1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh quảng ninh và đề xuất các giải pháp quản lý

101 307 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá nguyên nhân, mức độ, phạm vi và nguy cơ của ô nhiễm môi trường trong tương lai dưới những hoạt động sản xuất nông nghiệp đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh

Trang 1

Hà Nội đã chỉ dẫn, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành các thủ tục bảo vệ luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Ngô Thị Lan Phương – Giảng viên Trường Đại học Khoa học

Tự nhiên là người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ninh, Lãnh đạo phòng Kỹ thuật – Môi trường và các đồng nghiệp, các sở - ban – ngành có liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành khoá học, thực hiện thành công luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và những tình cảm yêu mến nhất đến gia đình, những người thân của tôi đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Xin chân thành cám ơn !

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Chung

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Chung xin cam đoan rằng: Đề tài luận văn thạc sỹ “ Thực

trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp quản lý ” là do tôi thực hiện với sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Lan

Phương - Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội Các dữ liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực, các tài liệu được trích dẫn trong luận văn

có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung mà tôi đã trình bày trong luận văn này

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Chung

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Thành phần và tính chất của chất thải rắn nông nghiệp 3

1.1.1 Chất thải rắn trồng trọt 3

1.1.2 Bao bì phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật 4

1.1.3 Chất thải rắn chăn nuôi 6

1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ phát sinh và thành phần chất thải 9

1.2 Tác động của chất thải rắn nông nghiệp đến môi trường 10

1.2.1 Tác động tới môi trường không khí 10

1.2.2 Tác động tới môi trường nước 14

1.2.3 Tác động tới môi trường đất 16

1.3 Tình hình quản lý Chất thải rắn nông nghiệp 21

1.3.1 Trên Thế giới 21

1.3.2 Việt Nam 22

1.3.3 Khu vực nghiên cứu 23

1.4 Tổng quan về Khu vực nghiên cứu 24

1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh 24

1.4.1.1 Vị trí địa lý và cấu trúc không gian hành chính 24

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình 25

1.4.1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn: 26

1.4.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 26

1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 27

1.4.2.1 Đặc điểm dân cư 27

Trang 4

1.4.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 28

1.4.2 Hiện trạng và định hướng phát triển của ngành nông nghiệp của tỉnh 29 1.4.2.1 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh 29

1.4.2.2 Định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

2.3.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu 33

2.3.2 Phương pháp điều tra xã hội học 34

2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 35

2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Kết quả điều tra, khảo sát chất thải rắn nông nghiệp 36

3.1.1 Chất thải rắn trồng trọt 36

3.1.2 Bao bì phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật 40

3.1.3 Chất thải rắn chăn nuôi 42

3.2 Tiềm năng tái chế chất thải rắn nông nghiệp ở Quảng Ninh 45

3.2.1 Tiềm năng tái chế phụ phẩm trồng trọt 45

3.2.1.1 Sản xuất phân hữu cơ 45

3.2.1.2 Thu hồi nhiệt từ chất thải và phụ phẩm trồng trọt 46

3.2.2 Tiềm năng sản xuất khí sinh học từ chất thải chăn nuôi 47

3.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 48

3.3.1 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn trồng trọt 48

3.3.1.1 Thực trạng thu gom chất thải trồng trọt 48

3.3.1.2 Thực trạng xử lý chất thải trồng trọt 49

3.3.2 Thực trạng thu gom, xử lý bao bì phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật 50 3.3.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn chăn nuôi 54

Trang 5

3.4 Công tác quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng

Ninh 57

3.4.1 Bộ máy quản lý môi trường của tỉnh Quảng Ninh 57

3.4.2 Một số chính sách bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 57

3.4.3 Về quy hoạch 59

3.5 Đánh giá hiệu quả quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh60 3.5.1 Những kết quả đạt được trong quản lý chất thải rắn nông nghiệp 60

3.5.2 Những tồn tại trong quản lý chất thải rắn nông nghiệp 61

3.6 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 65

3.6.1 Tiêu chí xây dựng giải pháp 65

3.6.2 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn nông nghiệp 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp 4

Bảng 1.2: Lượng hóa chất BVTV sử dụng trong canh tác nông nghiệp 5

Bảng 1.3 Lượng hóa chất BVTV không sử dụng năm 2007 6

Bảng 1.4: Số lượng chất thải của một số loài gia súc gia cầm 6

Bảng 1.5 Thành phần của phân gia súc, gia cầm 7

Bảng 1.6: Thành phần hóa học của phân lợn 7

Bảng 1.7: Ước tính sản lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng ở các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng 11

Bảng 1.8: Lượng khí thải vào môi trường từ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng 12

Bảng 1.9 Chất lượng không khí tại một số trang trại chăn nuôi lợn 13

Bảng 1.10: Kết quả phân tích mẫu nước một số mương tiêu nước trồng lúa 15

Bảng 1.11: Mật độ vi sinh vật trong phế thải chăn nuôi lợn 17

Bảng 1.12 Kết quả phân tích dư lượng hóa chất BVTV trong đất trồng lúa 20

Bảng 1.13: Kết quả phân tích mẫu trầm tích mương tiêu nước trồng lúa 20

Bảng 1.14 Chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh 30

Bảng 1.15 Diện tích trồng và sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp chính đến năm 2020 tỉnh Quảng Ninh 31

Bảng 1.16 Quy mô chăn nuôi của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 32

Bảng 3.1: Sản lượng và lượng chất thải rắn từ cây lương thực chính năm 2015 của tỉnh Quảng Ninh 37

Bảng 3.2: Thành phần chất thải rắn từ cây công nghiệp ở Việt Nam 38

Bảng 3.3: Sản lượng và chất thải rắn từ cây công nghiệp chính năm 2015 của tỉnh Quảng Ninh 39

Bảng 3.4: Tổng lượng chất thải trồng trọt (một số loại cây chính) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2015 40

Bảng 3.5: Lượng phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp 41

Bảng 3.6: Trọng lượng bao bì thuốc BVTV tại địa bàn nghiên cứu năm 2015 42

Bảng 3.7 Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn từ các hoạt động chăn nuôi 43

Trang 8

Bảng 3.8: Tổng hợp số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 43

Bảng 3.9: Lượng phân gia súc gia cầm phát thải của tỉnh Quảng Ninh 44

Bảng 3.10: Kết quả chất lượng nước sản xuất nông nghiệp tại Quảng Ninh 52

Bảng 3.11: Kết quả chất lượng đất sản xuất nông nghiệp tại Quảng Ninh 53

Bảng 3.12: Chất lượng không khí một số trang trại chăn nuôi tại Quảng Ninh 56

Bảng 3.13: Chất lượng nước thải sau xử lý hầm Biogas tại một số trang trại chăn nuôi tại Quảng Ninh 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

Cũng như nhiều tỉnh, thành phố khác trên cả nước, Quảng Ninh có diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên Hiện tại, hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 46,8% về số hộ và số dân đang sinh sống tại nông thôn tỉnh Quảng Ninh Trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm năng suất, sản lượng lương thực và cơ bản đảm bảo được lương thực ở khu vực nông thôn Mặc dù diện tích gieo trồng cây lương thực giảm nhiều (từ 53.681,2 ha năm 2013 xuống còn 51.325,7 ha năm 2014) nhưng tổng sản lượng lương thực giảm không đáng kể từ 237.125,3 tấn năm 2012 xuống còn 225.982 tấn năm 2014 Cơ cấu cây trồng vật nuôi có sự chuyển biến mạnh, bước đầu

đã hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp, một số mô hình trang trang trại có hiệu quả, những mô hình sản xuất sản phẩm hàng hoá giá trị cao dần được hình thành, quan hệ sản xuất đã có sự đổi mới

Trong sản xuất nông nghiệp tập quán canh tác truyền thống đã và đang gây tác động tới môi trường Tuy nhiên, việc quản lý môi trường trong sản xuất nông nghiệp hiện nay chưa được quan tâm thực hiện; công tác quản lý, giám sát, cảnh báo, khắc phục ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp còn bị bỏ ngỏ, các chính sách bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp được xây dựng kịp thời

Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất thải rắn nông nghiệp cũng như thực trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa về mặt khoa học, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Đây là cơ

sở quan trọng để đánh giá nguyên nhân, mức độ, phạm vi và nguy cơ của ô nhiễm môi trường trong tương lai dưới những hoạt động sản xuất nông nghiệp đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh đồng thời xây dựng và đề xuất nhóm các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu và tiến tới khắc phục một cách căn bản ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp

Trang 10

Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu thực trạng phát sinh chất thải rắn nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh;

- Tìm hiểu thực trạng quản lý chất thải rắn nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh;

- Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Thành phần và tính chất của chất thải rắn nông nghiệp

Chất thải rắn nông nghiệp là tất cả các chất thải dạng rắn hoặc bùn được thải

ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp; chất thải rắn nông nghiệp phát sinh chủ yếu gồm chất thải rắn từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và bao bì phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật

1.1.1 Chất thải rắn trồng trọt

Chất thải rắn trồng trọt là phế phẩm từ hoạt động trồng trọt bao gồm phế phẩm từ cây lương thực, cây công nghiệp Thành phần phế phẩm của cây lương thực là rơm, trấu, thân ngô, lõi ngô, vỏ củ, thân cây sắn, thân, lá từ hoạt động trồng

khoai…; thành phần phế phẩm của cây công nghiệp bao gồm phụ phẩm phát sinh từ hoạt động trồng trọt và thu hoạch các loại cây bông, gai, đay, cói, lạc, đậu tương,

chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, dừa

Chất thải rắn trồng trọt trên đồng ruộng chủ yếu là chất thải hữu cơ có thành phần rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, loại chất thải rắn này đều thuộc hai nhóm hợp chất chính gồm: Nhóm hợp chất hữu cơ chứa cacbon: Xenluloza, Hemixenluloza, Pectin, Lignin, Tinh bột; Nhóm hợp chất hữu cơ chứa nitơ: Protein

và Kitin

Các hợp chất hữu cơ này không bất biến mà luôn luôn chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác dưới tác dụng của các yếu tố: vật lý, hoá học và sinh học tạo thành các vòng tuần hoàn khép kín trong tự nhiên

Thành phần và số lượng chất thải trồng trọt tùy thuộc vào phương thức canh tác của mỗi vùng địa lý, mỗi địa phương Tuy nhiên, chất thải hữu cơ trong hoạt động trồng trọt là loại chiếm số lượng lớn nhất trong các loại chất thải hữu cơ và thành phần chủ yếu của nó là nhóm hợp chất cacbon khó phân giải (Xenluloza,

hemixenluloza, pectin, lignin)

Do đó, trong vấn đề xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thường được tập trung nghiên cứu phương pháp để quá trình phân giải, chuyển hóa các hợp chất cacbon khó phân giải (chủ yếu là xenluloza) diễn ra thuận lợi nhất Trong đó, không

Trang 12

thể thiếu việc nghiên cứu tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo và đặc tính lý hóa học của xenluloza Một số nghiên cứu cho biết Xenluloza là thành phần chủ yếu của tế bào thực vật, chiếm tới 50% tổng số hydratcacbon trên trái đất Trong vách tế bào thực vật, Xenluloza tồn tại trong mối liên kết chặt chẽ với các polisaccarit khác: Hemi-xenluloza, pectin và lignin tạo thành liên kết bền vững

1.1.2 Bao bì phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật

Trong hoạt động trồng trọt, tình trạng sử dụng hóa chất như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát Do đó, các chất thải rắn như: bao bì đựng phân bón, chai lọ, túi bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát Thành phần của bào bì phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật chủ yếu là các chất vô cơ chiến tỷ trọng lớn

a) Bao bì phân bón

Lượng phân bón hoá học sử dụng ở nước ta, bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa

là 150 - 180kg/ha)Việc sử dụng phân bón cũng phát sinh các bao bì, túi chứa đựng Năm 2008, tổng lượng phân bón vô cơ các loại được sử dụng 2,4 triệu tấn/năm Như vậy mỗi năm ước tính lượng bao bì phân bón thải ra môi trường khoảng 240 tấn thải lượng bao bì các loại [Bộ Tài nguyên môi trường năm, 2013]

b) Bao bì hóa chất bảo vệ thực vật

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường 2011 - Chất thải rắn của Bộ TN-MT

lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong các năm gần đây thể hiện trong bảng 1.2

Bảng 1.1: Lƣợng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp

TT Giai đoạn Lƣợng thuốc bảo vệ thực vật (tấn)

1 Năm 2000 - 2005 35.000 đến 37.000

2 Năm 2006 71.345

3 Năm 2008 110.000

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường [2013]

Thông thường, lượng bao bì chiếm khoảng 10% so với lượng phân bón, như vậy năm 2008 thải ra môi trường 11.000 tấn bao bì các loại

Trang 13

Bao bì hoá chất bảo vệ thực vật, vỏ hộp là chất thải rắn nguy hại nhưng

hiện nay, vỏ chai, túi đựng thuốc bảo vệ thực vật sau khi đã sử dụng phần lớn vẫn chưa được thu gom và xử lý đúng mức Hầu hết các loại vỏ chai sau khi sử dụng đều được thải bỏ một cách bừa bãi xuống ao, hồ, kênh mương hoặc được đem đi chôn lấp ở các khu đất trong vườn của các hộ gia đình Điều này khiến cho công tác

xử lý chất thải bao bì thuốc bảo vệ thực vật gặp nhiều khó khăn và gây ra những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước

Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy nhu cầu sử dụng hóa chất BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh rất phổ biến và ngày càng gia tăng Đã có hơn 100 loại hóa chất BVTV được đăng kí sử dụng, từ chỗ phải nhập thành phẩm tiến tới nhập nguyên liệu và gia công trong nước, đến nay Việt Nam đã có các nhà máy sản xuất hoá chất BVTV

Bảng 1.2: Lƣợng hóa chất BVTV sử dụng trong canh tác nông nghiệp Giai đoạn Lƣợng sử dụng hàng năm (tấn) Tỷ lệ sử dụng, (tấn/ha)

Trước 1985 6.500 – 9.000 0,3

1986 - 1990 13.000 – 15.000 0,4 – 0,5

1991 - 2000 20.000 – 30.000 0,67 – 1

2001 - 2010 33.000 – 75.000 -

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT [2013]

Không những vậy, lượng bao bì, chai lọ đựng hóa chất BVTV thải ra môi trường cũng tăng lên qua các năm do nhận thức của người dân đối với môi trường còn hạn chế Điều tra thực tế tại các tỉnh/thành trên cả nước năm 2007 cho thấy: 70 – 75% nông dân sử dụng hóa chất BVTV mà không có nơi bảo quản, dụng cụ phun chuyên dụng an toàn chưa có Nông dân thường vứt bao bì sau khi sử dụng tại các

bờ ruộng, kênh rạch, ao hồ, vườn cây Theo ước tính của Cục Bảo vệ Thực vật, lượng hóa chất BVTV không sử dụng, bao bì và chai lọ đựng đã lên tới gần 70 tấn năm 2007 [bảng 1.3] Mỗi bao thuốc trừ sâu sau khi dùng trong sản xuất nông nghiệp vần còn khoảng 1,8% lượng thuốc dính vào bao bì Do khả năng tồn lưu và

Trang 14

tính độc hại, các hoá chất này là nguồn ô nhiễm tiềm năng cho môi trường đất nông nghiệp, các thủy hệ sinh thái và an toàn thực phẩm

Bảng 1.3 Lƣợng hóa chất BVTV không sử dụng năm 2007

1.1.3 Chất thải rắn chăn nuôi

Chất thải rắn chăn nuôi đang là một trong những nguồn thải lớn ở nông thôn, bao gồm phân và các chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm chết, chất thải lò mổ

a) Phân gia súc gia cầm

- Phân gia súc, gia cầm là chất thải rắn thường xuyên sinh ra trong hoạt động chăn nuôi; trong phân gia súc, gia cầm chứa các chất dinh dưỡng có thể hỗ trợ cho trồng trọt và làm tăng độ màu mỡ của đất

Bảng 1.4: Số lƣợng chất thải của một số loài gia súc gia cầm

TT

Loài

vật nuôi

Tổng số đầu con (triệu con)

CTR bình quân (kg/ngày/

Trang 15

4 Gia cầm 247,3 280 300 0,2 18.054 20.44 21.9

5 Dê, cừu 1,34 1,37 1,29 1,5 734 750 706

6 Ngựa 0,12 0,102 0,09 4 175 149 131

Nguồn : Bộ Tài nguyên và Môi trường [2012]

Thành phần hóa học của phân phụ thuộc nhiều vào dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, cách nuôi dưỡng, chuồng trại, loại gia súc, gia cầm, biện pháp chế biến khác

nhau

Thành phần nguyên tố vi lượng thay đổi phụ thuộc vào lượng thức ăn và loại thức ăn Bo từ 5-7 ppm, Mn từ 30-75ppm, Co từ 0,2-0,5ppm, Cu từ 4-8ppm, Zn từ 20-45ppm, Mo từ 0,8-1ppm Trong quá trình ủ vi sinh vật công phá những nguyên liệu này và giải phóng chất khoáng hòa tan dễ dàng cho cây trồng hấp thu

Bảng 1.5 Thành phần của phân gia súc, gia cầm Loại phân H 2 O (%) Nitơ (%) P 2 O 5 (%) K 2 O (%) CaO (%) MgO

(%)

Lợn 82,0 0,60 0,41 0,26 0,09 0,10 Trâu bò 83,1 0,29 0,17 1,00 0,35 0,13 Ngựa 75,7 0,44 0,35 0,35 0,15 0,12

Gà 56,0 1,63 0,54 0,85 2,40 0,74 Vịt 56,0 1,00 1,40 0,62 1,70 0,35

Nguồn: Nguyễn Chí Minh [2002]

Thành phần dinh dưỡng của phân lợn được trình bày trong bảng sau:

Bảng 1.6: Thành phần hóa học của phân lợn

Trang 16

Mùn (%) 62,26

Nguồn: Nguyễn Chí Minh [2002]

Về mặt hóa học những chất trong phân chuồng có thể chia thành hai nhóm

- Hợp chất chứa Nitơ ở dạng hòa tan và không hòa tan

- Hợp chất không chứa Nitơ gồm hidratcacbon, lignin, lipid

Tỷ lên C/N có vai trò quyết định đối với quá trình phân giải và tốc độ phân giải các hợp chất hữu cơ có trong phân chuồng

Trong thành phần phân gia súc nói chung, phân lợn nói riêng có chứa các virus, vi trùng, đa trùng, trứng gin sán và chúng có thể tồn tại vài ngày, vài tháng trong phân, nước thải ngoài môi trường gây ô nhiễm cho đất và nước đồng thời gây hại cho sức khỏe con người và vật nuôi

b) Xác gia súc, gia cầm

- Xác gia súc, gia cầm trong quá trình chăn nuôi phát sinh do gia súc gia cầm

bị chết do dịch bệnh hoặc do các tác động khác, xác gia súc gia cầm có đặc tính phân huỷ sinh học nhanh tạo ra mùi hôi thối lan nhanh trong không khí và cũng là tác nhân gây truyền nhiễm cho người và vật nuôi Thông thường gia súc, gia cầm chết sau 2 ngày là mùi sinh rất khó chịu, nếu xử lý không kịp để lâu sẽ gây ảnh hưởng rất đối với môi trường không khí xung quanh Do đó, chuồng trại nơi có vật nuôi chết cần phải được vệ sinh và khử trùng

c) Thức ăn thừa, ổ lót chuồng và các chất thải khác

Trong những trường hợp chăn nuôi dùng ổ lót như rơm rạ, vỏ chấu, vải…Sau một thời gian sử dụng thì phải thải bỏ, những chất thải này có thể mang theo phân, nước tiểu và vi sinh vật gây bệnh nên cần phải xử lý trước khi thải ra môi trường

Thức ăn thừa, thức ăn rơi vãi trong quá trình chăn nuôi cũng góp phần gây

ô nhiễm môi trường Thành phần của chúng hầu hết là các chất hữu cơ dễ phân huỷ như cám, ngũ cốc, bột cá, tôm, khoáng chất… Trong tự nhiên chất thải này bị

Trang 17

phân huỷ sinh ra mùi khó chịu, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của vật nuôi và sức khoẻ con người

- Vật dụng chăn nuôi, bệnh phẩm thú y

Các vật dụng chăn nuôi hay thú y bị bỏ lại như bao bì, kim tiêm, chai lọ đựng thức ăn, thuốc thú y… Cũng là một nguồn quan trọng dễ gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt các bệnh phẩm thú y, thuốc khử trùng, bao bì đựng thuốc có thể xếp vào loại các chất thải nguy hại, cần phải có biện pháp xử lý như chất thải nguy hại

1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ phát sinh và thành phần chất thải

Lượng và thành phần chất thải nông nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố

về giống và thời vụ, các yếu tố địa lý, các loại hình sản xuất và tập quán sản xuất

- Yếu tố về giống và thời vụ: Trong hoạt động trồng trọt các loại cây giống

có sức đề kháng tốt với sâu bệnh, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt thì lượng phân bón và hóa chất BVTV được sử dụng giảm làm cho thành phần chất thải vô cơ

có tính nguy hại như bao bì phân bón, hoá chất BVTV cũng giảm đáng kể

- Yếu tố địa lý: Ở các vùng, miền sản xuất nông nghiệp có diện tích canh tác lớn do vậy lượng chất thải phát sinh từ trồng trọt lớn, thành phần chất thải cũng rất khác so với vùng trung du miền núi

- Tỷ trọng các loại hình sản xuất và tập quán sản xuất: Trong một vùng canh tác nông nghiệp, nếu tỷ trọng trồng lúa chiếm đa số thì thành phần phụ phẩm rơm,

rạ, trấu là chủ yếu Ngược lại, ở các vùng chuyên chăn nuôi trang trại, thành phần chất thải chủ yếu là phân chuồng Ở những nơi mà người nông dân có thói quan đốt rơm rạ ngay tại đồng ruộng để lấy tro bón ruộng thì lượng phụ phẩm rơm rạ giảm đi đáng kể Ở những nơi mà bà con lạm dụng quá nhiều thuốc trừ sâu thì thành phần loại chất thải nguy hại này sẽ cao Hay việc chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy trình công nghiệp đòi hỏi phải sử dụng các loại thức ăn bán sẵn trên trường làm gia tăng lượng bao bì sau sử dụng và lượng chất thải chăn nuôi tăng

Trang 18

1.2 Tác động của chất thải rắn nông nghiệp đến môi trường

1.2.1 Tác động tới môi trường không khí

* Tác động đối với môi trường không khí do chất thải rắn trồng trọt

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp quá trình lưu giữ và tái sử dụng chất thải rắn từ hoạt động trồng trọt chưa hợp lý trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm và mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, phân hủy và tạo mùi khó chịu cho con người Các khí

H2S, NH3… phát sinh trong quá trình phân hủy các thành phần hữu cơ ngay trên đồng ruộng hoặc tại những đống ủ phân xanh là các tác nhân chủ yếu tác động tới môi trường không khí Hiện nay, đa phần phụ phẩm nông nghiệp như rơm, rạ không được bà con nông dân tận dụng để làm nhiên liệu đun nấu mà đốt ngay tại đồng ruộng, việc đốt rơm dạ gây ra phát sinh các loại khí thải như CH4, CO2 tác động tới biến đổi khí hậu toàn cầu

Vào vụ thu hoạch việc đốt rơm, rạ gây ra hiện tượng khói, bụi ảnh hưởng đến môi trường không khí Nguyên nhân do lượng nhiệt thải lớn kết với điều kiện thời tiết thích hợp như độ ẩm cao và không có gió khiến nhiệt lượng tiêu hao cho nước bốc hơi ít có thể gây ra hiện tượng nghịch đảo nhiệt, các loại khí thải, bụi, tro không phát tán đi xa được mà luẩn quẩn quanh khu vực

Quá trình đốt rơm, rạ ngoài trời ở các vùng nông thôn không kiểm soát được, lượng dioxit cacbon CO2 phát thải vào khí quyển cùng với cacbon monoxit CO, khí metan CH4, các oxit nitơ NOx và một ít dioxit sunfua SO2, và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người là tác nhân gia tăng hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu Đặc biệt việc đốt rơm rạ vào thời điểm trời nắng nóng kéo dài sẽ khiến nhiệt độ tăng thêm, không khí ngột ngạt, khó chịu hơn

Lượng khí thải do đốt rơm dạ ở khu vực đồng bằng Sông Hồng phát thải vào môi trường được ước tính trong bảng 1.9 Theo đó, lượng khí thải CO2 phát thải vào môi trường là lớn nhất Nếu tỷ lệ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng ở vùng đồng bằng Sông Hồng là 20% thì lượng khí thải CO2 sẽ là 1,19 triệu tấn/năm, nếu tỷ lệ đốt là 50% thì lượng khí thải CO2 sẽ là 2,97 triệu tấn/năm và nếu tỷ lệ đốt là 80% thì lượng

Trang 19

khí thải sẽ là 4,7 triệu tấn/năm Các loại khí thải khác như CH4 sẽ là 1-3,9 ngàn tấn/năm, CO là 28,3-113,2 ngàn tấn/năm tùy thuộc vào tỷ lệ đốt 20-80% [ Nguyễn Mậu Dũng, 2012]

Bảng 1.7: Ƣớc tính sản lƣợng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng ở các tỉnh vùng

đồng bằng Sông Hồng

Tỉnh/thành

Sản lƣợng lúa

(1000

tấn)

Sản lƣợng rơm, rạ

Tỷ lệ đốt 30%

Tỷ lệ đốt 40%

Tỷ lệ đốt 50%

Tỷ lệ đốt 60%

Tỷ lệ đốt 80%

Trang 20

Bảng 1.8: Lượng khí thải vào môi trường từ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng

vùng đồng bằng sông Hồng

Loại khí

thải

Hệ số phát thải (g/kg)

Lượng khí thải (1000 tấn) theo tỷ lệ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng % 20%

Nguồn: Nguyễn Mậu Dũng [2012]

*Chú ý: Số trong ngoặc đơn là sản lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng tương ứng (ngàn

tấn)

Trong các loại khí thải do đốt rơm rạ nêu trên thì CO2, CH4, N2O, NMHC là thuộc khí thải nhà kính, những loại khí thải này sẽ tích tụ trong khí quyển và phá hủy tầng ôzôn, làm cho trái đất nóng lên, gây biến đổi khí hậu Chính vì vậy giảm lượng khí thải nhà kính vào môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đã và

đang được quan tâm

* Tác động đối với môi trường không khí do chất thải rắn chăn nuôi

Đối với hoạt động chăn nuôi, môi trường không khí bị ô nhiễm bao gồm mùi hôi của gia súc, gia cầm, mùi hôi của chuồng trại chăn nuôi; nguyên nhân chủ yếu phát sinh mùi hôi do quá trình phân huỷ các chất thải rắn trong chăn nuôi, quá trình phân

Trang 21

hủy của các hợp chất hữu cơ có trong phân, nước tiểu hoặc trong thức ăn dư thừa của gia súc, gia cầm Thành phần chất thải chăn nuôi có thể chia thành 3 nhóm: Protein, cacbohydrate và dầu mỡ Quá trình phân hủy kỵ khí chất thải chăn nuôi tạo nhiều sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối khác nhau Nồng độ mùi phụ thuộc vào mật độ gia súc gia cầm chăn nuôi, hệ thống thông gió, nhiệt độ và độ ẩm Thành phần NH3, H2S và CH4 thay đổi theo từng giai đoạn của quá trình phân huỷ, đồng thời cũng phụ thuộc vào loại chất thải hữu cơ hay thành phần của thức ăn, loài vi sinh vật và tình trạng sức khoẻ của gia súc, gia cầm (Bộ Tài nguyên và Môi trường [2012])

Bảng 1.9 Chất lƣợng không khí tại một số trang trại chăn nuôi lợn

Chỉ tiêu kiểm tra

Trại lợn Đan Phƣợng

Trại lợn Tam Điệp

Công ty TNHH Gia Nam

Trại lợn Hồng Điệp

Giới hạn (TCN 678- 2006)

Độ bụi KK, mg/m 3 0,5800 0,7467 0,7650 0,765 10 Nồng độ CO2 , % 0,5690 0,5463 0,5690 0,569

Độ nhiễm khuẩn KK, vk/m 3 1,7x104 1,6x106 1,6x104 1,6x104 106Nồng độ NH3, ppm 0,0113 0,0097 0,0086 0,091 10 Nồng độ H2S, ppm 0,00063 0,0008 0,0009 0,0009 5 Nồng độ N2O, mg/m 3 0,0890 0,0890 0,0790 0,096

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường [2012]

* Tác động đối với môi trường không khí do bao bì phân bón, hoá chất bảo

vệ thực vật

Trong quá trình phun thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu bệnh và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong các bao bì thải bỏ trên các cánh đồng phát sinh và lan tỏa trong không khí được gió phát tán trong môi trường không khí, khuếch tán bay vào các khu dân cư cuối hướng gió, người dân và các sinh vật khác hít phải mùi thuốc bảo vệ thực vật có thể gây lên nhức đầu, ho, viêm đường hô hấp…

Trang 22

1.2.2 Tác động tới môi trường nước

Chất thải rắn nông nghiệp tác động đến môi trường nước có nguyên nhân chủ

yếu từ chất thải rắn chăn nuôi và dư lượng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng và tồn dư trong bao bì

Trong nước thải chăn nuôi, lượng nước chiếm 75-95% thể tích, phần còn lại bao gồm các hợp chất hữu cơ và các loại vi sinh vật, ấu trùng Các trang trại nuôi lợn quy mô lớn đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải, một số trang trại còn kết hợp sử dụng công nghệ thu hồi khí sinh học nhưng hiệu quả thấp Các trang trại quy mô hộ gia đình có quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ manh mún, chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm lại gần nhà, quá trình chăn nuôi không chú ý đến việc xây dựng hệ thống tiêu thoát nước thải, xử lý nước thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm nguồn nước, làm tăng hàm lượng hóa chất độc và vi khuẩn coliform trong nước Trong những ngày điều kiện thời tiết có trời mưa, nguy cơ lây nhiễm của vi sinh vật gây bệnh là rất cao [Huỳnh Trung Hải và Cộng sự, 2008]

Trong hoạt động trồng trọt bà con nông dân sử dụng dụng tràn lan phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật để bón cho cây trồng, phòng trừ sâu bệnh trên các cánh đồng, do đó, dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi là nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt trên đồng ruộng và tại các kênh mương

Tác động đến nước mặt: Tài nguyên nước mặt là một trong những yếu tố

quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia

Nhiều nguồn nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam đã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoá chất BVTV Theo kết quả phân tích của Bùi Vĩnh Diên và Vũ Đức Vọng, nước Biển Hồ (tỉnh Gia Lai) có chứa dư lượng của 2-3 loại trong 15 loại hóa chất BVTV gốc clo hữu cơ, hàm lượng trung bình 0,05-0,06 mg/l Nước Hồ Lăk (tỉnh Đăk Lăk)

có chứa dư lượng của 4 loại trong 15 loại hóa chất hóa chất bảo vệ thực vật gốc clo hữu cơ Các nghiên cứu khoa học cũng đã chứng minh việc sử dụng tích hoá chất BVTV trong nông nghiệp và lâm nghiệp là nguồn gốc dẫn đến môi trường đất và nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm

Trang 23

Bảng 1.10: Kết quả phân tích mẫu nước một số mương tiêu nước trồng lúa

Nguồn: Huỳnh Trung Hải và Cộng sự [2008]

Nước ngầm: Nước ngầm là một dạng nước dưới dưới bề mặt trái đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ Ô nhiễm nguồn nước này bởi hóa chất bảo vệ thực vật là hiện tượng khá phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp Trải qua thời gian sử dụng lâu dài,

dư lượng hóa chất hóa chất bảo vệ thực vật tích lũy trong môi trường đất sẽ thấm dần vào các nguồn nước ngầm

Theo số liệu của Cục Bảo vệ Môi trường, nguồn nước giếng đào, nước ngầm nông và nước mạch lộ thiên tại thànhphố Buôn Ma Thuột đã bị nhiễm hoá chất hóa chất bảo vệ thực vật Nguồn nước giếng đào có chứa dư lượng của 11 loại trong tổng số 15 loại hóa chất hóa chất bảo vệ thực vật gốc clo hữu cơ, hàm lượng từ 0,01 – 0,558 g/l Nguồn nước mạch lộ thiên có chứa dư lượng của 6 loại trong tổng số

15 loại hóa chất BVTV gốc clo hữu cơ với nồng độ nhỏ hơn (từ 0,002 – 0,084 g/l, dưới tiêu chuẩn cho phép) Với lượng tồn lưu nêu trên, nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng do hóa chất BVTV là rất cao Khi nguồn nước ngầm bị nhiễm hóa chất BVTV không có khả năng tự làm sạch như các nguồn nước mặt Dòng chảy trong nguồn nước ngầm rất chậm nên dư lượng hóa chất BVTV khó pha loãng

Trang 24

hay phân tán được, nên chúng tồn tại trong khoảng thời gian rất lâu, có thể cần tới hàng trăm năm để làm sạch những chất ô nhiễm này

Dư lượng phân hóa học từ môi trường đất bị rửa trôi rồi hòa tan vào nước còn gây cho ao hồ hiện tượng phú dưỡng hóa Đây là hiện tượng làm giàu nước quá mức bởi các chất dinh dưỡng vô cơ và các chất dinh dưỡng hữu cơ có nguồn gốc thực vật Phú dưỡng nước là vấn đề môi trường nghiêm trọng bởi vì nó làm suy giảm chất lượng nước hồ và làm thay đổi cấu trúc quần thể sinh vật nước Do bón quá dư thừa hoặc do bón không đúng cách đã làm cho N và P theo nước đi vào các thủy vực và bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây ra sự giảm lượng oxy hòa tan ở khu vực dưới hạ lưu Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng nitrat hoặc nitrit là những dạng gây độc trực tiếp cho các loài động vật thuỷ sinh và gây độc gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước Với P, trong số rất nhiều chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến năng suất sơ cấp của hệ sinh thái nước ngọt thì P là yếu tố sinh thái giới hạn quan trọng và thường xuyên nhất, đặc biệt ở dạng

PO43- Nồng độ đặc trưng của P trong nước ngọt (được coi là nhu cầu cung cấp) nhỏ hơn nồng độ P trong thực vật (được coi là nhu cầu tiêu thụ) có nghĩa là tỷ số giữa

cung và cầu của P nhỏ hơn rất nhiều so với các chất dinh dưỡng khác

1.2.3 Tác động tới môi trường đất

* Tác động đến môi trường đất do chất thải rắn trồng trọt:

Sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng đến môi trường đất lớn nhất là hoạt động trồng trọt Tuy nhiên, chất thải rắn trồng trọt phát sinh ảnh hưởng tới môi trường đất không đáng kể vì thành phần của chúng chủ yếu là chất hữu cơ có tác dụng tốt đối với đất và cây trồng trong quá trình canh tác nếu các biện pháp tái sử dụng chất thải rắn nông nghiệp làm phân bón hữu cơ không hợp lý (chẳng hạn như sử dụng phân tươi động vật chưa qua ủ hoặc sử dụng liều lượng quá nhiều) sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng đất trồng, gia tăng dịch bệnh và làm cho cây trồng không còn khả năng hấp thụ trực tiếp các chất dinh dưỡng

Trang 25

* Tác động đến môi trường đất do chất thải rắn chăn nuôi:

Bên cạnh các chỉ tiêu vật lý và hóa học đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường thì vi sinh vật gây bệnh cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng Trong phân, nước thải hay xác gia súc và gia cầm có nhiều vi sinh vật gây bệnh như các loại virus, vi khuẩn, trứng ký sinh trùng; các loại vi sinh vật này chúng có thể tồn tại từ vài ngày đến vài tháng trong môi trường, gây bệnh cho con người và động vật Số lượng vi sinh vật gây bệnh có trong chất thải phụ thuộc vào khẩu phần ăn, giới tính, loài và phương pháp vệ sinh chuồng trại cũng như phương pháp xử lý nước thải

Bảng 1.11: Mật độ vi sinh vật trong phế thải chăn nuôi lợn

Đơn vị: CFU/g

Chỉ tiêu Trại lợn

Đan Phƣợng

Trại lợn Tam Điệp

Cty TNHH Gia Nam

Trại lợn Hồng Điệp

lỏng sau

biogas

E.Coli 3,55.103 3,44.103 2,56.103 3,00.103

Salmonella 2,48.103 3,78.103 2,42.103 4,54.103 Trứng giun 10 8 11 10

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường [2012]

Kết quả phân tích một số chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh trong mẫu phế thải chăn nuôi sau 1 tuần thải ra môi trường được trình bày trong bảng 1.13 cho thấy, phế thải chăn nuôi lợn dạng rắn và lỏng đều chứa quần thể vi sinh vật gây bệnh và trứng giun rất cao Tại các trang trại chăn nuôi lợn theo mô hình kín các chỉ tiêu kiểm tra đều đạt yêu cầu theo qui định về giới hạn cho phép theo TCN 678-2006, trong khi đó ở các cơ sở chăn nuôi lợn theo mô hình hở có độ nhiễm khuẩn không khí xấp xỉ giới hạn

Việc sử dụng phân hữu cơ trong đó có phân ủ (còn gọi là phân chuồng) cùng lúc với phân hóa học có lợi cho cây trồng Phân chuồng là khâu cơ bản trong chu kỳ luân chuyển chất dinh dưỡng: một phần khá lớn các yếu tố dinh dưỡng mà cây trồng

Trang 26

lấy từ đất được chuyển vào dạ dày gia súc, rồi các nguyên liệu độn chuồng, từ đấy, lại trở về đồng ruộng trong phân gia súc Phân chuồng rất tốt cho cây trồng nên người nông dân ở tất cả các nước đều có sử dụng Tuy nhiên cần lưu ý việc sử dụng nhiều phân hữu cơ (nhất là phân ủ chưa hoại) có thể làm ô nhiễm môi trường do quá trình khử chiếm ưu thế Trong điều kiện yếm khí, quá trình này tạo ra sản phẩm trung gian là các axit hữu cơ làm cho môi trường đất bị chua và sản phẩm cuối cùng chứa nhiều khí độc như H2S, CH4, CO2 Đồng thời, khi bón nhiều phân ủ chưa hoại (có tỷ lệ C/N cao) vào đất, các vi sinh vật phân giải cellulose phát triển mạnh, hút nhiều đạm trong đất khiến cho cây trồng bị thiếu đạm Đó là quá trình bất lợi nhất thời ảnh hưởng tới năng suất vì sau một thời gian, vi sinh vật chết đi, cơ thể chúng

bị khoáng hóa trở lại, cây mới được cung cấp thêm đạm để sử dụng Ngoài ra, trong phân ủ chưa hoại có chứa rất nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác, khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền qua nước mặt, nước ngầm hoặc theo nước bốc hơi đi vào không khí làm ô nhiễm các thành phần môi trường này và làm chậm quá trình sinh trưởng của cây trồng

* Tác động đến môi trường đất do dư lượng phân bón hoá học và hoá chất

bảo vệ thực vật:

- Tác động đến môi trường đất do dư lượng phân bón

Việc sử dụng phân bón hóa học nhiều gây ra việc dư thừa đạm làm gia tăng hàm lượng nitrat tích lũy trong và trên mặt đất Các dạng phân hóa học đều là muối của các axit vô cơ, khi hòa tan chúng thường gây chua cho môi trường đất Khi phân đạm bị giữ trong đất sẽ làm tăng độ chua của môi trường đất vì axit ở dạng HNO3 Với phân super lân thường có 5% axit tự do H2SO4 chỉ riêng lượng axít tự

do này cũng làm cho môi trường đất chua thêm Cây hấp thụ giải phóng các dạng

biến đổi hoá học của nitơ cũng có thể ảnh hưởng tới tính axit của đất Phần lớn thức

vật hấp thụ nitơ vô cơ từ dung dịch đất dưới dạng NO3

hoặc NH4+ Tuy nhiên, ở đất axit với pH nhỏ hơn 5 - 5,5 thì nitơ chủ yếu tồn tại ở dạng NH4+ Nếu NH4+ được hấp thụ bởi rễ cây thì một đương lượng H+

sẽ thay thế trở lại dung dịch đất tạo sự cân bằng cho dung dịch và sẽ không xảy ra hiện tượng hoá chua của đất Nhưng nếu

NH4+ được trực tiếp đưa vào đất bằng con đường lắng tụ trong không khí hoặc bón phân, thì thực vật hấp thụ NH4+

cùng với sự giải phóng H+ sẽ làm thay đổi độ chua

Trang 27

của đất Khi đất có pH >5,5, phần lớn nitơ ở dạng NO3- sinh ra bởi quá trình nitrat hoá Sự oxy hoá NH4+ thành NO3- sẽ tạo ra hai ion H+ cho mỗi NO3- được hình thành Nếu amonium có nguồn gốc từ quá trình amon hoá các nitơ hữu cơ sẽ tiêu thụ một ion H+ để sinh ra một NH4+ Như vậy tổng hai quá trình cho kết quả là cứ mỗi NO3- được sinh ra đồng thời cũng giải phóng một H+ Nếu NO3- được hấp thụ bởi rễ cây thì một ion OH_ sẽ được giải phóng để kết hợp với một ion H+ duy trì trạng thái cân bằng Tuy nhiên bón phân đạm quá mức vào đất thì quá trình hoá chua của đất sẽ xảy ra rất mãnh liệt

Ngoài ra, sự tích lũy các hóa chất dạng phân bón vô cơ cũng gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính của đất bị nén chặt, độ trương co kém, kết cấu kém, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên chai cứng “đất gan gà”, tính thông khí kém đi sẽ ảnh hưởng tới các quần xã sinh vật và vi sinh vật đất

Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng: Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng như đồng

(Cu), kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng Ở một số vùng đất, một số loại cây trồng có biểu hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng Zn hoặc Cu khá rõ rệt Lượng phân bón tồn đọng trong đất sẽ tích lũy các kim loại nặng theo thời gian, có thể ngấm vào nước ngầm, khi bị rửa trôi sẽ ảnh hưởng chất lượng của nước mặt và đi vào chuỗi thức ăn gây các bệnh nguy hiểm cho con người

- Tác động đến môi trường đất do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Chất ô nhiễm dễ dàng đi vào nhưng lại không dễ dàng ra khỏi môi trường đất, sau khi thấm vào đất, chúng sẽ lưu lại trong đó Hiện tượng này khác với hiện tượng

ô nhiễm nguồn nước, chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì với khả năng tự vận động của mình, nhờ dòng chảy và các quá trình tự làm sạch, nước sẽ nhanh chóng

“đẩy” được các chất ô nhiễm Đất không có khả năng này Do vậy nhiều loại hóa chất BVTV có thể tồn lưu lâu dài trong đất Hóa chất BVTV xâm nhập vào môi trường đất

sẽ làm cho tính chất cơ lý của đất bị giảm sút; khả năng diệt khuẩn đồng thời, cũng tiêu diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm giảm hoạt tính sinh học của đất Một

số loại hoá chất BVTV gốc clo hữu cơ có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như DDT, lindan, aldrin, P hữu cơ … Kết quả phân tích dư lượng hoá chất

Trang 28

BVTV cho thấy hàm lượng DDT trong đất tại huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) là 1,56 mg/kg, tại huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ) là 30 mg/kg, tại huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An) từ 15 – 2.800 mg/kg vượt ngưỡng Sự tích tụ trong đất đã dẫn tới hiện tượng thấm vào nguồn nước giếng sinh hoạt, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh ung thư cho nhiều người dân ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Phú Thọ

Bảng 1.12 Kết quả phân tích dư lượng hóa chất BVTV trong đất trồng lúa

N 21 o 03’00”,

E 105 o 56’55””

Mùa mưa

Mùa khô

Mùa mưa

Mùa khô

Mùa mưa

Mùa khô

Nguồn: Huỳnh Trung Hải và cộng sự [2008]

Bảng 1.13: Kết quả phân tích mẫu trầm tích mương tiêu nước trồng lúa

Trang 29

E 105 o 49’08”)

6 DDD g/kg - 0,88 - 0,41

7 DDT g/kg <0,02 2,3 <0,02 4,91

Nguồn: Huỳnh Trung Hải và cộng sự [2008]

1.3 Tình hình quản lý Chất thải rắn nông nghiệp

1.3.1 Trên Thế giới

Sự phát triển của Khoa học - Kỹ thuật và sự bùng nổ dân số sinh ra các vấn đề

về rác thải gây ra ô nhiễm môi trường ở hầu hết các nước trên thế giới Quá trình phát sinh CTR nông nghiệp ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau Quá trình này phụ thuộc vào các cơ chế chính sách, luật môi trường, điều kiện kinh tế và mức sống của người dân mỗi nước Thành phần CTR nông nghiệp ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập sự phát triển nông nghiệp của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất vô cơ chiếm đa số và lượng rác thải này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng năm nước Mỹ phát sinh một khối lượng CTR khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, CTR có nguồn gốc từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%;

Tại các nước đang phát triển thì tỷ lệ các chất vô cơ trong rác thải là khá lớn thường trên 50% Tuy nhiên, tại Việt Nam cũng như các nước đang phát triển thì thành phần chất hữu cơ trong CTR phát sinh chiếm tỷ lệ cao hơn Lượng CTR trong nông nghiệp và sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao hơn trong công nghiệp

Việc thu gom và vận chuyển CTR trên thế giới được tiến hành tuỳ thuộc vào mỗi nước Đối với các nước phát triển thì công tác thu gom và vận chuyển được tiến hành theo một quy định rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ của người dân, quá trình phân loại rác tại nguồn, các địa điểm thải bỏ, tập kết rác cho đến thiết bị thu gom và vận chuyển

Công nghệ xử lý CTR trên thế giới Xử lý CTR là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý CTR và không làm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo các loại sản

Trang 30

phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế Đây là một công tác quyết định đến chất lượng bảo vệ môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường là suy thoái

về môi trường là nỗi lo của toàn nhân loại: môi trường đất bị hủy hoại, môi trường nước bị ô nhiễm, đặc biệt môi trường không khí bị ô nhiễm nặng, nhất là những thành phố lớn tập chung dân cư, tài nguyên môi trường cạn kiệt Có rất nhiều phương pháp xử lý CTR trên thế giới, như: phương pháp chôn lấp, phương pháp đốt, phương pháp chế biến rác thải hữu cơ thành phân compost, phương pháp tái chế, phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex, phương pháp ép kiện

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2005 cho biết, hầu hết các nước Nam Á và Đông Nam Á, CTR được chuyển đến các bãi chôn lấp hoặc các bãi rác lộ thiên để tiêu huỷ Các nước: Việt Nam, Bangladet, Hồng Kông, Hàn Quốc

và Srilanka là các nước có tỷ lệ chôn lấp lớn nhất (trên 90%) Các nước: Nhật Bản, Singapore do quỹ đất dành cho việc chôn lấp ít, đồng thời điều kiện kinh tế của 2 quốc gia này khá cao nên cho phép áp dụng các phương pháp hiệu quả hơn như công nghệ thiêu đốt.v.v Một số quốc gia khác cũng sử dụng phương pháp đốt khá rộng rãi như Đức, Thụy Sỹ, Hà Lan, Đan Mạch

Một số nước khác thì áp dụng biện pháp làm phân compost như Ấn Độ, Indonexia.v.v Công nghệ xử lý CTR bằng phân compost đã phát triển không ngừng và được áp dụng rộng rãi ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số các quốc gia khác tại Châu Á từ giữa thế kỷ XX đến nay

[Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012]

1.3.2 Việt Nam

Nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam với 70% dân số đang chuyển mạnh sang

cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn, trong đó trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều đạt tốc độ tăng trưởng cao Cùng với sự chuyển biến tích cực về đời sống, xã hội, nông thôn nước ta vẫn còn bộc lộ những yếu kém về phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều bất cập Một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng gia tăng ô nhiễm môi trường nông thôn là do chất thải rắn phát sinh từ việc lạm dụng

Trang 31

thuốc bảo vệ thực vật trong hoạt động trồng trọt, nguồn thải từ phân bón và chăn nuôi, các làng nghề

Ngoài ra, các hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi cũng thải ra môi trường nhiều loại chất thải rắn nguy hại Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, thiếu kiểm soát Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 71.345 tấn - 110.000 tấn hóa chất bảo

vệ thực vật

Thông thường lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ Lượng phân bón hóa học sử dụng bình quân 80-90 kg/ha (cho lúa là 150 - 180 kg/ha) làm phát sinh bao bì, túi đựng Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại

sử dụng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn rác thải rắn nguy hại là bao bì, vỏ hộp thuốc các loại Chưa kể chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi cũng làm cho môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng

Đặc biệt, chất thải rắn do các làng nghề chiếm một phần đáng kể trong nguồn phát sinh chất thải rắn nông thôn Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh, ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng và phức tạp về thành phần như phế liệu từ chế biến lương thực, thực phẩm (nước thải, bã ngô, đậu, sắn), túi ni lông, chai lọ thủy tinh, nhựa, bao bì đựng nguyên vật liệu, cao su, gốm sứ, gỗ, kim loại

Thống kê của Tổng cục Môi trường cho thấy, các làng nghề miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng, phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày gồm các chất thải chủ yếu là bụi kim loại, phôi, rỉ sắt Các nhóm làng nghề khác như làng nghề may gia công, da giày cũng thải ra 2-5 tấn/ngày, chủ yếu là các loại chất thải rắn khó phân hủy

[Bộ NN&PTNT, 2013]

1.3.3 Khu vực nghiên cứu

Công tác quản lý CTR đang được coi như là chỉ số đánh giá sự “chưa phát triển” đối với một quốc gia Tại Quảng Ninh, CTR nói chung và CTR nông nghiệp nói riêng hiện là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề về môi trường Theo tính

Trang 32

toán của các ngành chức năng, dựa vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng đô thị, khối lượng và thành phần CTR công nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 là trên 370 tấn/ngày, đến năm 2020 là trên 425 tấn/ngày Biện pháp

xử lý phổ biến của các DN trong suốt những năm qua là chôn lấp cùng với CTR sinh hoạt, được thực hiện bởi các công ty môi trường đô thị hoặc các cơ sở tư nhân thu gom và xử lý ở địa phương Tình trạng các cơ sở sản xuất công nghiệp thuê các

tổ chức, cá nhân không có chức năng thu gom, vận chuyển chất thải diễn ra khá phổ biến, dẫn đến việc đổ thải không đúng quy định, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân

Trước thực trạng đáng lo ngại trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có Quyết định số 4012/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Mục tiêu của quy hoạch là đến năm 2020, 75% chất thải phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn được thu gom và xử lý, trong đó 50% được tái sử dụng và tái chế, đến năm 2030 100% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn được thu gom và

xử lý đảm bảo môi trường

[Uỷ Ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh, 2015]

1.4 Tổng quan về Khu vực nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh

1.4.1.1 Vị trí địa lý và cấu trúc không gian hành chính

Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, phía Bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thành phố Móng Cái) giáp với huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với 132,8 km đường biên giới; phía Đông là vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía Nam giáp Hải Phòng Toàn tỉnh có 14 đơn vị hành chính trong đó: có

4 thành phố, 02 thị xã và 08 huyện; trên địa bàn tỉnh có 186 xã, phường, thị trấn

Giới hạn bởi toạ độ địa lý: Vĩ độ Bắc: 20o40' đến 21o40', Kinh độ Đông:

106o26' đến 108o31

Trang 33

[Khí tượng thủy văn Tỉnh Quảng Ninh, năm, 2015]

Nguồn: Khí tượng thủy văn, 2015

Hình 1: Sơ đồ vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình

Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh thuộc địa bàn nông thôn bao gồm các dạng địa hình đồi, núi, đồng bằng ven biển và đảo

- Địa hình đồi: Lãnh thổ Quảng Ninh nói chung có hai khu vực đồi chính,

vùng đồi Móng Cái - Tiên Yên và vùng Uông Bí - Đông Triều

- Địa hình đồng bằng: Hầu hết đồng bằng của tỉnh Quảng Ninh phân bố ở

phía Nam và Đông Nam, được hình thành do sự bồi đắp của hệ thống sông Thái Bình bao gồm các huyện, thị xã thành phố: Đông Triều, Hoành Bồ, Quảng Yên, Uông Bí và Hạ Long

[Khí tượng thủy văn Tỉnh Quảng Ninh, năm, 2015]

Trang 34

1.4.1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn:

Theo đặc điểm chung, khí hậu Quảng Ninh mang đặc trưng của khí

hậu nhiệt đới gió mùa, biên độ nhiệt độ trong ngày nhỏ Bên cạnh đó, vùng đảo và

biển gần bờ còn có những đặc thù như biên độ nhiệt ngày rất nhỏ

- Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23.70C, dao động không lớn, từ 16.70C đến 28,60C Về mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34.90C, nóng nhất đến 380C Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp là 13.70C rét nhất là 50C

- Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2 mùa Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80- 85% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84% Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất có tháng xuống đến 68%

- Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè Tốc độ gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s

- Quảng Ninh là vùng có mạng lưới sông suối khá dày với mật độ trung bình 1,0-1,9 km/km2, có nơi đến 2,4km/km2 Tuy nhiên, sông suối ở Quảng Ninh thường ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn, khả năng xâm thực sâu mạnh Ngoài ra, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ với chiều dài mỗi sông từ 15 - 35km Diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300km2

[Khí tượng thủy văn Tỉnh Quảng Ninh, năm, 2015]

1.4.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng

Sự phân hoá điều kiện địa hình, khí hậu và thảm thực vật đã dẫn tới việc hình thành nên những nhóm loại đất khác nhau

- Nhóm đất cát có diện tích khoảng 19.955,6 ha (3,4% diện tích đất tự nhiên)

- Nhóm đất mặn có diện tích 33.922,33 ha (6,37% diện tích đất tự nhiên)

- Nhóm đất phù sa có diện tích 15.170,2 ha (2,6% diện tích đất tự nhiên)

Trang 35

- Nhóm đất nâu tím có diện tích 16.719,07ha (2,83% diện tích đất tự nhiên)

- Nhóm đất vàng đỏ là nhóm loại đất phổ biến nhất ở vùng đồi, núi nông thôn diện tích 378.526,84ha (64,2% diện tích đất tự nhiên)

- Nhóm đất mùn vàng đỏ có diện tích 17.727,1ha (3% diện tích đất tự nhiên)

- Nhóm đất nhân tác có diện tích nhỏ khoảng 13.201,3ha (2% đất tự nhiên)

- Và một số loại đất với diện tích nhỏ và phân bố rải rác như nhóm đất phèn

có diện tích 7.456,42 ha, nhóm đất có tầng sét loang lổ có diện tích 4.553 ha, nhóm đất xám có diện tích 5.075,39 ha

[Khí tượng thủy văn Tỉnh Quảng Ninh, năm, 2015]

1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh

1.4.2.1 Đặc điểm dân cư

Dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.177.200 người (năm 2014) có 22 dân tộc,

cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa, Nùng và Mường, Thái, Kh'me, Hrê, Hmông, Êđê, Cờ Tu…

Mật độ dân số của tỉnh Quảng Ninh là 186 người/km2, nhưng phân bố không đều Vùng đô thị và các huyện miền Tây rất đông dân, thành phố Hạ Long 739 người/km2, thị xã Quảng Yên 415 người/km2, thị xã Đông Triều 390 người/km2

Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30 người/km2, Cô Tô 110 người/km2, Vân Ðồn 74 người/km2

Kết cấu dân số ở Quảng Ninh có một số nét đáng chú ý sau Trước hết là "dân số trẻ", tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 37,6% Người già trên 60 tuổi (với nam) và trên

55 tuổi (với nữ) là 7,1% Các huyện miền núi tỉ lệ trẻ em dưới tuổi lao động còn lên tới 45% Nét đáng chú ý thứ hai là ở Quảng Ninh, nam giới đông hơn nữ giới (nam chiếm 50,9 %, nữ chiếm 49,1%) Ngược với tỷ lệ toàn quốc Ở các địa phương có ngành công nghiệp mỏ, tỷ lệ này còn cao hơn

Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Quảng Ninh đứng thứ 3 trên toàn quốc (sau TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng), dân số thành thị là 575.939 người (chiếm tỷ lệ 50,3%); Dân số ở khu vực nông thôn là 568.442 người

Trang 36

Tôn giáo: Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Văn hoá Hạ

Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ: Phật giáo, Ky Tô giáo, thờ cúng tổ tiên và một vài tín ngưỡng dân gian khác

[Cục thống kê Tỉnh Quảng Ninh, năm 2015]

1.4.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Quảng Ninh là một tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú về nhiều mặt Đó là những tiềm năng to lớn để tỉnh phát triển một nền kinh tế khá toàn diện

từ sản xuất công, nông, ngư nghiệp đến phát triển thương mại, dịch vụ Đặc biệt là Quảng Ninh có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn Chính vì vậy mà Quảng Ninh đang là một một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế của vùng tam giác

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

 Về sản xuất nông nghiệp:

Quảng Ninh không có điều kiện để trồng cây lương thực thực phẩm như các tỉnh khác ở vùng đồng bằng Sông Hồng Thay vào đó, tỉnh đang chú trọng phát triển các loại cây công nghiệp và ăn quả như thông, chè, dứa, nhãn, vải

Ngành chăn nuôi của tỉnh cũng rất phát triển với các loại vật nuôi như trâu, bò, lợn, bê, gà, ngan Quảng Ninh cũng là nơi nhập nhiều giống ngoại: trâu Mu-ra ấn

Độ, bò Sinơ ấn Độ, bò sữa Hà Lan, ngựa, cừu, dê Mông Cổ Thế mạnh nông nghiệp của tỉnh là thuỷ hải sản Hiện nay, Quảng Ninh là một trong 4 ngư trường lớn nhất

cả nước Dọc chiều dài 250 km bờ biển Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi biển, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục nghìn ha vũng nông ven bờ là môi trường thuận lợi

để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu

- Trồng trọt: Diện tích gieo trồng ha, sản lượng lương thực cây có hạt cả năm ước đạt 237.521 tấn

- Chăn nuôi: trên địa bàn có 155 trang trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ, trong

đó có: 111 trang trại lợn; 36 trang trại gia cầm; 8 trang trại trâu bò Toàn tỉnh có 04

cơ sở giết mổ, chế biến gia súc gia cầm đang hoạt động

Trang 37

- Lâm nghiệp: Công tác trồng mới rừng tập trung năm 2014 đạt 11.121 ha;

Độ che phủ của rừng ước đạt 54%

- Thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản ước thực hiện năm 2014: 83.011 tấn Giá trị thuỷ sản xuất khẩu ước đạt 24,8 triệu USD

- Diện tích cây chè hiện có 1.181 ha chè sản xuất kinh doanh, năng suất trung

bình đạt 7,7 tấn/ha, điển hình có một số diện tích đạt trên 12 tấn/ha cao gấp 2 lần

năng suất bình quân chung

b) Về chăn nuôi:

Tổng số lượng đàn gia súc, gia cầm tính đến 31/12/2014 đàn gia súc, gia cầm có: Đàn trâu 56.617 con; đàn Bò 21.703 con; đàn lợn (không kể lợn sữa) 330.832 con, trong đó lợn nái 33.012 con; đàn gia cầm 2,52 triệu con, Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 33.202 tấn; trứng gia cầm các loại 45.987 quả, sản lượng sữa bò tươi 450 tấn Toàn tỉnh hiện có 3 cơ sở giết mổ, chế biết gia súc, gia cầm tập trung đang hoạt động;

Chăn nuôi vẫn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh nên số lượng đàn gia súc, gia cầm giảm nhẹ Chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân đang giảm mạnh, chăn nuôi trang trại tập trung nuôi công nghiệp đang có xu hướng phát triển Toàn tỉnh hiện có

Trang 38

155 trang trại chăn nuôi qui mô vừa và nhỏ, chăn nuôi tập trung công nghiệp (trong

đó chăn nuôi lợn 111, gia cầm 36, trâu, bò 8)

- Năm 2014 đã xảy ra dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn, dịch lở mồm long móng gia súc tại 53 xã, phường ở 9 địa phương trong tỉnh Tổng số gia súc, gia cầm bị chết và phải tiêu hủy là 7.160 con gia cầm, 322 con lợn, 231 con bê, nghé Toàn tỉnh đã tổ chức tiêm phòng được: Bệnh lở mồm long móng gia súc 171.644 liều; bệnh dại 41.990 liều; tụ huyết trùng trâu bò 97.780 liều; tiêm phòng cho lợn 209.899 liều; văc xin gia cầm 118.618 liều Năm 2014, Tỉnh cấp 10.051 lít hoá chất cho các địa phương phun khử trùng tiêu độc ở những nơi có nguy cơ xảy ra bệnh dịch và khử trùng cho 16.698 lượt các phương tiện vận chuyển gia súc, thịt động vật

từ tỉnh ngoài vào tỉnh

1.4.2.2 Định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh

Các chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp qua các giai đoạn của tỉnh

Quảng Ninh được định hướng như sau:

Bảng 1.14 Chỉ tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh

Tốc độ phát triển bình quân (theo giá năm 1994): 2010-2015 2015-2020

6,07 7,35 Trong đó: + Trồng trọt 2,34 2,00

Trang 39

Bảng 1.15 Diện tích trồng và sản lƣợng một số sản phẩm nông nghiệp chính

đến năm 2020 tỉnh Quảng Ninh

2 Cây ăn quả 10.000 11.000 25.029 29.500

Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT [2015]

b Chăn nuôi:

Sản phẩm chính của ngành chăn nuôi là thịt bò, thịt lợn, thịt trâu thịt gia cầm

và sữa tươi Tăng nhanh đàn gia súc với tốc độ trung bình 10%/năm và đàn gia cầm

là 17%/ năm Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng trang trại tập trung, nuôi bằng phương pháp công nghiệp, hình thành các vùng cung cấp nguyên liệu ổn

Trang 40

định cho các lò mổ tập trung trên địa bàn tỉnh Quy mô chăn nuôi của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 như sau:

Bảng 1.16 Quy mô chăn nuôi của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020

2015 Năm 2020

Tốc độ PT BQ/năm (%/) 2020/2008

Ngày đăng: 09/01/2018, 16:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w