a. Phát triển kinh tế thị trường và thực hiện “mở cửa” nền kinh tế trở thành xu hướng chung của các nước.Nhiều quốc gia chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường như Trung Quốc, Việt Nam, Nga, các nước Đông Âu, Cu Ba. Gần đây là Bắc Triều Tiên tuyên bố chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường bằng các biện pháp bỏ chế độ tem phiếu, phá giá tiền tệ, xây dựng khu kinh tế mở để kêu gọi nước ngoài đầu tư....b. Toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi nước mang tính quốc tế cao: nghĩa là các rào cản ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được dỡ bỏ thông qua quan hệ kinh tế song phương và đa phương. Chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi nước được xây dựng dựa trên nguyên tắc và chuẩn mực chung mang tính quốc tế.
Trang 1Chuyên đề 1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ THẾ GIỚI - LỢI THẾ TRONG QUAN HỆ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
* Tài liệu
1 Học viện Chính trị, Tập bài giảng kinh tế đối ngoại, Hà Nội 2013
2 Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, kết quả 3năm thực hiện kế hoạch 5 năm (2011-2015) và nhiệm vụ 2014-2015 doThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6Quốc hội khóa XIII, ngày 21/10/2013
3 Nguyễn Đình Cử, Tận dụng vận hội cơ cấu dân số vàng đưa đất nước đi lên, http://www.nhandan.com.vn, ngày 04/02/2014.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng IV, V, VI, VII, VIII,
IX, X, XI
5 Lê Hoàng, Năm 2013, thu hút vốn FDI vượt xa mục tiêu, Thời báo Kinh tế
Sài Gòn Online, Thứ Ba, ngày 24/12/2013
6 Võ Đại Lược, Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay: Tình hình và các giảipháp, http://www.tapchithoidai.org/200401_VDLuoc.htm
7 Nghị quyết số 01-NQ/TW, ngày 18-11-1996 của Bộ Chính trị Về mở rộng
và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996-2000
8 Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị Về hội nhậpkinh tế quốc tế
9 Nghị quyết số 16/2007/NQ, ngày 27/02/2007 của Chính phủ về Chươngtrình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về một số chủtrương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khiViệt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
10.Nghị quyết Số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị khóa XI vềhội nhập quốc tế
11.Nghị quyết Số 31/NQ-CP, ngày 13/05/2014 của Chính phủ về Chươngtrình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của
15.Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhthuchien?
16.Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014, http://www.chinhphu.vn17.Toàn cảnh vốn FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2014,http://ndh.vn/toan-canh-von-fdi-vao-viet-nam-6-thang-dau-nam-201418.Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - Vấn đề và giảipháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002
Trang 2Phần 1 Đặc điểm chung của kinh tế thế giới 1.1 Đặc điểm chung
a Phát triển kinh tế thị trường và thực hiện “mở cửa” nền kinh tế trở thành xu hướng chung của các nước.
Nhiều quốc gia chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường nhưTrung Quốc, Việt Nam, Nga, các nước Đông Âu, Cu Ba Gần đây là Bắc TriềuTiên tuyên bố chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường bằng các biện pháp bỏchế độ tem phiếu, phá giá tiền tệ, xây dựng khu kinh tế mở để kêu gọi nướcngoài đầu tư
b Toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ.
- Chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi nước mang tính quốc tế cao: nghĩa
là các rào cản ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được dỡ bỏthông qua quan hệ kinh tế song phương và đa phương Chính sách kinh tế đốingoại của mỗi nước được xây dựng dựa trên nguyên tắc và chuẩn mực chungmang tính quốc tế
- Sự chuyển dịch tài chính giữa các nước thông qua các hoạt động đầu tưtrực tiếp, gián tiếp, tín dụng quốc tế, tài trợ ODA Mỗi năm chuyển dịch luồngtiền trên thế giới lên đến hàng vạn tỷ dollar, riêng FDI năm 2007 đạt 1500 tỷdollar tăng 20% so với 2006
- Sản phẩm sản xuất mang tính quốc tế cao Theo OECD: 90% sản phẩmcủa các nước có sự tham gia sản xuất của 2 nước trở lên Ví dụ: gạo Việt Namsản xuất nhưng sử dụng phân bón của Indonexia, máy bơm nước của TrungQuốc, thuốc trừ sâu nhập từ Thái Lan
- Hoạt động thương mại giữa các quốc gia tăng Theo Tổ chức Thươngmại Thế giới thì có gần 20% sản phẩm sản xuất ở các nước được đưa ra thịtrường thế giới
- Di dân và xuất khẩu lao động, vấn đề lao động nhập cư là những biểuhiện của quá trình toàn cầu hóa kinh tế Có mấy nguyên nhân: Các nước pháttriển thiếu lao động như mỹ, canada, úc, nhạt, nước kinh tế mới nổi cũng thế:singapo, malaixia, nga, hàn quốc, đài loan Chiến tranh nghèo đói, đối khangschính trị xã hội Sự ra đời các liên minh kinh tế bậc cao kiểu EU
- Các biểu hiện khác của TCH:
+ Chính sách, qui chế điều tiết hoạt động kinh tế theo chuẩn mực quốc tế.+ Sự phát triển Internet kéo theo sự thống nhất thông tin, phân phối và sửdụng thông tin mang tính toàn cầu TCH làm tăng tính đa dạng về văn hóa thôngqua thông tin, di dân, nhập cư, xuất nhập khẩu văn hóa, sản phẩm của ẩmthực và TCH làm giảm tính đa dạng về văn hóa nếu mỗi nước không biết giữgìn, bảo vệ bản sắc văn hóa riêng, mà bị hoà đồng, lai căng bởi nền văn hóakhác và nguy đồng văn hóa là có thực
c Cạnh tranh kinh tế trở nên gay gắt trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế.
- Cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài để phục vụ công cuộc phát triển docải thiện được môi trường đầu tư
- Cạnh tranh trong hoạt động thương mại làm cho sản phẩm rẻ hơn, tốt hơn,
so với đối thủ cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường trong nước và nước ngoài
Trang 3- Cạnh tranh giữa công ty bản xứ với công ty quốc tế.
d Quan hệ kinh tế Nam – Bắc mang tính hợp tác và đối thoại tăng lên
nhưng vẫn đối lập gay gắt Mâu thuẫn được giải quyết bằng các biện pháp thỏahiệp dung hoà lợi ích các bên
e Sự “sáp nhập” công ty: Tốc độ tăng trên 20%/năm Năm 2007 tổng giá
trị mua bán và sáp nhập toàn cầu đạt 4.400 tỷ đô la so với 3.600 tỷ năm 2006 =21% Công ty xuyên quốc gia chiếm 70% giá trị thương mại quốc tế, sở hữu80% cơ sở nghiên cứu công nghiệp, 90% kỹ thuật sản xuất, 75% hoạt độngchuyển giao công nghệ quốc tế Các công ty xuyên quốc gia quyết định chiếnlược phát triển kinh tế trên toàn cầu, hình thành hệ thống phân công lao độngkiểu mới: Mở rộng liên kết, ldoanh hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; cùng
sử dụng công nghệ và kỹ thuật mới làm cho sản phẩm hạ giá thành, qui mô vàthị trường mở rộng vô cùng
g Chính phủ các nước ngày càng can thiệp sâu vào quá trình điều tiết kinh tế Các biện pháp: Xây dựng chiến lược định hướng cho sự phát triển kinh
tế; Tham gia thúc đẩy sự phát triển kinh tế bằng chính sách tạo vốn; Sử dụngcông cụ tài chính để điều tiết vĩ mô nhằm phát triển kinh tế theo hướng có lợinhất (TGHĐ khuyến khích xuất khẩu, thues nội dịa hợp lý, vay vốn i thấp, ks giá
cả và thị trường những sản phẩm quan trọng
h Sự thành lập các liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực Ví dụ EU
nay đã có 27 thành viên Thế giới có 300 liên kết kinh tế Ví dụ: NAFTA,AFTA, ASEAN Trung quốc
1.2 Tình hình kinh tế các nước tư bản phát triển
a.Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục giảm sút: toàn cầu năm 2007 là
4,8% 2008 4,6%; Trung Quốc 11,5% sang 2008 10%, Đông Nam á: 6,3% sangnăm 2008 là 6,1%; OECD: 2,7% sang 2008 là 2,3%
b Mâu thuẫn kinh tế giữa các nước vẫn duy trì nhưng có sự biểu hiện mới hợp tác trong tư thế cạnh tranh: kiện cáo, chiến tranh thương mại, tranh
1.3 Tình hình kinh tế các nước đang phát triển và các nước mới nổi.
a Các nước kinh tế mới nổi phát triển với tốc độ nhanh, ngày càng có vai trò quan trọng trên thế giới Brazin, Trung Quốc, Nga, ấn Độ tăng trưởng
trên 8% trong 5 năm gần đây Dự báo đến 2025, 4 nước này sẽ chiếm 25% GDP
Trang 4toàn cầu Trung Quốc dứng đầu thế giới về dự trữ ngoại tệ: 7/2007 : 1430 tỷdolla, nga thứ 3 với 310 tỷ / 6000 tỷ ngoại hối toàn cầu.
J.Colan, Phó giám đốc nghiên cứu của IMF đánh giá: Trung Quốc đangchèo lái nền kinh tế thế giới; Nga quyết định sự ổn định năng lượng châu Âu
b Các nước đang phát triển có thu nhập thấp ngày càng giảm
Tình hình phân bổ GDP của thế giới theo nhóm nước
c Các nước đang phát triển và các nước mới nổi nắm giữ phần quan trọng dầu mỏ và khí đốt đang ảnh hưởng đến sự bình ổn trong phát triển của nền kinh tế thế giới.
Trữ lượng dầu mỏ thế giới đến thời điểm 1/1/2007 là 1147 tỷ 507 triệu thùng:Trung cận Đông 736 tỷ 705 triệu thùng; Nam Mỹ 115 tỷ 144 triệu thùng; ChâuPhi: 112 tỷ 575 triệu thùng; Đông Âu 60 tỷ 593 triệu thùng Về khí đốt: toàn thếgiới có:179, 82 nghìn tỷ m3; trong đó: Nga 47, 8 nghìn tỷ; IRan 26, 7 nghìn tỷ;Quata 14,3%; Ảrậpxêút 6, 9 nghìn tỷ Mỹ tiêu thụ dầu mỏ chiếm 23% WTOcàu thế giới
d Cạnh tranh giữa các nền kinh tế của các nước đang phát triển diễn
ra thầm lặng nhưng rất quyết liệt
Sản phẩm xuất khẩu tương tự nhau, chung thị trường nên sức cạnh tranh rấtquyết liệt để giành thị phần trên thị trường Nhu cầu vốn rất lớn nên cải tổ nềnkinh tế để hoàn thiện môi trường kinh doanh làm cho nó có tính cạnh tranh caohơn so với môi trường kinh doanh khác để tăng cường thu hút các nguồn vốnđầu tư vào nước mình
* Một số dự báo cho năm 2015:
Thứ nhất, kinh tế toàn cầu ước tăng ở mức 2,8% trong năm 2015 và dự báo sẽ khởi sắc lên 3,3% vào năm 2016-2017
Tăng trưởng toàn cầu được hỗ trợ bởi giá hàng hóa thấp và chính sáchtiền tệ thuận lợi tại các nền kinh tế lớn bất chấp dự báo siết chặt dần các điềukiện tài chính trong năm cùng với dự báo thắt chặt chính sách tiền tệ của Hoa
Kỳ Những chuyển đổi quan trọng đang diễn ra Các quốc gia thu nhập cao cóđược đà phục hồi Mỹ tiếp tục mở rộng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trongkhi đó Khu vực đồng Euro và Nhật Bản cũng đang đẩy nhanh tăng trưởng dần
Ngược lại, bức tranh tăng trưởng chậm dường như vẫn đang diễn ra tạicác quốc gia đang phát triển do triển vọng không mấy khả quan hơn tại các quốcgia xuất khẩu hàng hóa và một số nền kinh tế lớn thu nhập trung bình Theo dựbáo, trong số các nền kinh tế lớn mới nổi, chỉ có Ấn Độ sẽ phát triển đẩy mạnhhơn còn Trung Quốc, Nga, Brazil và Nam Phi sẽ tăng trưởng chậm lại trongnăm 2015
Bảng 1: Tóm tắt Triển vọng Toàn cầu
Trang 5Nhật Bản 1,7 1,6 0 1,1 1,7
Quốc gia đang phát triển 4,9 5,1 4,6 4,4 5,2
Đông Á – Thái Bình Dương 7,3 7,2 6,9 6,7 6,7
Châu Âu và Trung Á 1,9 3,7 2,4 1,8 3,4
Chỉ số giá tiêu dùng ngoài dầu -8,6 -7,2 -4,6 -11,0 1,2
Giá trị xuất khẩu đơn vị sản xuất 4 -1,2 -1,4 -0,2 -0,2 1,9
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Tháng 6 năm 2015
1 Tốc độ tăng trưởng gộp được tính toán dựa trên trọng số GDP bằng đồng đô la không đổi năm 2010.
2 Khối lượng giao dịch thế giới của hàng hóa và dịch vụ không phải yếu tố sản xuất.
3 Đơn giản bằng trung bình của Dubai, Brent, and West Texas Intermediate.
4 Chỉ số giá trị đơn vị của hàng xuất khẩu chế tạo từ các nền kinh tế lớn, tính bằng đồng đô la.
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng tại các quốc gia đang phát triển ở Đông Á
và Thái Bình Dương sẽ tiếp tục giảm xuống còn 6,7% năm 2015 chủ yếu do
tăng trưởng liên tục và chậm dần của Trung Quốc
Tăng trưởng của Trung Quốc sẽ tiếp tục giảm trong bối cảnh chính quyềnnước này nỗ lực giải quyết những yếu tố dễ bị tổn thương liên quan đến tăngtrưởng nhanh tín dụng và đầu tư gần đây Tình hình này được bù đắp bằng sựvươn lên của các quốc gia còn lại trong khu vực hiện đang hưởng lợi từ việcgiảm giá nhiên liệu và sự phục hồi mạnh mẽ hơn nữa tại các quốc gia tiên tiếnmặc dù tăng trưởng xuất khẩu bị kìm hãm do tăng giá trị thực sự trên diện rộngcủa các đồng tiền trong khu vực Nhìn chung, giá nhiên liệu thấp sẽ có lợi chocác quốc gia đang phát triển trong khu vực EAP song tác động này sẽ khác nhau
ở mỗi nước, phản ánh biên độ nhập siêu nhiên liệu, mật độ sử dụng năng lượngtrong sản xuất và tỷ trọng dầu khí trong tổng tiêu thụ năng lượng
Bảng 2: Tăng trưởng GDP tại Đông Á - Thái Bình Dương (%)
2012 2013f 2014f 2015f 2016f Quốc gia đang phát triển ở Đông Á 7,3 7,2 6,9 6,7 6,7
Trang 6Ghi nhớ: Đông Á không bao gồm Trung
Quốc
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, tháng 6 năm 2015
Thứ ba, môi trường kinh tế toàn cầu sẽ mang lại làn gió nhẹ tới nền kinh
tế Việt Nam trong năm 2015
- Tăng cường phục hồi tại các nền kinh tế thu nhập cao, đặc biệt là Mỹ, cókhả năng thúc đẩy nhu cầu bên ngoài Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thương mạitoàn cầu chậm lại cho thấy chỉ cần đẩy nhanh xuất khẩu của Việt Nam ở mứckhiêm tốn, đặc biệt khi những điều kiện thương mại ít ưu đãi hơn có thể kìmhãm tăng trưởng xuất khẩu
- Việc Mỹ thắt chặt dần chính sách tài khóa được dự báo sẽ điều tiết dòngvốn toàn cầu và siết chặt điều kiện tài chính của các quốc gia đang phát triển,trong đó có Việt Nam
- Dù quy mô dự trữ ngoại hối thấp, rủi ro tài trợ bên ngoài giảm nhẹ do nợnước ngoài của Việt Nam tương đối thấp và cơ cấu dòng vốn đổ vào lớn với đầu
tư danh mục tương đối hạn chế và nguồn vốn FDI đáng kể nhưng nhìn chung ítbiến động hơn
Thứ tư, những rủi ro tới triển vọng toàn cầu vẫn nghiêng về rủi ro bất lợi
- Sự phục hồi toàn cầu vẫn mong manh và rủi ro đình trệ, giảm phát tạicác nền kinh tế tiên tiến vẫn còn hiện diện
- Các chính sách tiền tệ ngày càng khác biệt giữa các nền kinh tế lớn cóthể làm gia tăng rủi ro liên quan tới tỷ giá hối đoái cao và biến động thị trườngtài chính
- Sự phục hồi kém hiệu quả hơn so với dự kiến của các quốc gia thu nhậpcao, đặc biệt là Mỹ, Khu vực đồng Euro, Nhật Bản và tăng trưởng yếu ớt tại cácnền kinh tế lớn mới nổi sẽ làm suy yếu thương mại toàn cầu và khu vực cũngnhư ảnh hưởng tới nhu cầu bên ngoài
- Mặc dù xác suất thấp nhưng rủi ro “hạ cánh bắt buộc” của Trung Quốcvẫn còn tồn tại
- Do tiếp cận thương mại lớn, Việt Nam sẽ dễ bị tổn thương trước tìnhhình tăng trưởng chậm lại của các đối tác thương mại và thay đổi lớn tỷ giá hốiđoái có thể dẫn tới sụt giảm năng lực cạnh tranh
Tóm lại, triển vọng Kinh tế Toàn cầu trong thời gian tới như sau:
- Quá trình hồi phục kinh tế toàn cầu tiếp tục đạt tốc độ khiêm tốn và vẫn
chịu tác động của nhiều rủi ro bất lợi Nhìn chung, tăng trưởng toàn cầu dự kiến
ở mức khoảng 2,8% năm 2015 dựa trên cơ sở phục hồi mạnh mẽ hơn từ cácquốc gia thu nhập cao nhờ giá hàng hóa thấp và tiếp tục chính sách tiền tệ hỗ trợ
ở Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản
- Ngược lại, tình trạng tăng trưởng chậm trên diện rộng dường như vẫnđang diễn ra tại các quốc gia đang phát triển do triển vọng kinh tế yếu hơn tạicác quốc gia xuất khẩu hàng hóa và một số nền kinh tế lớn thu nhập trung bình.Những rủi ro tới triển vọng toàn cầu vẫn nghiêng theo hướng bất lợi
Trang 7- Cụ thể, các điều kiện tài chính toàn cầu siết chặt hơn có thể kết hợp vớitriển vọng tăng trưởng suy giảm, đặc biệt tại các quốc gia xuất khẩu hàng hóalàm tăng khả năng tạo áp lực tài chính lớn hơn Đà tăng mạnh của đồng đô lacũng có thể làm chậm lại nền kinh tế Mỹ so với dự kiến ban đầu, dẫn tới một sốcăng thẳng toàn cầu1.
1 Triển vọng Kinh tế Toàn cầu, Ngân hàng Thế giới, tháng 6 năm 2015.
Trang 8Phần 2 CÁC LỢI THẾ TRONG QUAN HỆ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
2.1 Tư tưởng A.Smith (1723-1790) về lợi thế tuyệt đối
ĐẶT VẤN ĐỀ
A.Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết lợi thế tuyệt đối Trong môhình kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế học cổ điển cho đất đai là giới hạn của tăngtrưởng Khi nhu cầu lương thực tăng, phải tiếp tục sản xuất trên đất đai cằn cỗi,không đảm bảo lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất Trong
điều kiện đó A.Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu mang lại lợi ích cho cả nước xuất khẩu và nhập khẩu Lợi ích này gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương.
Vậy lợi thế tuyệt đối theo tư tưởng A.Smith là như thế nào?
Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của cácquốc gia” xuất bản năm 1776 A.Smith đưa ra tư tưởng:
Mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào ngành sản xuất mà họ có lợi thếtuyệt đối, có nghĩa là sử dụng lợi thế tuyệt đối đó cho phép sản xuất sản phẩm cóchi phí thấp hơn nước khác
Chẳng hạn tài nguyên nhiều, dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhâncông rẻ, khí hậu ôn hòa, đất đai mầu mỡ
Quốc gia chỉ xuất khẩu hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩuhàng hóa họ không có lợi thế Thương mại không phải là qui luật trò chơi bằngkhông mà là trò chơi tích cực, theo đó các quốc gia sẽ có lợi trong thương mạiquốc tế
Để làm rõ tư tưởng của A.Smith về lợi thế tuyệt đối, chúng ta cùng nghiên cứu ví dụ
Bảng số liệu về hao phí lao động trong sản xuất tại Mỹ và Anh
Lúa mì (dạ/1giờ lao động) 1Vải (thước/1giờ lao động) 4
Để nghiên cứu chúng ta trừu tượng hóa một số yếu tố theo giả định sau
- Có hai quốc gia là Anh và Mỹ, mỗi quốc gia sản xuất hai mặt hàng
- Đồng nhất chi phi sản xuất với tiền lương cá nhân giữa hai quốc gia này
- Gía cả do chi phi sản xuất quyết định
Phân tích Bảng số liệu trên cho thấy, trong cùng một đơn vị thời gian (ởđây được tính là một giờ lao động) thì:
+ Ở Mỹ sản xuất 6 dạ lúa mì, trong khi ở Anh chỉ sản xuất được 1 dạ lúamì;
+ Tại Anh sản xuất 5 thước vải, trong khi ở Mỹ sản xuất được 4 thướcvải
Từ kết quả này ta có thể rút ra mấy kết luận sau đây:
Lợi thế tuyệt đối
Trang 9Thứ nhất, về sản xuất lúa mì, Mỹ có hiệu quả hơn hay nói cách khác, có
lợi thế hơn so với Anh
Điều này cho thấy, do sản xuất lúa mì ở Mỹ có lợi thế hơn so với sản xuấtlúa mì ở Anh, nên hiệu quả sản xuất lúa mì ở Mỹ cao hơn hiệu quả sản xuất lúa
mì ở Anh: 6 dạ ở Mỹ so với 1 dạ ở Anh trong cùng 1 giờ lao động
Thứ hai, về sản xuất vải, Anh có hiệu quả hơn; hay nói cách khác, có lợi
thế hơn so với Mỹ
Điều này cho thấy, do sản xuất vải ở Anh có lợi thế hơn so với sản xuấtvải ở Mỹ, nên hiệu quả sản xuất vải ở Anh cao hơn hiệu quả sản xuất vải ở Mỹ:
5 thước vải ở Anh so với 4 thước vải ở Mỹ trong cùng 1 giờ lao động
Khi đó, Mỹ sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất lúa mỳ, đem một phần lúa
mì trao đổi với Anh để lấy vải; còn ở Anh thì ngược lại
Thứ ba, do lợi thế khác nhau trong sản xuất lúa mì và vải giữa Anh và
Mỹ
+ Nhờ lợi thế về sản xuất lúa mì, nghĩa là sản xuất lúa mì ở Mỹ hiệu quảhơn, nên Mỹ sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì và đem 1 phần lúa mì trao đổivới Anh để lấy vải, do không có lợi thế sản xuất vải so với Anh
+ Còn Anh thì ngược lại; Nhờ lợi thế về sản xuất vải, nên Anh sẽ chuyênmôn hóa sản xuất vải và đem 1 phần vải trao đổi với Mỹ để lấy lúa mì, do không
có lợi thế sản xuất lúa mì so với Mỹ
Với tương quan trao đổi giữa Mỹ và Anh là 1 dạ lúa mì đổi 1 thước vải,nếu Mỹ trao đổi 6 dạ lúa mì lấy 6 thước vải, họ sẽ thu thêm 2 thước vải, hoặctiết kiệm 1/2 giờ lao động (vì tại Mỹ nếu đổi 6 dạ lúa mì chỉ được 4 thước vải)
Tương tự như vậy, tại Anh 6 dạ lúa mì nhận được của Mỹ tương ứng 6giờ lao động của Anh, 6 giờ này có thể sản xuất ra được 30 thước vải (vì tại Anhmỗi giờ lao động sản xuất được 5 thước vải) Sau khi sử dụng 6 thước vải đểtrao đổi với Mỹ họ còn thu được 24 thước vải, hoặc tiết kiệm được 5 giờ laođộng
Kết luận:
- Mỹ có lợi thế tuyệt đối so với Anh về sản xuất lúa mì
- Anh có lợi thế tuyệt đối so với Mỹ về sản xuất vải
- Điều quan trọng không phải là Anh thu được nhiều thặng dư hơn Mỹ,
mà là cả hai quốc gia có thể thu được từ chuyên môn hóa trong sản xuất vàthương mại
Từ những phân tích trên, có thể hiểu:
Lợi thế tuyệt đối là tập hợp những đặc tính riêng có của chủ thể mà đối
thủ của nó không có - được xem xét như trường hợp đặc biệt của học thuyết vềlợi thế so sánh nói chung
Hoặc có thể hiểu, Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi
thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất vàtrao đổi những sản phẩm có chi phi sản xuất thấp hơn so với các quốc gia khác
và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện sosánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản
Trang 10phẩm có chi phí cao hơn có thể nhập sản phẩm đó từ nước có chi phi thấp hơn
Lợi thế này được xem xét từ hai phía:
- Đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu nhiều lợi nhuậnhơn khi bán ra trên thị trường quốc tế
- Đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao sẽ có được sản phẩm màtrong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không có lợi nhuận thôngqua thương mại quốc tế
Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.Ngay nay, đối với các nước đang phát triển, việc khai thác lợi thế tuyệtđối có ý nghĩa rất quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sảnphẩm, đặc biệt là tư liệu sản xuất Việc không đủ khả năng sản xuất máy móc,thiết bị là khó khăn đối với các nước đang phát triển Chúng ta đã biết, cáckhoản tiết kiệm chưa thể trở thành vốn đầu tư chừng nào tư liệu sản xuất trongnước cần nhưng chưa có mà phải nhập khẩu Việt Nam là một ví dụ, do quy mônền kinh tế còn nhỏ bé nên tích lũy từ nội bộ nền kinh tế không nhiều, trong khinhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất lớn; do đó tổng vốn đầu tư toàn xã hội giảm
Mặt khác, khi tiến hành nhập tư liệu sản xuất, công nhân trong nước bắtđầu học cách sử dụng máy móc, thiết bị mà trước đây họ chưa biết, sau đó họhọc cách sản xuất ra chúng Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thươngquốc tế giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển thôngqua bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và kiến thức côngnghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối
Chính nhờ tư tưởng về lợi thế tuyệt đối mà A.Smith được tôn vinh là “cha
đẻ của kinh tế học”
Tuy nhiên, ở ông còn có những hạn chế nhất định, trong đó hạn chế lớn nhất của A.Smith là chưa giải thích được:
Thứ nhất, một nước có mọi lợi thế về tài nguyên nhưng chưa chắc đã
tham gia vào phân công lao động quốc tế
Thứ hai, các nước không có lợi thế thì vai trò của họ trong phân công lao
động quốc tế thế nào? Và thương mại quốc tế sẽ ra sao đối với các nước này?
Điều này đã được các nhà kinh tế học hiện đại bổ sung
Tóm lại, nghiên cứu tư tưởng của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối cho
thấy:
- Cơ sở tạo ra giá trị là sản xuất
- Quá trình trao đổi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối làm cho tổng sản phẩm xãhội hội tăng, các nguồn lực đầu tư phát triển được sử dụng hiệu quả hơn
- Thương mại quốc tế tạo điều kiện phát triển những ngành, lĩnh vực cólợi thế, thu hẹp những ngành hay lĩnh vực ít lợi thế
- Lợi thế tuyệt đối còn là cơ sở lý luận cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tếnhiều các quốc gia, vùng lãnh thổ
2.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thương mại được coi là phát triểnnhất và có tính hệ thống lôgíc Lý thuyết sau kế thừa, phát triển lý thuyết trước
Trang 11và mang tính khoa học cao, sát thực tiễn hơn Trải qua thời gian, tuy thực tiễnluôn biến đổi, xã hội càng văn minh, nhưng tư tưởng của Chủ nghĩa Trọngthương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith, lý thuyết lợi thế so sánh củaD.Ricardo còn nguyên giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn, vẫn được xã hộiđương đại nghiên cứu, vận dụng Một học thuyết chủ đạo của Ricardo đangđược vận dụng rộng rãi là lý thuyết về lợi thế so sánh (hay thương mại quốc tế).
Vậy lợi thế so sánh là gì? Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo đượcphát triển như thế nào? Làm thế nào Việt Nam vận dụng lý thuyết lợi thế sosánh?
Chuyên đề này góp phần làm rõ thêm các câu hỏi trên; đồng thời đưa ramột số gợi ý nhằm vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh ở nước ta hiện nay
2.2.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricacdo
D.Ricacdo (1772-1823) được C.Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao
nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”
Năm1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh
Ricacdo cho rằng: Mọi nước có thể và rất có lợi khi tham gia phân công
lao động quốc tế Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năngtiêu dùng của một nước chỉ chuyên môn hóa sản xuất một số sản phẩm nhất định
và xuất khẩu hàng hóa của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác
Vậy căn cứ vào đâu mà Ricacdo đưa ra kết luận như vậy
Để đơn giản cho việc nghiên cứu, lý thuyết lợi thế so sánh được Ricardoxây dựng trên một số giả thiết sau:
- Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và các tài nguyên đã được xácđịnh
- Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia, không ra bênngoài
- Dựa trên học thuyết về giá trị lao động
- Công nghệ của hai quốc gia như nhau
- Chi phí sản xuất là cố định
- Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)
- Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
- Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế
- Chi phí vận chuyển bằng không
- Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá
Quy luật lợi thế so sánh:
Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là, mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh.
Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith, Ricardo cho rằng:
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc
bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thìvẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia phân công lao động và thương mại quốc tế
Trang 12bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm vàkém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyênmôn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổngsản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích
từ thương mại
Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ
sở để thực hiện phân công lao động quốc tế
Quy luật lợi thế so sánh có thể làm sáng tỏ bằng ví dụ sau:
Ví dụ minh hoạ lợi thế so sánh của 2 quốc gia
Theo lý thuyết tuyệt đối của A.Smith (ví dụ ở phần trên), trong trườnghợp này, nước Anh không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa mỳ và vải sovới Mỹ
Tuy nhiên, vì năng suất sản xuất vải ở Anh bằng ½ của Mỹ và năng suấtsản xuất lúa mì bằng 1/6 Mỹ Do đó, nước Anh có lợi thế so sánh về sản xuấtvải
Ngược lại, Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải và lúa mì nhưng vìlợi thế tuyệt đối về sản xuất lúa mì của Mỹ (6:1) lớn hơn lợi thế tuyệt đối về sảnxuất vải (4:2) nên Mỹ có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mì
Như vậy:
- Mỹ có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mì
- Anh tuy không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn
có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải
Theo quy luật lợi thế so sánh, hai nước sẽ có lợi từ thương mại quốc tế nếu:
- Mỹ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì và xuất khẩu một phần lúa mì đểđổi lấy vải được sản xuất tại Anh;
- Ngược lại, Anh chuyên môn hóa sản xuất vải và xuất khẩu một phần vải
để đổi lấy lúa mì được sản xuất tại Mỹ
Những nước có lợi thế tuyệt đối, hoặc kém lợi thế tuyệt đối so với cácnước trong sản xuất mọi sản phẩm, vẫn có thể và có lợi khi tham gia phân cônglao động và thương mại quốc tế, bởi vì mỗi nước có lợi thế so sánh nhất định vềmột số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về mặt hàng khác
>>> Một quốc gia dù có hay không có lợi thế tuyệt đối, vẫn có thể và cólợi khi tham gia phân công lao động và thương mại quốc tế nhờ có lợi thế sosánh
Điều cốt lõi trong lý thuyết so sánh của Ricacdo là: thương mại quốc tế
có thể xảy ra khi có lợi thế so sánh Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào màtương quan về lao động cho mỗi sản phẩm khác nhau giữa hai hàng hóa
Theo đó, quốc gia có thể chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm
mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác, nhưng có lợi thế tuyệt đối
Trang 13lớn hơn giữa hai sản phẩm trong nước (tức là có lợi thế tương đối hay lợi thế sosánh) và nhập khẩu sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩmtrong nước.
Nói cách khác, một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với hiệu quả của
quốc gia khác trong sản xuất các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể thamgia hoạt động xuất khẩu để tạo ra lợi ích Khi tham gia hoạt động xuất khẩu,quốc gia đó sẽ tham gia sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sảnxuất ra chúng ít bất lợi nhất - đó là hàng hoá có lợi thế tương đối; và nhập khẩuhàng hoá mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi hơn - đó là hàng hoá không có lợithế tương đối
2.2.2 Quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh
Về định tính, người ta đề cập đến 2 loại lợi thế so sánh:
+ Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế đang có, lợi thế có được mà không cần
phải đầu tư lớn về vốn và tri thức; lợi thế này thường không vững chắc, mà chỉmang tính ngắn hạn và trung hạn Lợi thế so sánh này là một trong những nhân
tố tạo nên chỉ số cạnh tranh DRC (hệ số đo lường lợi thế sản xuất nội địa)
+ Lợi thế so sánh động là lợi thế cấp cao, do có đầu tư lớn về vốn và tri
thức Để có được lợi thế này quốc gia, doanh nghiệp phải sử dụng triệt để và cóhiệu quả các nguồn lực tự nhiên, đồng thời còn phải đầu tư không ngừng choquá trình tiếp cận cái mới, cải thiện môi trường kinh tế, môi trường đầu tư tạo ralợi thế tiềm năng làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Về định lượng: Người ta sử dụng các chỉ tiêu hệ số chi phí tài nguyên và
hệ số cạnh tranh để lượng hóa sức cạnh tranh của sản phẩm
Hệ số cạnh tranh:
RCA: Hệ số lợi thế so sánh hiển thị hay lợi thế so sánh trông thấy Phảnánh vị trí đạt được của một sản phẩm, một ngành, một quốc gia trên thị trườngthế giới
R1, R2: tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu 1 loại hàng hóa trong tổng kimngạch xuất khẩu của quốc gia và thế giới trong cùng thời gian
RCA 1: sản phẩm không có lợi thế so sánh
1< RCA < 2,5: sản phẩm tương đối có lợi thế so sánh, lợi thế tăng dần khiRCA tiến dần tới 2,5
R
2
Trang 14RCA ≥ 2,5: sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao
Ví dụ:
- RCA đối với rau quả chế biến của một số nước khi tham gia AFTA: RCAph=4,5; RCAthlan=3,1; RCAvn=1,5; RCAIndo=0,6; RCAsing= 0,1.Như vậy: Rau quả chế biến của Việt Nam tương đối có khả năng cạnhtranh so với Indonêxia hoặc Singapo nhưng kém Philíppin,Thái Lan
- RCA đối với chế biến thuỷ hải sản của một số nước khi tham gia AFTA:RCAvn=11,3; RCAthlan=8,7; RCAphi=3,7; RCAindo=3,4; RCAsing=0,5
b Qui luật lợi thế so sánh
Lúa mì (dạ/1giờ lao động) 1Vải (thước/1giờ lao động) 4
Một quốc gia sản xuất cả hai hàng hóa đều kém hiệu quả hơn quốc gia kiathì vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại Quốc gia đó sẽ tập trung sản xuất
và xuất khẩu hàng hóa kém lợi thế ít hơn, nhập khẩu hàng hóa kém lợi thế nhiềuhơn
Chi tiết về quy luật này có thể phân tích qua số liệu ở bảng trên.
Bảng số liệu này trình bày, Anh chỉ sản xuất được 2 thước vải trong mộtgiờ lao động Nước Anh không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai hànghóa khi so sánh với Mỹ vì hao phí lao động trong sản xuất cả hai hàng hóa đềucao hơn Mỹ
Tuy vậy, tại Anh hao phí lao động trong sản xuất vải chỉ lớn gấp hai lần,trong khi hao phí lao động trong sản xuất lúa mỳ lớn gấp sáu lần so với Mỹ,nước Anh có lợi thế so sánh trong sản xuất vải
Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại hàng hóa so với Anh, nhưng lợithế tuyệt đối lớn hơn trong sản xuất lúa mỳ (6/1) so với sản xuất vải (4/2), Mỹ
có lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mỳ
Tóm lại, lợi thế tuyệt đối của Mỹ lớn hơn trong sản xuất lúa mỳ, vì vậy
Mỹ có lợi thế so sánh trong sản xuất lúa mỳ Bất lợi thế tuyệt đối của Anh nhỏhơn trong sản xuất vải so với Mỹ, do đó Anh có lợi thế so sánh trong sản xuấtvải
Theo quy luật về lợi thế so sánh, cả hai quốc gia có thể thu được thặng dưnếu Mỹ chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ và xuất khẩu một phần lúa mỳ để nhậpkhẩu vải của Anh, còn Anh chuyên môn hoá trong sản xuất vải và xuất khẩu vải
Trong mô hình chỉ có hai quốc gia, hai hàng hóa, nếu một quốc gia có lợithế so sánh trong sản xuất hàng hóa này thì quốc gia kia sẽ có lợi thế so sánhtrong sản xuất hàng hóa thứ hai
Mỹ sẽ không cải thiện được mức sống nếu họ đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 4 thướcvải tại Anh, vì tương quan trao đổi này đúng bằng tương quan trong quốc gia
Mỹ Tất nhiên Mỹ cũng sẽ không trao đổi với Anh nếu chấp nhận được ít hơn 4
Lợi thế so sánh
Trang 15thước vải.
Tương tự như vậy, Anh sẽ không cải thiện được mức sống nếu trao đổi 2thước vải để lấy 1 dạ lúa mỳ của Mỹ, tất nhiên càng không trao đổi với Mỹ nếuphải trả nhiều hơn 2 thước vải để lấy 1 dạ lúa mỳ của Mỹ
Để thấy được cả hai quốc gia đều thu được lợi ích từ thường mại; giả thiết
Mỹ có thể trao đổi 6 dạ lúa mỳ để nhận được 6 thước vải của Anh, Mỹ sẽ thuthêm được 2 thước vải (hoặc tiết kiệm được 1/2 giờ lao động vì một giờ laođộng tại Mỹ chỉ sản xuất được 4 thước vải) Anh cũng thu được lợi ích, 6 dạ lúa
mỳ Anh nhận được từ Mỹ có thể đòi hỏi tương đương 6 giờ lao động tại Anhnếu sản xuất tại Anh Anh có thể sử dụng 6 giờ lao động này sản xuất được 12thước vải (vì mỗi giờ lao động sản xuất được 2 thước vải) mang trao đổi với Mỹ
6 thước vải còn thu thêm được 6 thước vải, Anh thu được nhiều hơn Mỹ khôngphải là điều quan trọng, điều quan trọng là cả hai quốc gia có thể thu được thặng
dư từ thương mại, thậm chí một trong số họ kém hiệu quả hơn trong sản xuất cảhai loại hàng hóa so với quốc gia kia
Hai quốc gia có thể thu được lợi ích thông qua trao đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 6thước vải Đây không phải là tỷ lệ duy nhất có thặng dư từ thương mại Mỹ cóthể chấp nhận trao đổi 6 dạ lúa mỳ lấy số lượng nào đó miễn là nhiều hơn 4thước vải (vì trao đổi trong nước chỉ được 4 thước vải) Còn Anh có thể trao đổimột lượng vải miễn là ít hơn 12 thước để lấy 6 dạ lúa mỳ (vì trao đổi trong nướcphải mất 12 thước vải) Vì vậy, tỷ lệ trao đổi thương mại giữa hai nước là có thểnằm trong khoảng: 4 thước vải < 6 dạ lúa < 12 thước vải Chênh lệch giữa 12 và
4 thước vải là tổng thặng dư của hai nước thu được từ thương mại khi trao đổi 6
dạ lúa mỳ
Ví dụ, khi 6 thước vải trao đổi được 6 dạ lúa mỳ, Mỹ thu thêm được 2thước vải còn Anh thu thêm được 6 thước vải, tổng cộng là 8 thước vải Cànggần tỷ lệ 4 thước vải bằng 6 dạ lúa mỳ, Anh càng thu được thặng dư lớn từthương mại, Mỹ thu được ít hơn Ngược lại, càng gần tỷ lệ 12 thước vải bằng 6
dạ lúa mỳ, Mỹ càng thu được thặng dư lớn từ thương mại, Anh càng thu được íthơn
Ví dụ, nếu Mỹ trao đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 8 thước vải của Anh, mỗi quốc gia
có thể thu thêm được cùng 4 thước vải, tổng số vẫn bằng 8 thước vải Nếu Mỹtrao đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 10 thước vải, Mỹ sẽ thu thêm được 6 thước vải, Anh thuthêm được 2 thước vải
Rõ ràng, ta thấy rằng thặng dư từ thương mại được hình thành thậm chítrong trường hợp một quốc gia kém hiệu quả hơn trong sản xuất cả hai hàng hóa
so với quốc gia kia
- Có một trường hợp ngoại lệ (không phổ biến) đối với quy luật về lợi thế
so sánh xảy ra khi bất lợi thế tuyệt đối của một quốc gia như nhau trong cả haihàng hóa Ví dụ, nếu một giờ lao động sản xuất được 3 dạ lúa mỳ tại Anh, haophí lao động tại Anh gấp đôi trong cả hai hàng hóa so với Mỹ Khi đó, cả Mỹ vàAnh đều không có lợi thế so sánh, do vậy không có thặng dư từ thương mại Lý
do là Mỹ chỉ trao đổi khi có thể bỏ ra 6 dạ lúa mỳ để lấy hơn 4 thước vải NhưngAnh chỉ trao đổi khi có thể bỏ ra ít hơn 4 thước vải để lấy 6 dạ lúa mỳ, vì tại
Trang 16Anh giờ đây hai giờ lao động có thể sản xuất được 6 dạ lúa mỳ.
Vì vậy, trong trường hợp này, quy luật về lợi thế so sánh, được phát biểunhư sau: Thậm chí một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia kiatrong sản xuất cả hai hàng hóa, vẫn có thể thu được thặng dư từ thương mại trừkhi bất lợi tuyệt đối cùng một tỷ lệ trong sản xuất cả hai hàng hóa
2.3 Các lợi thế phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay
2.3.1 Về vị trí địa lý
Chú ý: Tập trung làm rõ về lợi thế Biển và kinh tế biển của Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam gồm hai bộ phận: phần đất liền (diện tích 330.991
km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Đặc điểm đó đã làm cho thiênnhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi
và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế
Nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á,Việt Nam có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng Vị trí tiếp giáp trên đất liền
và trên biển làm cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá vớithế giới
Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi độngcủa thế giới Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Singapo, sau
đó là Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càngchiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á - Thái BìnhDương Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vàonửa sau thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạtkhá cao Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định
Việt Nam nằm trên đường hàng hải quốc tế đi từ Bắc Âu, Trung Quốc,Hàn Quốc, Nhật Bản sang các nước Nam Á, Trung Đông, Châu Phi Ven biểnViệt Nam xây dựng nhiều cảng nước sâu tiếp nhận tàu hàng cỡ 50 nghìn đến 60nghìn tấn Hiện nay, Việt Nam có 100 cảng lớn, nhỏ
Việt Nam nằm trên trục đường bộ và đường sắt từ Châu Âu sang TrungQuốc qua Cămphuchia, Lào, Thái lan, Myama, Ấn Độ, Pakistan (đường xuyênÁ) có cơ hội giao thương quốc tế tốt
Vận tải hàng không từ thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đi các nướctrong vùng
Biển Đông và kinh tế biển Việt Nam :
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với hơn 4.200 km2 biển nội thuỷ, vớihơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ Việt Nam có vùng biển đặc quyền kinh
tế hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền
Biển có vai trò rất quan trọng, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng to lớn đếnphát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường của nước ta
Đóng góp của các ngành kinh tế trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khaithác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển
Doanh số xuất khẩu thủy sản tăng với mức khoảng 15-20% năm, nhờ đóViệt Nam là 1 trong 4 nước dẫn đầu về xuất khẩu thủy sản Vì vậy, phát triểnkinh tế biển là một trọng tâm kinh tế của Việt Nam
Trang 17Mặc dù chiếm tỉ trọng lớn, song kinh tế biển Việt Nam vẫn dựa chủ yếuvào khai thác lợi thế tĩnh từ biển Đông Đó là tận dụng tài nguyên thiên nhiênnhư thủy sản, dầu khí và nhiều loại khoáng sản khác (hơn 2.000 loài cá, trong
đó gần 130 loài cá giá trị kinh tế cao, 1.600 loài giáp xác, 2.500 loài thân mềm,cho khai thác 45.000-50.000 tấn rong biển )
Biển Việt Nam có trữ lượng dầu khí lớn Đã thăm dò mỏ Bạch Hổ, Rồng,Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bunga Kekwa - Cái Nước, Lan Tây 1,2 tỷm3 dầu, 2.800 tỷ m3 khí Theo dự báo, trữ lượng dầu khí trong thềm lục địanước ta xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữlượng của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối
Theo chuyên gia Nga, vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa có khí đốt đóngbăng Trữ lượng tài nguyên này ngang với trữ lượng dầu khí, được coi là nguồnnăng lượng thay thế dầu khí trong tương lai
Tuy nhiên việc tận dụng lợi thế tĩnh của nước ta chủ yếu vẫn theo hìnhthức khai thác tài nguyên thô, trình độ công nghệ thấp, chưa tạo được giá trị giatăng lớn cho những ngành kinh tế biển Khai thác hàng hải, cảng biển và du lịchnhìn chung ở trình độ thấp, sức cạnh tranh kém
Mặt khác, việc tận dụng lợi thế về vị trí địa - kinh tế và địa - chiến lượcđặc biệt của Việt Nam còn hạn chế Đó là chưa tận dụng lợi thế nằm trên tuyếnđường giao thông biển huyết mạch nối Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu
Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á
5 trong số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới đều liên quan đếnbiển Đông và là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới
Các nhà phân tích về biển Đông cho rằng, phát triển kinh tế biển của ViệtNam cần tận dụng cả hai lợi thế này
Đó là một số lợi thế so sánh của Việt Nam trong phát triển kinh tế biển
Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức:
- Ngoài Việt Nam, khu vực biển Đông còn có 8 nước: Trung Quốc, TháiLan, Campuchia, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore
- Với lợi thế từ biển, biển Đông trở thành mục tiêu chiến lược hướng ra biển của nhiều quốc gia Đã có quan điểm bất đồng, mâu thuẫn căng thẳng, thậm
chí là tranh chấp chủ quyền giữa các nước trong khu vực biển Đông, trong đónổi lên là căng thẳng giữa Việt - Trung
- Ngày 6/5/2009, Trung Quốc trình tấm bản đồ đường lưỡi bò trên biểnĐông lên Tổng thư ký Liên hợp quốc Sau một ngày, Việt Nam đã phản đối, bác
bỏ tấm bản đồ này của Trung Quốc Kể từ đó, tình hình biển Đông diễn biếnphức tạp
- Mấy năm gần đây, Mỹ quay trở lại khu vực và có một số điều chỉnhchính sách đối với vấn đề an toàn hàng hải và tranh chấp trong khu vực
- Một số nước ASEAN như Indonesia, Philippines đã có điều chỉnh chínhsách nhất định
- Trung Quốc có một số điều chỉnh chính sách theo hướng cứng rắn hơntrên biển Đông (vụ giàn khoan 891)
Về chủ trương khai thác lợi thế so sánh của Việt Nam về kinh tế biển:
Trang 18Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩymạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để tiếp tục phát huy tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị Trung
ương Bốn khoá X ra Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương Nghị quyết đã xác định:
Mục tiêu tổng quát: đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc
gia mạnh về biển, làm giàu từ biển
Mục tiêu cụ thể: phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng
góp khoảng 53-55% GDP; 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Triển khai thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành:
- Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP (30/5/2007) ban hành Chương trình hànhđộng của Chính phủ
- Quyết định số 1041/QĐ-TTg (22/7/2009) Phê duyệt Đề án đảm bảomạng lưới thông tin biển, đảo
- Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg (21/8/2007) Phê duyệt Đề án tổ chứcthông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển
- Quyết định số 373/QĐ-TTG (23/3/2010) Phê duyệt Đề án đẩy mạnhcông tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg (30/12/2011) Phê duyệt Chiến lược pháttriển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
2.3.2 Về tài nguyên thiên nhiên
* Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên Ở trình độ phát triểnkinh tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng Việt Nam có khoảng8,0 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ởđồi núi thấp và các cao nguyên
* Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các giống loàiđộng, thực vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng v.v…
là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta
Tuy nhiên, nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão,
lũ lụt, hạn hán v.v… Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra nhữngtổn thất nhất định cho nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hayvùng khác
* Khoáng sản là một loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt đốivới việc phát triển kinh tế - xã hội Nhìn chung, ở nước ta nhiều loại khoáng sảnphân tán theo không gian và phân bố không đều về trữ lượng Một số khoángsản với trữ lượng đáng kể như: boxit, vật liệu xây dựng, dầu khí, sắt v.v… tuymới được khai thác bước đầu nhưng đã tỏ ra có hiệu quả
Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên cóquan hệ mật thiết với trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ,cũng như phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư
Trên một đơn vị diện tích, số lượng tài nguyên nhiều, trữ lượng nhỏ lạiphân tán như trong điều kiện hiện nay, có thể là một khó khăn Song nếu ápdụng công nghệ khai thác tài nguyên tiên tiến trên quan điểm kinh tế tổng hợp,
Trang 19thì mức độ tập trung tài nguyên như đã nêu ở trên lại có thể coi là một thế mạnh.
Cho đến gần đây, những hậu quả của chiến tranh để lại và nhất là việckhai thác không hợp lý tài nguyên ở nước ta đã dẫn đến tình trạng nhiều loại bịsuy giảm nghiêm trọng
Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác nhau Trong khi tàinguyên biển chưa sử dụng được bao nhiêu thì nhiều loại tài nguyên khác lại bịkhai thác quá mức
Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng nhất Hiện nay, độ che phủ củarừng đang ở mức báo động Rừng chỉ còn chiếm 32% diện tích cả nước (1999).Đất đai nhiều vùng bị sói mòn, diện tích đất trồng, đồi trọc tăng lên đáng kể.Nhiều hệ sinh thái rừng, nhất là ở khu vực ven biển, đầu nguồn và cửa sông bịphá hoại nặng nề Nguồn gen động vật, thực vật bị giảm sút mạnh
Sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên trước hết là hậu quả trực tiếp của việckhai thác bừa bãi, không theo một chiến lược nhất định Sau nữa là trình độ côngnghệ khai thác của nước ta còn lạc hậu Vì thế, tài nguyên bị lãng phí mà chi phíkhai thác lại cao
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việcxây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Do đó, vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi vớiviệc bảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảonhững điều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại vàtrong tương lai
số hộ tăng bình quân hằng năm là 3% (Bảng sau).
SỐ LƯỢNG VÀ TỶ LỆ TĂNG SỐ HỘ THỜI KỲ 1979-2009
- 1989: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số Trung ương, Tổng điều tra dân
số Việt Nam 1989: Kết quả điều tra toàn diện, Hà Nội 1991, Tập 1, tr.63.
- 1999: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999: Kết quả toàn bộ, Nhà xuất bản Thống kê, 8/2001, tr.11.
* Quy mô dân số
Trang 20- Tổng số dân Việt Nam ngày 01/4/2009 là 85.789.573 người; trong đó
thành thị 25.374.262 (29,6%); nông thôn là 60.415.311 (70,4%)
- Ngày 1/11/2013, dân số Việt Nam đã đạt mốc 90 triệu Về quy mô dân
số, Việt Nam xếp thứ 3 Đông Nam Á; thứ 14 thế giới Mật độ dân số 271 người/
km2, nằm trong tốp quốc gia có mật độ cao
- Năm 2014 dân số Việt Nam đạt 90,7 triệu (1/4/2014)
Theo dự báo:
- Năm 2019 dân số Việt Nam khoảng 94,7 triệu
- Năm 2050 dân số Việt Nam khoảng 104 triệu
QUY MÔ DÂN SỐ (THEO GIỚI TÍNH, THÀNH THỊ/NÔNG THÔN VÀ VÙNG) NĂM
2009
Đơn vị tính: Người
Toàn quốc 85.789573 42.482549 43.307024 25.374262 60.415311 Trung du và Miền núi phía Bắc 11.064449 5.529524 5.534925 1.772059 9.292390 Đồng bằng sông Hồng 19.577944 9.647717 9.930227 5.721184 13.856760 Bắc Trung Bộ và Duyên Hải
miền Trung
18.835485 9.331599 9.503886 4.530450 14.305035
Đông Nam Bộ 14.025387 6.844678 7.180709 8.009167 6.016220 Đồng bằng sông Cửu Long 17.178871 8.545530 8.633341 3.922333 13.256538
* Phân bố dân số và tỷ lệ tăng dân số theo vùng
Phân bố dân số là khía cạnh quan trọng của phát triển Các số liệu của
Bảng DÂN SỐ, TỶ LỆ TĂNG DÂN SỐ THỜI KỲ 1999-2009 cho thấy, dân số
phân bố không đều, khác biệt giữa các vùng
DÂN SỐ, TỶ LỆ TĂNG DÂN SỐ THỜI KỲ 1999-2009
Vùng kinh tế - xã hội 1999 2009 Tỷ lệ tăng dân số bình quân
Nguồn: 1999: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt
Nam 1999: Kết quả toàn bộ, Nhà xuất bản Thống kê, 8/2001.
Cụ thể là:
Dân số thời kỳ 1999-2009:
- Vùng đông nhất: Đồng bằng sông Hồng (19.577.944)
- Vùng ít nhất: Tây Nguyên (5.107.437)
Trang 21- Đồng bằng sông Hồng; Đồng bằng sông Cửu Long: châu thổ của hai
hệ thống sông lớn, có đất đai màu mỡ, điều kiện canh tác tốt nên chiếm 43% dân
số
- Trung du - miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: vùng núi cao, điều
kiện khó khăn, nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số, chỉ có 19% dân số
Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 1999-2009:
- Tỷ lệ tăng dân số cao nhất: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên (cao hơn bốn
vùng khác; Vì ngoài tỷ lệ sinh, 2 Vùng này mức độ nhập cư lớn hơn
- Tỷ lệ tăng dân số thấp nhất: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 0,4%/năm (vùng có quy mô dân số lớn thứ hai của cả nước)
- Tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu Long (0,6%/năm), là vùng có số dânđông thứ ba của cả nước
- Tỷ lệ tăng dân số cao nhất: Đông Nam Bộ (3,2%/năm) Trong đó:
+ Thành phố Hồ Chí Minh 3,5%/năm, cao hơn cả vùng;
+ Bình Dương 7,3%/năm, gấp 2,3 lần so với cả vùng
Tây Nguyên là vùng có dân số, mật độ dân số thấp nhất (5,1 triệu; mật độ
93 người/km2), song do tốc độ nhập cư lớn, vì vậy tỷ lệ tăng dân số là2,3%/năm
* Nhịp độ gia tăng dân số biến đổi qua các thời kì
Số liệu ở Bảng Quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 1979-2009
cho thấy, từ năm 1999 dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu: 85.790/2009 76.323/1999, bình quân tăng 947 nghìn/năm
-Tỷ lệ tăng giữa hai lần tổng điều tra năm 1999-2009 là 1,2%/năm; thời kỳnày có tỷ lệ tăng thấp nhất 30 năm qua Thời kỳ 1979-1989 là là 2,1%/năm; thời
Chú ý: Thời kì 1931-1960, tốc độ gia tăng dân số trung bình là
1,85%/năm Dân số tăng nhanh vào thời kỳ 1965-1975 với mức tăng trung bìnhtrên 3%/năm
Nguồn: 1979, 1989, 1999: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở
Trung ương, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999: Kết quả sơ bộ, Nhà
xuất bản Thế Giới, 9/1999, tr.10.
Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 222.3.3.2 Dân số Việt Nam trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng
Dưới góc độ kinh tế, dân số được chia thành hai nhóm:
- Nhóm 1: trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi; trong đó: nam 15-60/64tuổi, nữ 15-55 tuổi), gồm những người đang có việc làm và những người thấtnghiệp;
- Nhóm 2: dân số phụ thuộc (< 15 tuổi và >= 65 tuổi), gồm trẻ em vàngười cao tuổi
Do mức sinh giảm, nên so với năm 1979, tỷ lệ trẻ em trong tổng số dângiảm gần một nửa, từ 43% còn 24% Ðiều này làm cho tương quan giữa Nhóm1&2 thay đổi căn bản Nếu năm 1979, cứ 100 Nhóm 1 có 90 nhóm 2 (90%); thìnăm 2006 giảm còn 50, năm 2012 còn 44 (non một nửa)
Khi tương ứng 100 người lao động chỉ có 50 người phụ thuộc hoặc ít hơn,
thì đó là cơ cấu dân số vàng; vì lao động nhiều, phụ thuộc ít Cơ cấu này rất
hiếm, chỉ xuất hiện một lần, kéo dài 30-40 năm trong lịch sử mỗi quốc gia Ðặcđiểm nổi bật của thời kỳ này là dân số có khả năng lao động (15-64 tuổi) chiếm
tỷ lệ cao
Thống kê cho thấy, từ năm 2006, Việt Nam đã ở thời kỳ cơ cấu dân sốvàng Dự báo thời kỳ này kết thúc giữa thế kỷ 21, khi người cao tuổi chiếm30%, tức là dân số siêu già (Nhật Bản, nhiều nước châu Âu hiện nay) Ðây làmột biến đổi xã hội sâu sắc nhất ở nước ta nửa thế kỷ qua
TỶ TRỌNG DÂN SỐ NHÓM 1&2 VÀ CHỈ SỐ GIÀ HÓA THỜI KỲ
- 1999: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam
1999, Kết quả điều tra toàn bộ, Nhà xuất bản Thống kê, 8/2001, tr.20
Một chỉ tiêu biểu thị xu hướng già hoá là Chỉ số già hoá, đó là tỷ số giữadân số từ 60 tuổi trở lên so với dân số dưới 15 tuổi tính theo phần trăm Chỉ sốnày phản ánh cấu trúc dân số phụ thuộc
Bảng TỶ TRỌNG DÂN SỐ NHÓM 1&2 VÀ CHỈ SỐ GIÀ HÓA THỜI
KỲ 1989-2009 cho biết chỉ số già hoá các năm 1989, 1999 và 2009 Chỉ số giàhoá tăng từ 18,2%/1989 lên 24,3%/1999, và 35,7%/2009 (Đông Nam Á là 30%).Điều đó cho thấy 30 năm qua, xu hướng già hoá dân số ở nước ta diễn ra rấtnhanh
Bảng này cho thấy, năm 2009, dân số Nhóm 1 là 68,4%; Nhóm 2 là35,7% Nghĩa là dân số đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng
Trang 23Như vậy, Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, nghĩa là số
người trong độ tuổi lao động lớn nhất từ trước đến nay, khi mà một người phụ
thuộc được gánh bởi hai người trong độ tuổi lao động Nói cách khác, tỷ trọng
dân số trong tuổi lao động cao gấp đôi nhóm dân số phụ thuộc
Việc tận dụng cơ cấu dân số vàng để tạo cơ hội phát triển đã và đang
nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách
Thời kỳ cơ cấu dân số vàng sẽ không đem lại tác động tích cực nếu không có
chính sách phù hợp Vì vậy, cần có chính sách phù hợp về các lĩnh vực kinhtế,xã hội như đảm bảo an sinh xã hội cho người già và dễ bị tổn thương, tạo việclàm và phát triển kỹ năng, bảo đảm bình đẳng giới
Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng hay còn gọi là thời kỳ cửa
sổ dư lợi dân số Với cơ cấu dân số vàng, Việt Nam đứng trước kỳ vọng lớn, đó
là có thể cất cánh với sự phát triển thần kỳ như một số nước đã đạt được khibước vào thời kỳ này
Cơ cấu dân số vàng chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong lịch sử mỗi mộtquốc gia, là cơ hội có một không hai Cũng từ chính cơ hội này, các con rồngchâu Á đã vươn dậy, xây dựng đất nước với sự phát triển thần kỳ
Cơ cấu dân số vàng, với nguồn nhân lực dồi dào sẽ trở thành sức mạnh,biến nước ta thành rồng nhưng cũng có thể khiến chúng ta chất trên mình gánhnặng Đặc biệt, trong bối cảnh cơ cấu dân số nước ta đang có sự biến đổi mạnhmẽ: Tỷ số giới tính khi sinh cao, tốc độ già hóa dân số nhanh, số phụ nữ bướcvào độ tuổi sinh đẻ cao…
Theo GS Gavin Jones - Viện Nghiên cứu châu Á, Trường Đại học Quốcgia Singapore: Việc tận dụng cơ hội vàng đã đóng góp 2/3 phép màu kinh tế củacác con rồng châu Á Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo nó cũng có thể sẽ trở thànhthảm họa nếu một số lượng lớn thanh niên không được đào tạo đầy đủ, gia nhậpmột thị trường lao động không đủ sức sử dụng họ
Theo nhiều chuyên gia, để phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng, thì đầu tưđào tạo nguồn nhân lực rất quan trọng; theo đó cần có chính sách đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực Trong đó, đầu tư để thanh niên tiếp cận các dịch vụ
xã hội có chất lượng, bao gồm cả sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; đào tạonghề, cơ hội việc làm có thể mang lại lợi ích giúp phát triển bền vững
Tại thời điểm 01/7/2014 lực lượng lao động cả nước là 53,7 triệu người,tăng 0,2 triệu người so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó lao động namchiếm 51,4%; lao động nữ chiếm 48,6% Lực lượng lao động trong độ tuổi laođộng ước tính 47,3 triệu người, giảm 10,2 nghìn người so với cùng thời điểmnăm 2013 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc 6 tháng đầu năm ước tính52,7 triệu người, tăng 0,3 triệu người so với cùng kỳ năm 2013, trong đó laođộng khu vực nông, lâm và thủy sản chiếm 47,2%, lao động khu vực côngnghiệp chiếm 20,7% và lao động dịch vụ chiếm 32,1% (Tỷ lệ tương ứng trongcác khu vực của cùng kỳ năm 2013 là: 47,1%; 20,9% và 32,0%) Trong 6 thángđầu năm 2014, số người có việc làm quý I là 52,5 triệu người, tăng 616,1 nghìnngười so với cùng kỳ năm 2013; quý II là 52,7 triệu người, tăng 282,6 nghìnngười
Trang 24Để tận dụng cơ cấu dân số vàng cho phát triển bền vững, Đảng, Nhà nước
ta chủ trương, xây dựng hệ thống chính sách dân số hướng tới gia đình có 2 con;duy trì và kéo dài thời kỳ cơ cấu dân số vàng
Quý I/2015:
- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thờiđiểm 01/4/2015 là 53,6 triệu người (tăng 8,8 nghìn người so với cùng thời điểmnăm 2014), bao gồm lao động nam 27,6 triệu người, chiếm 51,5%; lao động nữ
26 triệu người, chiếm 48,5% Trong đó: thành thị là 17,1 triệu người, chiếm31,9%; nông thôn là 36,5 triệu người, chiếm 68,1%
- Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính 52,5 triệu người, bao gồm21,3 triệu người đang làm việc ở khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản,chiếm 40,7% tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng 13,4 triệu người, chiếm25,5%; ngành dịch vụ 17,7 triệu người, chiếm 33,8%
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,22%, trong đókhu vực thành thị là 3,17%; khu vực nông thôn là 1,75% Số người thất nghiệptrong độ tuổi lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 24,2% tổng số ngườithất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi có trình độ cao đẳng trởlên của cả nước là 4,39% (cao hơn 2,17 điểm phần trăm so với tỷ lệ thất nghiệpcủa lao động trong độ tuổi), trong đó khu vực thành thị là 4,00%; khu vực nôngthôn là 5,11%
2.3.3.3 Việt Nam có tốc độ già hóa dân số nhanh
Nói đến Việt Nam, người ta thường nghĩ đến dân số trẻ trung Nhưngnhững dữ liệu mới đây và dự báo cho thấy dân số Việt Nam đang “già hóa” khánhanh Sự già hóa này có ý nghĩa đến nền kinh tế và an sinh mai sau
Một chỉ số biểu thị xu hướng già hoá là Chỉ số già hoá Đó là tỷ số % giữadân số >60 tuổi với dân số <15 tuổi Chỉ số này phản ánh cấu trúc của dân sốphụ thuộc Chỉ số già hoá tăng từ 18,2%/1989 lên 24,3%/1999 và 37,5%/2009.Điều đó cho thấy xu hướng già hoá ở nước ta diễn ra khá nhanh trong ba thập kỷqua
Tháp dân số Việt Nam năm 1999 và 2009