Giả thuyết nghiên cứu Trong tình hình BĐKH hiện nay, nếu không tính đến các giải pháp thích ứnglâu dài, xây dựng mô hình thích ứng phù hợp với điều kiện địa phương, việc sản xuất và p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM LAN HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI XÃ VINH QUANG, TIÊN LÃNG,
HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
PHẠM LAN HƯƠNG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI XÃ VINH QUANG, TIÊN LÃNG,
HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ
21 Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã xác nhận rằng biến đổi khí hậu thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế giới Đặc biệt, khu vực Châu Á/ Thái Bình Dương đã có nhiều bằng chứng xác thực cả về cường độ lẫn tần suất của nhiều sự kiện cực đoan do BĐKH gây ra như sóng nhiệt, bão nhiệt đới, mùa khô kéo dài, lượng mưa dữ dội, lốc xoáy, lở tuyết, giông bão nghiêm trọng (IPCC, 2007)[26]
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Liên hợp quốc về chiến lược giảm nhẹ nguy
cơ thiên tai (UNISDR), thiệt hại vật chất trung bình,1,6 tỷ USD/năm (bằng 1,8% GDP), gần 80% cư dân bị ảnh hưởng và hơn 3.100 người thiệt mạng Đó là những
"con số biết nói" về hậu quả của thảm họa thiên nhiên đối với các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương Con số thiệt hại cụ thể ở Inđônêxia là 1,2% GDP, ở Việt Nam là 1,8% GDP, ở Myanmar 1,9% GDP, Malaysia 1% GDP, Campuchia và Lào là 1,7% GDP (UNISDR) đánh giá trong năm 2012) Lũ lụt là thiên tai xảy ra thường xuyên nhất tại khu vực châu Á, chiếm đến 44% UNISDR cho rằng lũ lụt và bão tố vẫn là những mối đe dọa chính cho khu vực châu Á mà ví dụ là siêu bão Bopha hoành hành ở Philippin làm hơn 500 người thiệt mạng
Một trong các lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là nông nghiệp
và an ninh lương thực Trong đó, an ninh lương thực là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của toàn cầu.Bên cạnh các cuộc khủng hoảng về kinh tế, thế giới cũng đang phải đối mặt với nguy cơ cuộc khủng hoảng lương thực Theo Liên Hợp Quốc, dân số thế giới dự kiến sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ vào năm 2050; sản xuất nông nghiệp sẽ cần phải tăng 70% để đáp ứng nhu cầu vào thời điểm đó Có lẽ hơn lúc nào hết, thế giới đã nhận thức rõ ràng một nguy cơ mới ngày càng hiện hữu,
đó là một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu rất có thểxảy ra trong tương lai không xa, đặc biệt khi dân số thế giới đang tiến nhanh tới mốc 9 tỉ vào năm 2050
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực;
nó tạo ra lương thực thực phẩm để con người sử dụng và nó cung cấp nguồn sinh kế chính cho 36% tổng số lao động trên thế giới Ở các quốc gia đông dân cư của Châu Á
Trang 4và Thái Bình Dương, tỷ lệ này chiếm khoảng 40-50%, và ở vùng cận Sahara – Châu Phi, 2/3 dân số lao động có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp Nếu sản xuất nông nghiệp ở các nước có thu nhập thấp, các nước đang phát triển của Châu Á và Châu Phi
bị ảnh hưởng bất lợi do biến đổi khí hậu, đời sống của một số lượng lớn người nông dân nghèo sẽ bị đặt vào rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương của họ đến an ninh lương thực sẽ bị tăng lên (ILO,2007)[25]
Làm sao để bảo đảm an ninh lương thực quả là bài toán vô cùng hóc búa của nhân loại, nhất là trong bối cảnh tình trạng xung đột và bất ổn, dịch bệnh và thời tiết đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cảnh báo, những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu và thời tiết, dân số tăng nhanh, tác động tiêu cực của dịch bệnh và xung đột liên miên tại nhiều quốc gia đang khiến tình hình an ninh lương thực toàn cầu xấu đi.Mặc dù, hiện nay, cả thế giới chưa rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng như trong năm 2007-2008 nhưng đây là một nguy cơ có thể trở lại bất cứ lúc nào nếu các quốc gia
và cộng đồng quốc tế không nhanh chóng phối hợp hành động để đối phó với tình trạng giá lương thực đang tăng cao
Cũng theo FAO, 2008, BĐKH sẽ tác động đến cả 4 yếu tố của an ninh lương thực: nguồn lương thực sẵn có, khả năng tiếp cận lương thực, sử dụng lương thực và
hệ thống lương thực ổn định Nó sẽ tác động đến sức khỏe con người, khả năng sinh
kế, sản xuất lương thực thực phẩm và các kênh phân phối, tác động của nó bao gồm cả ngắn hạn, tác động ngày càng thường xuyên và mãnh liệt hơn với các hiện tượng thời tiết cực đoan; và dài hạn được biểu hiện qua việc thay đổi nhiệt độ và lượng mưa
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn đã phát biểu:“Nền sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có những bước tăng trưởng rất mạnh, ấn tượng trong một phần tư thế kỷ vừa qua Tuy nhiên, thu nhập của người nông dân trồng lúa hiện nay vẫn bấp bênh, không được đảm bảo Việc
đề xuất những chính sách an ninh lương thực bền vững hướng đến người trồng lúa, người nghèo là hết sức cần thiết”
Làm thế nào để có thể tìm ra nguồn lương thực phục vụ nhu cầu của người dân Việt Nam trong tương lai mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững là vấn đề đặt ra đối với
Trang 5ngành nông nghiệp nước nhà khi phải đối phó trước nhiều áp lực Hiện nay, ngành nông nghiệp của Việt Nam đã đạt được các thành tựu rất đáng kể và đóng vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc đảm bảo ANLT, chiếm gần 21% GDP của đất nước và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của gần 80% dân số cả nước Tuy vậy, trước vấn đề tăng nhanh của dân số đồng nghĩa với chi tiêu lương thực của các gia đình Việt Nam tăng cao Việc tìm ra nguồn lương thực lớn mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững là một vấn
đề khó khăn của ngành nông nghiệp Việt Nam Ông Đào Quốc Luận, Vụ Phó Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôncho biết: “Khó khăn lớn nhất mà ngành nông nghiệp nước nhà gặp phải đó chính là việc ứng phó với biến đổi khí hậu
và quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh”
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thường xuyên phải đối mặt các loại hình thiên tai, làm thiệt hại to lớn về vật chất và con người Do vậy, sản xuất nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều Điển hình, năm 2007, thiên tai đã làm 113.800
ha lúa bị thiệt hại Đầu năm 2008, trận rét lịch sử kéo dài 40 ngày đã làm hơn 150 nghìn hecta lúa, 9.600 ha mạ bị chết, chỉ tính riêng về giống thiệt hại đã lên tới 180 tỷ đồng(GS.TS Đào Xuân Học)[4].Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), nước
ta có đường bờ biển dài với hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao (0,2 – 0,6)m sẽ có từ (100.000 – 200.000)ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp, nếu mực nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 – 0.5 triệu ha tại đồng bằng Sông Hồng và những năm lũ lớn khoảng trên 90% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4-5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích đất
bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l Ước tính Việt Nam sẽ bị mất khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến
an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng”
2 Mục tiêu của đề tài
Tổng quan được các nghiên cứu về tình hình an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 6Xác định và đánh giá được những tác động lâu dài của BĐKH cũng như những biểu hiện thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến ANLT của địa phương
Đề xuất được những giải pháp cụ thể và xây dựng được mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm đảm bảo ANLT bền vững cho địa phương nghiên cứu và có thể
áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sản xuất nông nghiệp, cụ thể là hoạt động canh tác lúa tại địa phương, các giai đoạn gieo trồng, thu hoạch của người dân trong tình hình BĐKH hiện nay
Đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm: các yếu tố thời tiết, khí hậu; các điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tại địa phương; hoạt động canh tác lúa tại địa phương nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng
Về thời gian: Luận văn được thực hiện từ tháng 3/2015 đến tháng 12/2016 Các
số liệu được tra cứu trong khoảng thời gian 30 năm trở lại đây
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt cho luận văn như sau:
1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của địa phương nghiên cứu có đặc điểm
gì nổi bật phù hợp để thực hiện đề tài nghiên cứu
2 Xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu chính (nhiệt độ, lượng mưa) tại xã Vinh Quang trong những năm gần đây như thế nào?
3 Những loại hình thiên tai nào tác động đến hoạt động canh tác lúa tại địa phương?
4 Những điều kiện thời tiết cực đoan diễn ra tại địa phương có tác động như thế nào đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa?
5 Những khó khăn hiện nay địa phương đang phải đối mặt trong hoạt động sản xuất lúa là gì?
6 Địa phương đã có những biện pháp gì để khắc phục những khó khăn đó và biện pháp phòng chống thiên tai đã áp dụng tại địa phương
Trang 75.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trong tình hình BĐKH hiện nay, nếu không tính đến các giải pháp thích ứnglâu dài, xây dựng mô hình thích ứng phù hợp với điều kiện địa phương, việc sản xuất và phát triển nông nghiệp nói chung và cụ thể là canh tác lúa của địa phương sẽ bị tác động đáng kể về năng suất, sản lượng; dẫn đến tình hình an ninh lương thực địa phương không được đảm bảo.Do đó, việc xây dựng mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng rất cần thiết, từ đó có những điều chỉnh toàn diện về cách thức sản xuất, thời gian gieo trồng, thu hoạch, giồng lúa…đảm bảo cho sản lượng và chất lượng lương thực địa phương ổn định
6 Ý nghĩa đề tài
Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn để địa phương áp dụng vào thực
tế, góp phần đảm bảo ANLT tại địa phương và có thể làm tài liệu tham khảo cho những khu vực có điều kiện tương đồng
7 Kết cấu luận văn
Luận văn có cấu trúc theo quy định, gồm:
Phần mở đầu: Đây là phần nêu lên tính cấp thiết của nghiên cứu, lý do cần phải thực hiện nghiên cứu này Đồng thời đưa ra các mục tiêu, đối tượng, phạm vi, giả thuyết, ý nghĩa và tóm tắt sơ lược về kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu – điều kiện tự nhiên xã hội của địa phương Nội dung của chương bao gồm các tài liệu được học viên thu thập và tham khảo, tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến an ninh lương thực trên thế giới và tại Việt Nam, các tài liệu khoa học về sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Phần cuối của chương tóm tắt về điều kiện tự nhiên – xã hội của địa phương nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu Nội dung của chương bao gồm tổng hợp và trình bày các phương pháp được học viên sử dụng trong đề tài nghiên cứu Các nguồn số liệu được học viên thu thập và sử dụng trong đề tài
Chương 3: Kết quả và thảo luận Chương này được học viên chia làm 2 phần Một là đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa tại địa phương Trong phần này được học viên trình bày và phân tích cụ thể xu thế biến đổi của một số yếu tố khí hậu tại địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) dựa vào các nguồn số liệu thu thập được từ trạm quan trắc Phù Liễn – Hải Phòng giai đoạn 1990 – 2015; tổng quan tình hình canh tác lúa của địa phương giai đoạn 2000 – 2014; phân tích kết quả mối
Trang 8tương quan giữa các yếu tố khí hậu với năng suất lúa tại địa phương để đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa tại xã Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng
Hai là mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng Từ việc phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động canh tác lúa trong phần 1, học viên đã lập quy trình mô phỏng mối liên quan giữa tình hình an ninh lương thực tại địa phương với các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất lúa Từ đó, có định hướng để xây dựng
mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng địa phương
Kết luận – khuyến nghị: Phần này tóm tắt các kết quả chính thu được trong đề tài nghiên cứu và nêu lên một số khuyến nghị cho địa phương và các bên liên quan
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Khái niệm, định nghĩa:
An ninh lương thực
Theo Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) (2002), Trade reform and security food[23], hiện nay có hơn 200 định nghĩa về “An ninh lương thực”, mỗi cách tiếp cận đưa ra một quan niệm về an ninh lương thực khác nhau
Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới (WFS), dưới sự bảo trợ của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), năm 1996 đã đưa ra khái niệm về an ninh lương thực trong Kế hoạch hành động của mình như sau: “An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận
cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh.” (WFS, 1996) [32]
An ninh lương thực là kết quả của hệ thống thực phẩm xử lý tất cả dọc theo chuỗi thức ăn Khí hậu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực thông qua tác động của nó trên tất cả thành phần của toàn cầu, quốc gia và hệ thống lương thực của địa phương Biến đổi khí hậu là có thật, và tác động đầu tiên của nó được cảm nhận là ảnh hưởng đến con người, hệ thống thực phẩm bị tổn thương, một số nhóm sinh kế cần được hỗ trợ ngay lập tức.(FAO,2008)[24] Đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh BĐKH cũng là tránh sự gián đoạn hoặc giảm trong nguồn cung cấp lương thực toàn cầu và địa phương có thể xảy ra do sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, các loại sâu bệnh mới phát triển…Tăng năng suất lương thực từ việc cải thiện quản lý nước nông nghiệp, hiệu quả sử dụng nước, chất lượng đất, khả năng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt…
Theo chương trình lương thực thế giới WFP, an ninh lương thực là khi con người luôn có sẵn và được đáp ứng đầy đủ mọi lúc, an toàn, thực phẩm giàu dinh dưỡngđể duy trì một cuộc sống khỏe mạnh và năng động Các nhà phân tích an ninh lương thực nhìn vào sự kết hợp của 3 yếu tố chính sau đây:
Nguồn lương thực sẵn có: lương thực phải sẵn có và một tiêu chuẩn nhất quán Nó được xem như nguồn cung cấp và sản xuất trong một khu vực nhất định và khả năng vẩn chuyển lương thực đến một nơi khác thông qua thương mại và viện trợ
Trang 10 Tiếp cận lương thực: mọi người phải có khả năng được đáp ứng đầy đủ lương thực một cách đều đặn, liên tục thông qua việc mua, sản xuất, trao đổi hàng hóa, quà tặng, vay hay viện trợ lương thực
Sử dụng lương thực: Lương thực phải có một tác động tích cực đến dinh dưỡng của con người Nó đòi hỏi các quy trình nấu nướng, bảo quản, vệ sinh , y tế, nguồn nước, các hệ thống bảo vệ sức khỏe cộng đồng, sự cung cấp và bồi dưỡng trong gia đình
Tóm lại, an ninh lương thực hay an ninh lương thực quốc gia được hiểu là sự đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn cung cấp lương thực cho người dân để hạn chế và đẩy lùi tình trạng thiếu lương thực, nạn đói và tình trạng phụ thuộc vào nguồn lương thực nhập khẩu
Biến đổi khí hậu
“Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc khai thác sử dụng đất.” (IPCC,2007)[26]
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đối khí hậu (IPCC) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước Như vậy, ở đây vấn đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước
Còn với nghiên cứu của Burton (1998) lại cho rằng: Thích ứng với BĐKH là một quá trình mà con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại Ở đây thích ứng là làm thế nào giảm nhẹ tác động BĐKH, tận dụng những thuận lợi nếu
có thể
Như vậy, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên hoặc xã hội trong ứng phó với tác nhân kích thích hiện tại hoặc dự báo hay tác động của chúng,
Trang 11nhằm mục đích làm nhẹ sự thiệt hại hoặc khai thác cơ hội thuận lợi mà nó mang lại (IPCC,2007); Thích ứng với BĐKH là giảm thiểu và ứng phó với những rủi ro BĐKH
đã gây ra đối với cuộc sống và sinh kế của người dân.(FAO,2008)[24]
Đểcó thểgiảm khảnăng bịtổn thương do biến đổi khí hậu, chúng ta phải tập trung xây dựng năng lực thích ứng, đặc biệt của những người dễbịtổn thương nhất; và trong một sốtrường hợp, làm giảm sự đối mặt hoặc sựnhạy cảm tới tác động khí hậu Chúng ta phải đảm bảo rằng những sáng kiến phát triển không làm tăng khảnăng bịtổn thương một cách tình cờ Chúng ta gọi quy trình này là sựthích ứng.(CARE International)[22]
Thích ứng với Biến đổi khí hậu là một quá trình, trong đó những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đối phó với tác động của sự kiện khí hậu
và lợi dụng những mặt thuận lợi của chúng (IPCC, 2007)[26]
Trang 12 Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH Đồng thời, thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cố gắng tính đến tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu lên sinh kế và giảm tình trạng dễ bị tổn thương với thiên tai bằng cách sử dụng tri thức bản địa và kiến thức khoa học về biến đổi khí hậu và tác động có thể có của nó (Care, 2009, CVCAhandbook)[22]
Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng là một cách tiếp cận quan trọng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là ở các nước đang phát triển Biến đổi khí hậu tác động khác nhau lên mỗi khu vực địa lý, với mỗi đối tượng và nguồn sinh
kế Do vậy, chỉ có dựa vào cộng đồng thì mới hiểu rõ những tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu với họ và do đó mới có các giải pháp phù hợp đặc trưng và làm lợi cho chính họ (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2014, Tài liệu hướng dẫn).[2]
Hình1.2 Cách thức tiếp cận trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Nguồn:CARE (2009) [22]
Bảng1.1.Các hình thức tham gia của cộng đồng địa phương
Tham gia bị động
Người tham gia được thông báo về những gì đã, đang và
sẽ xảy ra Những thông tin này được cung cấp bởi chính quyền địa phương hay từnhững dự án Tuy nhiên, không có sự lắng nghe những ý kiến phản hồi từ cộng đồng Những thông tin được đem ra chia sẻ thuộc về những chuyên gia bên ngoài
Trang 13Tham gia thông
qua thảo luận
Người tham gia cùng thảo luận và các nhà khoa học/điều tra nghe những quan điểm này Những nhà khoa học này sẽ xác định các vấn đề và giải pháp, có thể có sự điều chỉnh nhỏ từ những phản hồi của người dân Tuy nhiên, quá trình tham vấn cộng đồng này lại không bao gồm quá trình ra quyết định, và những nhà khoa học này không bắt buộc phải xem xét tới quan điểm của cộng đồng
Tham gia với
Tham gia với chức
năng nhất định
Người dân tham gia bằng cách lập những nhóm phù hợp với những yêu cầu đặt ra trước đó của dự án Sự tham gia này không phải ngay từ giai đoạn đầu quá trình lập kế hoạch của
dự án mà thường sau khi những quyết định quan trọng đã được thông qua Phương thức này có tính phụ thuộc nhiều vào những đối tượng bên ngoài hơn là chính cộng đồng
Tham gia có tính
tương tác
Sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu quá trình xây dựng dự
án ở địa phương Do đó họ có thể có những quyết định liên quan tới các kế hoạch hành động,và thiết lập một tổ chức chính quyền địa phương mới – hay tăng cường năng lực cho chính quyền hiện tại Nó có xu hướng liên quan tới phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành – tức là xem xét tới nhiều quan điểm khác nhau, áp dụng quá trình nghiên cứu tổng hợp và có
Trang 14cấu trúc Nhóm tham gia này đại diện cho quyết định của cộng đồng, do đó đảm bảo cộng đồng có tác động trong việc duy trì cơ cấu tổ chức hay thực hiện chính sách
Nguồn: Pretty (1995), adapted from Pretty (1994), Satterthwaite (1995); Adnan et al.(1992),
Hart (1992)
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH và các mô hình thích ứng trong lĩnh vực an ninh lương thực:
1.2.1 Các nghiên cứu về giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hoan[10], trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển, cây lúa trải qua 3 thời kỳ lớn: thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, thời kỳ sinh trưởng sinh thực, thời kỳ hình thành hạt và chín Trong ba thời kỳ sinh trưởng của cây lúa trải qua
10 giai đoạn phát triển:
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: 4 giai đoạn(0-3)
Giai đoạn 0: từ nứt nanh đến nảy mầm, hạt lúa hình thành rễ và mầm
Giai đoạn 1: giai đoạn mạ, bắt đầu từ lá thật đầu tiên đến trước khi nhìn thấy nhánh thứ nhất, từ khi cây mạ có 1 lá đến khi có 4-5 lá thật
Giai đoạn 2: giai đoạn đẻ nhánh, bắt đầu từ khi cây lúa có nhánh đầu tiên đến khi cây lúa có nhánh tối đa là giai đoạn quyết định số nhánh và chất lượng nhánh
Giai đoạn 3: giai đoạn vươn lóng (giai đoạn làm đốt), bắt đầu từ cuối giai đoạn đẻ nhánh hoặc ngay trước giai đoạn hình thành đòng, lóng được hình thành và vươn dài
Giai đoạn 1,2,3 thuộc thời kỳ thứ nhất của cây lúa – thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Giai đoạn này dài hay ngắn khác nhau tùy theo giống
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: gồm 3 giai đoạn (4-6)
Giai đoạn 4: phân hóa đòng đến đòng già (giai đoạn làm đòng), khi trên đỉnh sinh trưởng hình thành bông nguyên thủy Từ giai đoạn bông nguyên thủy cây lúa còn hình thành được 2 lá nữa, không kể lá đòng Giai đoạn 4 kết thúc khi cây lúa có đòng già, chuẩn bị trỗ bông
Giai đoạn 5: giai đoạn trỗ bông, bắt đầu từ khi các hoa đầu tiên của bông nhô
ra khỏi đòng đến khi lóng trên cùng không dài thêm được nữa
Giai đoạn 6: giai đoạn nở hoa (lúa phơi màu hay giai đoạn phơi màu)
Trang 15Giai đoạn 4-6 thuộc thời kỳ thứ 2 của cây lúa Thời kỳ này kéo dài 35 ngày và ổn định ở tất cả các giống không phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng dài hay ngắn
Thời kỳ hình thành hạt và lúa chín: gồm 3 giai đoạn (7-9)
Giai đoạn 7: chín sữa Trong hạt lúa tích lũy dạng vật chất giống như sữa
Giai đoạn 8: chín sáp Hạt gạo đã hình thành rõ nhưng vẫn mềm, vật chất tích lũy giống như sáp
Giai đoạn 9: chín hoàn toàn Hạt gạo hoàn chỉnh với nội nhũ và phôi, vỏ trấu
có màu vốn có của giống (vàng, nâu, đen, tím…)
Giai đoạn 7-9 thuộc thời kỳ thứ 3 của cây lúa, bắt đầu từ khi lúa phơi màu đến khi hạt chín hoàn toàn kéo dài khoảng 30-35 ngày ở tất cả các giống
Theo chuyên mục “kiến thức trồng lúa” do website của Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vĩnh Phúc[33]: Mỗi một giai đoạn phát triển của cây lúa đều liên quan mật thiết đến yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất hạt = Số bông/m2 X Số hạt/bông X Tỉ lệ hạt chắc/bông (%) X Khối lượng 1.000 hạt
Hầu như mỗi một yếu tố cấu thành năng suất lúa đều liên quan đến một giai đoạn phát triển cụ thể của cây lúa, mỗi một yếu tố đóng một vai trò khác nhau nhưng đều nằm trong một hệ quả liên hoàn tạo nên hiệu suất cao nhất mà trong đó các yếu tố đều có liên quan mật thiết với nhau Như vậy mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển đều liên quan và tạo nên năng suất hạt sau này Vì vậy, chăm sóc, quản lý tốt ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây lúa là điều hết sức cần thiết để nâng cao hiệu suất và năng suất cây lúa Số nhánh lúa sẽ quyết định số bông và đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để có năng suất cao Có thể nói số bông đóng góp trên 70% năng suất, trong khi đó số hạt/bông, số hạt chắc/bông và trọng lượng hạt đóng góp gần 30%
Theo Nguyễn Hữu Tề và cô ̣n g sự [6], Số bông/đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, số nhánh, điều kiện ngoại cảnh và yếu tố kỹ thuật (như phân bón, nhiệt độ, ánh sáng ) Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng như số hoa thoái hóa Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực Và số gié, số hoa phân hóa đư ợc quyết định ngay từ thời kỳ đầu của giai đoa ̣n làm đòng (bước 1-3) Thời kỳ này bị ảnh hưởng bởi sinh trưởng của cây lúa và điều kiện ngoại cảnh, các yếu tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thoái hóa hoa Thời
kỳ thoái hóa hoa thường bắt đầu vào bước 4 đến bước 8 của giai đoạn làm đòng t ức là khoảng 10-12 ngày trước trỗ Nguyên nhân chủ yếu do thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ làm
Trang 16đòng hoặc do ngoại cảnh bất thuận như trời rét, âm u, thiếu ánh sáng, bị ngập, hạn, sâu bệnh ngoài ra cũng có nguyên nhân do đặc điểm của một số giống
Tỉ lệ hạt chắc/bông (%): tăng tỉ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là giảm tỉ lệ hạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa Tỉ lệ hạt chắc trên bông được quyết định ở thời kỳ trước và sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất thuận trong thời kỳ này thì tỉ lệ lép sẽ cao Tỉ lệ hạt lép/bông không chỉ bị ảnh hưởng của các yếu
tố nói trên mà còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của giống Thường tỉ lệ hạt lép biến động tương đối lớn, trung bình từ 5-10 %, ít là 2-5 %, cũng có khi trên 30 % hoặc thậm chí còn cao hơn nữa
Từ những phân tích trên, ta thấy rõ những yếu tố ngoại cảnh bất thuận do thời tiết ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa Đặc biệt, những yếu tố ngoại cảnh này sẽ ảnh hưởng rõ rệt trong các giai đoạn phát triển của cây lúa: giai đoạn làm đòng; giai đoạn lúa trỗ
Theo Shouichi Yoshida [29], nhiệt độ, bức xạ mặt trời, lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp bằng việc tác động đến quá trình sinh lý liên quan đến sản lượng lương thực,
và gián tiếp thông qua các bệnh và côn trùng Các yếu tố này thường khó tách biệt với nhau
Từ phương pháp điều tra thực địa và phương pháp điều tra xã hội học, tác giả thu thập được thông tin về thời gian canh tác hai vụ sản xuất lúa chính của địa phương: vụ chiêm bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm, vụ mùa từ tháng 7 đến 10
Hình 1.3 Phân bố các vụ lúa tại 3 miền trong cả nước (Nguồn: [35])
Trang 17Hình 1.4 So sánh 3 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thời gian
sinh trưởng khác nhau (Nguồn:Nguyễn Ngọc Đệ,[7])
Theo Nguyễn Ngọc Đệ [7], quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được chia theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn tăng trưởng: bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn
Trang 18 Giai đoạn sinh sản: bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trỗ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều
Giai đoạn lúa chín: bắt đầu từ lúc trỗ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới
Theo Shouichi Yoshida (1981)[29], thời gian sinh trưởng của cây lúa chia làm 2 giai đoạn chính là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trưởng dinh dưỡng, sinh thực và chín Thời gian sinh trưởng của cây lúa thường chiếm từ 90 – 180 ngày từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và môi trường sinh trưởng Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh trưởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín chiếm 30 ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
Từ việc xác định chính xác thời vụ dựa vào quy trình sinh trưởng phát triển của cây lúa thông qua các tài liệu nghiên cứu khoa học đã được dẫn chứng nêu trên và điều tra thực địa giúp tác giả xác định được các khoảng thời gian trong các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa tại xã Vinh Quang như sau:
Bảng 1.2 Các giai đoạn phát triển của cây lúa trong từng vụ canh tác
Giai đoạn gieo mạ
Giai đoạn làm đòng
Giai đoạn lúa trỗ Giai đoạn thu
32oC Thời kỳ sinh trưởng sinh thực nhiệt độ thích hợp là 24-28oC khi nhiệt độ > 40oC làm hạt phấn chết hoặc ngừng phân hóa Nếu nhiệt độ < 20oC làm hạt lúa bị lép nhiều Phản ứng của cây lúa với điều kiện nhiệt độ thể hiện ở bảng sau:
Trang 19Bảng 1.3 Phản ứng của cây lúa trong từng giai đoạn với điều kiện nhiệt độ
Giai đoạn sinh trưởng Nhiệt độ tới hạn (
Nguồn: Shouichi Yoshida -1981[29]
Ánh sáng: cường độ ánh sáng thích hợp cho cây lúa 500-600 calo/cm2/ngày Miền Bắc tháng 4-6, tháng 8-10 là thích hợp Chất lượng ánh sáng phụ thuộc vào độ dài bước sóng của ánh sáng và quần thể ruộng lúa
Nước: cây lúa yêu cầu lượng nước lớn trong quá trình sinh trưởng, phát triển
và tạo năng suất Từng giai đoạn khác nhau cây lúa yêu cầu lượng nước khác nhau Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa có 2 giai đoạn cần nhiều nước: từ khi cấy đến khi đẻ nhánh và từ phân hóa đòng đến chín sáp Theo Nguyễn Việt Long [9], nước là thành phần chính của cây lúa, điều tiết các quá trình sinh trưởng phát triển, giúp quá trình vận chuyển, làm mát cây và làm cho cây cứng chắc Một vụ lúa cần lượng mưa 900-1100mm Việc tưới nước đủ cho lúa là một việc làm bắt buộc thường xuyên khi thâm canh Nếu thiếu hụt nước vào giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có thể làm giảm chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá nhưng năng suất không bị ảnh hưởng nếu như nhu cầu nước được đáp ứng kịp thời; tuy nhiên, nếu thiếu nước giai đoạn phân bào giảm nhiễm đến trỗ bông (nhất là vào thời gian 11 ngày và 3 ngày trước trỗ bông) chỉ cần hạn 3 ngày đã làm giảm năng suất rất nghiêm trọng và tỷ lệ hạt lép cao (Shouichi Yoshida, 1981)[29]
Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu có tính quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm Nếu lượng mưa phân phối không đều, gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi,
Trang 20mùa khô lại không đủ nước tưới Ngay trong mùa mưa, đôi khi lại có khoảng thời gian nắng kéo dài làm trở ngại cho sinh trưởng của cây lúa Nếu công tác thủy lợi được thực hiện tốt, ruộng lúa chủ động nước thì mưa không có lợi cho sự gia tăng năng suất lúa Ngược lại, mưa nhiều, gió to, trời âm u, bão đến thất thường, ít nắng, cây lúa sẽ phát triển không thuận lợi Mưa kéo dài còn tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển làm hại lúa Ở giai đoạn làm đòng và trỗ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, sự thụ phấn, thụ tinh và chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, làm giảm năng suất lúa.(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)[7]
Bảng 1.4 Yêu cầu nước qua từng thời kỳ sinh trưởng
(Nguyễn Việt Long, 2013)[9]
Thời kỳ nảy mầm Cần lượng nước 25-28% so với trọng
lượng của hạt Thời kỳ mạ
Sau gieo đến mũi chông giữ ẩm thường xuyên, thời kỳ 3-4 lá giữ một lớp nước 4-
5 cm
Thời kỳ trên ruộng lúa Giữ một lớp nước thường xuyên 5-10 cm
trên mặt ruộng Theo Shouichi Yoshida [29], từ quan điểm là một nhà sinh lý học cây trồng, thời vụ, năng suất và sự ổn định là những khía cạnh quan trọng trong việc trồng lúa, yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến các khía cạnh đó theo những con đường khác nhau
Cũng theo Yoshida, nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của cây lúa Nhiệt độ lạnh làm ảnh hưởng đến sức nảy mầm, mạ ra lá chậm, mạ lùn, lá vàng, đỉnh bông bị thoái hóa, độ thoát cổ bông kém, chậm ra hoa, tỷ lệ lép cao và chín không đều Cây lúa rất mẫn cảm với nhiệt độ cao lúc trỗ bông, khi gặp nhiệt độ trên
35oC kéo dài hơn 1 giờ vào lúc lúa nở hoa làm cho tỷ lệ hạt lép tăng rõ rệt
1.2.2 Tổng quan về tác động của BĐKH và các mô hình thích ứng trong lĩnh vực
an ninh lương thực trên thế giới
Ngày 10/3/2016, Hội nghị lần thứ 33 của Tổ chức Lương thực nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) khu vực châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Putrajaya của Malaysia nhằm tăng cường an ninh lương thực, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững Phó Thủ tướng Malaysia
Trang 21Ahmad Zahid Hamidi nhấn mạnh an ninh lương thực cũng quan trọng như an ninh quốc gia, đồng thời nêu ra ba biện pháp để đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm kích thích đầu tư tư nhân vào nông nghiệp, giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu với phát triển nông nghiệp bền vững, và xóa đói giảm nghèo bằng cách sử dụng đa dạng sinh học.Tổng Giám đốc FAO José Graziano da Silva nêu nội dung hội nghị: phản ánh mối quan tâm chung làm thế nào để giải quyết thách thức trong tương lai hướng tới mục tiêu chấm dứt tình trạng đói nghèo trong 15 năm tới theo Chương trình nghị sự Phát triển bền vững 2030
Theo IPCC,2014 [27] giới thiệu kịch bản BĐKH, nước biển dâng có đánh giá: Tốc độ BĐKH gia tăng theo hướng cực đoan hơn so với các đánh giá trước đây, đặc biệt là các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ cao gia tăng mạnh mẽ Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên rõ rệt, tốc độ tăng cao lên so với trước đó Lượng mưa cũng thay đổi rõ rệt, có một số vùng lượng mưa tăng, một số vùng giảm, biểu hiện rõ rệt trong 30 năm trở lại đây Như vậy sự thay đổi lượng mưa ở quy mô toàn cầu diễn ra mạnh mẽ hơn so với trước đây BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu từ các thành phần khí hậu và chủ yếu xuất phát từ sự ấm lên của trái đất (Stern, 2005) [28] Các nghiên cứu này thể hiện ở các khía cạnh sau:
Nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của cây trồng, vật nuôi làm cho thay đổi về năng suất và sản lượng;
Nhiệt độ tăng làm cho suy giảm tài nguyên nước, nhiều vùng không có nước
và không thể tiếp tục canh tác làm cho diện tích canh tác bị suy giảm;
Nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn và ngập mặn
và không thể tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năng suất;
Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mất cân bằng sinh thái và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây trồng và phát sinh dịch bệnh;
Các hiện tượng thời tiết cực đoan, không theo quy luật như bão sớm, muộn, mưa không đúng mùa sẽ gây khó khăn cho bố trí cơ cấu mùa vụ và gây thiệt hại,
Cuốn sách “Phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu – CARE International” [22] do Do Angie Dazé, Kaia Ambrose và Charles Ehrhart biên soạn GS Robert Chambers, viện sĩ thông tấn, viện Nghiên cứu Phát
Trang 22Triển, Đại học Sussex, Vương Quốc Anh đã phát biểu về cuốn sách như sau: Cuốn sách trình bày phương pháp luận mới về việc phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với khí hậu Cuốn sách nhấn mạnh cộng đồng là không đồng nhất, những người ít có khả năng thích ứng sẽ có nguy cơ cao hơn Cuốn sách cũng đưa ra phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của chính những thành viên của cộng đồng Cuốn sách áp dụng những giá trị, quy trình và phương pháp có sự tham gia để tạo điều kiện cho người dân địa phương thực hành và nâng cao kiến thức và hiểu biết của họ, và để lập kế hoạch hành động
Cuốn sách nêu lên phương pháp luận Phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương (CVCA) Mục đích cơ bản của CVCA là để:
Phân tích khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và năng lực thích ứng tại cấp độ cộng đồng
Kết hợp kiến thức cộng đồng và dữ liệu khoa học để có được sự hiểu biết nhiều hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến địa phương nghiên cứu
Trong CVCA có những điểm khác so với các phương pháp tiếp cận cộng đồng khác bao gồm:
Tập trung vào biến đổi khí hậu: CVCA tập trung vào sự hiểu biết bằng cách nào biến đổi khí hậu sẽ tác động đến cuộc sống và sinh kế của nhóm đối tượng nghiên cứu Nó kiểm tra những hiểm họa, khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và năng lực thích ứng với góc độ xây dựng cách thích ứng cho tương lai
Phân tích điều kiện và hiểm họa: CVCA nỗ lực kết hợp những mô hình thực tiễn điển hình (good practice) từ những phân tích cho đến những sáng kiến phát triển theo hướng tập trung vào điều kiện đói nghèo và khả năng bị tổn thương, và những vấn đề được thực hiện trong bối cảnh giảm nhẹ rủi ro thiên tai (DRR), theo hướng tập trung vào hiểm họa
Nhấn mạnh phân tích các bên có liên quan, học tập và đối thoại hợp tác: điều này thu được sự hiểu biết lớn hơn trong các cộng đồng có đủ nguồn lực để nghiên cứu
Trang 23vùng và quốc gia trong một nỗ lực để thúc đẩy một môi trường hỗ trợ cho sự thích ứng dựa vào cộng đồng
Trong cuốn sách cũng nêu ra các định nghĩa cụ thể về “năng lực thích ứng”,
“thích ứng với biến đổi khí hậu”, “thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA)”…
Quy trình của CBA liên quan đến 4 chiến lược:
Đẩy mạnh chiến lược sinh kế chống chịu với khí hậu trong sự kết hợp với đa dạng hóa thu nhập và nâng cao năng lực cho quy hoạch và quản lý rủi ro;
Chiến lược giảm nhẹ rủi ro thiên tai nhằm giảm tác động của hiểm họa, đặc biệt lên những hộ gia đình và cá nhân có khả năng bị tổn thương;
Xây dựng năng lực cho xã hội người dân địa phương và các cơ quan chính phủ sao cho họ có thể hỗ trợ tốt hơn cho cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân trong nỗ lực thích ứng của họ;
Tuyên truyền và vận động xã hội để đề cập đến những nguyên nhân tiềm ẩn của khả năng bị tổn thương, chẳng hạn như quản trị kém, thiếu sự kiểm soát đối với các nguồn lực, hoặc tiếp cận hạn chế tới các dịch vụ cơ bản
Nghiên cứu: “Adaptation strategies for agricultural water management under climate change in Europe” của hai tác giả Ana Iglesias – khoa kinh tế nông nghiệp và
xã hội học, đại học Bách Khoa Tây Ban Nha cùng đồng tác giả Luis Garrote – Khoa xây dựng, đại học Bách Khoa Tây Ban Nha đã được đăng trên tạp chí “Agricultural water management,155/2015”[21] đã nêu lên tầm quan trọng của nguồn nước trong sự phát triển nông nghiệp trên thế giới nói chung cũng như Châu Âu nói riêng Đặc biệt, trong bối cảnh BĐKH hiện nay, việc quản lý nguồn nước ngày càng trở nên phức tạp Những thách thức của BĐKH sẽ phải được đối phó thông qua sự thích nghi Khi nhu cầu nguồn nước trong nông nghiệp vô cùng thiết yếu thì việc lựa chọn các biện pháp thích nghi cũng như yêu cầu quản lý nguồn nước tổng hợp các yếu tố về kỹ thuật, cơ
sở hạ tầng, kinh tế xã hội đồng bộ và toàn diện hơn Nhu cầu nước nông nghiệp phải được cung cấp trong bối cảnh nguồn nước suy giảm do tác động của môi trường, tăng trưởng dân số, phát triển kinh tế và thay đổi toàn cầu Sự thích nghi được thể hiện qua việc quản lý nước trong nông nghiệp liên quan không chỉ quản lý tài nguyên nước truyền thống mà còn để quản lý sản xuất lương thực, phát triển nông thôn và tài nguyên thiên nhiên
Nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau:
Trang 24 Trình tự logic từ đánh giá về BĐKH, rủi ro và cơ hội;
Xác định các giải pháp thích ứng;
Tổng hợp đánh giá 168 các nghiên cứu, tài liệu sẵn có từ năm 1999-2014 bao gồm các bài báo, ấn phẩm trích dẫn trong các tạp chí, báo cáo của World Bank, Liên Hợp Quốc, Ủy Ban Châu Âu, cơ quan Môi trường Châu Âu và OEDC, các dự báo về BĐKH, tác động đến nhu cầu nước trong nông nghiệp, đáp ứng tiềm năng để khắc phục những tác động tiêu cực;
Xác định đối tượng thích hợp nhất để đánh giá hiệu quả tác động của BĐKH lên đối tượng đã xác định
Nghiên cứu nêu lên các giải pháp thích ứng, đặc biệt các giải pháp được áp dụng tại Hà Lan Xác định các khoảng thời gian cần thiết để thực hiện các biện pháp thích ứng Nhiều sự thích nghi có thể được thực hiện nhanh chóng một cách cá nhân
để đáp ứng tình trạng khan hiếm nước như việc thay thế nguồn nước Với phương pháp này có thể thực hiện từ 1-5 năm Ngược lại, đối với các biện pháp như thay đổi chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn đòi hỏi sự hợp tác của nhiều ngành và địa phương, thời gian cho sự thích ứng này có thể tính trên 10 năm, chẳng hạn việc xây dựng và quản lý các hồ chứa nhỏ tại khu vực đất nông nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu còn nêu lên những hạn chế khi đánh giá các phương pháp thích ứng như việc sử dụng các dữ liệu để đánh giá tác động được lấy từ một phạm vi rất rộng hoặc ở khu vực địa phương nhỏ, nguồn dữ liệu hạn chế, khó thu thập chính xác, các nguồn dữ liệu
có thể mâu thuẫn trong quá trình đánh giá Tuy nhiên, bằng cách dựa vào các phương pháp tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi, sử dụng các công bố đánh giá trong các đề tài, luận văn, nghiên cứu đã tổng hợp các thông tin hợp lệ, đánh giá sơ bộ về sự phù hợp các biện pháp thích ứng (các thuộc tính của sự thích ứng, tiêu chí, đánh giá)
Bộ tài liệu: “Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực” do Tổ chức Lương thực
và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, FAO, Rome, 2008 [24] ấn phẩm này được biên soạn bởi nhiều thành viên của nhóm liên ngành FAO’s Interdepartmental Working Group (IDWG) về biến đổi khí hậu, dưới sự chủ trì của Wulf Killmann – chủ tịch nhóm công tác liên ngành Biến Đổi Khí Hậu Tài liệu này cung cấp các thông tin cơ bản về mối tương quan giữa BĐKH và an ninh lương thực, cách đối phó với các mối đe dọa mới Bên cạnh đó, tài liệu còn nêu lên những cơ hội cho ngành nông nghiệp để thích ứng, cùng việc mô tả làm thế nào có thể góp phần giảm thiểu các thách thức khí hậu
Trang 25Bộ tài liệu được chia làm 4 chương chính với nội dung của từng chương như sau:
Chương 1: Định nghĩa các thuật ngữ quan trọng – thảo luận mối quan hệ của các tác động có thể có của biến đổi khí hậu với hiệu suất của hệ thống lương thực, dẫn đến kết quả của an ninh lương thực
Chương 2 – chương 3: Cung cấp chi tiết các lựa chọn về thích ứng và giảm nhẹ cho các lĩnh vực lương thực và nông nghiệp
Chương 4: Mô tả các thiết lập thể chế cho việc hành động để giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, rút ra kết luận cho hành động tiếp theo của FAO và cộng đồng quốc tế
Các tác động đến an ninh lương thực do BĐKH trong mô hình sản xuất nông nghiệp được chia làm hai loại:
Tác động đối với việc sản xuất lương thực sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm trên toàn cầu và cho từng địa phương cụ thể Trên toàn cầu, sản lượng lương thực cao hơn ở các vùng ôn đới có thể bù đắp sản lượng thấp hơn ở các vùng nhiệt đới Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp với khả năng tài chính hạn chế và sự phụ thuộc cao vào việc sản xuất của mình để trang trải nhu cầu lương thực trong nước, nó có thể không đảm bảo bù đắp được sự sụt giảm nguồn cung trong nước, làm tăng sự phụ thuộc vào viện trợ lương thực (FAO,2008)[24]
Tác động với tất cả cả loại hình sản xuất nông nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sinh
kế và tiếp cận lương thực Nhóm sản xuất mà ít có khả năng đối phó với BĐKH như những người nghèo nông thôn ở các nước đang phát triển, nguy cơ an toàn và phúc lợi của họ sẽ bị tổn hại
Tác động tiềm tàng của BĐKH đối với việc sử dụng lương thực:
Giá trị dinh dưỡng: mất an ninh lương thực thường gắn liền với suy dinh dưỡng, vì chế độ ăn của những người không có khả năng đáp ứng tất cả các thực phẩm
họ cần thường chứa một tỷ lệ cao các loại lương thực và thiếu sự đa dạng cần thiết để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
Tính ổn định của nguồn cung cấp: nhiều loại cây trồng có chu kỳ hàng năm, và sản lượng dao động với biến đổi khí hậu, đặc biệt là lượng mưa và nhiệt độ Duy trì sự liên tục của nguồn cung cấp lương thực khi sản xuất theo mùa, do vậy mà trở nên khó khăn Hạn hán và lũ lụt là một mối đe dọa đặc biệt đến sự ổn định lương thực thực phẩm Cả hai hiện tượng trên đều được dự kiến sẽ trở nên thường xuyên hơn, mạnh mẽ hơn và khó dự
Trang 26đoán hơn do hậu quả của BĐKH Tại các khu vực nông thôn phụ thuộc vào nông nghiệp, nước mưa đóng góp một phần quan trọng Thay đổi về số lượng và thời gian của lượng mưa trong mùa và sự gia tăng sự thay đổi thời tiết có thể sẽ làm trầm trọng thêm những bất ổn của hệ thống lương thực địa phương
1.2.3 Tại Việt Nam
“Nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng Vì vậy, trong khuyến nghị lên Chính phủ, Bộ TNMT luôn đề nghị có những ưu tiên đặc biệt cho ngành nông nghiệp” – theo GS TS Trần Thục - Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã nhận thức được những nguy cơ và thách thức gây ra do sự nóng lên toàn cầu, hậu quả chủ yếu từ những hoạt động của chính con người Ởnước ta, BĐKH thểhiện rõ nhất ởsự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan
và thiên tai, cảvềsốlượng lẫn cường độ Trong khi tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè kéo theo hạn hán dữ dội trên diện rộng, thì trong những năm gần đây sốcơn bão có cường độmạnh cũng xuất hiện nhiều hơn Nhiều cơn bão có quỹđạo di chuyển bất thường, phức tạp, khó dựđoán và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn Cùng với sự nóng lên của bề mặt trái đất, nhiệt độ trung bình của các khu vực ở nước
ta cũng tăng lên
Trong đề tài “Thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Giao Thủy, Nam Định” của nghiên cứu sinh Đặng Thị Hoa được đăng trên tạp chí Khoa học và phát triển 2014, tập 12 [3], đã nêu lên quan điểm: “Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đềđang được quan tâm ngày càng có tác động mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp (SXNN) và đời sống của con người ởnhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng như nắng nóng kéo dài, rét hại, bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng… đã ảnh hưởng không nhỏđến hoạt động SXNN, đặc biệt là ở các vùng ven biển” Đề tài đã đánh giá bước đầu các tác động của BĐKH tới SXNN và các biện pháp thích ứng trong SXNN của người dân ven biển ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tác giả đã khuyến nghị một
số giải pháp tăng cường khả năng thích ứng củacộng đồng dân cư để phòng ngừa, giảm thiểu tác hại, ổn định và phát triển SXNNtrong điều kiện BĐKH Đề tài sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp được tổng hợp từ các sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan và được thu thập từ Thư viện, Trạm quan trắc khí tượng thủy văn
Trang 27Nam Định, các phòng ban tại huyện Giao Thủy; nguồn tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát, phỏng vấn sâu, phỏng vấn KIP 65 cán bộ quản lý và khuyến nông cấp xã, điều tra theo bộ câu hỏi soạn thảo sẵn 150 người nông dân đại diện đang trực tiếp sản xuất trồng trọt, chăn nuôi tại các xã ven biển huyện Giao Thủy 215 mẫu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản và ngẫu nhiên phân tầng (có xét đến chuyên môn và nghề nghiệp chính) Phương pháp thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia được sử dụng để phân chia các hộ theo thu nhập (giàu, trung bình, nghèo)
và theo quy mô (lớn, vừa, nhỏ); phương pháp điểm (Case Study) được áp dụng để nghiên cứu một số hộ đại diện Các biện pháp thích ứng với BĐKH trong SXNN trong
đề tài được chia theo từng lĩnh vực khác nhau: thích ứng trong trồng trọt, thích ứng trong chăn nuôi, thích ứng trong nuôi trồng thủy sản, thích ứng trong đánh bắt hải sản, thích ứng trong nghề làm muối và thích ứng trong lâm nghiệp Bên cạnh các biện pháp thích ứng, đề tài còn nêu lên các giải pháp ứng phó với BĐKH của chính quyền địa phương để đảm bảo SXNN của người dân ven biển huyện Giao Thủy
Một đề tài khác do UNDP thực hiện tại Việt Nam, nội dung đề tài là “Phát triển các mô hình dựa vào cộng đồng để giảm thiểu tác động lũ lụt và xâm nhập mặn gây ra bởi BĐKH và thích ứng nhằm góp phần sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực bền vững tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định”[18] Các hoạt động chính của dự án bao gồm: i) Xây dựng và thực hiện các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng trong cộng đồng; ii) Để thiết kế và phát triển một mô hình ứng dụng công nghệ nông nghiệp tiến bộ để giảm thiểu ảnh hưởng của lũ lụt và xâm nhập mặn tại địa phương; iii) Theo dõi, đánh giá và phổ biến kinh nghiệm từ các mô hình để nhân rộng và mở rộng tại xã Phước Hòa và các địa phương lân cận với các điều kiện tương tự ở các huyện Tuy Phước và Phù Cát Các công nghệ được ứng dụng trong dự
án bao gồm: thay đổi cấu trúc của lũ; chọn giống chịu mặn trên đất trồng lúa; trên cơ
sở các kết quả mô hình kết hợp với mục tiêu nghiên cứu, xây dựng kế hoạch cho việc
áp dụng các mô hình dự án cho toàn bộ khu vực đất trồng lúa bị ngập lụt và nhiễm mặn của xã Phước Hòa cũng như thực hiện công tác tuyên truyền, đào tạo và các kỹ thuật trong các địa phương có điều kiện tương tự để học tập và ứng dụng Cụ thể các
mô hình bao gồm: xây dựng, công bố công khai và đào tạo thông tin tuyên truyền, tư liệu về các tác động của BĐKH để giới thiệu các biện pháp thích ứng và kỹ thuật phù
Trang 28hợp, hiện đại; tổ chức 8 – 10 hội thảo và hội nghị cho nông dân Phước Hòa trên địa bàn xã và các khu vực lân cận; các mô hình về việc thay đổi giống lúa ngập lụt và chịu mặn sẽ được thiết kế và thử nghiệm trong ruộng lúa trước khi được tổng kết và đề xuất
để áp dụng tại các địa điểm thích hợp tại xã Phước Hòa cũng như các địa phương lân cận; xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu sản xuất hạt giống để giúp địa phương chủ động trong việc cung cấp giống lúa cho nông dân trong xã; mô hình được thử nghiệm với khoảng 60 hộ dân tại xã Phước Hòa, các hộ dân này sẽ đươc hưởng lợi từ
dự án với một thu nhập ổn định, tăng 15 – 20% so với trước khi thử nghiệm dự án; thông tin của mô hình sẽ được phổ biến rộng rãi và nhân rộng đến các đia phương lân cận khác với sự hỗ trợ kỹ thuật trong chuyển nhượng dự án
Bên cạnh những đề tài được thực hiện, nhiều hội thảo cũng đã được tổ chức tại Việt Nam liên quan đến tình hình an ninh lương thực trong bối cảnh BĐKH như “Hội thảo về tăng cường hợp tác ASEANđể đảm bảo an ninh lương thực” lần thứ 30 vào tháng 1 năm 2016 Hội thảo “Thúc đẩy sáng kiến địa phương (PLI) nhằm thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ven biển tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện vào tháng 9 năm 2012 Chương trình PLI được tổchức gồm 03 phần chính:
• Báo cáo kết quả Đánh giá tính dễtổn thương và năng lực thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu được thực hiện tại ấp MỏÓ và ấp Chợthuộc xã Trung Bình, huyện Trần Đề; ấp Vàm Rầy và ấp Võ Thành Văn thuộc xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
• Trình bày tóm tắt các nhu cầu và sáng kiến thích ứng với BĐKH do các thành viên tham gia VCA Sóc Trăng đềxuất trong đợt thực hiện VCA Các đềxuất này được thảo luận chi tiết, góp ý bổsung và xác định tính ưu tiên của từng đềxuất dựa trên nhu cầu của địa phương
• Dựa trên mức độ ưu tiên của các đềxuất, các đại biểu tham gia hội thảo tiến hànhchia sẻkiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và thảo luận chi tiết vềcác hoạt động thích ứng tại địa phương
Nhiều nhà khoa học của Việt Nam cũng đã tiến hành nghiên cứu và chỉ ra những tác động của BĐKH đối với nông nghiệp nói chung và an ninh lương thực nói riêng Vấn đề an ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây trồng; nước biển dâng, mưa bất thường sẽ gây nên tình trạng ngập lụt cục bộ và xâm lấn mặn là nguyên nhân gây mất tới 2 triệu ha trong tổng số 4 triệu ha đất trồng lúa, an ninh lương thực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng (Đào Xuân Học, 2009)[4], thay đổi về
Trang 29điều kiện thời tiết khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ cấu mùa vụ, khả năng tích lũy quang hợp và vì thế sẽ làm thay đổi năng suất cây trồng theo hướng bất lợi và làm gia tăng chi phí đầu tư (Trần Văn Thể, 2009)[12]
1.3 Điều kiện tự nhiên – xã hội của địa phương nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên - vị trí địa lý
Xã Vinh Quang là xã giáp biển n ằm cuối huyện Tiên Lãng cách trung tâm huyện
17 km, có tổng diện tích tự nhiên là 1929,9 ha (số liệu thống kê năm 2001) chiếm 0,45% diện tích tự nhiên của huyện
Hình 1.5 Địa hình xã Vinh Quang
Hình 1.6 Địa hình khu vực cửa sông Văn Úc
Vinh Quang được hình thành do phù sa của 2 con sông Văn úc và Thái Bình bồi lắng tạo thành, mặt bằng đất canh tác tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa, chua mặn phù hợp cho phát triển nông nghiệp ( cây màu, cây lúa) Xã có vị trí trọng yếu về an ninh quốc gia, là một trong 4 xã biên phòng của huyện Tiên Lãng
Phía Đông giáp Biển Đông;
Phía Nam giáp xã Tiên Hưng;
Phía Tây giáp xã Hùng Thắng;
Phía Bắc giáp sông Văn Úc
Trang 30Xã có toạ độ địa lý: 106040’00’’ đến 106042’30’’ kinh độ Đông
20038’45’’ đến 20041’15’’ vĩ độ Bắc
Với diện tích tự nhiên 1929,9 ha; trong đó:
Đất nông nghiệp 1344,79 ha (trong đó đất trồng cây hàng năm 544,99 ha; diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản: 354 ha )
Đất phi nông nghiệp 390,86 ha (trong đó đất ở 81,32 ha, đất chuyên dùng 278,51 ha);
Đất chưa sử dụng 193,95 ha
1.3.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình xã thuộc loại địa hình đồng bằng tích tụ delta ngầm, hầu như bằng phẳng, độ dốc không quá 30; độ cao bề mặt trung bình từ 1m đến 2m, trên mặt biển có nhiều ô trũng do được khai phá sớm
Thuộc loại địa hình delta nổi tích tụ sông biển chịu tác động trực tiếp của thuỷ triều, tích tụ sét, bùn sét có độ cao bề mặt dưới 0,5 m so với mực nước biển Bề mă ̣t Vinh Quang khá bằng phẳng, với phần lớn diê ̣n tích trong đê là đất nông nghiê ̣p trồng lúa, trong đó có
mô ̣t vùng thuô ̣c thôn Kim trũng hơn so với bề mă ̣t chung Bảo vệ xã trước tác động của biển là tuyến đê biển kết hợp làm đường giao thông dài hơn 6,3 km có cao trình 5m, khu vực bên trong ngay giáp đê hiê ̣n đang là vùng được các hô ̣ gia đình đấu thầu làm các vuông nuôi trồng thuỷ sản Phía ngoài đê, khu vực giáp cửa sông Văn Úc là rừng phòng hô ̣ phi lao, hiê ̣n đang bi ̣ xói lở khá nghiêm tro ̣ng Ngay bên ca ̣nh đó là diê ̣n tích bãi bồi hàng năm đang đươ ̣c bồi tu ̣ do có diê ̣n tích rừng bần rô ̣ng tới hơn 50m về phía biển là nhiê ̣m vu ̣ giữ đất mở
rô ̣ng bãi
1.3.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Cũng giống như các xã trong huyện Tiên Lãng, xã Vinh Quang có khí hậu nhiệt đới gió mùa của một vùng ven biển Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng vịnh Bắc Bộ và Biển Đông Mùa đông, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, chủ yêu là khô, lạnh vào nửa đầu mùa ( từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau); nồm và ẩm ướt vào nửa cuối mùa ( tháng
2 và tháng 3) Gió mùa Đông Bắc có thể gây ra những đợt rét đậm, rét hại, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Mùa hè, hướng gió chủ yếu là Đông Nam, nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,50C Lượng mưa bình quân vào khoảng 1.780 mm, mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7,8,9 Lượng bốc hơi bình quân tháng vào khoảng 58,4mm Độ ẩm không khí trung bình năm 83,8%, tháng cao nhất lên tới
Trang 3196%, thấp nhất khoảng 71,5% Mùa hè chịu ảnh hưởng bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn, nước biển dâng Ngoài ra, nhiều năm còn chịu ảnh hưởng của các đợt nắng nóng với nhiệt độ cao nhất trên 35oC
Lượng mưa trung bình của xã khá lớn và biến đổi trong khoảng 1400 – 1800 mm/năm Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều trong các tháng của năm Vào mùa mưa, từ tháng V đến tháng IX lượng mưa nhiều chiếm tới 75,9 % lượng mưa trung bình
cả năm trong khi đó tổng lượng mưa trong các tháng còn lại chỉ chiếm 24,1%
Theo số liệu quan trắc tại trạm Phù Liễn từ năm 1961 đến năm 2010 có lượng
mưa trung bình tháng, năm như sau:
Bảng1.5 Lượng mưa (mm) trung bình tháng trong thời kỳ quan trắc (theo số liệu trạm Phù
Theo thống kê [34], trong những năm gần đây, số lượng các trận bão tác động vào địa bàn xã Vinh Quang tăng Số liệu các cơn bão ảnh hưởng tới Vinh Quang được lấy từ số liệu các cơn bão từ năm 1951 tới năm 2014 Từ năm 2000 đến năm 2014, có
16 cơn bão đổ vào khu vực xã Vinh Quang; đặc biệt, năm 2005 có hai trận bão lớn kèm theo nước dâng gây thiệt hại lớn, cơn bão số 7 (Damrey) vào tháng 9 năm 2005 gây vỡ đê và ngập lụt trên diện rộng; năm 2012, cơn bão số 8 (SON_TINH) vào tháng
Trang 3210 đã gây thiệt hại lớn đến sản xuất lúa, hoa màu, hơn 70% diện tích gieo trồng bị thiệt hại (Báo cáo thống kê thiệt hại của UBND xã Vinh Quang).
1.3.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a Trồng trọt:
Những năm gần đây, Vinh Quang bước đầu có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, song trồng trọt vẫn được xem là lĩnh vực quan trọng, chiếm tỷ trọng gần 80% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp toàn xã Là địa phương sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, những năm qua Đảng, chính quyền xã Vinh Quang đã quan tâm đặc biệt tới dịch chuyển cơ cấu cây trồng, tiếp thu giống mới, loại cây mới vào sản xuất như các giống lúa lai, lúa thuần, các dòng lúa thơm, các loại cây màu vụ đông, vụ xuân như hành tỏi, đồng thời xây dựng trà vụ hợp lý
Tuy còn nhiều khó khăn về giao thông, thuỷ lợi, nhưng những năm gần đây xã
đã trở thành một trong những điểm sáng của phong trào trồng cây vụ đông của huyện Ngoài các giống cây trồng truyền thống là hành, tỏi; Vinh Quang còn tiếp nhận và đưa nhiều giống cây mới vào gieo trồng trên diện tích lớn Trung bình mỗi hộ gia đình ở Vinh Quang trồng 3 sào cây vụ đông, trong đó có khoảng 500 hộ trồng từ 5 đến 7 sào trở lên, cá biệt có hộ trồng hơn 1 mẫu Việc phát triển cây vụ đông đã có những ảnh hưởng tích cực tới thu nhập của nông dân, giúp nhiều hộ gia đình ở Vinh Quang thoát nghèo
b Chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp:
Tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp đã tăng Phòng trào chăn nuôi tại Vinh Quang phát triển mạnh theo hướng công nghiệp, sản xuất hàng hoá theo quy mô trang trại và hộ gia đình
Vinh Quang có lợi thế vùng bãi bồi ven sông biển tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển gia súc, gia cầm Đồng thời, Đảng, chính quyền địa phương định hướng, vận động nhân dân phát triển chăn nuôi theo hộ gia đình, nhân rộng mô hình phát triển gia trại (cả gia cầm, gia súc) thường xuyên làm công tác phòng bệnh cho đàn gia cầm, gia súc, phun thuốc khử trùng tiêu độc ngăn chặn phát sinh gây bệnh Địa phương đã quy vùng phát triển trang trại chăn nuôi với hơn 30 ha, đang vận động nhân dân dồn điền đổi ruộng để có diện tích lớn phát triển trang trại Trong những năm qua đàn gia cầm, gia súc của địa phương không ngừng phát triển :
Năm 2007 tổng đàn gia súc là 5327 con, gia cầm 60.693 con
Trang 33 Năm 2008 tổng đàn gia súc 5880 con, gia cầm là 65.000 con
c Lâm nghiệp:
Xã có 443,3ha rừng bần, sú, vẹt Ngoài ra hiện nay xã đang có chủ trương trồng thêm rừng phi lao phòng hộ tại khu vực cửa sông Văn Úc để bảo vệ đất, chống xói lở
Hình 1.7 Rừng ngập mặn tại Vinh Quang
d Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ, hải sản:
Toàn xã có 354 ha nuôi thả thủy sản, trong đó :
Trang 34 Năm 2007 tổng sản lượng 1329 tấn đạt 17,2 tỷ đồng;
Năm 2008 tổng sản lượng 1570 tấn đạt 19,5 tỷ đồng
e Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Hiện nay, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại xã chưa phát triển mà chủ yếu mới chỉ có một số cơ sở sản xuất cơ khí nhỏ lẻ phục vụ cho nhân dân trong xã
và khu vực lân cận
f Du lịch
Vinh Quang có diện tích bãi bồi lớn với hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú về chủng loài cùng nguồn hải sản lớn, kết hợp với môi trường không khí trong lành, yên tĩnh, đường giao thông liên tỉnh, liên xã đang được trùng tu nâng cấp rất thuận lợi cho việc phát triển khu du lịch sinh thái, nghỉ ngơi thư giãn Tuy nhiên, mô hình phát triển du lịch ở đây chưa được đầu tư đúng mức nên doanh thu về du lịch không đáng kể
Hình 1.9 Du lịch sinh thái tại Vinh Quang
Trang 35CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀSỐ LIỆU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu và số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc Từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Cụ thể:
Sử dụng các tài liệu, số liệu về kinh tế - xã hội giai đoạn (2000 - 2014) cho đánh giá điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Sử dụng các số liệu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội định hướng đến năm
2020 của khu vực nghiên cứu
Chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn (nhiê ̣t đô ̣, lượng mưa, …) tại các trạm khí tượng, thủy văn trên địa bàn tỉnh Hải Phòng giai đoa ̣n 2000-2014.(có thể theo dõi chuỗi số liệu khí tượng trong thời gian quá khứ để dự tính trong tương lai)
Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thực địa nhằm mục đích thu thập thông tin từ người dân địa phương, so sánh với các số liệu thu thập được về các mùa vụ trồng lúa; thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại các khu vực nghiên cứu cũng như các dữ liệu vềvụ mùa sản xuất
Tác giả đã thực hiện phương pháp này thông qua việc phỏng vấn sâu, phỏng vấn trực tiếp người dân trong xã Tác giả đã gửi thư mời cho 14 trưởng thôn, 5 người dân trên địa bàn xã và 6 cán bộ hiện đang làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Vinh Quang Việc lựa chọn đối tượng phỏng vấn đều là người dân trồng lúa lâu năm, có kinh nghiệm trong sản xuất, là cán bộ thôn nắm rõ tình hình sản xuất của các hộ dân trong thôn mình, các cán bộ địa chính, cán bộ nông nghiệp của xã Tác giả đã tổ chức phỏng vấn trực tiếp thông qua các câu hỏi mở với nội dung lặp đi lặp lại đối với các đối tượng tham gia Nội dung câu hỏi mở được trình bày trong phụ lục 7
Tác giả sử dụng kết quả thu thập thông tin từ dự án HRCD (Tăng cường năng lực phòng chống biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai) do Tổ chức tầm nhìn
thế giớitại Việt Namtổ chức khảo sát tại 14thônthuộc xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng vào tháng 3/2015 Nội dung bao gồm:
Trang 36 Đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;
Thu thập thông tin từ người dân về việc đánh giá về lịch sử thiên tai, lịch theo mùa, điểm mạnh và điểm yếu trong công tác phòng chống thiên tai, tổng hợp rủi
ro thiên tai, xếp hạng các rủi ro, phân tích những nguyên nhân sâu xa của rủi ro và những vấn đề quan tâm cần giải quyết, tổng hợp giải pháp phòng chống thiên tai, lập
kế hoạch phòng chống trước, trong và sau thiên tai
Tổng hợp và chọn lọc các thông tin, dữ liệu cần thiết để so sánh đối chiếu với nguồn số liệu thu thập được từ các báo cáo kinh tế hằng năm của xã Từ đó, có những
cơ sở, nhận định mang tính thuyết phục hơn cho luận văn
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó sẽ cho các kết quả có tính thực tiễn và khoa học cao, tránh được những trùng lặp với những nghiên cứu đã có, đồng thời kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được Phương pháp này được thực hiện thông qua viê ̣c tham v ấn ý kiến của giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan
Các phương pháp đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu đến trồng trọt,
an ninh lương thực
Theo tài liệu của Viê ̣n Khoa ho ̣c Khí tượng Thủy văn và Môi trường , phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực trồng trọt được thể hiện trong bảng sau:
Trang 37Bảng 2.1 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH trong trồng trọt
Các yếu tố
khí hậu
Đối tượng bị tác động Tác động, rủi ro
Phương pháp đánh giá
Nhiệt độ tăng
Giống, cây trồng
Thay đổi cây trồng truyền thống tại địa phương, gia tăng vùng cây trồng nhiệt đới
- Khảo sát và thống
kê
- Quan trắc và đánh giá chất lượng mùa
vụ Năng suất
cây trồng
Làm giảm năng suất cây trồng do dịch bệnh có điều kiện phát triển, nhu cầu nước cho cây trồng tăng trong khi nguồn nước bị hạn chế do hạn hán
Nguy cơ sói lở, làm bạc màu vùng đất nông nghiệp
Tăng diện tích đất canh tác bị nhiễm mặn
- Quan trắc và thống kê
- Các mô hình đánh giá nhiễm mặn Giống cây
trồng
ảnh hưởng đến các loại cây không
ưa nước do ngập lụt gia tăng và kéo dài Tăng nhu cầu chuyển đổi các loại giống cây trồng
Thống kê và quan trắc thí nghiệm
Năng suất cây trồng
Gây thiệt hại và giảm năng suất do mưa thất thường xảy ra vào thời điểm ra hoa – kết quả, hay do ngập úng
- Thống kê và lượng hóa chi phí
Năng suất suy giảm do đất và nước
bị nhiễm mặn Làm gia tăng bệnh dịch, sâu bệnh ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng
Trang 38cơ sở hạ tầng chăn nuôi
Gây thiệt hại nặng nề đối với cây trồng do mùa màng bị tàn phá, cây trồng bị đỗ, gẫy…
Tàn phá, làm hư hỏng các cơ sở hạ tầng chăn nuôi như chuồng trại, ao,
hồ
- Thống kê, đánh giá và dự báo thiệt hại
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, 2011
Bảng 2.2.Các tiêu chí và thông tin dùng trong đánh giá tác động BĐKH trong lĩnh vực
- Vùng nông nghiệp chịu ảnh hưởng bão, lũ
- Các loại giống cây trồng khó thích ứng với thay đổi khí hậu
- Tỷ lệ người dân được tiếp cận với nguồn lương thực và nguồn nước an toàn
- Số lượng dự trữ lương thực thực phẩm
Những rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra
- Giảm/mất diện tích đất nông nghiệp canh tác
- Đất bị nhiễm mặn do nước biển dâng
- Giảm năng suất nông nghiệp
- Thiệt hại mùa màng
- Nhiều loại giống cây trồng bị thoái hóa làm giảm sản lượng
- Giảm thu nhập từ nông nghiệp
- Mất khả năng tiếp cận nguồn lương thực và
Trang 39nước sạch
- Không đủ nguồn dự trữ lương thực
Tiêu chí đánh giá năng lực thích ứng
- Tình trạng hệ thống đê điều, công trình thủy lợi và năng lực khai thác, quản lý công trình thủy lợi
- Năng lực quản lý nông nghiệp và dự trữ lương thực
- Năng lực nghiên cứu và sản xuất nguồn giống
mới có khả năng thích ứng cao
- Năng lực và nguồn lực quản lý thiên tai và hiểm họa do khí hậu
- Hệ thống tuyên truyền cho nông dân
- Các chính sách xã hội hỗ trợ nông dân
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, 2011
Phương pháp hồi quy tuyến tính
Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để xác định mối tương quan giữa các yếu tố thời tiết với năng suất lúa.Phương trình hồi quy tuyến tính gồm 2 biến: biến độc lập là các biến sinh khí hậu (biến X) và biến phụ thuộc là năng suất lúa (biến Y)
Các biến sinh khí hậu được xây dựng trên cơ sở dữ liệu nhiệt độ và lượng mưa hàng năm Trong nghiên cứu này, các dữ liệu về thời tiết đánh giá năng suất lúa trong năm được chia làm hai vụ chính: vụ chiêm (vụ đông xuân) và vụ mùa (vụ hè thu)
Từ việc xác định các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa và những điều kiện ngoại cảnh, các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến việc trồng lúa trong phần “Tổng quan nghiên cứu” ở chương I, tác giả đã xác định các biến sinh khí hậu (biến X) theo bảng sau:
Bảng 2.3 Bảng xác định các biến sinh khí hậu
Trang 40TT Kí
hiệu
biến
Biến sinh khí hậu được xác định
2 X2 Nhiệt độ trung bình tháng 2 Nhiệt độ trung bình tháng 8
3 X3 Nhiệt độ trung bình tháng 3 Nhiệt độ trung bình tháng 9
4 X4 Nhiệt độ tối thấp tháng 2 Tổng số giờ nắng tháng 8
5 X5 Nhiệt độ tối thấp tháng 3 Tổng số giờ nắng tháng 9
6 X6 Tổng số ngày mưa tháng 4 Nhiệt độ tối cao tháng 8
7 X7 Tổng số ngày mưa tháng 5 Nhiệt độ tối cao tháng 9
8 X8 Tổng lượng mưa tháng 4 Tổng số ngày mưa tháng 9
9 X9 Tổng lượng mưa tháng 5 Tổng số ngày mưa tháng 10
Ðặt (x1,y1), (x2,y2) (xn,yn) là mẫu gồm n cặp quan sát trên đường hồi qui tổng thể
𝑌𝑖 = 𝛼 + 𝛽𝑥𝑖 + 𝜀𝑖Theo phương pháp bình phương bé nhất thì ước lượng các hệ số 𝛼 và 𝛽 là các giá trị a và b sao cho tổng bình phương sai số của phương trình sau đây là bé nhất
𝑆𝑆 = ei2
n
𝑖=1
= (n
i=1
yi − a − bxi)2
𝑏 = 𝑥𝑖𝑦𝑖 − 𝑛𝑥 𝑦
𝑛 𝑖=1
𝑥𝑖2 − 𝑛
𝑛 𝑖=1 𝑥 2 = 𝑛𝑖=1 𝑥𝑖 − 𝑥 (𝑦𝑖 − 𝑦
𝑥𝑖 − 𝑥 2
𝑛 𝑖=1Suy ra: 𝑎 = 𝑦 − 𝑏𝑥
Và đường hồi qui tuyến tính của y trên x là: y = a + bx
Hệ số tương quan (Correlation coefficient)