phê được chứng nhận Thương mại công bằng, đề xuất được các giải pháp duy trì và phát triển bền vững mô hình sản xuất cà phê Thương mại công bằng trên địa bàn nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể
Trang 13- Góp phần xây dựng cơ sở khoa học về tiêu chí đánh giá tính bền vững của sản xuất cà phê nói chung và mô hình sản xuất cà phê Thương mại công bằng nói riêng
Về mặt thực tiễn:
- Lựa chọn và đánh giá được tính bền vững của mô hình cà phê TMCB tại Thuận
An, Đăk Mil, Đăk Nông theo một số tiêu chí bền vững phù hợp với điều kiện thực tế của sản xuất cà phê tại Tây Nguyên
- Xác định ưu điểm, hạn chế của sản xuất cà phê TMCB và đề xuất một số giải pháp để duy trì và phát triển bền vững loại hình cà phê TMCB tại địa bàn nghiên cứu dựa trên kết quả phân tích và đánh giá
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Tính bền vững của mô hình chứng nhận chất lượng cà phê Thương mại Công bằng ở xã Thuận An
- Một số giải pháp nhằm cải thiện tính bền vững của mô hình cà phê thương mại công bằng tại Thuận An
Trang 145
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mô hình quản lý chứng nhận chất lượng TMCB tập trung vào đánh giá quy trình sản xuất, sau thu hoạch và kinh doanh tại nông hộ và quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tại HTX
Các câu hỏi nghiên cứu:
- Tính bền vững của mô hình sản xuất cà phê TMCB gồm những yếu tố nào?
- Đánh giá tính bền vững của mô hình cà phê TMCB, yếu tố nào bền vững và yếu
tố nào chưa bền vững?
- Các giải pháp gì cần thực hiện để duy trì tính bền vững và phát triển bền vững
cà phê TMCB tại Thuận An trong tương lai?
Giới thiệu về kết cấu luận văn
Phần mở đầu: Tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương I: Tổng quan về tính bền vững trong phát triển cà phê
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả và thảo luận
Kết luận và khuyến nghị
Trang 156
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH BỀN VỮNG TRONG PHÁT TRIỂN
CÀ PHÊ 1.1 Cơ sở lý thuyết về khoa học bền vững
1.1.1 Một số khái niệm về tính bền vững
Tính bền vững hiện nay đã trở thành một trong những đặc tính được quan tâm hàng đầu, làm nền tảng cho mục tiêu phát triển bền vững các ngành, các tổ chức, cá nhân hay ở phạm vi quốc gia và toàn cầu Trong cơ sở lý thuyết của phát triển bền vững, có thể coi tính bền vững là một khái niệm cốt lõi
Nhà nghiên cứu ung thư Karl-Henrik Robert, chủ tịch và là người sáng lập mạng lưới Natural Step, đã có đóng góp lớn trong việc phát hiện ra phương pháp đánh giá tính bền vững một cách khoa học dựa trên nguyên lý nhiệt động học Chính định nghĩa phát triển bền vững của uỷ ban Brundtland đã dựa trên kết quả nghiên cứu của ông Theo ông “Tính bền vững là đặc trưng cho một quá trình hoặc một trạng thái được duy trì một cách ổn định lâu dài” [28]
Khái niệm đó không chỉ được các nhà khoa học sử dụng để lý giải tính liên tục và
ổn định của các thuộc tính sinh thái mà còn bao gồm cả các thuộc tính kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đạo lý, thể chế Một trong những thuộc tính đặc biệt quan trọng của tính bền vững là các điều kiện bền vững hệ thống Căn cứ vào nguyên lý xây dựng nên khái niệm tính bền vững, Karl-Henrik Robert cũng đã đề xuất các điều kiện đảm bảo tính bền vững, mà ông gọi là Khung cấp độ tự nhiên, bao gồm bốn điều kiện hệ thống, được coi là các nguyên lý khoa học đảm bảo cho một xã hội bền vững:
Điều kiện một: Liên quan đến việc khai thác tài nguyên của con người, đến năng
lực đồng hóa của trái đất, nhấn mạnh đến sự cân bằng giữa các dòng sinh quyển và thạch quyển trong trái đất Vật chất từ thạch quyển không tăng lên một cách hệ thống trong toàn bộ sinh quyển Việc khai thác mở và năng lượng hóa thạch đã thải ra nhiều loại vật chất không phân hủy, trải rộng khắp hệ sinh thái Trong khi đó các hệ thống trên trái đất lại không được chuẩn bị để xử lý khối lượng vật chất đó, sẽ làm hủy hoại các chức năng và tính đa dạng của hệ thống sinh thái Vậy nên các dòng vật chất giữa thạch quyển và sinh thái quyển phải được duy trì cân bằng
Điều kiện hai: Liên quan đến quá trình sản xuất vật chất của con người, năng lực
đồng hóa của tự nhiên, một xã hội chỉ có thể duy trì được tính bền vững của nó khi
Trang 167
mức độ sản xuất và tích lũy các loại vật chất do con người làm ra không được phép nhanh hơn quá trình tái tích hợp chúng trở lại với các chu trình của tự nhiên, chỉ như vậy tự nhiên mới có khả năng đồng hóa được các loại chất thải Tự nhiên không hề có khả năng đồng hóa được các vật chất do con người sản xuất ngoài phương pháp tự nhiên
Điều kiện ba: Liên quan đến việc con người can thiệp vào các quá trình tự nhiên,
việc con người, từ cá nhân đến quy mô xã hội, tương tác trực tiếp với sinh quyển như thế nào Liên quan đến dịch vụ hệ thống sinh thái với tư cách là các điều kiện và các quá trình giúp cho con người tăng trưởng, duy trì và đảm bảo cuộc sống của mình Chúng giúp giữ gìn tính đa dạng sinh học, sản xuất ra các dịch vụ và hàng hóa sinh thái chất lượng cao: Hải sản, lâm sản, năng lượng…
Điều kiện bốn: Đề cập đến việc sử dụng các nguồn lực một cách công bằng và
hiệu quả Con người chính là những tác nhân lựa chọn sao cho cấu trúc của cuộc sống
có thể cân bằng Nhấn mạnh việc con người cần phải chú ý đến việc sử dụng và chia sẻ các nguồn lực hữu hạn của trái đất này
1.1.2 Các loại tính bền vững trong phát triển
Phát triển bền vững được đề cập rất nhiều trong đường lối, chính sách nhà nước
và trong các kế hoạch, chiến lược của các ngành, các địa phương Tuy nhiên cơ sở lý luận về tính bền vững thì ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu Trong nghiên cứu của tác giả Hà Hữu Nga (2008) về cơ sở lý thuyết cho phát triển bền vững cũng đã đề cập một số phân tích về tính bền vững bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế…
1.1.2.1 Tính bền vững kinh tế
Hoạt động kinh tế cần đem lại lợi ích một cách công bằng và hợp lý cho các bên tham gia: cá nhân, hộ gia đình, công ty, chủ sở hữu, người sản xuất, phân phối, các bên tham gia trong chuỗi giá trị… đồng thời đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng, vùng
và quốc gia, quốc tế; Kinh tế bền vững còn hàm ý một nền tài chính bền vững và minh bạch; các hoạt động kinh tế không được vượt quá ngưỡng cho phép trong việc tích tụ các vật chất thải loại; giảm thiểu sản xuất các vật liệu tổng hợp mà tự nhiên không thể đồng hóa
Ngoài ra xét ở góc độ kinh tế, tính bền vững kinh tế đòi hỏi các lợi ích kinh tế phải lớn hơn, hoặc tối thiểu phải ngang bằng với các chi phí đã bỏ ra Tính bền vững kinh tế có vẻ dễ đo đếm hơn nhiều so với tính bền vững về xã hội và sinh thái, vì các yếu tố kinh tế cơ bản có thể được lượng hóa bằng tiền Tuy nhiên vì có quá nhiều biến
số liên quan nên việc dự đoán tính bền vững kinh tế cũng không hề dễ dàng, phụ thuộc vào mối quan hệ cung và cầu, chi phí và lợi ích… Một khía cạnh khác đó là xem xét
Trang 178
mức độ bền vững kinh tế chính là cơ sở cho việc trả lương, lương hưu, các loại phụ cấp, các khoản lợi tức đầu tư – trong thực tế đó là cơ sở cho mọi hệ thống phân phối thu nhập xã hội Vì vậy bất cứ hoạt động phát triển nào không hỗ trợ cho các dòng thu nhập liên tục ở mọi cấp độ mà xã hội có thể chấp nhận thì sẽ không bền vững về phương diện kinh tế
1.1.2.2 Tính bền vững xã hội
Được hiểu bao gồm việc sản xuất hàng hóa và các dịch vụ đảm bảo cho người sản xuất có một mức sống khá trở lên và các điều kiện sản xuất phải an toàn cho sức khoẻ,
và tính mạng của họ; phải đảm bảo xây dựng được một xã hội với các cộng đồng, các
hộ gia đình, các giới, các cá nhân an lạc, hạnh phúc và đảm bảo cung cấp một cách công bằng cho họ mọi cơ hội cải thiện đời sống vật chất và tinh thần; đảm bảo mọi cơ hội tham gia vào các hoạt động của cộng đồng và xã hội
Tính bền vững xã hội phản ánh mối quan hệ giữa phát triển và các chuẩn mực xã hội hiện thời Một hoạt động được coi là bền vững về phương diện xã hội nếu như nó thích hợp với các chuẩn mực xã hội hoặc nó không vượt quá sức chịu đựng của cộng đồng đối với sự biến đổi Các chuẩn mực xã hội có cơ sở ở niềm tin tôn giáo tín ngưỡng, các truyền thống, phong tục tập quán; chúng bắt rễ sâu trong các giá trị gắn liền với sức khoẻ và hạnh phúc của mọi người Các chuẩn mực cũng có thể hoặc có khi không thể được luật pháp hoá Một số chuẩn mực liên quan đến các giá trị phi vật thể chẳng hạn như các niềm tin ăn sâu trong tâm khảm con người về đúng sai, hoặc về các giá trị gắn liền với tầm quan trọng của các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống và môi trường Ngay cho dù chúng là các giá trị phi vật thể gthì những giá trị đó cũng là những nhân tố có tác động rất mạnh mẽ
Tuy nhiên hiện này vấn đề cốt lõi trong việc đánh giá tính bền vững là ở chỗ cho
dù nhiều chuẩn mực xã hội có thể thay đổi, nhưng nhiều chuẩn mực vẫn tồn tại một cách rất dai dẳng Bất kỳ một đề xuất nào vượt khỏi các giới hạn xã hội hiện tồn sẽ dễ dàng thất bại vì những người có liên quan sẽ không chấp nhận hoặc phản kháng lại Thực tế đó đặt ra cho chúng ta một vấn đề là làm thế nào vượt qua được các hạn chế
xã hội nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Vì vậy việc xác định các giới hạn
xã hội liên quan đến tính bền vững không còn bất cứ một cách lựa chọn nào khác ngoài việc hợp tác chặt chẽ với các nhóm người, các cộng đồng có liên quan
1.1.2.3 Tính bền vững về môi trường
Đòi hỏi sản xuất và tiêu dùng phải giảm thiểu hoặc xử lý hết các chât thải ra trong quá trình tìm kiếm, khai thác, chế biến, sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ sản phẩm; đảm bảo thiết kế và sản xuất hàng hóa một cách hiệu quả với một lượng vật chất tối thiểu
Trang 189
và sử dụng tối đa sản phẩm không độc hại, có thể tái chế, làm mới và có tính bền vững; đảm bảo tính lâu bền, có thể sửa chữa, nâng cấp, tái chế, tái sử dụng ở giai đoạn
sử dụng cuối cùng; phải đảm bảo tạo ra các hệ thống sản xuất thân thiện môi trường
Để môi trường bền vững trong quá trình phát triển cần duy trì và cân bằng các lợi ích Cần thừa nhận phát triển bền vững không giới hạn ở các hoạt động tăng trưởng kinh tế hay có tác động đến môi trường, mà đó là một sự pha trộn các hoạt động bao gồm các mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và không được bỏ qua các mục tiêu môi trường
1.1.2.4 Tính bền vững về thể chế
Thể chế được hiểu là các cấu trúc và cơ chế của trật tự và sự hợp tác xã hội được tạo ra để kiểm soát và điều phối các hành vi của các cá nhân, các nhóm, các cộng đồng trong mỗi xã hội Các thể chế được xác định bằng các mục đích xã hội, vượt khỏi các ý muốn cá nhân nhằm duy trì một trật tự xã hội ổn định Về phương diện xã hội học, các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình năm nhóm thể chế chủ yếu sau: Các thể chế kinh tế; các thể chế chính trị; các thể chế phân tầng xã hội; các thể chế thân tộc, hôn nhân và gia đình; các thể chế văn hóa Vì vậy tính bền vững của thể chế là cái đảm bảo cho các loại thể chế trong một xã hội có cấu trúc và cơ chế vừa ổn định để tồn tại lâu dài, nhưng lại vừa linh hoạt để thích ứng với những biến đổi không ngừng của hiện thực nhằm đảm bảo các chức năng điều chỉnh, kiểm soát và hợp tác một cách công bằng và hiệu quả giữa các cá nhân, các nhóm, các tổ chức xã hội Như vậy tính bền vững của thể chế cũng chính là tính bền vững của xã hội
1.1.2.5 Tính bền vững trong phát triển con người
Phát triển con người là vấn đề trung tâm của phát triển bền vững, đã được đề cập nhiều bằng các tiêu chi phản ánh chỉ số phát triển con người như: Nhóm nhỉ tiêu phản ánh mức độ sống được đo bằng tổng thu nhập quốc dân GNI (Gross National Income) trên đầu người; Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ giáo dục và trình độ dân trí; Nhóm chỉ tiêu phản ánh tuổi thọ bình quân và việc chăm sóc sức khỏe; Nhóm chỉ tiêu phản ánh
về dân số và việc làm; Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index)
1.1.2.6 Tính bền vững về văn hóa
Theo tác giả Trần Hữu Dũng, phát triển bền vững cũng đòi hỏi một phát triển văn hóa Một nền văn hóa tốt đẹp là cần thiết vì đời sống chúng ta không thể gọi là “khá hơn” (theo bất cứ định nghĩa nào, miễn là nhất quán và trung thực) nếu văn hóa không khá hơn, hoặc ít nhất cũng là không tệ đi Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội cho rằng, muốn hiểu văn hoá như một nhân tố trong đời sống kinh tế, và nhất là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình phát triển, thì nên nhìn nó như một loại
vốn tương tự như ba loại vốn thường biết khác (Đó là: vốn vật thể, như máy móc, thiết bị; vốn con người, như kỹ năng, kiến thức; và vốn thiên nhiên, gồm những tài
Trang 1910
nguyên do thiên nhiên cống hiến và môi trường sinh thái) Có thể phân biệt hai dạng vốn văn hoá: vật thể và phi vật thể Và phát triển toàn bộ phải bao gồm phát triển văn hóa, và phát triển bền vững phái gồm sự tôn trọng và bảo tồn những “vốn văn hóa” [4]
1.1.3 Các giá trị cốt lõi của tính bền vững
Về quan điểm nhìn nhận tính bền vững ở các lĩnh vực, các khía cạnh xem xét có
sự khác nhau tuy nhiên ở góc độ tiếp cận hệ thống và đặt trong bối cảnh biến đổi toàn cầu đang diễn ra mau lẹ thì tính bền vững được làm rõ ở các khía cạnh như:
- Tính bền vững được hiểu là giá trị của một hệ thống lợi ích được duy trì theo thời gian Hệ thống lợi tích ở đây được hiểu bao hàm đã hài hòa giữa các lợi ích kinh
tế, xã hội… dành cho các thế hệ hiện tại và tương lai
- Xét theo góc độ sinh thái học, tính bền vững là cần duy trì được tính đa dạng và khả năng sản xuất của hệ thống
- Sức chống chịu của hệ thống, khả năng kéo dài của quá trình
- Duy trì được các quá trình sản sinh, sản xuất mà không gây suy thoái, nguy hiểm đến hệ thống sinh vật tự nhiên đồng thời thay thế được nguồn tài nguyên mà con người sử dụng bởi các nguồn tài nguyên có giá trị tương đương hoặc cao hơn cho cùng hoạt động mà không làm suy thoái, gây nguy hiểm đến các hệ thống sinh vật tự nhiên Các giá trị cốt lõi của tính bền vững
- Công bằng về kinh tế: Tạo được sinh kế cần thiết; Cơ hội cho mỗi người tạo ra
nền tảng cơ sở vật chất đầy đủ để có cuộc sống nhân bản, sinh sôi và sáng tạo
- Văn hóa, hòa bình: Sự đa dạng về văn hóa, kiến thức truyền thống/bản địa, sáng
tạo, tư duy toàn cầu, hành động địa phương ; Văn hóa hòa bình thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, xã hội và dân chủ
- Thiên nhiên: Sự đa dạng của tự nhiên, sinh học, tài nguyên thiên nhiên; khả
năng chống chịu và điều kiện hỗ trợ các hệ thống xã hội và con người
- Con người: An ninh, nhân quyền và nhu cầu cơ bản, công bằng xã hội, hệ thống
hỗ trợ môi trường sống, sức khỏe con người, điểm mạnh của người
1.2 Phát triển cà phê bền vững
1.2.1 Tính bền vững trong sản xuất cà phê
Theo Tổ chức cà phê thế giới (ICO WD Board 30/01/2006) tính bền vững trong ngành cà phê bao gồm những điều kiện sản xuất, chế biến và thương mại cho tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng sao cho:
Trang 20Việc đánh giá sự phát triển bền vững có thể được thực hiện trên quy mô toàn cầu, hoặc từng khu vực, từng quốc gia cho tới từng địa phương cụ thể Kết quả đánh giá thường cho ra một hoặc một vài chỉ số tổng hợp dựa trên ba mục tiêu chính của phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Bền vững về kinh tế
Ngành cà phê hiện nay chịu sự chi phối độc quyền của môi trường kinh tế, trong khi đó các yếu tố về xã hội và môi trường không được xem trọng Tình trạng cung vượt quá cầu trong sản xuất cà phê hiện nay đã dẫn đến tình mặt bằng chung trong giá cà phê giảm mạnh Mặt khác, giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với những nhà sản xuất, kinh doanh cà phê vì giá cả là yếu tố quyết định đến khả năng thu lợi từ cà phê, do đó giá cả ảnh hưởng đến việc phát triển hoặc thu hẹp diện tích trồng cà phê Diện tích cà phê thay đổi lại dẫn đến biến động trong cung cầu, từ đó lại gây ra những biến động về giá
Từ những năm 1980 đến 2002, tình trạng cung vượt quá cầu trong sản xuất
cà phê đã khiến giá cả của mặt hàng này giảm đến 70% Theo một tính toán được thực hiện bởi Ban thư ký Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), từ năm 1999 đến năm 2002, doanh thu của các nước sản xuất cà phê
đã giảm 19 tỷ USD so với năm 1998 Điều đáng lưu ý là 70% sản lượng cà phê được sản xuất bởi những người sản xuất với quy mô nhỏ, và khi giá cà phê giảm sẽ ảnh hưởng đến thu nhập cũng như khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của họ Giá giảm cũng dẫn đến sự suy giảm trong chất lượng công việc và khả năng đảm bảo
an toàn trong khi canh tác đối với người nông dân, những người đại diện cho phần nghèo nhất trong chuỗi cung ứng cà phê Không chỉ là một trong những yếu tố ảnh
Trang 21Bên cạnh đó, những thay đổi trong phương thức canh tác không chỉ ảnh hưởng đến tính toàn vẹn môi trường mà còn có những tác động xấu về sức khỏe và
sự bảo đảm an toàn đối với những người trồng cà phê cũng như cộng đồng của họ
Ví dụ như việc sử dụng thuốc trừ sâu endosulfan trên các đồn điền cà phê ở Colombia
đã gây ra hơn 200 vụ ngộ độc trong năm 1993 và 1994 Việc sử dụng hóa chất nông nghiệp không được kiểm soát cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông dân cũng như người trong khu vực khi họ tiếp xúc với nguồn nước bị nhiễm độc Năm 1987, hơn
200 người tại bang Jalisco ở miền tây Mexico bị bệnh do nước uống bị nhiễm thuốc trừ sâu và phân hóa học Trong khi đó, việc sử dụng phân đạm ở Costa Rica đã làm việc ô nhiễm nguồn nước ngầm đạt đến mức độ không an toàn Việc tiếp xúc thường xuyên với thuốc trừ sâu ở Nicaragua cũng dẫn đến suy giảm hoạt động của cholinesterase, một loại enzyme cần thiết cho hoạt động thần kinh và cơ bắp
Bên cạnh đó là tình trạng phân biệt giới tính ở trong ngành cà phê Ngoài sự bất bình đẳng thể hiện trong việc thiết lập các đồn điền, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng quyền ra quyết định của người phụ nữ không tương xứng với lượng công việc mà họ phải làm Hoạt động buôn bán cà phê cũng thể hiện sự bất bình đẳng giới tính thông qua việc cha truyền con nối
Trang 2213
1.2.1.3 Bền vững môi trường
Nhìn chung, phương thức sản xuất cà phê truyền thống ít ảnh hưởng đến tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay Tuy nhiên, những nỗ lực để gia tăng sản lượng cà phê lại góp phần tạo nên điều này Trong cách trồng truyền thống, cà phê được trồng dưới bóng râm của các loại cây khác, nơi cung cấp chỗ ở cho các loại sinh vật Đa số người làm vườn đã quyết định hiện đại hóa phương pháp sản xuất của họ và chuyển thành phương pháp trồng trọt dưới ánh mặt trời, cà phê được trồng thành hàng dưới ánh nắng mặt trời với rất ít hoặc hoàn toàn không có tán che Chẳng hạn tại Colombia, gần 70% diện tích cà phê đã được chuyển sang mô hình này Phương pháp này giúp cho cây mọc nhanh hơn và cho sản lượng nhiều hơn Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng chất lượng đạt được sẽ thấp hơn cà phê trồng bằng phương pháp cũ Bên cạnh đó, phương pháp cũ thân thiện với môi trường và tạo ra sự đa dạng sinh học
Việc khai hoang các khu vực để trồng cà phê ảnh hưởng đến sự cân bằng về môi trường đối với không chỉ các nước trồng cà phê mà còn đối với toàn thế giới Hơn 80% trong số 11,8 triệu héc ta cà phê được trồng ở những khu vực rừng mưa
Cà phê hiện nay được trồng tại 13 trong số 25 nước “điểm nóng” về đa dạng sinh học (có độ đa dạng sinh học cao nhưng dễ bị tổn thương)
Việc bóc vỏ cà phê cũng có những ảnh hưởng đối với môi trường Quy trình chế biến ướt đối với cà phê được sử dụng cho 40% sản lượng cà phê toàn cầu Quy trình này cần một lượng lớn nước và trong quy trình này sẽ lấy đi một lượng lớn oxy trong nước Và khi lượng nước này được đưa trở lại môi trường, nó có thể ảnh hưởng đến một lượng lớn sinh vật thủy sinh Phần lớn các cơ sở chế biến cà phê chưa chú trọng đầu tư các dây chuyền, thiết bị xử lý hệ thống nước thải, khử mùi, tiếng ồn, bụi Chỉ riêng trong khâu chế biến cà phê theo quy trình công nghệ chế biến ướt, mỗi ngày đêm các cơ sở cũng thải ra môi trường hàng ngàn mét khối nước thải chưa qua xử lý Ngoài ra, quy trình rang cà phê cũng thải ra một lượng lớn khí Cacbon đioxit (CO2) cũng như tiêu tốn nhiều nhiên liệu hóa thạch
1.2.2 Quan điểm về phát triển cà phê bền vững
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, phát triển cà phê bền vững đang trở thành chủ đề được thảo luận nhiều của những tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê
Theo công ước Liên Hiệp Quốc kí tại Rio de Janeiro vào năm 1992, có ba trụ cột
của phát triển bền vững là: “Môi trường, xã hội và kinh tế’’ Phát triển bền vững trên cơ
sở hài hòa các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ giữ gìn Để đạt được điều này, tất cả các thành
Trang 2314
phần, tổ chức kinh tế - xã hội và Nhà nước phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích
dung hoà 3 lĩnh vực chính: Kinh tế, xã hội, môi trường [8]
Về kinh tế: Bao gồm phát huy lợi thế tự nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, có hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm
Về xã hội: Tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo ổn định vững chắc quốc phòng an ninh, nhất là
an ninh nông thôn
Về môi trường: Cần sử dụng hợp lý tài nguyên đất, tài nguyên nước, áp dụng kỹ thuật canh tác, chế biến theo cách thân thiện với môi trường [8]
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, phát triển cà phê bền vững đã và đang trở thành vấn đề được thảo luận phổ biến của những tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê Phát triển cà phê bền vững phải tuân theo những bộ tiêu chí và có hệ thống chứng nhận/kiểm tra để các tác nhân trong chuỗi cung ứng tuân theo và người tiêu dùng có thể nhận biết Do vậy các sáng kiến cà phê bền vững được mở rộng và đề cập từ giữa những năm 2000 Theo đó cà phê bền vững bao gồm các sáng kiến cấp giấy chứng nhận mới như chứng chỉ UTZ và Bộ nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê (4C), cà phê Liên minh rừng mưa… cũng như các chứng chỉ được sử dụng độc quyền của một
số công ty nổi tiếng (Starbucks, Nespresso) [12]
Cà phê bền vững có chứng nhận theo định nghĩa phổ biến hiện nay là các sản phẩm cà phê bao gồm được ba trụ cột của tính bền vững, đó là “bền vững kinh tế cho nông dân”, “bảo tồn môi trường” và “trách nhiệm xã hội” Chứng nhận là quy trình thủ tục của cơ quan chứng nhận độc lập cấp chứng chỉ bảo đảm chất lượng cà phê và quá trình sản xuất đã được đánh giá là tuân thủ những yêu cầu đã xác định Với tình hình thị trường nông sản và chế biến thế giới đang có xu hướng thay đổi cơ cấu tiêu dùng từ lương thực sang thực phẩm; sử dụng sản phẩm chế biến đóng gói sẵn tăng lên, sự quan tâm ngày càng lớn về giá trị tăng thêm của sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản,
có tiêu chuẩn về chất lượng và sự an toàn thực phẩm nghiêm ngặt hơn… Nên nhu cầu
về chứng nhận sản phẩm cà phê cũng tăng lên cả trong và ngoài nước Giám sát và chứng nhận độc lập là hoạt động trọng tâm của các tiêu chuẩn sản xuất quan trọng như: Thương mại công bằng (Fairtrade), Hữu cơ (Organic), Liên minh Rừng mưa (Rainforest Alliance) và UTZ certified Một số loại cà phê khác cũng gọi là bền vững theo những tiêu chuẩn do công ty tự xây dựng, có hoặc không có giám sát và kiểm tra của bên thứ ba độc lập, trong số đó phải kể đến tiêu chuẩn thực hành Starbucks’ C.A.F.E của công ty Starbucks và Nespresso AAA của tập đoàn Nestlé [12]
Trang 2415
Tuy có một vài khác biệt, nhưng các chứng nhận/kiểm tra cà phê bền vững thường dựa trên những tiêu chí đánh giá chung về (1) Hệ thống quản lý và ghi chép tài liệu; (2) Y tế và an toàn sức khỏe; (3) Điều kiện lao động; (4) Sử dụng và quản lý hóa chất; (5) Bảo vệ đất; (6) Quản lý chất thải; (7) Bảo vệ nguồn nước; (8) Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái
Theo đề án phát triển ngành cà phê bền vững đến năm 2020 của Việt Nam có
quan điểm mục tiêu phát triển là: “Xây dựng ngành cà phê Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững, có tính cạnh tranh cao với các sản phẩm đa dạng,
có chất lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp” [2]
Theo tác giả Nguyễn Văn Hóa “Phát triển cà phê bền vững là quá trình phát triển hướng tới thay đổi về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và chế biến cà phê thân thiện với môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế, công bằng xã hội, nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu sản phẩm cà phê chất lượng cao của con người cho thế hệ hôm nay
và mai sau” [6]
1.3 Vấn đề tính bền vững đối với cà phê Việt Nam
1.3.1 Thực trạng sản xuất cà phê tại Việt Nam
cà phê có xu hướng giảm và chênh lệch lớn giữa các vùng
Trang 25Hình 1.2: Diện tích cà phê theo vùng từ niên vụ 2006/2007 đến niên vụ
2014/2015 (Nguồn: Tổng cục thống kê,2015) 1.3.1.2 Thị trường tiêu thụ trong nước
Theo báo cáo tổng quan về ngành cà phê Việt Nam của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), ra ngày 19/5/2015, tiêu thụ cà phê trong nước tiếp tục khởi sắc Niên vụ 2014/2015, tiêu thụ nội địa tại Việt Nam ước đạt 2,08 triệu bao, hay 125.000 tấn, tăng 4% so với niên vụ trước.Lượng tiêu dùng nội địa chiếm dưới 10% sản lượng ngành, chế biến nội địa không sử dụng hết công suất đã đầu tư Ngoài Trung Nguyên và Vinacafe, sản phẩm cà phê Việt Nam chưa có thương hiệu được chú ý trên th ị trường thế giới do quy mô sản xuất nhỏ, năng lực chế biến thấp, thiếu chiến lược và kỹ năng phát triển thị trường
1.3.1.3 Thị trường xuất khẩu cà phê
Hiện nay Việt Nam xuất khẩu kho ảng 93 – 95% tổng sản lượng cà phê, chủ yếu
là cà phê nhân Hiện Việt Nam xuất khẩu t ới trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, trong đó 10 thị trường nhập khẩu l ớn nhất là: Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia, Nhật Bản, Bỉ, Vương quốc Anh, Nga, Trung Quốc và Pháp
Trang 26Hình 1.4: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam
(Nguồn Tổng cục Hải quan)
Trang 2718
Cả nước có khoảng trên 100 doanh nghiệp tham gia kinh doanh , xuất, nhập khẩu
cà phê trong đó tập trung nhiều nhất ở thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nguyên Bao gồm các doanh nghiệp sản xuất chiếm 2,78%, doanh nghiệp thương mại chiếm 6,94%, doanh nghiệp xuất khẩ u chiếm 36,11%, doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu chi ếm 2,78%, doanh nghiệp thương mại và xuất khẩu chi ếm 34,72%, doanh nghiệp thương mại và sản xuất chi ếm 5,56%, doanh nghiệp cả sản xuất , thương mại và xuất khẩu chiếm 9,72% Ngoài ra, doanh nghiệp thương mại, sản xuất đ ịnh hướng xuất khẩu cà phê chất lượng cao chiếm 1,39%
Hình 1.5: Các quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới 2015
(Nguồn: ICO,2015)
Hiện tại công suất ch ế biến cà phê nhân đã đáp ứng đ ủ nhu cầu sản lượng cà phê của Việt Nam Điều này góp ph ần nâng cao chất lư ợng cà phê của Việt Nam Đa số các hộ nông dân đã xây dựng được kho chứa , sân phơi Kỹ thuật chế biến ướt cũng đang được một số nông hộ sử dụng ở quy mô nhỏ của gia đình
Các nhà máy chế biến cà phê hòa tan, cà phê 2 trong 1, 3 trong 1 cũng đạt 168.400 tấn/năm, trong đó các nhà máy chế biến có công suất l ớn phải kể đ ến là: Vinacafe Biên Hòa, Trung Nguyên, Nestle, Café Ngon
Tính riêng năm 2013 các nước Liên minh Châu Âu đã nhập khoảng trên 528.097 tấn cà phê của Việt Nam với giá trị trên 1 tỷ đô la, chiếm 41% về lượng và 39% về giá trị Dẫn đầu thị trường này là Đức nh ập khẩu 184.957 tấn, kim ngạch 364.692.818 đôla Tiếp theo là Tây Ban Nha, Italia, Bỉ, Anh và Pháp…
Trang 2819
Bảng 1.1: Công suất các nhà máy chế biến cà phê (Nguồn: Bộ Công Thương 2015)
Stt Tên Doanh nghiệp Loại sản phẩm Công suất thiết kế
(Tấn/năm)
Năm 2013 (Tấn/năm) Năm 2015 (Tấn/năm)
1 Vinacafe Biên Hòa Cà phê 3 trong 1 30.000 15.000 30.000
Cà phê hòa tan 3.200 1.600 3.200
3 Tập đoàn Trung Nguyên Cà phê 3 trong 1 30.000 16.000 32.000
4 Cty TNHH cà phê Ngon VN Cà phê hòa tan 32.000 16.000 32.000
5 Cty TNHH Olam VN Cà phê hòa tan 8.000 6.000 8.000
6 Cty CP cà phê An Thái Cà phê hòa tan 4.000 3.000 4.000
7 Cty XNK cà phê Đak Hà Cà phê 3 trong 1 1.000 1.000
8 Cty CP cà phê Mê Trang Cà phê hòa tan 3 trong 1, 2 trong 1 2.000 1.500 2.000
Bảng 1.2: Danh sách 30 thị trường tiêu biểu nhập khẩu cà phê Việt Nam 2015
(Nguồn: Bộ Công Thương 2015)
STT Tên nước Lượng xuất
(tấn)
Kim ngạch (USD) STT Tên nước
Lượng xuất (tấn)
Kim ngạch (USD)
8 Nga 39.229 93.313.392 23 Thái Lan 9.649 20.339.983
9 Trung Quốc 37.097 96.172.945 24 Nam Phi 6.375 11.833.046
Trang 2920
Dù xuất khẩu tới hơn 90% tổng sản lượng cà phê sản xuất hàng năm , nhưng chủ yếu là cà phê nhân sống nên giá trị gia tăng chưa cao Khi xuất khẩu cà phê ch ế biến sang các thị trường, đặc biệt là thị trường Châu Âu thì thuế nhập khẩu là m ột rào cản lớn Thông thường thuế nhập khẩu đối với mặt hàng cà phê rang, cà phê bột, cà phê hòa tan là rất cao Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đều xuất khẩu thẳng cho các nhà nhập khẩu trên th ế giới Chỉ có một số các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các hệ thống siêu thị, đại lý và nhà phân ph ối nhỏ Mặt khác chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột đã được đăng ký bảo hộ tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ
và đang được quản lý bởi Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột Chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn
Ma Thuột đã giúp tăng xuất khẩu, tạo giá trị tăng thêm Tuy nhiên, hiện nay việc quản
lý và sử dụng vẫn gặp các khó khăn gồm vùng địa lý quá lớn, khác biệt sản phẩm chưa rõ; kinh phí cho đánh giá chứng nhận cao; chưa được người tiêu dùng cuối cùng nhận biết; quảng bá, xúc tiến thương mại trong, ngoài nước còn yếu; nguồn lực cho hoạt động của Hiệp hội còn hạn chế Cần phải có các hỗ trợ nhiều hơn nữa để phát triển chỉ dẫn địa lý này
Đồng thời, việc xuất khẩu cà phê v ẫn tập trung vào các thị trường truyền th ống với tốc độ tăng trưởng không ổn định Cà phê Việt Nam thường bị tính giá trừ lùi và đối mặt với nhiều rủi ro về biến động thị trường
Hình 1.6: Biến động giá cà phê trong nước giai đoạn 2014 - 2015
Nguyên nhân thương hiệu cà phê Việt Nam còn yếu, chưa phát triển được, có một phần không nhỏ là do kỹ thuật chế biến và phương pháp đánh giá chất lượng còn kém Tuy là nước đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê trên thế giới, nhưng giá trị xuất khẩu
Trang 3021
của cà phê Việt Nam lại thấp Trong khi đó, xu hướng chung của thị trường là muốn
có loại cà phê mang các đặc trưng chất lượng gốc ổn định, thuận tiện cho việc rang xay và phối trộn sản phẩm
Bên cạnh đó, vấn đề an toàn của cà phê cũng rất quan trọng Ngoài ra, vấn đề sản xuất cà phê đặc biệt (loại cà phê có thể nhận biết rõ ràng, minh bạch về nguồn gốc và các quá trình sản xuất, chế biến) hiện đang được thị trường thế giới rất quan tâm Mặt khác, theo các nhà chuyên môn, vai trò của chỉ dẫn địa lý cũng hết sức quan trọng cho việc xây dựng thương hiệu cà phê Theo điều tra của các nhà kinh doanh trong và ngoài nước, thì những hàng hóa có chỉ dẫn địa lý luôn có giá trị cao hơn những sản phẩm cùng loại không có chỉ dẫn địa lý
Cà phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển Nhưng do khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ của một số cà phê có chứng nhận bền vững tại Việt Nam
1.3.2.1 Cà phê 4C
Người ta có thể gọi cà phê 4C là dấu hiệu tin cậy về chất lượng của cà phê đại trà Bộ quy tắc chung cho cộng đồng cà phê ra đời và phát triển nhằm phục vụ cho toàn bộ chuỗi giá trị của cà phê đại trà Mục đích của nó là thiết lập nên một nhận thức mới về chất lượng thông qua các phương pháp sản xuất bền vững cà phê nhân sống
Bộ quy tắc chung bao trùm cả 3 khu vực bền vững dựa trên mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc
Về mặt xã hội: Điều kiện lao động, sinh hoạt cho người nông dân và gia đình họ cũng như những người làm công khác, có thể chấp nhận được
Về môi trường: Bảo vệ rừng nguyên sinh và tài nguyên thiên nhiên như nước, đất, đa dạng hóa sinh học và năng lượng
Về kinh tế: Có thể phát triển trên cơ sở xã hội và môi trường bền vững Nó bao gồm cả sự thu nhập hợp lý cho mọi hoạt động trong chuỗi cà phê, thị trường tự do và cuộc sống bền vững
4C do Hiệp hội cà phê Đức và Cơ quan Phát triển Quốc tế của chính phủ Đức (GTZ) hình thành nhằm tăng cường tính bền vững trong chuỗi cà phê nhân “thông thường” và gia tăng lượng cà phê đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của tính bền vững
Trang 3122
Tham gia sáng kiến là những nhà sản xuất do các hiệp hội đại diện, đại diện các Công đoàn và các tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn lớn trong công nghiệp như Nestlé, Sara Lee/Douwe Egberts, Tchibo và Kraft
4C xây dựng dựa trên các thực hành nông nghiệp và quản lý tốt mang tính
cơ bản Bộ quy tắc ứng xử nhắm đến loại trừ những thực hành không thể chấp nhận và khuyến khích cải tiến không ngừng Khác với các hệ thống chứng nhận kể trên, 4C chỉ kiểm tra sự phù hợp chứ không chứng phận sự phù hợp, do đó không cấp chứng chỉ Trong hệ thống 4C, kiểm tra 4C là xem xét sự phù hợp với tiêu chuẩn cơ bản của 4C, bao gồm 28 chỉ tiêu tiêu biểu cho phức hợp những quan tâm môi trường, xã hội và kinh tế Có tất cả 10 thực hành không thể chấp nhận phải bị loại trừ và trong mỗi khía cạnh bền vững ít nhất phải đạt sự phù hợp tối thiểu (ở cấp độ gọi là “màu vàng trung bình”) thì mới qua được kiểm tra Tất cả kiểm tra 4C được một tổ chức kiểm tra hoặc chứng nhận thứ ba độc lập tiến hành, các tổ chức này đã qua đào tạo kiểm tra 4C và được chính thức đạt ISO/Guide 65 Kiểm tra 4C được thực hiện ở cấp độ Đơn vị 4C
Có thể thành lập Đơn vị 4C ở bất kể cấp độ nào trong chuỗi cà phê, từ cấp độ người sản xuất/nhóm người sản xuất cho tới cấp độ nhà rang xay Kiểm tra được miễn phí cho người sản xuất, chi phí kiểm tra do Hiệp hội 4C trang trải thông qua phí thành viên chủ yếu của các thành viên Công nghiệp đóng góp
4C không cho sử dụng nhãn hoặc lô gô của 4C nhưng cho sử dụng tuyên bố là thành viên 4C trên bao bì Tuyên bố thành viên không liên quan gì tới số lượng và chất lượng cà phê chứa bên trong nhưng đó là một phương tiện để cho các thành viên Công nghiệp của 4C nhấn mạnh rằng họ hỗ trợ cho tiếp cận bền vững 4C Có thể sử dụng rộng rãi lô gô Hiệp hội 4C trên các ấn phẩm, trang web, tài liệu giới thiệu, nhưng không được dùng trên bao bì
Tính đến cuối năm 2013, sản lượng cà phê 4C của Việt Nam đạt 594.000 tấn với
45 hội viên bao gồm các công ty nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nh ập khẩu n ội địa Các doanh nghiệp bên cạnh việc kinh doanh cà phê còn tổ chức cán b ộ kỹ thuật nông nghiệp hỗ trợ sản xuất cho nông dân ,
tổ chức tập huấn cho nông dân
1.3.2.2 Chứng nhận UTZ
Chứng nhận UTZ ra đời năm 1997 do một công ty cà phê thuộc đại công ty bán
lẻ Hà Lan tên Ahold hợp tác với những người sản xuất cà phê Guatemala sáng lập mang tên UTZ Kapek và sau đó năm 2000 trở thành một tổ chức độc lập, tới năm 2008 đổi tên thành “UTZ Certified-Good inside” để có thể chứng nhận cho nhiều loại nông sản khác như ca cao, chè, đậu tương và dầu cọ UTZ Certified tự coi mình là tổ chức
Trang 32Bên cạnh các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn UTZ Certified còn gồm nhiều yêu cầu về xã hội và môi trường Về an toàn thực phẩm, UTZ Certified tương đương với tiêu chuẩn EurepGAP Những khía cạnh riêng của tiêu chuẩn UTZ Certified bao gồm quản lý đất đai, sử dụng phân bón phù hợp, thủ tục vệ sinh trong thu hoạch, vận hành sản phẩm sau thu hoạch, chế biến và bảo quản, quản lý chất thải và ô nhiễm, phúc lợi và an toàn sức khỏe cho công nhân, kể cả quyền của công nhân phù hợp với các công ước của ILO và luật pháp quốc gia UTZ Cetified giao cho bên thứ ba độc lập thanh tra xem người sản xuất có đáp ứng yêu cầu của bộ quy tắc không Người sản xuất trả phí thanh tra Cà phê UTZ Certified có thể hưởng giá tăng thêm, tùy thuộc chủ yếu vào chất lượng sản phẩm và mối quan hệ giữa bên mua và bên bán Với chứng chỉ UTZ Certified, cà phê sản xuất ra phải được đảm bảo về chất lượng xã hội và môi trường Với cà phê UTZ, người ta có thể đảm bảo tính truy nguyên xác định nguồn gốc của lô hàng Và một điểm khác biệt với các loại cà phê có chứng chỉ khác là nó mở ra cho mọi loại cà phê được đánh giá, với cả cà phê đại trà và cà phê đặc biệt Chế độ tiền thưởng của UTZ qua thương lượng từ 0,01 đến 0,10 USD/1bao Thị trường đại trà là ở châu Âu, Mỹ và Nhật bản Do lợi ích của chương trình UTZ Certified nên ở Việt Nam nông dân hưởng ứng rất đông đảo Có thể coi đây là một chương trình cấp chứng chỉ
cà phê khá thành công và phổ biến ở Việt Nam
Cả nước hiện có khoảng 150.000 tấn cà phê đư ợc cấp chứng chỉ UTZ với 82 đơn
vị tham gia bao gồm hơn 30.000 hộ nông dân Chương trình UTZ Certified Cà phê được phát triển nhanh chóng , ngày càng nhiều người trồng cà phê thấy đư ợc lợi ích và quyết định tham gia
1.3.2.3 Rainforest Alliance
Liên minh Rừng mưa nhiệt đới là một ban thư ký của mạng lưới nông nghiệp bền vững (Sustainable Agriculture Network: SAN) một nhóm có 9 nước châu Mỹ La Tinh cùng nhau xúc tiến sử dụng thực hành nông nghiệp bền vững và quản lý chương trình cấp chứng chỉ SAN gồm 9 nước: Bolivia, Brasil, Colombia, Costa Rica, Ecuador, EL Salvador, Guatemala, Honduras và Mexico và một số nhà khoa học nông nghiệp và xã hội học trên thế giới
Trang 3324
Tổ chức này ra đời từ 2 thập niên trước đây nhằm khống chế thị trường như
là một nhân tố đổi mới Nó được thành lập năm 1987 là 1 tổ chức phi chính phủ hoạt động bảo tồn đa dạng hóa sinh học và bảo đảm cuộc sống bền vững thông qua đổi mới các thực hành sử dụng đất, buôn bán và cách hành xử của người tiêu dùng Liên minh này cổ vũ thương mại và người tiêu dùng hỗ trợ nông nghiệp bền vững bằng cách mua các sản phẩm của các trang trại đã được cấp chứng chỉ
Liên minh Rừng mưa nhiệt đới chứng nhận cho người sản xuất cà phê quy mô nhỏ lẫn quy mô lớn tại các quốc gia nhiệt đới Trang trại cà phê được chứng nhận đầu tiên vào 1996 Tới nay số quốc gia có sản xuất cà phê chứng nhận Liên minh rừng mưa nhiệt đới lên tới 18, kể cả Việt Nam Bắt đầu từ khu vực Trung Mỹ, sau đó mở rộng ra những vùng khác của Mỹ La tinh và gần đây sang cả châu Phi và châu Á Doanh số đang tăng nhanh tại Bắc Mỹ, châu Âu và cũng đang bắt đầu gia tăng tại các thị trường khác như Nhật, Úc và Brazil Các tiêu chuẩn của Liên minh Rừng mưa nhiệt đới thoạt đầu chú trọng vào các yêu cầu thị trường còn các yêu cầu xã hội được tăng cường dần theo thời gian
Các tiêu chuẩn bao gồm những yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái và đời sống hoang
dã, bảo vệ và quản lý nguồn nước, các mối quan hệ cộng đồng cũng như đối xử công bằng và điều kiện làm việc tốt cho công nhân, phù hợp với các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế
Giá tăng thêm trả cho cà phê có chứng nhận Liên minh Rừng mưa nhiệt đới theo thỏa thuận giữa bên mua và bên bán Giá tăng thêm tùy thuộc chủ yếu chất lượng sản phẩm và quan hệ giữa bên mua và người sản xuất Nông dân còn hưởng lợi nhờ tăng hiệu quả, cải thiện chất lượng và giảm chi phí Những lợi ích của chương trình chứng nhận Liên minh Rừng mưa nhiệt đới đối với nông dân không chỉ là trong phần lớn trường hợp họ được hưởng giá tăng thêm mà quan trọng hơn là họ biết tự quản lý có hiệu quả công việc sản xuất kinh doanh, có thêm công cụ để có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
Với chứng nhận Rainforest Alliance, mặc dù không có đảm bảo mức ưu đãi nhưng các loại cà phê này được hưởng mức giá cao hơn cà phê thông thường trung bình từ 110 - 176 đô la/tấn trong năm 2011
Hiện nay cả nước có 9 đơn vị cà phê được cấp chứng nh ận của Rainforest Alliance Tổng sản lượng cà phê được chứng nhận Rainforest Alliance hàng năm đạt khoảng 40.000 tấn Chương trình chứng nh ận này dựa trên ba nguyên tắc: bền vững, bảo vệ môi trường, công bằng xã hội và khả năng kinh tế Các đơn vị được khuyến khích đạt chứng nhận này thông qua tiền thư ởng của các nhà mua hàng/ rang xay Khi trở thành thành viên của Rainforest Alliance, các hội viên phải cam kết thực hiện và
Trang 3425
tuân thủ theo các bộ tiêu chuẩn SAN (Sustainable Ggriculture Network) Thành viên cũng có quyền sử dụng tài liệu đào tạo miễn phí trên trang web của tổ chức
1.3.2.4 Chứng nhận hữu cơ (Organic)
Nói đến nông nghiệp hữu cơ là nói đến một hệ thống quản lý sản xuất, nó xúc tiến việc đổi mới hệ thống sinh thái nông nghiệp và sức khỏe con người, bao gồm
đa dạng hóa sinh học, chu kỳ sinh vật học, họat động sinh vật đất Theo Liên đoàn quốc tế Các phong trào Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM), nông nghiệp hữu cơ được định nghĩa:
Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất mà nó duy trì sức khỏe cho đất, các
hệ sinh thái và con người Nó dựa vào quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và chu trình thích ứng với điều kiện địa phương hơn là sử dung các yếu tố đầu vào để sinh ra các tác dụng phụ Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống với đổi mới công nghệ và khoa học mang lại lợi ích cho môi trường, thúc đẩy các mối quan hệ công bằng và một cuộc sống chất lượng cho tất cả các bên tham gia (IFOAM, 2005)
Như vậy có 4 nguyên tắc chính của sản xuất hữu cơ là sức khỏe, sinh thái, bình đẳng và chăm sóc cho tương lai
Hệ thống sản xuất hữu cơ dựa trên các tiêu chuẩn xử lý đặc biệt và chính xác về sản xuất và chế biến Mục đích của nó là đạt đến hệ sinh thái nông nghiệp thích hợp nhất đảm bảo sự bền vững về xã hội, sinh thái về kinh tế Về định nghĩa cà phê hữu cơ,
có thể hiểu đó là loại cà phê được trồng với một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp, phủ đất bằng nguyên liệu hữu cơ, điều tiết cây bóng mát và phòng trừ dịch bệnh theo hướng sinh học Hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp đó dựa trên nguyên tắc là một giá trị tương đương với sản phẩm đã thu hoạch phải được trả lại cho đất Người ta cũng loại trừ việc sử dụng các hóa chất nông nghiệp Tiến sĩ R.Naidu (Ấn độ) thì có một định nghĩa cụ thể hơn, đó là: cà phê hữu cơ là loại cà phê được sản xuất, chế biến thông qua việc sử dụng các sản phẩm phương pháp tự nhiên không dùng phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, thuốc diệt cỏ và chất điều hòa sinh trưởng là các hóa chất tổng hợp Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có lịch sử lâu đời từ thế kỷ 19 Cà phê có chứng nhận hữu cơ xuất hiện vào 1967 Đến năm 1972 Liên đoàn quốc tế Các phong trào Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM) được thành lập để thống nhất các phong trào hữu cơ Nhiệm vụ của IFOAM là “lãnh đạo, thống nhất và hỗ trợ phong trào hữu cơ dưới mọi hình thức” Mục tiêu của IFOAM là ứng dụng rộng rãi các hệ thống sản xuất tuân thủ nghiêm ngặt các quy định liên quan sinh thái, xã hội và kinh tế dựa trên các nguyên tắc của Nông nghiệp Hữu cơ Năm 1996, IFOAM đã đưa ra những hướng dẫn cho cà phê, cacao và trà hữu cơ và lưu ý các điểm sau:
Trang 3526
Trồng trên ruộng bậc thang theo đường đồng mức, có cây phủ đất và
tủ gốc chống xói mòn
Trồng cây che bóng trong hệ thống quản lý nông nghiệp hữu cơ
Điều tiết điều kiện về khí hậu và cải thiện tính đa dạng sinh thái nhằm khống chế sâu bệnh
Sử dụng các dòng vô tính hoặc hạt giống chống sâu bệnh
Trả lại chất dinh dưỡng đã bị lấy đi bằng việc sử dụng phần khoáng có tính toán cân bằng
Cà phê chỉ có thể bán ra thị trường với cái tên cà phê hữu cơ khi nó đã được chứng nhận bởi một tổ chức được công nhận là người cấp chứng chỉ dựa trên sự giám sát thường xuyên của tất cả các giai đoạn sản xuất, chế biến, vận chuyển và rang xay
Theo thống kê của ICO, mặc dù không được đảm bảo mức ưu đãi so với cà phê thông thường và có sự khác biệt đáng kể giữa các thị trường tiêu thụ, nhưng các loại cà phê có chứng nhận hữu cơ đã được trả mức giá cao hơn cà phê thông thường trung bình 660 đô la/tấn Mặt khác, các lợi ích cơ bản nhất từ việc đạt được các chứng nhận này là khả năng tiếp cận thị trường Cà phê có chứng nhận hữu cơ có khả năng tiếp cận vào các thị trường phát triển và đáng tin cậy
Chứng nhận cà phê hữu cơ chưa phổ biến đối với sản phẩm cà phê Vi ệt Nam và hiện tại chưa có tổ chức, đơn vị nào được công nhận chính thức có sản phẩm cà phê đảm bảo tiêu chuẩn Organic quốc tế
1.3.2.5 Chứng nhận cà phê Thương mại công bằng
Chứng chỉ TMCB đối với sản phẩm cà phê còn khá h ạn chế ở Việt Nam Tính đến thời điểm hi ện tại ở Việt Nam có 16 đơn vị đã được cấp chứng ch ỉ TMCB, tuy nhiên tổng sản lượng cà phê đạt chứng nhận chỉ khoảng 3.000 tấn
Chứng nhận TMCB yêu cầu đảm bảo tính bền v ững và công bằng trên ba khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi trường Hiện nay trên thế giới có nhiều t ổ chức cấp chứng nh ận TMCB như FLO Cert, Fair For Life, Natural Land, Ecocert và WFTO Đối với sản phẩm cà phê t ại Việt Nam, hiện nay mới chỉ có tổ chức FLO Cert cấp chứng nhận TMCB và 16 đơn vị sản xuất cà phê đạt chứng nhận của tổ chức này Khi tham gia chứng nh ận cà phê TMCB, nhìn chung thành viên được thụ hưởng những lợi ích như:
- Tham dự miễn phí các chương trình, khóa tập huấn về TMCB
- Sử dụng miễn phí các tài liệu của tổ chức TMCB cung cấp
Trang 3627
- Hỗ trợ tư vấn miễn phí của chuyên gia TMCB
- Có thể được hỗ trợ một phần kinh phí khi tham gia hội chợ TMCB
- Người sản xuất có tiếng nói quyết định trong hệ thống tổ chức TMCB
- Người sản suất đư ợc bán hàng với mức giá sàn ổn định trước biến động thường xuyên của giá thị trường
Người sản suất đư ợc trả thêm một mức giá c ộng nhất đ ịnh Số tiền này đư ợc người bán cam kết sử dụng vào các mục đích phúc lợi xã hội như: làm đường, xây dựng hệ thống thủy lợi, trường học…
Song song với quyền l ợi được hưởng thì thành viên tham gia TMCB cũng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ: Tuân thủ các quy định về TMCB và các quy đ ịnh khác của tổ chức TMCB đề ra và đóng phí thường niên đầy đủ
Bảng 1.3: Danh sách các đơn vị cà phê đạt chứng nhận TMCB của FLO tại Việt Nam
1 Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Công bằng Ea Kiết Huyện Cư Mgar – Đăk Lăk
2 Hợp tác xã Nông nghiệp công bằng Cư Dliêm Nông Huyện Cư Mgar – Đăk Lăk
3 Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tân Phát Huyện Cư Mgar – Đăk Lăk
4 Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Ea Ngai Huyện Krông Buk – Đăk Lăk
5 Hợp tác xã Nông nghiệp Công bằng Thuận phát Huyện Krông Buk – Đăk Lăk
6 Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Chư Kbô Huyện Krông Buk – Đăk Lăk
7 Hợp tác xã Ea Tân Huyện Krông Năng – Đăk Lăk
8 Hợp tác xã Minh Toàn Lợi Huyện Krông Năng – Đăk Lăk
9 Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ công bằng EaKmat Hòa Đông Huyện Krông Pak – Đăk Lăk
10 Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Công bằng Ea Tu Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk
11 Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Nghĩa Lộc Huyện EaH’leo – Đăk Lăk
12 Hợp tác xã Nông nghiệp Công bằng Thuận An Huyện Đăk Mil – Đăk Nông
13 Tổ hợp tác cà phê bền vững Đăk Ma Huyện Đăk Hà – Kon tum
14 Tổ hợp tác cà phê vì sức khỏe cộng đồng Huyện Đăk Hà – Kon Tum
15 Hợp tác xã Di Linh Huyện Di Linh – Lâm Đồng
16 Hợp tác xã Cầu Đất Xuân Trường Thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng
Sản phẩm cà phê khi tham gia chứng nh ận TMCB được trả một giá tối thiểu nhằm trang trải chi phí sản xuất bền v ững, ngay cả khi giá thị trường thế giới giảm Mức giá c ộng này giúp các nhà sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, và các nhà sản xuất quyết định một cách dân chủ cách áp dụng giá đó Thông thường họ đầu tư
Trang 37cà phê của chính phủ Việt Nam nhằm tạo giá trị gia tăng của chuỗi sản xuất cà phê Ngành cà phê Việt Nam, với đặc thù là một ngành nông nghiệp có số lượng lớn doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, sức cạnh tranh yếu, TMCB là một kênh xúc tiến thương mại hiệu quả đối với những doanh nghiệp yếu thế muốn xâm nhập và mở rộng thị trường.
Khó khăn chủ yếu đối với doanh nghiệp ngành cà phê để phát triển TMCB là phí gia nhập, thị trường và nhận biết của cộng đồng Phí gia nhập được đánh giá là khá cao đối với một doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ hai là vấn đề đ ầu ra cho sản phẩm Hiện nay trong tổng số sản lượng cà phê sản xuất ra m ới chỉ tiêu thụ được 1/5 sản lượng Thứ ba, chứng nhận cà phê TMCB chưa phổ biến ở Việt Nam so với các loại chứng nhận khác như chứng nhận 4C, chứng nhận Rainforest Alliance, UTZ
1.4 Mô hình cà phê Thương mại công bằng
1.4.1 Quá trình phát triển và đặc điểm của Thương mại công bằng
Quá trình phát triển
Ý tưởng đầu tiền về TMCB được khởi sướng vào giữa thập niên 50 của thế kỷ 20, khi Tổ chức Thương mại Liên minh Châu Âu bắt đầu giao thương trực tiếp với các nhà sản xuất nhỏ tại các quốc gia đang phát triển Để tiếp thị các sản phẩm, một mô hình kinh doanh được thiết lập, với hàng nghìn tình nguyện viên bán lẻ được cung cấp như các “cửa hàng thế giới”, ban đầu được đặt tại Châu Âu và Bắc Mỹ [18]
Sự xuất hiện của nhãn hiệu TMCB có thể tính là từ năm 1988, khi một tổ chức phi chính phủ Hà Lan bắt đầu một sáng kiến nhằm đảm bảo những người nông dân được trả một mức “tiền công xứng đáng” cho sự lao động của họ Tổ chức này đã tạo
ra một nhãn hiệu TMCB cho các sản phẩm của họ lấy tên là Max Havelaar, một cái tên sau khi hư cấu một nhân vật người Hà Lan, người đã phản đổi sự đối xử không công bằng với những người hái cà phê tại các nước thuộc địa của Hà Lan Hơn nửa thập kỷ sau, Max Havelaar đã được hưởng ứng tại một số quốc gia tại Châu Âu và Bắc Mỹ, cùng với một số tổ chức tương tự với các nhãn hiệu như TransFair và Global Exchange Năm 1997, các sáng kiến nhãn hiệu quốc gia thành lập một hiệp hội chung lấy tên là Tổ chức dán nhãn Thương mai công bằng quốc tế (FLO) Và sau đó một nhãn hiệu Chứng nhận Thương mại công bằng được thành lập vào năm 2002 Từ thời
Trang 38Các đặc điểm của Thương mại công bằng
Định nghĩa Thương mại công bằng
Một định nghĩa đang được công nhận hiện nay được nêu trong tuyên bố về các nguyên tắc của TMCB như sau: “Thương mại công bằng là một quan hệ đối tác thương mại dựa trên đối thoại, minh bạch và tôn trọng, hướng đến một sự công bằng hơn trong thương mại quốc tế Nó góp phần cho phát triển bền vững bằng đề nghị một điều kiện thương mại tốt hơn, đảm bảo về quyền lợi cho các nhà sản xuất và người lao động yếu thế trong xã hội, đặc biệt là các quốc gia phía nam bán cầu Tổ chức Thương mại công bằng, được kiểm chứng bởi khách hàng, là sự tham gia tích cực trong hỗ trợ các nhà sản xuất, nâng cao nhận thức và vận động cho sự thay đổi trong các quy tắc và thực hành của thương mại quốc tế truyền thống.” [30]
Hình 1.7: Mười nguyên tắc của tổ chức TMCB thế giới
(Nguồn WFTO)
10 nguyên tắc của tổ chức Thương mại công bằng thế giới
Các sản phẩm TMCB được sản xuất và buôn bán phù hợp với những nguyên tắc nhất định ở bất cứ nơi nào mà được xác nhận bởi những hệ thống đảm bảo độc lập, đáng tin cậy Có 10 nguyên tắc của tổ chức TMCB thế giới mà bất kỳ tổ chức TMCB nào cũng phải tuân thủ
Nguyên tắc thứ nhất: Tạo ra cơ hội cho những người sản xuất nhỏ bị thiệt thòi
về kinh tế
Trang 3930
Giảm nghèo đói thông qua kinh doanh là một phần rất quan trọng trong mục tiêu của tổ chức Tổ chức hỗ trợ các nhà sản xuất nhỏ có nhiều thiệt thòi, họ có thể là các doanh nghiệp gia đình, các hiệp hội, hoặc tổ chức cộng đồng Tổ chức tìm cách vận động để chuyển đổi từ tình trạng nghèo đói và không đảm bảo về thu nhập sang tình trạng độc lập về kinh tế và sở hữu Kinh doanh phải hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng Tổ chức có một kế hoạch hành động củ thể để triển khai mục tiêu trên
Nguyên tắc thứ hai: Thông tin công khai và minh bạch
Tổ chức phải công khai về vấn đề quản trị và các mối quan hệ thương mại của họ
Tổ chức phải minh bạch đối với tất cả các đối tác liên quan, và tôn trọng tính nhạy cảm và tính bảo mật về các thông tin thương mại mà họ cung cấp Tổ chức tìm ra các cách thức hợp lý để người lao động, các thành viên và các nhà sản xuất đều có cơ hội tham gia vào quá trình đưa ra các quyết định Tổ chức đảm bảo rằng các thông tin liên quan đều được cung cấp cho các đối tác thương mại của họ Các kênh liên lạc đều thông suốt và có tính mở đối với tất cả các vị trí trong chuỗi cung cấp hàng hóa
Nguyên tắc thứ ba: Hành vi trong kinh doanh
Tổ chức kinh doanh phải đảm bảo các vấn đề xã hội, kinh tế, môi trường lành mạnh cho các nhà sản xuất nhỏ, và không được tối đa hóa lợi nhuận của họ Tổ chức phải có trách nhiệm và có tính chuyên nghiệp trong việc giữ đúng các cam kết về thời gian Các nhà cung cấp tôn trọng hợp đồng, giao hàng đúng hạn, đảm bảo chất lượng
và các đặc điểm kỹ thuật của hàng hóa
Những người mua hàng TMCB, hiểu rõ rằng các nhà sản xuất bị thiệt thòi về tài chính, cũng như hiểu các nhà cung cấp, đảm bảo rằng đơn đặt hàng được thanh toán vào ngày giao hàng, và theo đúng như các thỏa thuận Có thể thanh toán trước 50% không lãi suất nếu được yêu cầu
Các nhà cung cấp TMCB khi nhận được khoản thanh toán từ người mua hàng, đảm bảo rằng khoản thanh toán này được chuyển cho người sản xuất hoặc người nông dân, những người làm ra các sản phẩm TMCB
Người mua hàng phải bàn bạc với nhà cung cấp trước khi hủy hoặc không chấp nhận lô hàng Trường hợp đơn hàng bị hủy mà không phải do lỗi của nhà sản xuất hoặc của nhà cung cấp thì phải đền bù một khoản tương đương cho những sản phẩm
đã được làm ra Nhà cung cấp và nhà sản xuất bàn bạc với người mua nếu có vấn đề phát sinh liên quan đến giao hàng, đảm bảo một khoản đền bù tương đương khi chất lượng và số lượng hàng không phù hợp với đơn hàng