1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO các mô HÌNH CHỦ yếu, đặc TRƯNG VA XU HƯỚNG vận ĐỘNG của KINH tế THỊ TRƯỜNG CHỦ NGHĨA tư bản HIỆN đại

51 240 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 353 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại là cần thiết để có thể hiểu được trong thực tế nền kinh tế thị trường vận hành như thế nào ở mỗi nước cụ thể. Vì góc độ tiếp cận khác nhau nên người ta mô tả kinh tế thị trường ở mỗi nước cũng rất khác nhau. Theo chúng tôi, cách tiếp cận phổ biến hiện nay thường căn cứ vào: mức độ sở hữu tư nhân và Nhà nước, mức độ can thiệp và kiểm soát nền kinh tế của Chính phủ và quan điểm của Chính phủ về việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội.

Trang 1

sẽ đi sâu vào các mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thuộc từng dạng trên.

1 Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa KỳHoa Kỳ là một quốc gia công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, có thunhập bình quân đầu người và tổng lượng sản phẩm – dịch vụ cao hơn nhiều quốc giakhác Mô hình Hoa Kỳ có đặc trừng là sự chiếm ưu thế của sở hữu tư nhân, cơ chế thịtrường cạnh tranh và sự năng đọng của kinh doanh, sự can thiệp thấp của Chính phủ

và do đó, chấp nhận sự phân hóa xã hội ở mức cao

1.1 Đặc trưng về sở hữu

Sự phát triển các doanh nghiệp tư nhân là một trong những đặc trưng cơ bảncủa kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ Tất cả các doanh nghiệp tư nhân được phân chiathành 2 loại: những thập đoàn lớn (bao gồm các tập đoàn quốc gia và siêu quốc gia),bên cạnh là hàng trăm nghìn công ty nhỏ Sự tập trung nhiều ngành công nghiệp trongtay một số ít doanh nghiệp lớn là mộ trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trườngHoa Kỳ Xu hướng tập trung các doanh nghiệp quy mô lớn bắt đầu từ thế kỷ XIX.Vào những năm 1920 các tập đoàn lớn được khuyến khích phát triển Đặc biệt, Chiến

Trang 2

tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy hình thành các tập đoàn lớn nhằm sản xuất máy bay

và xe tăng cho quân đội đồng minh, nhờ sáp nhập thành các tổng công ty(Conglomerate merger) Tình hình phát triển các tập đoàn lớn được minh họa ở bảngsau

Bảng 2 So sánh tài sản của các tập đoàn lớn Hoa Kỳ với tổng tài sản của toànngành năm 1995

Đơn vị tính: Triệu USD

của ngành

Tài sản của tậpđoàn lớn (trên 250triệu USD)

% sovớingành

5 Vận tải và các tiện ích công cộng 1.903.214 1.733.237 91,06

6 Thương mại bán buôn và bán lẻ 1.919.718 1.081.317 56,32

7 Tài chính, bảo hiểm 15.677.267 14.074.066 89,77

Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ, Cục điều tra: Tóm tắt thống kê nền kinh tế Mỹ,

Cơ quan in ấn Chính phủ Mỹ, Washington D.C, 1988, tr 546

Bên cạnh các tập đoàn lớn, ở Mỹ còn có hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa vànhỏ Việc hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là xu thế đang phát triển hiệnnay Các doanh nghiệp này có thể do một số người trước đây vốn điều hành tập đoànlớn nay tách ra thành lập công ty riêng, hoặc là các công ty gia đình được hình thànhtrên cơ sở vốn riêng, nhằm tận dụng những công nghệ hiện đại, thuê lao động có trình

đọ cao, sử dụng kỹ năng quản lý tài chính tiên tiến

Bên cạnh sở hữu tư nhân, nền kinh tế thị trường Hoa Kỳ còn có bộ phận khônglớn kinh tế nhà nước Sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ kháhạn chế, nhưng chính phủ các cấp, từ trung ương đến địa phương đều sở hữu và vậnhành những doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau Ví dụ như TennesseeValley Authority (TVA), một xí nghiệp công rất lớn chuyên sản xuất và phân phốinăng lượng công cộng cho khu vực Đông Nam Hoa Kỳ TVA được thành lập để xâydựng những công trình thủy lợi, những nhà máy thủy điện, cung cấp điện năng, cảithiện dòng chảy của dòng sông Tennessee, kiểm soát lũ lụt trên con sông này và ngănchặn nạn xói mòn đất Các cơ quan khác của Chính phủ cũng sở hữu các hệ thống vậntải và các nhà máy sản xuất nước, gas và điện Chính phủ cũng trực tiếp hay gián tiếp

Trang 3

sản xuất năng lượng nguyên tử và các hàng hóa khác, thực hiện các dự án nhà ở nhằmxóa các khu nhà ổ chuột.

1.2 Đặc trưng về sự can thiệp và vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế HoaKỳ

Sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế xuất hiện vì một số lý do sau:

- Khi cạnh tranh trên thị trường xuất hiện những trục trặc, những khiếm khuyết,

ví dụ như độc quyền, độc quyền nhóm hay những cấu trúc không hoàn hảo của thịtrường cạnh tranh, khiến việc phân bổ các nguồn lực không hiệu quả và hiệu quả kinh

tế - xã hội không được đảm bảo

- Khi trong nền kinh tế thị trường, cơ chế giá cả không đảm bảo cung cấp thôngtin chuẩn xác, hoặc việc phản ứng đối với quá trình sản xuất và bán ra những hànghóa độc hại

- Khi tiến bộ công nghệ tạo nên những ngoại ứng thị trường Ví dụ quá trìnhphát triển ngành chế tạo ôtô đã có những tác động rất sâu rộng đến nền kinh tế Hoa

Kỳ trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX, tạo ra hàng nghìn việc làm trong những ngành

có liên quan như thép và cao su Tuy nhiên, ngành công nghiệp ôtô cũng là thủ phạmchính dẫn đén tình trạng ô nhiễm không khí và tiếng ồn

- Trợ cấp thất nghiệp và các quỹ an sinh xã hội để cung cấp một công cụ bảo vệnhững người lâm vào tình trạng khó khăn mà không phải hoàn toàn do lõi của họ Cầnlưu ý rằng các chương trình phúc lợi xã họi ở Hoa Kỳ được đưa vào thực hiện chậmhơn nhiều chưa được hoàn thiện như ở nhiều quốc gia khác

Để nhận diện sâu hơn về sự can thiệp của Chính phủ Hoa Kỳ trong nền kinh tế,

ta điểm qua các lĩnh vực can thiệp chủ yếu sau:

- Tài chính công là một chỉ số đánh giá mức độ tham gia của chính phủ trongnền kinh tế thị trường, mà thuế là công cụ quan trọng Thuế nhằm vào hai mục đích:tạo nguồn thu cho chính phủ và được sử dụng trong việc tái phân phối thu nhập vàcủa cải trong nền kinh tế Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng nhất củaNgân sách Liên bang, thuế doanh thu là loại thuế quan trọng nhất với ngân sách từngbang, còn chính quyền địa phương thì trông chờ chủ yếu vào thuế tài sản

Cấu trúc nguồn thu và chi của Chính phủ Hoa Kỳ như sau: Có ba nguồn thuchủ yếu của ngân sách Liên bang là thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội và đi vay.Tương ứng với nó, ba hạng mục chi tiêu quan trọng nhất của Ngân sách Liên bang làtrợ cấp trực tiếp cho các cá nhân, chi an ninh quốc gia và trả lãi các khoản nợ quốcgia Khoản chi lớn nhất trong tổng chi tiêu chính phủ là trả bảo hiểm xã hội, chiếmkhoảng 40% tổng chi tiêu chính phủ

Trang 4

Chi tiêu chính phủ thể hiện một sự chuyển giao nguồn lực từ khu vực tư nhânsang khu vực công cộng trong nền kinh tế, đồng thời nó cũng cho thấy phần đóng gópcủa khu vực chính phủ trong GDP Theo thống kê, tổng chi tiêu chính phủ chiếm 31%GDP, so với khu vực tư nhân chiếm 69% (năm 1996) Trong đó, Chính phủ Liên bangchi khoảng 21% GDP, phần còn lại 10% do chính quyền bang và địa phương chi trả.

Khi so sánh với cách quốc gia phát triển khác, thấy rằng khoản chi tiêu củaChính phủ Hoa Kỳ trong tổng GDP nhro hơn nhiều, ngoại trừ Nhật Bản Điều này cóthể là do phần thanh toán chuyển nhượng về thu nhập, bao gồm trợ cấp gia đình, y tếmiễn phí, trợ cấp người mẹ mang thai, hưu trí, trợ cấp thất nghiệp, giáo dục miễn phí

và trợ cấp tai nạn… ở các quốc gia này là khá cao so với Mỹ Nhưng chi tiêu lớn làmcho mức đánh thuế của các quốc gia này cũng cao hơn nhiều so với Hoa Kỳ, tại Pháp,Thụy Điển, tỷ lệ này có khi chiếm tới hơn một nửa GDP

- Các chính sách bình ổn kinh tế Sự can thiệp của Chính phủ bao gồm cả việc

sử dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa Các chính sách này được thực hiện thôngqua chính sách thuế (T) và thanh toán chuyển nhượng (TR), các khoản chi tiêu chínhphủ (G) cho hàng hóa hóa dịch vụ, kiểm soát cung tiền (MS) cũng như điều hành lãisuất (i) của Cục Dự trữ Liên bang Chính sách tài khóa liên quan đến việc ử dụng cácchính sách thuế và chi tiêu chính phủ của chính quyền Liên bang Mục tiêu của nó làtăng hay giảm tổng cầu thông qua sự thay đổi trong mức chi tiêu chính phủ và đánhthuế Ngân sách Liên bang chính là điểm tựa của chính sách tài khóa Chính sách tiền

tệ được thực hiện bở Cục Dự trữ Liên bang để kiểm soát cung tiền

- Những quy định và sự kiểm soát Chính phủ đối với doanh nghiệp Điều chỉnh

và kiểm soát hoạt độn của các doanh nghiệp là lĩnh vực thứ ba mà Chính phủ Hoa Kỳđang cương quyết thực hiện Điều này là cần thiết vì các lý do gắn liền với những thấtbại đó là cơ chế thị trường không có khả năng trang bị cho các cá nhân và xã hộinhững phương tiện thỏa đáng để thỏa mãn những nhu cầu nhất định, ví dụ như nhucầu về một bầu không khí trong lành Do đó, các cơ quan công quyền phải ra tay hànhđộng để có được bầu không khí trong lành, họ sử dụng các biện pháp kiểm soát màchắc chắn sẽ gây ra những tác động không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp.Quá trình phân phối thu nhập và của cải có thể được xem như một thất bại nữa của cơchế thị trường Rõ rằng phần lớn thu nhập xã hội rơi vào tay một số ít người, khôngphụ phuộc vào sự đóng góp của người đó cho xã hội mà do sự thừa kế của cải haythực hiện một số đặc quyền đặc lợi mà có được

- Khuyến khích cạnh tranh Chính phủ Hoa Kỳ luôn khuyến khích cạnh tranh.Việc đề cao cạnh tranh xuất phát từ ý thức rằng cạnh tranh sẽ góp phần nâng cao phúc

Trang 5

lợi xã hội Khi thị trường và các ngành kinh tế được tổ chức và vận hành trong cạnhtranh thì nền kinh tế sẽ đạt được những kết quả tốt đẹp Trước hết, cạnh tranh đượcxem là sẽ cung cấp cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn với mức giá thấp hơn Nócũng là nhân tố thúc đảy cải tiến, đổi mới Cuối cùng, cạnh tranh sẽ đảm bảo tính hiệuquả cho hoạt động của các ngành kinh tế và các doanh nghiệp; khi những doanhnghiệp hoạt động tốt, có lãi sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn những doanh nghiệphoạt động yếu kém, không hiệu quả sẽ bị loại bỏ.

- Luật chống độc quyền ra đời là để tăng cường tính cạnh tranh trên thị trườngbằng việc ngăn cấm các hoạt động liên kết giữa một nhóm doanh nghiệp nhằm thaotúng thị trường, ví dụ như các tơrớt và do đso, ảnh hưởng xấu đến phúc lợi toàn xãhội Luật chống độc quyền Hoa Kỳ có thể gói gọn trong các sắc luật Sherman vàClayton Đạo luật Sherman ngăn cấm việc hình thành các thế lực độc quyền và cáchình thức liên kết khác nhau giữa các doanh nghiệp, gây kìm hãm quá trình phát triểnthương mại giữa các bang hay thương mại quốc tế Đạo luật Clayton thì ngăn cấm quátrình sáp nhập với mục đích làm giảm tính cạnh tranh và ngăn chặn sự phân biệt giá

cả nhằm thủ tiêu các đối thủ cạnh tranh Đạo luật này cũng hạn chế khả nằng mộtngười có thể đồng thời làm giám đốc trong hai tập đoàn hoạt động, cạnh tranh trongcùng lĩnh vực

- Chính phủ cũng ban hành các quy định xã hội đối với doanh nghiệp trên cácphương diện như thuê mướn người tàn tật, an toàn lao động, bảo vệ người tiêu dùng,bảo vệ môi trường… Lý do cho sự tồn tại của các quy định xã hội đó là cơ chế thịtrường thật sự không hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như sự phânbiệt giới tính và chủng tộc, hay những ngoại ứng tiêu cực tạo ra trong quá trình mứcsống tăng lên Ví dụ, khi nhu cầu về chất lượng cuộc sống tăng lên, áp lực phải duy trìbầu không khí trong lành, nước sạch và xử lý an toàn rác thải đặt ra cho Chính phủcũng tăng theo Khi định nghĩa về sự bình đẳng được mở rộng, những quyền lợi chínhđáng mới của con người được chú ý nhiều hơn thì cũng là lúc người ta nâng cao yêucầu đối với Chính phủ Các quy định từ phía Chính phủ là nhằm đáp ứng những yêucầu này, ví dụ như yêu cầu bình đẳng về cơ hội nghề nghiệp

1.3 Đánh giá nền kinh tế Hoa Kỳ

Trong suốt thế kỷ XX và giai đoạn đàu của thế kỷ XXI, với sức mạnh kinh tế

và tiềm năng khoa học công nghệ, Hoa Kỳ đã và đang có vai trò hết sức quan trọngtrên thế giới

Quy lại thời điểm giữa những năm 80 của thế kỷ XX, nhờ những cải cách tronglĩnh vực tiền tệ, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, tự do hóa nền kinh tế và thị trường

Trang 6

lao động linh hoạt, Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1990 đã tạo cho mình những lợi thếcạnh tranh và xuất hiện như một lực lượng kinh tế mới của thế giới Hoa Kỳ khôngchỉ đã giành lại được mà còn mở rộng vai trò dẫn đầu thế giới về thị phần trong cácnhành công nghệ cao như hàng không, dược phẩm, phần mềm và viễn thông NhưngHoa kỳ cũng phải đối mặt với những thách thức của riêng mình: những “bong bóng”kinh tế và những “tài sản ảo” tồn tại trong nền kinh tế, sự ra đời Liên minh châu Âu

và đồng tiền chung Euro cũng đang đe dọa vị thế của Hoa Kỳ

Theo một số nghiên cứu, sức mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ còn có nguyênnhần do nước Mỹ nằm trong vùng khí hậu ôn đới và nền văn hóa của họ thích hợpcho quá trình tăng trưởng kinh tế Chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ chính là tấm gương phảnánh nền văn h óa Mỹ Chủ nghĩa cá nhân được du nhập vào Hoa Kỳ ngay từ thời khimiền Tây bắt đầu được khai phá và dòng người nhập cư đổ về đây để làm ăn sinhsống Đa phần những người này đến từ châu Âu, họ chạy trốn khỏi sự áp bức củachính phủ hoặc vì những điều kiện kinh tế quá khắc nghiệt nơi quê hương Khi đóHoa Kỳ được xem như miền đất hứa, nơi các cá nhân có cơ hội phát triển mạnh mẽdựa vào sức lực và khả năng của họ và mỗi thế hệ tiếp nối lại càng có thêm các cơ hộilàm giàu Miền Tây tạo ra cơ hội cho nhưng người nhập cư đặc biệt trong lĩnh vựcnông nghiệp, và đây chính là mảnh đất khiến chủ nghĩa cá nhân của Mỹ thăng hoa

Một đặc điểm nữa của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ là người Mỹ rất đề cao của cải

và chủ nghĩa tiêu dùng Mô hình Role về quá trình tích lũy của cải đã xuất hiện từ thế

kỷ XIX, khi tầng lớp thượng lưu công nghiệp mới dưới hình thức là các doanh nhângiàu có ra đời, trong đó, người giàu nhất đôi khi được gọi là nhà “tài phiệt” (robberbarons) Những nhà tư bản đầu tiên, những người tự làm giàu bằng bàn tay và khối óccủa mình là những nhà triệu phú như John D Rockerfeller và Andrew Carnegie.Chính sự giàu có đã tạo ra những chuẩn mực tiêu dùng hàng hóa mà người Mỹ đều cốgắng đạt được Điều đáng chú ý là trong xã hội Hoa Kỳ, sự giàu có chưa bao giwof bịkhinh miệt hay căm giận mang tính giai cấp như các xã hội khác nhau, những xã hội

mà ý thức về giai cấp rất mạnh mẽ như ở Anh Tổng iasm đốc kiêm Chủ thịchMicrosoft, nhà tỷ phú giàu nhất Hoa Kỳ, đã truyền cho người dân sự kính trọng vàniềm tin rằng bất cứ ai có đầu óc, có ý tưởng đều có thể thành công trên đất Mỹ

Bên cạnh đó Hoa Kỳ còn được thiên nhiên ban tặng cho những nguồn tàinguyên, khoáng sản phong phú và giàu có hơn các nước khác Không những thế, đấtđai Hoa Kỳ cũng vô vùng trù phú và hầu như sẵn có cho tất cả mọi người, những ai cónhu cầu sử dụng Do đó, xã hội Hoa Kỳ không bị phân chia giai cấp giữa số ít nhữngchủ đất có nhiều đặc quyền đặc lợi đối lập với đa phần quần chúng lao động nghèo

Trang 7

khổ như kiểu châu Âu Đềi này đã tạo nên phẩm chấm tự lập, phát huy sức luuwjc bảnthần và tinh thần trách nhiệm cao của người Mỹ.

Michael Porter, trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh của cac quốc gia”, đã giải thíchkhả năng cạnh tranh quốc tế của Hoa Kỳ là do hội đủ 4 yếu tố cơ bản sau: đó là ưu thế

tự nhiên về nhân tố sản xuất, những điều kiện thuận lợi về cầu hàng hóa trong nước,những ngành công nghiệp liên quan bổ trợ và chiến lược cũng như sự cạnh tranh thảođáng của các coong ty Cầu của thế giới, sức tiêu dùng mạnh và phương phápmarketing phổ cập đại chúng đã tạo ra cầu về hàng hóa tiêu dùng Hoa Kỳ trên thịtrường thế giới Hoa Kỳ rất giỏi và chuyên nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụdựa trên sự trao đổi thông tin nhanh nhạy với thế giới Họ còn có một hệ thống cáctrường đại học lớn được ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D)

Morgan Stanley, một nghiệp đoàn ngân hàng đa quốc gia, đã xuất bản ấn phẩmmang tên Sức mạnh cạnh tranh (The Competitive Edge), dựa trên phương pháp luậnphân tích của Michael Porter Kết luận mà họ đưa ra là những đặc điểm của một quốcgia sẽ định hình những cơ hội riêng cho quốc gia đó Nghiên cứu cho rằng có ba nhân

tố mang tính quyết định trong việc hình thành khả năng cạnh tranh cho quốc gia cũngnhư cho mỗi công ty, đó là: giá trị đồng tiền, sự chênh lệch chi phí lao động tương đối

và năng lực công nghệ Tỏng thập niên 1990, Hoa Kỳ đã sử dụng đồng tiền của mìnhmột cách hiệu quả trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trườngquốc tế Hoa Kỳ cũng có lợi thế hơn châu Âu và Nhật Bản về chi phí lao động vàvượt hẳn các nước khác tỏng quá trình thích nghi với các công nghệ mới trong kỷnguyên thông tin Tỏng số các công ty có sức cạnh tranh toàn cầu, đa phần là cáccông ty Hoa Kỳ và Hoa Kỳ cũng là nước có đa số công ty thống trị các ngành côngnghiệp mà chúng đang hoạt động

Tuy nhiên, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng có những điểm yếu Đây là quốc gia nợnhiều nhất thế giới, thâm hụt thương mại hàng hóa và cán cân ngoại thương liên tụctăng từ năm 1986 Vào năm 1997, tài sản nước ngoài tại Hoa Kỳ đã vượt tài sản củaHoa Kỳ ở nước ngoài Đa phần nợ nước ngoài của Hoa Kỳ là dưới dạng người nướcngoài nắm giữ các khoản nợ của kho bạc, ví dụ như trái phiếu kho bạc Tài khoảnthương mại hàng hóa, bao gồm việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Hoa Kỳ với nướcngoài, đã âm 114 tỷ USD (năm 1997) Tài khoản vãng lai, bao gồm 4 tài khoản cấpnhỏ hơn là tài khoản thương mại hàng hóa,tài khoản dịch vụ, tài khoản về thu nhập vàchi trả tài sản với nước ngoài, tài khoản chuyển giao đa phương – đã âm hơn 100 tỷUSD từ năm 1997

Trang 8

Quy luật cạnh tranh và đào thải ở Hoa Kỳ rất nghiệt ngã Hiện tượng này củng

cố cho quan niệm “thắng làm vua” hay người chiến thắng sẽ có tất cả Thị trường Hoa

Kỳ ngày càng bị chế ngự bởi một số ít các siêu sao Chỉ một sự chênh lệch nhỏ trongnăng lực hay kỹ năng, thậm chí đơn giản là nhờ may mắn cũng có thể dẫn đến nhữngkhác biệt vô cùng lớn đối với thành quả của mộ tsoos ít người Tuy rằng sự cạnh tranh

để giành ngôi vị dẫn đầu trên các thị trường đã đào luyện nên những người giỏi nhất,nhưng nó cũng gây sự lãng phí lớn: thứ nhất, thu hút và tiêu diệt quá nhiều đối thủcạnh tranh và thứ hai, khiến những khoản tiêu dùng và đầu tư trở nên phi sản xuất

Sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Hoa Kỳ rất trầm trọng và có chiềuhướng gia tăng kể từ thập niên 1980 Đối với 20% các gia đình nghèo nhất nước Mỹ,thu nhập thực tế của họ hầu như không được cải thiện gì đáng kể; chỉ có 5% nhữngngười giàu nhất nước Mỹ là có lợi Nếu vào năm 1970, 20% dân cư nghèo nhất nhậnđược khoảng 5,4% thu nhập thực tế của xã hội so với 40,9% của 20% những ngườigiàu nhất; thì đến năm 1996 những con số tương ứng là 4,2% và 46,8% - tỷ số phầnthu nhập thực tế giữa hai nhóm dân cư này là 1/11,2

Trên bình diện thế giới, bất bình đẳng thu nhập của Hoa Kỳ cao hơn so với cácnền kinh tế thị trường xã hội của châu Âu Hệ số Gini1 của Hoa Kỳ là 0,405 so với0,245 của Đan Mạch Chênh lệch trong thu nhập của 10% người thu nhập cao nhất vàthấp nhất của Hoa Kỳ là 19:1 trong khi ở Đan Mạch chỉ là 5,5:1 Tuy nhiên, sự bấtbình đẳng trong phần phối tài sản ở Hoa Kỳ còn lớn hơn và đạm nét hơn so với phânphối thu nhập Của cải được tích lũy lại theo thời gian và được thừa kế Phần lớn củacải Hoa Kỳ nằm trong tay 6,5% các gia đình có thu nhập trên 100.000 USD/năm BillGates có tổng tài sản lên tới 46,4 tỷ USD (năm 2005), là người giàu hơn 50% các giađình nghèo nhất Hoa Kỳ gộp lại và nhiều hơn GDP của Nigiêria, một quốc gia với

115 triệu dân Khi bất bình đẳng thu nhập gia tăng, nhất là trong những năm của thậpniên 1980-1990 thì cùng với nó sự bất bình đẳng về tài sản cũng tăng theo

Nghèo đói chính là mặt bên kia tấm huân chương của sự giàu có ở Hoa Kỳ.Mặc dù số người sống trong mức nghèo đói giảm từ 22,3% (nawm1960) xuống còn13,7% dân số (năm 1996), nhưng con số tuyệt đối những người sống dưới mức nghèođói vẫn là khoảng 36,5 triệu người Trong số đó có 13,8 triệu trẻ em Đặc biệt, mức

độ nghèo đói của da đen và người nói tiếng Tây Ban Nha ở Hoa Kỳ rất trầm trọng

Tóm lại, Hoa Kỳ là nước tư bản chủ nghĩa đại diện cho mô hình kinh tế thịtrường tự do cá nhân Nạn bất bình đẳng thu nhập và tài sản của Hoa Kỳ sâu sắc hơn

so với các nước khác Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Hoa Kỳ cũng khác

1 1 Gini: chỉ số đo sự bất bình đẳng chi tiêu hoặc thu nhập của các nước.

Trang 9

nhiều, khu vực tư nhân là nơi chủ yếu ra các quyết định chiến lược cũng như chiếnthuật về phát triển kinh tế của đát nước.

2 Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản

2.1 Về kết cấu sở hữu và tổ chức kinh doanh

Sở hữu tư nhân đã được đè cao và khuyến khích phát triển trong nền kinh tế thịtrường Nhật Bản ngay thời Minh Trị Trong thời kỳ này, các võ sĩ đạo (Samurai) cũng

có thể trở thành các doanh nhân Nhưng sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bảnmang những nét đặc thù: dưới hình thức liên minh các doanh nghiệp mà người tathường gọi là Zaibatsu Mỗi liên minh như vậy bao gồm khoảng 20-30 doanh nghiệplớn, tất cả tập trung xung quanh một ngân hàng chung Những hãng lớn này đại diệncho các ngành công nghiệp quân trọng của nền kinh tế, do đó, mỗi một nhóm doanhnghiệp như vậy thường bao gồm các công ty vận tỉa, công ty thép, công ty bảo hiểm

và các công ty đại diện cho các ngành công nghiệp khác Liên minh Zaibatsu có quy

mô lớn hơn các tập đoàn của Hoa Kỳ và nằm dưới sự kiểm soát, quản lý của một số ítcác quyền gia thế tộc - những gia đình có quyền lực trong xã hội Ví dụ như Liênminh Mitsui sử dụng tới 1.800.00 lao động từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Liênminh Mitsubishi sử dụng tới trên 1.000.000 lao động Giữa các Zaibatsu và Chính phủ

có mối quan hệ mật thiết, Chính phủ bằng sức mạnh quân sự và các quyền lực khác,

đã tạo thuận lợi cho sự thâm nhập thị trường mới cho các Zaibatsu

Thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai và sự chiếm đóng củaHoa Kỳ đã gây nên những xáo trộn đối với quá trình cải cách và tái tổ chức nền kinh

tế Nhật Bản Vào tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp mới, được tích hợp từ nhữngnguyên tắc dân chủ nghị viện kiểu phương Tây, đã được Hoa Kỳ ban bố và áp dụngcho Nhật Bản Việc giải tán các Zaibatsu thành nhiều xí nghiệp kinh doanh đọc lậpcũng là một phần trong chính sách chiếm đóng của Hoa Kỳ Các đạo luật chống độcquyền ra đời từ sau các sắc luật Sherman và Clayton cũng được áp dụng đối với NhậtBản Tuy nhiên, sau này Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều đạo luật khác khiếnnhiều ngành công nghiệp không còn chịu sự điều chỉnh của các đạo luật chống độcquyền này nữa Nhằm cải thiện vị trí là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới, Nhật Bản

đã cho phép một số hình thức cartel trong lĩnh vực xuất nhập khẩu được thành lập và

đi vào haojt động Sự chiếm đóng của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản cũng mang tới đaycác ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, những nghành công nghiệp mà ngườiNhật đã hấp thụ trọn vẹn Người Nhậ trở thành những công dân được sự bảo trợ củaHoa Kỳ: họ được nhận những ưu đãi, những khoản vay lãi suất thấp và những máy

Trang 10

móc kỹ thuật có khả năng phục hồi sức sản xuất vốn có nhiều ngành công nghiệp,nhát là công nghiệp dệt may.

Tuy nhiên, chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản không thể phụ thộ cmaxivào Khao Kỳ Những nhu cầu trong nước cần được ưu tiên trước, nhất là công nghiệpđóng tàu – ngành hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh, vì Nhật Bản cần

có các con tàu Được sự trợ giúp của Chính phủ, ngành công nghiệp đóng tàu đã pháttriển nhanh chóng và năm 1956 Nhật Bản trở thành quốc gia sản xuất tàu thủy lớnnhất thế giới

Nhật Bản cũng tập trung cho các chính sách xuất khẩu nhằm phát triển côngnghiệp Thủ công mỹ nghệ, dệt may và các ngành công nghiệp quy mô nhỏ khác lànhững ngành công nghiệp mà Nhật Bản có lợi thế nhwof chi phsi nhân công thấp.Nguồn lực con người là nhân tố rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản thời

kỳ hậu chiến

Các tổ chức công nghiệp giữ vai trò lớn trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản

Tổ chức công nghiệp của Nhật Bản là sản phẩm của nền văn hóa và quá trình pháttriển kinh tế độc đáo của Nhật Bản Các nhóm, các tập đoàn công nghiệp Nhật Bảnkhông giống với bất cứ quốc gia nào khác Mặc dù về dân số, Nhật Bản chỉ bằng 1/2Hoa Kỳ, về diện tích đất đai thì chỉ bằng 1/25, nhưng Nhật Bản là nước đứng thứ haithế giới chỉ sau Hoa Kỳ về số lượng các tập đoàn lớn Mặc dù rất hạn chế về tàinguyên, nhưng Nhật Bản lại là một trong ba nước đứng đầu thế giới về kim ngạchxuất nhập khẩu và thương mại Nền kinh tế Nhật Bản dựa trên sự tập trung côngnghiệp qua hai hình thái tổ chức: Keiretsu và Sogo Shosha

Hình thái Keiretsu bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khi các doanh nghiệptheo chế độ gia đình trị phát triển trong nền kinh tế Nhật Bản Không giống như Hoa

Kỳ đã đè ra các đạo luật chống độc quyền, ở Nhật Bản được sự ủng hộ và giúp sứccủa Chính phủ, các công ty theo mô hình gia đình trị lại sản xuất ra tới 90% GNP củađát nước Các công ty này vẫn tồn tại đến ngày nay và được chia thành hai loại chính:Keiretsu ngang và Keiretsu dọc Nhật Bản có 6 Keiretsu ngang, nghĩa là một gia đìnhtập đoàn mà tầm hoạt động của nó vươn tới nhiều ngành công nghiệp khác nhau vàtập trung lại thông qua một ngân hàng Các tập đoàn này đều thuộc số 500 tập đoànlớn nhất thế giới theo sắp xếp của Tạp chí Fortune

Ngoài ra, có khoảng 39 Keirutsu dọc Mỗi trong số họ bao gồm một tập đoàncông nghiệp và các coongty trực thuộc Đa pahfn các công ty loại này hoạt động trongcác ngành công nghiệp sản xuất ôtô và thiết bị điện tử Ví dụ, Toyota có những mốiquan hệ ràng buộc tài chính với tất cả những nhà cung cấp của họ Cùng một lúc họ

Trang 11

sở hữu 41% công ty chuyên sản xuất bành xe, 33% các nhà sản xuất vật liệu bao bọc

và 21% các công ty chuyên sản xuất khung xe cho họ Các thành viên trong mộtKeiretsu dọc, cũng giống như trong các Keiretsu ngang, sở hữ cổ phần lẫn nhau, traođổi thông tin và hợp tác với nhau trong những thương vụ làm ăn

Hình thái Sogo Shosha (hay các công ty thương mại) là loại hình tổ chức doanhnghiệp quan trọng khác của nền kinh tế Nhật Bản Có nhiều công ty thương mại NhậtBản thuộc số những công ty hàng đầu thế giới Hầu hết quan hệ thương mại với nướcngoài của Nhật Bản đều được thực hiên thông qua các công ty này, mỗi công ty đều

có dại diện ở các nước trên thế giới Một công ty thương mại có thể là một thành viêntrong Keiretsu (ví dụ như trường hợp của Sumitomo) Các công ty thương mại hoạtđộng trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhaucho các hãng thành viên Họ mua nguyên vật liệu thô, phân phối sản phẩm và tìa trợcho mộ tsoos hoạt động của các hãng thành viên Họ tham gia vào cả các hoạt độngnhập khẩu cũng như xuất khẩu và có thể giúp tập đoàn của họ trong xử lý, hạn chế rủi

ro ngoại hối Hơn thế nữa, họ cũng tham gia vào các nghiệp vụ kinh tế ở nước ngoàicho các hãng của Nhật Bản cũng như cho những người mua và bán của các quốc giakhác Chịu trách nhiệm thực hiện đa phần các hoạt động xuất nhập khẩu của NhậtBản, các Sogo Shosha hoạt động như một cơ chế xét duyệt để loại ra những mặt hàngnhập khẩu có khả năng gây tổn hại đến các thành viên của Keiretsu Ví dụ, nếu hơisoda có thể được nhập khẩu rẻ hơn so với sản xuất trong nước, một công ty thươngmại có thẻ hạn chế việc nhập khẩu mặt hàng này để bảo vệ các công ty Nhật Bản

Sự liên minh công nghiệp trên quy mô lớn giữ vai trò thống trị trong quan hệthương mại giữa Nhật Bản với nước ngoài Cùng với sự phát triển của các ngành côngnghiệp lớn theo kiểu phương Tây, rất nhiều ngành công nghiệp quy mô nhỏ đang pháttriển nở rộ để đáp ứng nhu cầu rất đặc thù của những người tiêu dùng Nhật Bản.Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn và công nghệ bán lẻ của Nhật Bản là những ví

dụ điển hình Năng suất của cách ngành này thường thấp nhưng họ lại được Nhà nướcbỏa hộ trước sự cạnh tranh của nước ngoài Cũng có những công ty gia đình sử dụng

từ 2-100 lao động, họ thường sản xuất những bộ phận hoặc hcir cung cấp dịch vụ chocác khách hàng lớn, thường xuyên của mình và tất nhiên điều đó khiến họ phụ thuộcnhiều vào sự thành bại của các khách hàng lớn

Để hiểu rõ hơn hệ thống tổ chức kinh doanh ở Nhật Bản, cần nghiên cứu cả hệthống ngân hàng và quan hệ của chúng với doanh nghiệp Hệ thống ngân hàng NhậtBản bị chi p hối bởi các ngân hàng thương mại lớn – các đạo gia trong ngành ngânhàng, và họ thường là thành viên của một Keiretsu Trong nửa cuối thế kỷ XIX,

Trang 12

những ngân hàng này đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các chính sách pháttriển của Chính phủ Nhật Bản Họ thực hiện cho vay đối với các thành viên củaKeiretsu và mua cổ phiếu phổ thông của các công ty này Họ hoạt động trên phạm vitoàn cầu Ngoài ra, có một số ngân hàng tư nhân khác với quy mô nhỏ hơn rất nhiều

và thường chỉ tập trung vào hoạt động tài trợ cho cac doanh nghiệp vừa và nhỏ Bêncạnh đó, còn có vai trò của một số định chế tài chính thuộc sở hữu nhà nước trongviệc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức tài chính tư nhân Tỏng đó phải kể đến Ngânhàng Phát triển Nhật Bản, thực hiện cho vay dài hạn với l ãi suất thấp đối với cácngành công nghiệp cơ bản trong nước; Ngân hàng Tiết kiệm Bưu chính là phươngtiện chính để huy động tiest kiệm trong phạm vi nước Nhật; Ngân hàng Xuất nhậpkhẩu cung cấp các khoản vay dài hạn với lãi suất mang tính trợ cấp cho các nhà xuấtkhẩu sản pẩm Nhật Bản

Hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã lâm vào khủng hoảng đầu những năm 1990.Cac ngân hàng đều có tỷ lệ nợ xấu lớn, thực hiện cho vay đối với bạn bè, người quen,những người đầu tư vào thị trường bất động sản và các tài sản khác ở Hoa Kỳ và cácquốc gia khác Do đó, giá trị bất động sản bị thổi phồng nhanh chóng, tạo ra hiệntượng mà người ta vẫn gọi là nền kinh tế “bong bóng” và cuối cùng chiếc bong bóng

đã vỡ tan Không giống với các ngân hàng Hoa Kỳ, các ngân hàng Nhật Bản khôngđược kiểm soát chặt chẽ và những khoản vay hầu như không được đảm bảo Khi nềnkinh tế “bong bóng” sụp đổ, thị trường cổ phiếu cũng đổ theo Những nhà đầu cơ sửdụng tiền vay từ các ngân hàng cũng đầu cơ rất nhiều vào thị trường cổ phiếu Cácngân hàng không thực hiện chế độ bảo hiểm, dự phòng tài chính cho các khản nợ xấutrên bản cân đối kế toán của họ Có 5 ngân hàng thất bại nặng nề nhất trên thị trườngtài chính thế giới chính là các ngần hàng Nhật Bản

2.2 Vai trò của Chính phủ Nhật Bản

Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế của Nhật Bản Sự phát triển sau chiến tranh của các ngànhcông nghiệp Nhật Bản được kích thích vào tạo sức bật từ những khỏan viện trợ củaChính phủ cũng như việc cho vay với lãi suất thấp Điều đó một phần có được nhờ sự

sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để kích thích quá trình tăng trưởng kinh tế.Những động lực đặc biệt về thuế được sử dụng để khuyến khích người ta nâng cao tiếtkiệm, đầu tư, hình thành vốn tích lũy, cũng như du nhập vào nền kinh tê các sản phẩm

và côn gngheej mới Điều có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của nền kinh tếNhật Bản là tạo lập được mối quan hệ thường xuyên, gần gũi giữa Chính phủ vàdoanh nghiệp

Trang 13

Khác hẳn với Hoa Kỳ và Đức, vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế NhậtBản cũng rất đặc biệt trên các khía cạnh như Chính phủ chỉ chiếm phần nhỏ trong tiêudùng xã hội, nhưng lại lại chiếm phần lớn trong đàu tư và giữ quyền kiểm soát chặtchẽ khu vực tư nhân thông qua các trung gian của Chính phủ Chi tiêu Chính phủtrong lĩnh vực bảo hiểm xã hội cũng ít hơn nhiều Ví dụ, đa phần người lao độngtrong các doanh nghiệp đều tham gia vào chương trình bảo hiểm của chính doanhnghiệp đó, những chương trình đảm bảo chi trả các khoản lương hưu, trợ cấp chongười công nhân căn cứ vào thu nhập của anh ta.

Nhưng điều tạo nên sự khác biệt lớn nhất giữa Nhật Bản với Hoa Kỳ và Đức làvai trò của các cơ quan hành chính và các bộ, ngành trong nền kinh tế Để hiểu rõ hơnvai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường NhậtBản, cần đi sâu nghiên cứu chức năng của một số cơ quan, tổ chức của Chính phủ

Bộ Tài chính Nhật Bản là cơ quan kiểm soát thi trường tài chính Bộ Tài chínhquản lý tất cả các nguồn thu ngân sách Chính phủ và họ cũng chính là người giữquyền quyết định đối với việc sử dụng chúng Bộ Tài chính thực hiện chính sách tàikhóa Nó cũng chịu trách nhiệm điều chỉnh, thay đổi tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân vàdoanh nghiệp, khởi xướng những điều khoản, những chính sách trong luật thuế nhằmkích thích sự phát triển của các sản phẩm và công nghệ mới Thủ tướng và các các cơquan lập pháp không có quyền kiểm soát thực sự đối với Bộ tài chinhs, họ chỉ nhận sự

tư vấn, đóng góp từ những công chức của chính họ Bộ Tài chính còn kiêm luôn chứcnăng kiểm soát vận hành hệ thống ngần hàng Nhật Bản

Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế (MITI), cùng với Bộ Tài chính là hai

bộ quan trọng nhất trong Chính phủ Nhật Bản MITI là cơ quan Chính phủ quan trọng

và giàu quyền lực nhất của Nhật Bản, ít nhất là trong con mắt của doanh nghiệp NhậtBản Ra đời từ những năm 1940 nhằm mục tiêu hiện đại hóa công nghiệp Nhật Bản

và đẩy mạnh xuất khẩu, chức năng của MITI là xác định một lộ trình hành động cơbản nhằm cải tiến, nâng cao lợi thế so sánh trong tương lai của nền kinh tế Nhật Bản

và để huy động tất cả khu vực, các nguồn lực vào quá trình phát triển cung của đấtnước Chẳng hạn, xây dựng ngành công nghiệp thép là ưu tiên số một của Nhật Bảntrong thời kỳ phát triển hậu chiến Để thực hiện sự ưu tiên này, MITI đã khuyến khíchcác ngân hàng Nhật Bản cung cấp vốn để mua các công nghệ và thiết bị sản xuất thép

từ phương Tây mà chủ yếu là từ Hoa KỲ Những khuyến khích về thuế, các khoảnvay với lãi suất thấp và các động lực tài chính khác đã được MITI trao cho ngànhcông nghiệp thép MITI đang tiếp tục quá trình tái cơ cấu các ngành công nghiệp bằngviệc tập trung các nguồn lực các ngành công nghiệp bằng việc tập trung các nguồn

Trang 14

lực vào các khu vực mà họ cho rằng Nhật Bản cần phải tăng cường khả năng cạnhtranh trong kỷ nguyên mới.

MITI còn giữ khá nhiều chức năng quan trọng xây dựng phương hướng pháttriển cho các ngành công nghiệp Nhật Bản; đưa ra một bức tranh toàn cảnh để cungcấp cái nhìn toàn diện về nền kinh tế Nhật Bản, đề xuất những ngành công nghiệp mànước Nhật cần phải phát triển mạnh hơn nữa để giữ được vai trò của mình trên trườngquốc tế; MITI cũng phát triển các chính sách công nghiệp của nước Nhật, xây dựngcũng như hướng dẫn việc thực hiện các chính sách công nghiệp của Nhật, xây dựngcũng như hướng dẫn việc thực hiện các chính sách công nghiệp đó; MITI kiêm luôn

cả chức năng tư vấn đối với các cơ quan Chính phủ khác và chịu trách nhiệm hướngcác dòng vốn trong nền kinh tế tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọ, được,khuyến khích; có quyền cấp bằng phát minh sáng chế, bản quyền sở hữu trí tuệ chocác doanh nghiệp; không một nhà máy, siêu thị hay cửa hàng bách hóa nào ở NHậtBản có thể thành lập mà không xin phếp và được sự cấp phép từ phía MITI; thậm chí,MITI có quyền phủ quyết các điều luật chống độc quyền và thành lập hình thức độcquyền cartel, hoặc là để hỗ trợ các ngành công nghiệp đang lâm nguy hawojc để pháttriển các ngành công nghiệp mũi nhọn; có quyền quyết định đối với giá điện và nănglượng trong nền kinh tế Nhật Bản

Cơ quan Khoa học và Kỹ thuật công nghiệp (AIST) la cơ quan bán độc lậpđược thành lập dưới sự cho phép của MITI và có trách nhiệm chính là xúc tiến côngnghệ và phát triển các công nghệ mới Cơ quan này chịu trách nhiệm theo sát tìnhhình phát triên khao học – kỹ thuật trên thế giới và tìm ra đâu là những công nghệquan trọng, cần thiết cho sự phát triển công nghiệp của NHật Bản Một trong nhữngđiểm mạnh của nền công nghiệp Nhật Bản là nó luôn thu thập khá đầy đủ thông tin vềtrình độ phát triển khoa học – kỹ thuật trên thế giới và do đó, AIST luôn tham mưucho nền công nghiệp Nhật Bản để khuyến khích việc áp dụng những công nghệ mớiphục vụ lợi ích quốc gia Cơ quan này cũng thực hiện tài trợ đối với những nghiêncứu về công nghệ mới, chịu trách nhiệm một phần trong việc phát triển các bằng phátminh sáng chế

Các thể chế tài chính thuộc Chính phủ Chính phủ Nhật Bản tham gia vào cáchoạt động thiết yếu trên thị trường tài chính thông qua việc sở hữu một số thể chếchuyên về tín dụng Họ cung cấp các khoản vay dài hạn phục vụ cho việc phát triểncông nghiệp, tài trợ xuất khẩu và nông nghiệp, đó là một phần trong những chính sáchChính phủ đề ra để kích thích quá trình tăng trưởng kinh tế ở một đất nước khan hiếmtài nguyên Ngân quỹ cho vay của những thể chế này được cấu thành từ những nguồn

Trang 15

vốn đối ứng như từ ngân sách Chính phủ hay tiết kiệm dân cư dưới hình thức tiếtkiệm (niên kim) và bảo hiểm xã hội… Những khản tiết kiệm này cùng với các khảnthặng dư từ một số tài khoản ngân sách chuyên dụng khác được gửi vào một cục quản

lý quỹ nhất định, cơ quan này sau đó sẽ thực hiện cho vay đối với các xí nghiệp công

và các thể chế tài chính công khác Một số khoản vay nhất định cũng có thể đượcdành cho khu vực tư nhân khi họ đáp ứng đầy đủ một số điều kiện nhất định, nhất làhoạt động trong các ngành công nghiệp xuất khẩu Tuy niên, theo thông lệ thì tài trợcho khu vực tư nhân dược thực hiện thông qua sự hợp tác với các tổ chức cho vay tưnhân khác

Bộ Bưu chính viễn thông (MPT) là cơ quan giữ chức năng tiết kiệm chính yếu

và quan trọng của Nhật Bản, với tổng số tiết kiệm lên tới 1 tỷ USD Tất cả các bà nộitrợ trong gia đình Nhật Bản ddefu tiết kiệm thông qua các dịch vụ bưu điwjn, nộpkhoản tiết kiệm của họ qua dịch vụ chuyển thư va gửi tại các bưu điện nơi họ sinhsống Những khản tiền này sau đó được tài trợ cho các cơ quan Chính phủ như Ngânhàng Phát triển Nhật Bản

Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thông qua ba công cụ chính

để kiểm soát tổng lượng tín dụng và tiền tệ cung cấp trên thị trường – chính sach lãisuất ngân hàng, nghiệp vụ thị trường mở và tỷ lệ dự trữ bắt buộc Chính sách lãi suấtngan hàng liên quan đến việc hạ hay nâng tỷ lệ chiết khấu và lãi suất cho vay trên thịtrường Việc thay đổi các tỷ lệ lãi suất này là công cụ quan trọng nhất trong việc thựchiện chính sách tiền tệ ở Nhật Bản vì các ngân hàng cấp thành phố của Nhật phải dựavào các hoản vay từ Ngân hàng Trung ương, còn các ngành công nghiệp, đến lượtmình lại trông cậy nhiều vào các khản vay ngân hàng Bên cạnh đó, Ngân hàng Trungương Nhật Bản có thể dịnh mức lãi suất trần cho việc vay tiền của các ngân hàng, nếulãi suất thực hiện cao hơn mức đó thì Ngân hàng Trung ương có thể ấn định các mứcphạt hoặc từ chối, không cho vay

Nghiệp vụ thị trường mở bị hạn chế sử dụng do thị trường vốn của Nhật Bảnchưa thực sự phát triển tốt và do đó không phải là một công cụ quá quan trọng trongviệc thực thi chính sách tiền tệ ở Nhật Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Nhật Bản thấp hơnnhiều so với các quốc gia phát triển khác, việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngânhàng Trung ương Nhật Bản tiến hành là một công cụ bổ sung để kiểm soát tiền tệtrong nước

2.3 Đánh giá tổng quát về nền kinh tế thị trường Nhật Bản

a, Những thành công

Trang 16

Nền kinh tế Nhật Bản và các thị trường tài chính của họ - nguồn lực cho “sựthần kỳ” Nhật Bản, được xem là niềm ngương mộ của cả thế giới Các quốc gia tranhnhau những khoản đầu tư của người Nhật Nhưng đáng tiếc, đa phần những khỏanđầu tư này đã rót vào Hoa Kỳ để mua trái phiếu, bất động sản và các công ty, xâydựng các nhà máy chế biến, ví dụ như, trong các lĩnh vực điện dân dụng và sản xuấtôtô Các công ty Nhật Bản được coi như những mô hình kinh doanh hiệu quả và tiêntiến, những ý tưởng của người Nhật về thu hút sự tham gia của lao động vào quá trìnhsản xuất, kiểm soát chất lượng, thiết kế quy trình sản xuất… được áp dụng tại mọi nơitrên thế giới.

Nền kinh tế Nhật Bản là nền kinh tế đạt được nhiều thành tự tăng trưởng nhấttrong số các quốc gia công nghiệp phát triển lớn của thế giới trong thế kỷ XX Thời

kỳ phát triển thành công nhất của Nhật Bản là thời kỳ 1950-1987, khi tốc độ tăngtrưởng trung bình hàng năm đạt 7,1% và tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP thực

tế là 6,0% nhưng tốc độ tăng trưởng của Nhật Bản vẫn là 4,0% so với 2,9% ở Hoa

Kỳ, 2,4% ở Pháp và 2,2% ở Đức

Có thể kể những thành tự trên một số lĩnh vực cụ thể Xuất khẩu laflinxh vựcthành công điển hình của Nhật Bản Sản phẩm của Nhật Bản được bán ra trên toàn thếgiớ, từ máy nghe Sony Walkman đến ôtô Nissan hay Toyota Chỉ có Canđa có kimngạch xuất khẩu sang Mỹ nhiều hơn Nhật Bản Nếu trở lại trước năm 1900, nướcNhật hoàn toàn khong có xuất khẩu Họ bắt đầu thể kỷ XX với vị trí thứ 23 xét trêntổng kim ngạch xuất khẩu so với vị trí thứ 12 của Trung Quốc Tổng kim ngạch xuấtkhẩu của NHật Bản tại thời điểm đó chưa bằng 2% của Vương Quốc Anh, quốc giadẫn đầu thế giới về xuất khẩu Nhưng đến cuối thế kỷ XX, năm 1997 nước Nhật đãxếp thứ 3 thế giới xét trên phương diện xuát khẩu, với tổn gkim ngạch lớn hơn so vớiVương quốc Anh là khoảng 150 tỷ USD Cũng năm 1997 tài khoản thương mại hànghóa của Nhật Bản đạt thặng dư 73 tỷ USD so với khoản thâm hụt 114 tỷ USD trongtài khoản thương mại nói chung, khoảng ½ trong số đó là quan hệ thương mại vớiHoa Kỳ

Nhật Bản là quốc gia cho vay hàng đầu thế giới hẹo tài trợ cho việc cầm giữcác tài sản nước ngoài thông qua những khoản thặng dư liên tục trên tài khoản xuấtnhập khẩu hàng hóa, trong vòng 25 năm con số này đã lên tới 2,2 tỷ tỷ USD Mộtphần đáng kể trong số này được đầu tư vào các tài sản của Hoa Kỳ, từ trái phiếu khobạc đến các nhà máy sản xuất ôtô Nhật Bản có tổng lượng vốn mà Hoa Kỳ đầu tưvào Nhật Bản Thu nhập từ việc cầm giữ các tài sản của người Nhật ở Hoa Kỳ sẽ quay

về Nhật Bản trong khi đó thu nhập từ việc cầm giữ tài sản người Mỹ ở Nhật sẽ quay

Trang 17

về Hoa Kỳ Từ cuối thập niên 1970, Chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ phần lớn các khảnchi tiêu của mình từ các khoản vay nước ngoài và đã khiến Hoa Kỳ càng trở thànhcon nợ lớn của thế giới Trong khi đó, Nhật Bản, người cầm giữ rất nhiều tài sản nợcủa Chính phủ Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia cho vay hàng đầu thế giới.

Công nghiệp Nhật Bản phát triển mạnh bởi bốn nhân tố sau: (1) rất coi trọngchất lượng sản phẩm Trên thực tế các sản phẩm Nhật Bản được bán tại Hoa Kỳ bấtchấp tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ và yên Nhật có biến động thuận lợi hay bất lợi chongười Mỹ bởi vì với người Mỹ, hàng hóa Nhật Bản, nhất là ôtô, đồng nghĩa với chấtlượng; (2) coi trọng công tác nghiên cứu Thu thập từ hoạt động xuất khẩu được sửdụng để tái đầu tư vào cách hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D); (3) Nhật Bản

có một lực lượng lao động kỹ thuật cao cũng như khối lượng lớn máy móc, thiết bịtính trung bình trên một công nhân Năm 1992, Nhật Bản đứng đầu thế giới xét trênchỉ tiêu giá trị thiết bị, máy móc tính bình quân trên một công nhân và đứng thứ 3 thếgiới xét trên chỉ tiêu tổng số năm được đào tạo tính trên một công nhân bình thường

so với các quốc gia công nghiệp phát triển khác; (4) Nhật Bản có một lượng cầu trongnước rất lớn đối với các sản phẩm do chính họ sản xuất ra; thị trường trong nước lànhân tố chính yếu dẫn đến thành công trong quá trình phát triển công nghiệp NhậtBản

b, Những điểm yếu

Hiện nay Nhật Bản đang phải đương đầu với hàng loạt những vấn đè nghiêmtrọng khi bước vào thế kỷ XXI Người ta nghi ngờ rằng liệu Nhật Bản có thể giảiquyết những vấn đề nan giản này trước khi họ kéo cả một phần thế giới cùng chìm với

họ Sự bị quan đang bao trùm nên kinh tế Nhật Bản, đó chính là lý do tại sao cỗ máyquản lý và chính trị của Nhật Bản bỗng dừng hoạt động Người ta cũng cho rằng NhậtBản đã mắc phải một chứng bệnh – căn bệnh Nhật Bản, nghĩa là sự suy đồi trong đạođức làm việc của người Nhật, một sự đồng điều tuân thủ đến cứng nhắc, mất đi sựsáng tạo và niềm tin cũng như tinh thần của công chúng igarm sút rõ rệt Những vụ xìcăng đan trong các lĩnh vực chính trị, hành chính và kinh doanh dấy lên trong thậpniên 1990 đã cho thấy rằng Nhật Bản đang dần mất đi chất keo hàn gắn xã hội của họ,chất keo có thể đưa họ tiếp tục quãng đường phát triển trong những thế kỷ tới

Một xã hội già nua Nước Nhật là một trong những nước có dân số già nhất thếgiới; hơn nữa, trong suốt quãng 1/4 đầu tiên của thế kỷ XXI, tốc độ già đi của dân sốnước Nhật thậm chí còn tiếp tục tăng lên Triển vọng sống trung bình của người dânNhật Bản thuộc loại cao nhất trong số các quốc gia phát triển lớn và người ta cho rằng

nó vẫn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới Hơn thế nữa, tỷ lệ sinh ra của nước Nhật

Trang 18

lại đang giảm xuống và cùng với nó là hiện tượng dân số trong độ tuổi lao động cũnggiảm dần Nhưng không giống với Đức hay Hoa Kỳ, Nhật Bản phải đương đầu vớihai vấn đề lớn: thứ nhất, nước Nhật chống lại việc nhập cư và giữ sự đồng nhất vềchủng tộc; thứ hai, người Nhật rất không muốn phụ nữ phải lao động vất vả, họ khôngmuốn bóc lột sức sản xuất của phụ nữ và do đó càng làm gánh nặng thuế khóa đối vớidân Nhật tăng lên.

Nền kinh tế Nhật Bản cũng đang ở trong sự bộn bề các vấn đê tài chính Nhữngngân hàng lớn của NHật Bản thua lỗ rất nhiều Nhiều ngân hàng đã phá sản hoặc phải

để Chính phủ mua lại Tổng lượng nợ của Chính phủ và chi trả lãi suất đã lớn hơnGDP của nước Nhật Các thể chế tài chính Nhật Bản tiến hành đầu tư dựa trên quan

hệ cá nhân, những nhà đàu từ tại các công ty chứng khoán được ủng hộ và tạo cho cáckhoản vay đảm bảo để tiến hành đầu tư Những khoản vay này lại dội đến các doanhnghiệp nhỏ và các cá nhân để đầu cơ vào thị trường chứng khoán và bất động sản.Các quan chức Bộ Tài chính tiết lộ thông tin cho các ngân hàng trước khi có cuộcthanh tra diễn ra để đổi lại những ưu đãi và những cuộc tiêu xài hoang phí mà cácngan hàng sẵn sàng chi trả cho họ các ngân hàng Nhật Bản còn quan hệ với những kẻđầu cơ bất chính Và cuối cùng, các ngân hàng Nhật Bản cho vay rất nhiều đối vớiHàn Quốc, Inđônêxia và Thái Lan, 3 trong số những nước mà cuộc khủng hoảng tàichính Đông Á đã diễn ra ở mức trầm trọng nhất Tóm lại, trong thập kỷ 1980, NhậtBản được người ta xem là một đế chế mới, một lực lượng hùng mạnh có thể sẽ thốngtrị thế kỷ XXI Nền kinh tế Nhật Bản nhận được sự ngưỡng mộ và người ta luôn nhìnvào Nhật Bản để rút ra những bài học về các vấn đề như tăng trưởng kinh tế hay giáodục Một xã hội nghiêm khắc, trật tự của Nhật Bản cũng rất được tôn sùng so với xãhội Mỹ - một xã hội chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân Vậy thì, tại sao một quốc gia đãtừng là tấm gương sáng về hiệu quả lại có thể tự đẩy mình vào tình thế nghiêm trọngchỉ trong vòng một thập kỷ ngắn ngủi Có hai vấn đề lớn có quan hệ biện chứng lẫnnhau trong xã hội Nhật Bản: thứ nhất, sự sụp đổ của hệ thống tài chính; và thứ hai, sựbất lực và nạn tham nhũng đang hoành hành trong Chính phủ Nhật Bản

3 Mô hình kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa liên bang Đức

Mô hình này có đặc trưng: phối hợp sức mạnh của cơ chế thị trường tự do với

sự can thiệp của Nhà nước để đạt được các mục tiêu xã hội đề ra; giả định mở rộngcác nguyên tắc cạnh tranh, gắn với tạo lập một hạ tầng xã hội mạnh nhằm làm giảmnhẹ các khiếm khuyết của thị trường; hình thành một cơ cấu thể chế phức tạp, nhiềulớp của hệ thống an sinh xã hội

Trang 19

Nước Đức chưa bao giờ có thứ mà người ta gọi là nền kinh tế thị trường tự do,Nhà nước luôn đảm bảo sự tồn tại của cả hai bộ phận: kinh tế tự do (tư nhân) và kinh

tế mệnh lện (Nhà nước) Chủ nghĩa tư bản Đức khác so với chủ nghĩa tư bản tự do cánhân, tự do thị trường Hoa Kỳ trên một số khía cạnh chủ yếu sau: ở Hoa Kỳ, tự dokinh doanh và thị trường tạo ra của cải, còn ở Đức người ta kết hợp cả sự kiểm soátcủa Nhà nước và sự tự chủ của khu vực tư nhân để tạo ra của cải Hiện tượng bất bìnhđẳng về thu nhập hay tài sản ở Hoa Kỳ sâu sắc và mạnh mẽ hơn nhiều so với ở Đức

Nhưng nền kinh tế thị trường xã hội của Đức cũng không giống như nền kinh tếthị trường nhà nước Nhật Bản Điểm khác biệt thứ nhất, nổi bật là ở Nhật Bản người

ta không thấy những chương trình an sinh xã hội, còn ở Đức, các chương trình an sinh

xã hội gắn liền với cuộc đời mỗi người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời Tất nhiên,giữa Đức và Nhật Bản có rất nhiều điểm khác biệt về văn hóa và điều này lý giải tạisao có những điểm khác việt về hệ thống kinh tế - xã hội giữa hai nước này Tại NhậtBản, gia đình hay các tập đoàn phải chịu trách nhiệm về phúc lợi của mỗi cá nhânthuộc gia đình hay tập đoàn đó Nét khác biệt thứ hai là khu vực kinh tế quy mô vừa

và nhỏ ở Nhật Bản rất kém phát triển trong khi lại rất phát triển trong nền kinh tếĐức, người Đức gọi khu vực kinh tế vừa và nhỏ là Mittelstand Và một lần nữa, sựkhác biệt này được giải thích bằng sự khác biệt giữa văn hóa và lịch sử của hai đấtnước Điểm khác biệt thứ ba giữa Nhật Bản và Đức thuộc về hệ thống tài chính Hệthống tài chính Nhật Bản được người ta nhắc đến nhiều bởi sự sụp đổ của nền kinh tế

“bong bóng” cuối thập niên 1980 và kéo theo cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngânhàng trong suốt thập niên 1990, rõ ràng đó là một hệ thống tài chính không ổn định vàkhông được kiểm soát chặt chẽ Ngược lại, nước Đức có một hệ thống tài chính ổnđịnh nhất trên thế giới Cuối cùng, xã hội Nhật Bản là một xã hội có chiều hướng côlập và không mở cửa với thế giới bên ngoài

3.1 Kết cấu sở hữu và tổ chức kinh doanh

- Hệ thống doanh nghiệp: Mittelstand, hay đẳng cấp trung lưu, là một phầnquan trọng trong nền kinh tế Đức như là một định chế đặc thù, nó có nguồn gốc từthời trung cổ, khi các phường hội thủ công rất thịnh hành trong nền kinh tế của nhiềulãnh địa, lãnh chúa riêng như ở Đức Họ đặt ra những luật chặt chẽ quy định chấtlượng cho các đồ chế tác thủ công và người thợ nào thông qua học tập và rèn luyện cóthể đạt đến những tiêu chẩn đó sẽ được phong làm các bậc thầy, những nghệ nhân thủcông Đến ngày nay, danh hiệu nghệ nhân thủ công vẫn còn rất phổ biến và quantrọng tại Đức, ai có nó sẽ tạo ra điểm khac biệt so với nguowfi khác Khi so sánh nềnkinh tế Đức với Hoa Kỳ và Nhật Bản, đẳng cấp trung lưu đóng một vai trò rất độc đáo

Trang 20

đối với sự phát triển của nước Đức Nó làm được hai việc cho nền kinh tế Đức: thứnhất, thu hút khoảng 2/3 tổn số việc làm của nước Đức mà một nửa trong số đó làviệc làm trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, và trên 40% trong tổng lượng đầu tưcủa nền kinh tế; thứ hai, duy trì một hệ thống giáo dục hướng nghiệp xuất sắc củanước Đức, một hệ thống giáo dục được đánh giá là đứng hàng đầu thế giới.

Ngoài ra, ở Đức còn các phòng thường mại và hiệp hội thương mại – DeutscheIndustrie und Handelstag Tất cả các doanh nghiệp Đức đều phải là thành viên bất kểquy mô Trách nhiệm chính của các phòng thương mại Đức liên quan tới các chươngtrình đào tạo hướng nghiệp Như một cơ quan pháp luật, họ đề ra các quy định nhưthời gian mở cửa các cửa hàng, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép laođộng, giải quyết các tranh chấp giữa các doanh nghiệp và quan hệ qua lại với chínhphủ các cấp Do đó, chức năng của họ chính là hạt nhân cho sự vận hàng của hệ thốngkinh tế Đức

Doanh nghiệp nhà nước ở Đức có quy mô và vai trò lớn, trong một số trườnghợp, Chính phủ tham gia trực tiếp hoặc thông qua hình thức cổ phần Có thể coidoanh nghiệp nhà nước là đặc truewng riêng của nền kinh tế thị trường xã hôi cũngnhư của châu Âu Quản lý doanh nghiệp nhà nước được phi tập trung hóa tới cấpdoanh nghiệp Bộ Tài chính Liên bang được thành lập vừa như một công cụ quản lýdoanh nghiệp nhà nước vừa thực hiện các nhiệm vụ tư nhân hóa Ở nước Đức, quátrình phi quốc hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thông qua hai conđường: 1, Bán lại doanh nghiệp cho cá nhân và 2, Phi quốc hữu hóa bằng cách báncho người có thu nhập thấp một tỷ lệ ưu đãi Các doanh nghiệp thuộc sở hữu côngđoàn được tổ chức theo hình thức hỗn hợp, hoạt động vì mục tiêu phúc lợi chứ khôngnằm tối đa hóa lợi nhận

- Hệ thống ngân hàng: Sức mạnh tài chính của các ngân hàng Đức còn mạnhhơn các ngân hàng Hoa Kỳ Họ cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho nền côngnghiệp Đức và đồng thời là cổ đông lớn nhất trong nền kinh tế Họ cũng cung cấp đaphần các dịch vụ môi giới chứng khoán cho các khách hàng ở Đức Không có một sựphân tách nào cách ly ép buộc theo pháp luật nào giữa một ngân hàng đầu tư và mộtngân hàng thương mại giống như ở Hoa Kỳ hay Nhật Bản Các ngân hàng Đức có ghếtrong hội đồng giám đốc của các công ty mà họ nắm giữ cổ phiếu hoặc những công tyvay tiền cho họ, đây là một điều không được pháp luật Hoa Kỳ cho phép Người taước tình rằng các ngân hàng lớn của Đức đều là những ngân hàng tư nhân, trực tiếphay gián tiếp đang nắm giữ tới 1/4 quyền biểu quyết trong 25% các tập đoàn lớn nhấtcủa Đức và chiếm tới 28% trong các hội đồng tư vấn của họ Sau đó phải kể đến các

Trang 21

ngân hàng thương mại ở trung ương và địa phương cũng thuộc sở hữu tư nhân, lànguồn tài chính hầu như duy nhất của các doanh nghiệp quy mô nhỏ của Đức Cácngân hàng Đức kiểm soát ít nhất một nửa nền kinh tế Đức, do đó sự quan tâm đượcđặt nhiều vào các mục tiêu dài hạn và sự ổn định tiền tệ.

Đặc điểm văn hóa của người Đức là rất tôn trọng kỷ luật và trật tự, điều nàyđược thế hiện rất rõ trong hệ thống ngân hàng của họ Sức mạnh của các ngân hàngĐức là sản phẩm của thế kỷ XIX, khi Deutsche Bank và Commezbank được thành lậpbởi Nhà nước Phổ đề tài trợ cho sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất Saungày nước Đức thống nhất, Deutsche Ban trở thành ngân hàng quan trọng nhất đốivới cả Chính phủ và doanh nghiệp Họ có những đại diện ở cả doanh nghiệp cũng nhưChính phủ đang làm việc trong ban giám đốc của ngân hàng Trật tự được duy trìthông qua những kênh nối từ ngân hàng với doanh nghiệp lớn, kiểm soát quyền bỏphiếu và hoạt động của các công ty

- Đặc điểm về việc ra quyết định về các chính sách kinh doanh Mục đích củaviệc này là tạo cho người công nhân có tiếng nói trong các quyết sách chung Kháiniệm hợp tác cùng xác định ra đời từ quá trình phát triển của chủ nghĩa nghiệp đoànthương mại thế kỷ XIX Nó gắn liền với ý tưởng về một xã hội theo trật tự xã hội chủnghĩa, điều này thấm nhuần vào suy nghĩ của các nghiệp đoàn thương mại Đức thờiđó

Quá trình hợp tác cùng xác định diễn ra theo hai kết cấu - Ủy ban kiểm soát vàHội đồng lao động Ủy ban kiểm soát phải có 1/3 số đại diện công nhân trong cáchdoanh nghiệp sử dụng từ 500-2.000 công nhân và với những doanh nghiệp có trên2.000 công nhân, tỷ lệ này là 1/2 hoặc hơn nữa Đối với các công ty công, đại diệncủa công nhân và nhà nhà quản lý trong Ủy ban này phải ngang nhau, đối với côngtyw nhân số đại diện công nhân phải bằng đại diện của nhà quản lý và có một đại diệnkhác xem là trung lập Người đại diện trung lập này được cả hai bên bầu ra, có tráchnhiệm điều phối, tháo gỡ cho cả hai bên Ủy ban kiểm soát ra quyết định đầu tư vàcác quyết sách dài hạn khác cho công ty Là thành viên trong Ủy ban kiểm soát, côngnhân có tiếng nói nhất định đối với các vấn đề nhân sự, nhưng các vấn đề hoạt độngcủa công ty lại thuộc chức năng của những người quản lý

Hoạt động ở cấp độ nhà máy, Hội đồng lao động có mặt ở hầu hết các doanhnghiệp Đức và tham gia vào mọi vấn đề về đảm bảo điều kiện lao động Bất cứ mộtquyết định thải hồi công nhân nào cũng phải được trình lên Hội đồng này trước khi raquyết định chính thức, và Hội đồng có thể can thiệp bằng cách cđưa vấn đề này lêntòa án lao động để chống lại việc thải hồi Hội đồng này cũng giải quyết những quan

Trang 22

tâm của người công nhân, như khi nhà máy đóng cửa hay áp dụng quy trình sản xuấtmới Tuy nhiên họ không tham gia vào các quyết định đầu tư của chủ hay can thiệpvào những giao dịch chuển giao vốn lớn trong doanh nghiệp; chức năng căn bản nhấtcủa họ vẫn là tạo cho người lao động những điều kiện làm việc tốt nhất Trên một vàikhía cạnh, Hội đồng lao động còn quan trọng hơn Ủy ban giám sát vì họ gắn với côngnhân hơn, nên quan tâm đến những lợi ích sát sườn của công nhâ.

3.2 Gải quyết vấn đề xã hội ở Đức

- Giáo dục hướng nghiệp: hệ thống giáo dục là một trong những điểm mạnhnhất của người Đức, nó giúp tạo ra một lực lượng lao động kỹ năng cao, có khả năngtiếp nhận và sử dụng những công nghệ hiện đại nhất Điều này tương phản với Hoa

Kỳ, nước costyr lệ bỏ học ở cấp trung học coa hơn Đức tới 8 lần và trong các cuộc thiquốc tế, sinh viên Hoa Kỳ thường đứng gần cuối trong bản xếp hạng về các môn toán

và khoa học tự nhiên Nó cũng có nghĩa rằng công nhân Hoa Kỳ khó có khả năngcạnh tranh trong các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao Lực lượng lao động Đức hàngnăm còn có các chương trình đào tạo nghề nghiệp trong khoảng 400 nghề khác nhau.Quá trình đào tạo thường được tiến hành với một ông chủ và được chọn trước, kéo dàikhoảng 2-3 năm Ngoài ra còn có các khóa học ngắn hạn hoặc từ đầu dành cho cáccông nhân có nhu cầu

Mỗi năm khoảng một nửa số thanh thiesu niên Đức từ độ tuổi 15-19 đượchưởng các khóa đào tạo hướng nghiệp với hơn 400 nghề chuyên môn, khác nhau nhưlàm đồ thủ công, nghề mộc, sửa xe, điện tử, bán hàng, văn phòng, ngân hàng, y dược

và thư ký… Chương trình đào tạo hướng nghiệp được sự quản lý của cơ quan điềuhành các bang, các liên đoàn thuwowngmaji và các doanh nghiệp kinh doanh kết hợpvới hệ thống trường học của Đức Những người học việc thưởng đuộc phân về cáccông ty và sau đó làm việc cho công ty đó khoảng 2-3 ngày một tuần Thời gian cònlại trong tuần được đào tạo ở các trường dạy nghề của các bang Chi phí hàng nămcho các chương trình đào tạo dạy nghề đối với các ngành công nghiệp là khoảng 35 tỷ

DM (22 tỷ USD); kết quả cuối cùng là lực lượng lao động được đào tạo tốt và nạnthất nghiệp đối với thanh niên là rất thấp Cũng nhờ thế, Đức là nước có thị phần lớnnhất thế giới trong lĩnh vực trao đổi buôn bán các mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao

- An sinh xã hội và các thước đo phúc lợi khác: Năm 1911, khi Sắc luật về brohiểm tổng hợp đã thống nhất tất cả các chương trình bảo hiểm ở Đức lại với nhau thìtất cả công nhân Đức đã được bảo hiểm khi không may bị bệnh tật hay tàn phế, mấtkhả năng lao động Bảo hiểm thất nghiệp, khởi nguồn ở Anh năm 1911, đã được ápdụng ở Đức năm 1927 Các khoản phúc lợi và hỗ trợ tài chính cho những người tham

Trang 23

gia chiến tranh và các vấn đề liên quan tới chiến tranh là một bộ phận quan trọngtrong hệ thống phúc lợi xã hội của Đức Trong đó, có các biện pháp khác nhau đểthiết lập và duy trì các trại chuyển giao và tiếp nhận người tị nạn Cuối cùng, có thể

kể đến các khoản trợ cấp sinh con như cách gọi thông thường của người Đức(Kindergeld), các khoản trợ cấp loại này không thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội vàđược tài trợ bởi nguồn vốn ngoài thu ngân sách

Các khoản chi tiêu dành cho mục đích an sinh xã hội nằm trong Ngân sách xãhội (Sozial buget) và được quản lý bởi Chính phủ Liên bang nhưng tách hẳn khỏiNgân sách Liên bang hệ thống an sinh xã hội được tài trợ từ các khoản thuế lươngđối với cả chủ và các khoản thu chung từ Ngân sách Liên bang Vào năm 1997, tổngchi trả cho an sinh xã hội của Đức là khoảng 758 tỷ DM (348 tỷ USD), tương đươngkhoảng 24% GNP nước Đức

3.3 Đánh giá chung về nền kinh tế Đức

- Thành tự kinh tế của Đức là tốt, nhất là trong thời kỳ ngay sau khi Chiến tranhthế giới thứ hai kết thúc và kéo dài tới năm 1960 Những thành tựu này được hỗ trợmột phần nhờ kế hoạch viện trợ Marshall của mỹ và từ khoản chi tiêu của NATO.Chính sách kinh tế thời hậu chiến của Đức xoay quanh sự kết hợp giữa tự do cá nhân

và phúc lợi xã hội đặt trong khuôn khổ của một nền kinh tế thị trường cạnh tranh Cácchương trình phúc lợi xã hội của Đức trở thafnhmoojt trong những hệ thống toàndiện, hiệu quả nhất châu Âu Những khuyến khích về thuế được thiết kế để kích thíchđầu tư vào các doanh nghiệp Đức Các chính sách tài khóa và tiền tệ của Đức sauchiến trnah được thực hiện theo hướng nhằm nâng cao sản xuất Nền kinh tế thịtrường xã hội được thiết lập ở Đức từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn tồn tại chođến ngày nay

- Nền kinh tế Đức có những điểm mạnh riêng và sẽ trở thành nền kinh tế bá chủtrong Liên minh châu Âu Chính sách tiền tệ dựa vào lý thuyết mà chính DeutscheBank đã theo đuổi trong suốt 40 năm qua là tạp trung vào mục tiêu ổn định giá cả.Nước Đức rất mạnh trong các ngành chế tạo động cơ ôtô, hóa chất, dệt may và côngnghiệp cơ khí Ngoài ra, Đức còn lợi thế so sánh với các quốc gia khác về sản xuấtcác sản phẩm quang học và các hàng hóa gia dụng, bao gồm một số các sản phẩmgốm sứ và trang thiết bị gia dụng… Các ngân hàng của Đức nằm trong số những ngânhàng có tính cạnh tranh nhất thế giới Liên minh châu Âu và những tác động dài hạncủa EU tới Đức là tích cực vì Đức nằm ở trung tâm châu Âu Bất chấp hai cuộc Chiếntranh thế giới với những thảm họa đã tàn phá nền kinh tế cũng như con người Đức,nước Đức đã phát triển mạnh trong thế kỷ XX

Trang 24

- Điểm yếu của nền kinh tế Đức là nạn thất nghiệp Các cuộc bầu cử quốc giathường đặt vấn đề thất nghiệp ra trước công chúng Quá trình tái thống nhất nước Đức

đã làm tăng tỷ lệ thất nghiệp khi các xí nghiệp Đông Đức bị đóng cửa Thậm chí đãnhiều năm kể từ ngày tái thống nhất đất nước, tỷ lệ thất nghiệp vẫn rất cao, nhất là ởĐông Đức và đối với phụ nữ Cấu trúc thất nghiệp đã thay đổi, thất nghiệp dài hạntăng dần khi những công nhân lớn tuổi là đối tượng thất nghiệp chủ yếu Ngoài ra,cũng phải kể đến hiện tượng “thất nghiệp ngầm” bao gồm những người phải về hưusớm

Dân số già và cơ cấu tuổi là vấn đề lớn của nước Đức Cùng với sự gia tăng vềtuổi tác dân số, lực lượng lao động của Đức sẽ sụt giảm, tỷ lệ chết cao hơn tỷ lệ sinh.Kết quả cuối cùng, ở Đức cũng như ở nhiều quốc gia có dân số già khác, là sự dịchchuyển của các nguồn lực từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngày càng ít công nhân Đứcphải cố gắng làm việc và thực hiện các nghĩa vụ xã hội nặng nề hơn để có thể nuôisống những người được hưởng trợ cấp đang ngày một đông thêm Ngoài ra, nước Đứccòn có những vấn đề riêng, khi quá trình thống nhất đất nước diễn ra đã buộc phảichấp nhận hàng triệu người Đông Đức đang được hưởng trợ cấp – những người vốnkhông thực hiện nghĩa vụ với hệ thống an sinh xã hội Tây Đức

- Đức là một siêu cường kinh tế có vai trò quan trọng ở châu Âu trong phần lớnthế kỷ XX, và sẽ tiếp tục vai trò đó cho dù chỉ là một thành viên của Liên minh châu

Âu (EU) Nước Đức có vai trò quyết định đối với các chính sách tiền tệ của Liênminh châu Âu Đông Đức và Tây Đức ngày nay đã hợp nhất thành một quốc gia với

số dân khoảng 80 triệu người và là quốc gia đứng thứ hai thế giới về kim ngạch ngoạithương Sức mạnh của nền kinh tế Đức nằm trong những chương trình đào tạo hướngnghiệp dạy nghề chất lượng cao và hệ thống giáo dục hoàn thiện, đây sẽ là nhân tốquyết định khiến nước Đức có thể dễ dàng tiếp tục phát triển các ngành công nghệ kỹthuật cao và nâng cao mức sống Điểm yếu rõ nhất trong nền kinh tế Đức là hệ thốngluật lệ, quy tắc chưa hiệu quả và hoàn thiện, nhất là trong khu vực dịch vụ, khi chúnghạn chế cạnh tranh và sự gia nhập thị trường; bên cạnh đó là dân số đang già đi nhanhchóng và gánh nặng từ những chi phí phúc lợi xã hội đang ngày một tăng lên

4 Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển

Mô hình Thụy Điển trong suốt một thời kỳ dài vừa đảm bảo tăng trưởng thôngqua hoạt động hiệu quả của thị trường, vừa thực hiện được công bằng nhờ tiến hànhphân phối lại thu nhập một cách phổ biến, sự đảm bảo xã hội rất cao và phát triểnmạnh các hiệp hội – tổ chức xã hội tự do, đó là nét đặc thù của nhà nước phúc lợi.Trải qua sự thách thức hơn hai thập kỷ trước thập kỷ 1970, nền kinh tế Thụy Điển đã

Trang 25

nhận được nhiều sự thán phục, được xem như “con đường trung gian” của cải cách vàthay đổi thể chế.

Vai trò nhà nước tác động tới phân phối được đánh giá cao Tuy khu vực tưnhân chi phối lĩnh vực sản xuất, nhưng trong lĩnh vực phân phối sản phẩm thì nhànước lại có vai trò chi phối thông qua chi tiêu chính phủ Vào những năm 1980, tổngchi tiêu của Chính phủ chiếm 40,8% GNP (so với Hoa Kỳ 22,9%) Trong đó, cơ cấuchi tiêu của Chính phủ chủ yếu cho nhà ở, tiện nghi công cộng, bảo hiểm xã hội, phúclợi – chiếm 54,2% tổng chi tiêu chính phủ vào năm 1988 (nhiều hơn 20% so vớinhững khoản mục tương ứng trong chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ); chi tiêu cho giáodục cũng chiếm tỷ lệ lớn hơn, còn chi tiêu quốc phòng thì có tỷ lệ giảm đi; trái lại, chitiêu y tế chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,1% (so với Hoa Kỳ 12,5%)

Các chương trình chính phủ được tài trợ chủ yếu từ các khoản thuế, năm 1988tổng doanh thu thuế chiếm 42,9% GNP (so với Hoa Kỳ 19,7% và Anh 36,4%) Cơcấu các nguồn thu cũng khác nhau đáng kể: cũng năm 1988, thuế từ thu nhạp, lợinhuận và vốn chiếm 17,8% doanh thu của Chính phủ trung ương (so với Hoa Kỳ51,5%), đóng góp từ bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ cao tương tự ở cả hai nước, tuynhiên, Thụy Điển dựa chủ yếu vào các khoản thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ - sốthu này chiếm 29% doanh thu của Chính phủ trung ương (so với Hao Kỳ 3,6%) Tácđộng của nhà nước phúc lợi tới tái phân phối thu nhập được thể hiện thông qua phânphối thu nhập thực tế giữa các nhóm dân cư: vào giữa những năm 1980, 20% số hộ cóthu nhập thấp nhất ở Thụy Điển nhận được 8% tổng thu nhập của tất cả các hộ giađình, trong khi 20% số hộ có thu nhập cao nhất nhận được 26,9% tổng số thu nhập (sosánh với Hoa Kỳ, tương ứng là 4,7% và 41,9%)

Tuy Thụy Điển vẫn là nền kinh tế thị trường dựa trên sở hữu tư nhân, nhưng doNhà nước thực hiện vai trò như là cơ quan tái phân phối thu nhập, nên có những thayđổi quan trọng và bản chất của nó cũng trở nên phức tạp, Thụy Điển đề cao quanđiểm về môi trường, dựa vào nhập khẩu nguyên liệu, có nguồn lực lao động đượcgiáo dục cao, do đó, đã hình thành một cơ cấu sản xuất và chính sách kinh tế phù hợpvới các nguồn lực trên Cốt lõi của mô hình Thụy Điển là khung cảnh của một nềndân chủ xã hội, trong đó có sự bổ sung và hợp tác lẫn nhau thay cho cạnh tranh xãhội, các mục tiêu và quan điểm của dân chúng đạt được sự thống nhất thông qua việctham dự vào những tổ chức đoàn thể như công đoàn, hiệp hội và các tổ chức khác.Thông tin thi trường được phân bố sao cho có thể mang lại lợi ích xã hội cho tất cảmọi người, ví dụ, thị trường lao động phát triển và hoạt động hiệu quả, với việc ápdụng các hình thức hợp đồng lao động tập thể toàn ngành Người lao động cso thể

Ngày đăng: 09/01/2018, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w