1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân loại nợ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại tỉnh sóc trăng

114 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại tỉnh Sóc Trăng” để đóng góp một số giải pháp giúp hoàn thiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

K -

LÝ NGUYỆT TRÂN

PHÂN TÍCH NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI TỈNH SÓC TRĂNG

Chuyên nghành:Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS.TRẦN HUY HOÀNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009

Trang 2

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHCV :Ngân hàng cho vay

MHB :Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long

SacomBank :Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín

Trang 3

Bảng 2.2:Tình hình dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng từ 2006-2008 Bảng 2.3:Tình hình phân nhóm nợ theo QĐ 493 và QĐ 18 của các NHTM trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Bảng 2.4:Thử nghiệm áp dụng phân loại nợ theo phương pháp định tính tại Ngân hàng MHB Sóc Trăng tại thời điểm 31/12/2008

Bảng 2.5:Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Bảng 2.6:Sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Bảng 2.7:Phân loại nợ theo QĐ 488 và QĐ 493 tại Ngân hàng MHB Sóc Trăng Bảng 2.8:Chi phí trích lập dự phòng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài:

Trong bất kỳ hoạt động nào, việc phòng tránh rủi ro luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tối đa hóa giá trị thu được và kỳ vọng tương lai Tuy nhiên, rủi ro

là luôn tìm ẩn và trong nhiều trường hợp không thể tránh khỏi, đặc biệt đối với các hoạt động tài chính tín dụng Mà tại Việt Nam trong tổng thu nhập ngân hàng thì thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng đến 84,5% (năm 2008) Kinh doanh tín dụng là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu của các ngân hàng trong khi đó môi trường kinh doanh tín dụng còn nhiều rủi ro Do đó rủi ro lớn nhất mà các Ngân hàng thương mại Việt Nam đang gặp phải là rủi ro tín dụng Vì vậy, phân loại theo dõi để biết được tình hình sức khỏe của tổ chức tín dụng mình và xử lý rủi ro tín dụng như thế nào cho kịp thời, có hiệu quả là điều mà mọi tổ chức tín dụng đặc biệt quan tâm

Hơn nữa trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hệ thống tài chính nói chung và

hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng không chỉ là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân mà còn mang trong mình vận hội vươn rộng ra khu vực, thế giới và đang đứng trước những thách thức mới gắn liền với tiềm ẩn rủi ro cao hơn

Đó cũng chính là yêu cầu đòi hỏi mỗi ngân hàng phải nâng cao năng lực tài chính, nâng cao sức cạnh tranh, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc

tế … Một trong những chuẩn mực quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện nay

là đánh giá phân loại nợ căn cứ vào mức độ rủi ro, trên cơ sở đó đánh giá và phân loại tổ chức tín dụng, cũng như áp dụng các chính sách dự phòng phù hợp Chính vì vậy, trong quý II/2005 Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước (sau đây gọi là Quyết định 493) và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước “Về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

Trang 5

xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước” (sau đây gọi là Quyết định 18) Hai quyết định này là một bước tiến lớn

so với Quyết định 488/2000/QĐ-NHNN5 ngày 27/11/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành trước đây, vì đã thể hiện rỏ hơn bản chất của việc phân loại, trích lập dự phòng trong hoạt động tín dụng Đã góp phần tác động trực tiếp đến công tác quản lý, nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro, xử lý kịp thời những tổn thất có thể xảy ra từ hoạt động kinh doanh ngân hàng Đồng thời tiến dần đến sự phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Nếu phân loại nợ tốt thì chất lượng tín dụng, khả năng thanh khoản của ngân hàng được nâng cao rõ rệt, quá trình này sẽ phản ánh chính xác thực trạng nợ xấu,

để có giải pháp quyết liệt, thích hợp, nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách kinh doanh tín dụng theo hướng an toàn và hiệu quả thay vì tự đánh lừa mình, dẫn đến mất khả năng kiểm soát khi rủi ro xảy ra Với lý do trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài

“Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương

mại tỉnh Sóc Trăng” để đóng góp một số giải pháp giúp hoàn thiện và nâng cao

hiệu quả của việc phân loại nợ, trích lập dự phòng trong hoạt động tín dụng nhằm kiểm soát chất lượng hoạt động, lượng hoá mức độ rủi ro để có biện pháp xử lý hiệu quả, hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn và phát triển của các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và các Ngân hàng thương mại tại Sóc Trăng nói riêng

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt ba mục tiêu sau đây:

Thứ nhất: Làm sáng tỏ về mặt lý luận của tín dụng, tín dụng ngân hàng, sự

cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng, kinh nghiệm về vấn đề này của một số nước trên thế giới và bài học cho Ngân hàng thương mại Việt Nam

Thứ hai: Phản ảnh và đánh giá thực trạng của việc phân loại nợ, trích lập dự

phòng và xử lý rủi ro tín dụng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng theo QĐ 493 và QĐ

18 và những vướng mắc yếu kém cần phải khải phục

Trang 6

Thứ ba: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của việc phân loại nợ, trích lập

dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng và hệ thống ngân hàng nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện phát triển chính sách phân loại nợ, trích lập dự phòng

để xử lý rủi ro tín dụng theo Quyết định 493 và Quyết định 18 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào các NHTM tỉnh Sóc Trăng trừ Ngân hàng Chính Sách Xã Hội (vì Điều 1 Quyết định 493 qui định Ngân hàng Chính Sách Xã Hội không phải thực hiện việc phân loại và trích lập dự phòng này) Thời gian nghiên cứu là từ năm 2006 đến năm 2008

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào dữ liệu thống kê các hoạt động của các NHTM tỉnh Sóc Trăng về công tác phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng Đồng thời xem xét thực tiễn ứng dụng các Quyết định 493 và Quyết định 18 trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng

Từ đó thấy được một số vướng mắc và ảnh hưởng của Quyết định 493 và Quyết định 18 nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và phát triển việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra, phương pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng, phỏng vấn trao đổi với các chuyên gia Bên cạnh đó, đề tài cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học

và thực tiễn của đề tài

Trang 7

5 Những đóng góp mới của đề tài:

Qua nghiên cứu thực trạng của việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM tỉnh Sóc Trăng, so sánh giữa hai phương pháp phân nhóm

nợ, luận văn đi sâu đề ra các giải pháp quản lý vi mô dưới góc độ hẹp của một địa phương để giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng Đồng thời kết hợp với các phương pháp vĩ mô cần thiết nhằm phối hợp phát huy tác dụng đồng bộ

6 Kết cấu của luận văn:

Nội dung luận văn bao gồm:

Trang 8

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ

XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG

1.1 Tín dụng ngân hàng và vai trò của nó trong nền kinh tế:

1.1.1 Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng:

1.1.1.1/ Khái niệm và bản chất của tín dụng:

Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Mặc dù tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có các tính chất quan trọng sau:

- Tín dụng chỉ là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu của chúng

- Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”

- Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng

Bản chất của tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế

1.1.1.2/ Khái niệm tín dụng ngân hàng:

Tín dụng Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:

- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người

sử dụng

Trang 9

- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời

- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

Trong các loại hình tín dụng, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cung ứng và điều hòa vốn cho nền kinh tế Với vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân dưới nhiều hình thức rồi chuyển nguồn vốn đó đến các chủ thể khác đang có nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh Đây là hình thức tín dụng chuyên nghiệp, hoạt động hết sức đa dạng và phong phú

1.1.2 Vai trò của tín dụng:

Tín dụng có vai trò hai mặt:

Về mặt tích cực, tín dụng có vai trò to lớn sau đây:

 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển: Tín dụng không chỉ là nguồn cung ứng vốn cho các tổ chức kinh tế, là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế mà còn

là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các tổ chức kinh tế Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tín dụng tạo ra động lực phát triển rất mạnh

mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được

 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả:

Tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong lưu thông, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ Mặt khác do cung ứng vốn tín dụng, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, nhờ đó tín dụng góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước

 Tín dụng góp phần tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống trật tự xã hội: Tín dụng đã tạo ra khả năng khai thác các tiềm năng sẳn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng, … do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống và trật tự xã hội

Trang 10

 Cuối cùng còn có thể nói tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng

và phát triển các mối kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế:

Sự phát triển của tín dụng không những ở trong phạm vi quốc nội mà còn

mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển

Về mặt tiêu cực:

Trong hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi Tín dụng sẽ phát huy được vai trò tích cực của nó nếu được phân tích kỹ và đầu tư đúng hướng Ngược lại, nếu cung cấp tín dụng một cách tràn lan, thiếu định hướng sẽ dẫn đến những hiện tượng tiêu cực trong tín dụng là không thu hồi được vốn cho vay, ngân hàng mất khả năng chi trả, gia tăng lạm phát và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế xã hội

1.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng:

1.2.1 Khái niệm chung về rủi ro:

Mọi người đều phải thừa nhận rằng môi trường sống của chúng ta đầy rẫy những rủi ro Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực Rủi ro có thể xuất hiện một cách bất ngờ ở mọi lúc, mọi nơi Tùy theo cách tiếp cận, ta có những cách định nghĩa khác nhau về rủi ro Nhưng nhìn chung có thể chia làm hai quan điểm:

- Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người cũng ngày càng nhiều và đa dạng, xuất hiện những rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ

- Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi

ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực: Rủi ro có thể mang đến cho con người những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng có thể mang đến những cơ

Trang 11

hội, thời cơ Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro

1.2.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng:

Rủi ro tín dụng là “lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng” hay nói cách khác “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”

Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, “việc đánh giá rủi ro là trách nhiệm của nghề ngân hàng” Rủi ro trong tín dụng xảy ra khi bên đi vay, trong một giao dịch, không thực hiện được việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điều kiện trong hợp đồng làm cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính

Vậy từ đây có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về rủi ro tín dụng: “Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý do nào”

Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc, cung bậc khác nhau, chúng luôn tìm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là món vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn …

1.2.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng:

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro tín dụng sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng về lợi nhuận và tài sản, chẳng hạn như:

- Giảm lợi nhuận của ngân hàng: việc chậm trả lãi vay sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng so với dự kiến lúc cho vay Mặt khác, việc chậm trả kể cả vốn và lãi làm chi phí quản lý của ngân hàng cho khoản vay này tăng lên vì kéo dài thời hạn

- Không cân đối được nguồn vốn: nợ khó đòi làm động vốn của ngân hàng,

có thể gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn và sử dụng vốn, khả năng thanh toán bị giảm thấp sẽ dẫn đến thiệt hại tài sản của ngân hàng Nếu

Trang 12

các khoản nợ khó đòi chiếm tỷ lệ lớn và kéo dài sẽ làm mất lòng tin của khách hàng, làm giảm đi nguồn vốn huy động, thậm chí có thể đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản vì không còn khả năng thanh toán

- Mất cơ hội ký kết hợp đồng mới: do không thu được nợ đúng kế hoạch làm cho vốn của ngân hàng không được giải phóng theo dự định và như vậy ngân hàng

có thể bỏ qua cơ hội ký kết những hợp đồng tín dụng mới

- Trong một số trường hợp khi khách hàng cố tình không trả nợ thì ngân hàng phải khởi kiện ra Tòa và sẽ phải mất thêm phần chi phí cho khiếu kiện, xử án, thi hành án, …

- Chi phí cho các khoản nợ khó đòi thường rất cao, song các khoản nợ này lại không có khả năng trả lãi Điều đó làm cho ngân hàng bị thua lỗ và thiệt hại về tài sản

1.3 Đánh giá rủi ro tín dụng:

Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là :

1.3.1 Tỷ lệ nợ quá hạn:

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Quy định hiện nay của NHNN cho phép dư nợ quá hạn của các NHTM

không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì

nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành 03 nhóm:

- Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý

- Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn

- Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ

Tổng dư nợ cho vay

Dư nợ quá hạn

X 100% (1.1)

Trang 13

- Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn

Do việc phân loại chất lượng tín dụng được tính theo thời gian như vậy, nên những khoản tín dụng ở Việt Nam tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Vì rằng có những khoản

nợ còn trong hạn nhưng khách hàng kinh doanh không hiệu quả, khả năng trả nợ mong manh nhưng vẫn chưa được xếp vào loại nợ xấu để tiến hành những biện pháp phòng ngừa

1.3.2 Tỷ trọng nợ xấu / Tổng dƣ nợ cho vay:

Nợ xấu: là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không

được tái cơ cấu

Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính Phủ xử lý rủi ro

Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng:

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn

- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi

- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trãi nợ gốc và lãi

- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày

Theo Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 05/01/2001 thì nợ xấu có thể chia thành 03 nhóm:

Nhóm 1: Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: Nợ tồn đọng ngân hàng đã

thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; Nợ tồn động ngân hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày

Nhóm 2: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tƣợng để thu, gồm có: Nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng; nợ khoanh

Trang 14

doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất …

Nhóm 3 : Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng

chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày

Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những khoản nợ

không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xóa

Cũng từ cách phân loại nợ quá hạn theo thời gian như vậy nên phần lớn nợ quá hạn ở nước ta đều là nợ xấu Các khoản nợ xấu tồn tại hiện nay ở các NHTM bao gồm:

+ Nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên

+ Nợ liên quan đến các vụ án, nợ đã khởi kiện nhưng chưa thể thu hồi chờ

xử lý, nợ có tài sản đảm bảo nhưng không hợp lệ

+ Những khoản nợ quá hạn, nợ trả thay không còn đối tượng để thu

Theo Quyết định 493 và Quyết định 18, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm các nhóm nợ như sau:

● Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (Nợ nhóm 3): Các khoản nợ được TCTD

đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi Bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;

+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3

● Nợ nghi ngờ (Nợ nhóm 4): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả

năng tổn thất cao, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

Trang 15

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4

● Nợ có khả năng mất vốn (Nợ nhóm 5): Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5

Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này phải nằm trong khoản từ 3% đến 5%

Như vậy, với QĐ 493 thì khái niệm về nợ xấu của Việt Nam đã gần sát với chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn có sự khác biệt là các ngân hàng lớn trên thế giới phân loại nợ xấu gắn liền với nguyên nhân xảy ra để xác định mức độ rủi

ro, trong khi các NHTM VN phân loại nợ xấu căn cứ vào thời hạn mà bỏ qua việc đánh giá lại tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn

Trang 16

tín dụng cũng rất cao Thông thường, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 03 nhóm:

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng cũng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng là vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư

nợ cho vay của ngân hàng nên ta có công thức sau:

Hệ số rủi ro tín dụng =

1.3.4 Tỷ lệ xoá nợ:

Tỷ lệ xoá nợ =

1.4 Biện pháp quản lý rủi ro tín dụng:

1.4.1 Nâng cao chất lƣợng công tác thẩm định và phân tích tín dụng:

- Rà soát, chỉnh sửa và hoàn thiện các quy trình nội bộ, ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với các qui định của pháp luật có liên quan

- Rà soát, lựa chọn cán bộ có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, có cơ chế uỷ quyền, quy định trách nhiệm đối với cán bộ phụ trách và tác nghiệp, phù hợp với năng lực và kinh nghiệm kinh doanh của các cán bộ đã được đào tạo, thử thách và cơ sở vật chất hiện có

Tổng dư nợ của các khoản cho vay có chất lượng trung bình Tổng tài sản có

X 100%

Các khoản xoá nợ ròng Tổng tài sản có

X 100%

(1.3)

(1.4)

Trang 17

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ và ứng dụng công nghệ mới để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa sai phạm, rủi ro

1.4.2 Chú trọng công tác thu thập thông tin tín dụng:

- Thực hiện việc quản lý dữ liệu tập trung, đảm bảo có sẵn thông tin cho các nhà quản trị khi ra quyết định cho vay

- Triển khai việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng vay, nâng cấp, đảm bảo chính xác và kịp thời hệ thống thông tin báo cáo và quản trị rủi ro

- Tăng cường việc sử dụng các thông tin liên bộ, liên ngành góp phần hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định tín dụng chính xác

1.4.3 Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín

dụng, phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài sản đảm bảo, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng

1.4.4 Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín

dụng

- Xây dựng và thực hiện đồng bộ một hệ thống quy chế, quy trình nội bộ về quản lý rủi ro, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu

- Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn cho vay đối với thời hạn của nguồn vốn huy động

- Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, … đối với một khách hàng và các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh

1.4.5 Đối với các trường hợp chây ỳ trả nợ vay, cần áp dụng các biện pháp kiên

quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc xử lý TSTC, cầm cố và bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án

1.4.6 Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ quan

bảo hiểm chuyên nghiệp

Trang 18

1.4.7 Trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của NHNN: chấp hành tốt các

quy định của NHNN về tỷ lệ an toàn trong hoạt động của TCTD theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005, quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng của các TCTD theo Quyết định số

493 và Quyết định 18 của Thống Đốc NHNN ban hành và các qui định liên quan về đảm bảo tiền vay

1.5 Sự cần thiết phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:

Trong xu thế cạnh tranh hội nhập hiện nay cam kết quốc tế các NHTM nhanh chóng hoàn thành theo lộ trình đã đề ra Các NHTM phải thực hiện hệ thống quản trị ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế mà kỷ thuật phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được xem là một trong những biện pháp hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng được áp dụng hầu hết các nước trên thế giới Tuy nhiên do mới bắt đầu triển khai trong những năm gần đây kể từ khi có QĐ 493, sau đó là QĐ 18 ban hành nhằm sửa đổi một số điều của QĐ 493, sau sửa đổi vẫn tiếp tục còn nhiều khó khăn vướng mắc khác trong cách phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói riêng Vì vậy, rất cần những giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc phân loại nợ, trích lập dự phòng trong hoạt động tín dụng

Ngoài ra, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là một trong những biện pháp để quản lý rủi ro tín dụng Đây là một biện pháp thực hiện sau khi đã quyết định cấp tín dụng cho khách hàng Sau đó tiến hành giám sát khoản tín dụng đã cấp để có cơ

sở phân loại vào nhóm rủi ro tương ứng với tỷ lệ trích lập tương ứng với nhóm rủi

ro Việc giám sát tín dụng là một quá trình thu thập, xử lý những thông tin tài chính cũng như phi tài chính của khách hàng và đưa ra các giải pháp Theo tinh thần Quyết định 493, việc giám sát tín dụng thực sự trở nên hết sức cấp thiết, đặc biệt nó

sẽ là cơ sở để ngân hàng thực hiện việc xếp hạng rủi ro với khách hàng Từ đó, ngân hàng có thể xây dựng những biện pháp phòng ngừa hạn chế cũng như trích lập

và sử dụng hiệu quả quỹ dự phòng rủi ro tín dụng

Trang 19

Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần phải trích lập quỹ bù đắp rủi ro hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh Qui mô quỹ bù đắp rủi ro căn cứ vào mức độ và khả năng rủi ro Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng

và ngược lại hay nói khác đi thì hiệu quả kinh doanh của NHTM tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro của doanh nghiệp Cho nên, để đo lường mức độ rủi ro đó biết được sức khoẻ của TCTD mình đang ở mức nào thì rất cần thiết phải có những giải pháp tốt nhất nhằm quản trị được rủi ro có thể xảy ra và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn của các cấp lãnh đạo, quản lý điều hành

Sau đây là một số yếu tố dẫn đến việc phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:

1.5.1 Tác động của Luật Ngân hàng Nhà Nước:

Theo luật Ngân hàng Nhà Nước 1997, thì NHNN có quyền kiểm soát hoạt động tín dụng tại các NHTM Với yêu cầu kiểm soát nên NHNN đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm thực thi vấn đề quản lý nào đó Quyết định 493 được ban hành nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM cũng là một yêu cầu cấp bách nhằm chấn chỉnh hoạt động tín dụng và trong sạch tình hình tài chính, giúp các Ngân hàng chủ động hơn trong việc xử lý nợ tồn động nâng cao sức cạnh tranh và năng lực tài chính Vì vậy, dưới tác động của Luật NHNN Quyết định

493 ra đời là phù hợp với tình hình thực tế

1.5.2 Tác động của Luật các TCTD:

Điều 82 Luật các TCTD qui định: TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng và được hạch toán vào chi phí hoạt động Việc phân loại tài sản

“có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để

xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do Thống Đốc NHNN qui định sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài Chính

Vậy khi thành lập và đi vào hoạt động TCTD phải tuân thủ các nguyên tắc

do luật đưa ra, có nghĩa là trong hoạt động cần phải có các khoản dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng Với rủi ro tín dụng là một dạng xuất hiện thường xuyên và phải trích lập dự phòng là điều cần thiết

Trang 20

1.5.3 Yếu tố chủ quan: để xử lý nợ tồn đọng, có nhiều biện pháp để xử lý nợ

tồn đọng như khoanh nợ, xóa nợ, phát mãi tài sản … nhưng giải pháp trích lập dự phòng và sử dụng nó để xử lý các khoản nợ xấu, tồn đọng là tiết kiệm thời gian và hiệu quả nhanh Đây là cách xử lý mang tính chất lâu dài và ổn định nhất được cụ thể hóa bằng qui định

1.5.4 Yếu tố khách quan: phù hợp với thông lệ quốc tế

Phân loại nợ và hạch toán nợ theo tiêu chuẩn quốc tế để minh bạch tình hình tài chính phải quán triệt đúng tiêu chí và cấu trúc phân loại nợ Đối với các nước phát triển họ cho rằng bản chất của tín dụng luôn có rủi ro, do vậy ngay khi phát sinh cho vay hay cam kết bão lãnh thì lập tức họ tiến hành trích lập ngay dự phòng, khoản này có thể được lập khi các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm hay chưa suy giảm Việc trích lập đã được các nước áp dụng từ lâu, là một trong các chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động ngân hàng qui định trong hệ thống Basel

II Mặc dù các tiêu chuẩn này khó được áp dụng trong điều kiện của các NHTM Việt Nam, tạo ra thách thức to lớn và không thể giải quyết trong ngắn hạn nhưng là tiền đề để các NHTM Việt Nam nghiên cứu và triển khai thực hiện trong dài hạn

1.6 Quy định trích lập dự phòng rủi ro theo chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS 39):

Sau đây là phương pháp trích lập dự phòng rủi ro theo các chuẩn mực kế toán quốc tế, để so sánh với cách làm của các TCTD Việt Nam và lý do tại sao các

TCTD Việt Nam chưa áp dụng giống như các chuẩn mực của IAS 39

1.6.1 Phương pháp chiết khấu luồng tiền:

1.6.1.1 Khái niệm chiết khấu luồng tiền:

Chiết khấu luồng tiền là một phương pháp sử dụng để phân tích luồng tiền thu được trong tương lai và đưa các luồng tiền đó về giá trị hiện tại theo một tỷ lệ chiết khấu nhất định Để đánh giá mức độ tổn thất của một khoản cho vay, người ta

sẽ so sánh giá trị hiện tại của các dòng tiền sẽ thu hồi được trong tương lai liên quan đến khoản vay và phần chênh lệch này với giá trị đầu tư ban đầu của dự án chênh lệch dương sẽ là cơ sở xác định cơ hội đầu tư

Trang 21

Cơ sở lý luận của phương pháp: phương pháp chiết khấu luồng tiền được xây dựng trên cơ sở tính thời gian của tiền tệ, 1 đồng tiền hôm nay sẽ có giá trị lớn hơn 1 đồng tiền của ngày mai

1.6.1.2 Công thức chiết khấu luồng tiền:

Trong đó: CFn: luồng tiền ước tính thu được trong năm thứ n

Giá trị hiện tại của luồng tiền ước tính này sẽ được so sánh với tổng dư nợ vay tại thời điểm đánh giá để xác định mức tổn thất ước tính Chênh lệch âm giữa giá trị hiện tại với tổng dư nợ vay tại thời điểm đánh giá chính là tổn thất ước tính của khoản vay và là mức dự phòng cần phải trích lập cho các khoản cho vay đối với khách hàng đó

Việc chiết khấu luồng tiền được thực hiện riêng cho từng loại hợp đồng (ngắn hạn hoặc trung/dài hạn) và từng loại tiền tệ (VNĐ hoặc ngoại tệ), do

đó luồng tiền sẽ được phân loại về 4 nhóm sau:

Trang 22

- Vay ngắn hạn bằng ngoại tệ

- Vay trung dài hạn bằng VNĐ

- Vay trung dài hạn bằng ngoại tệ

Lý do để thực hiện chiết khấu riêng cho các luồng tiền trên vì với mỗi nhóm có thể có các mức lãi suất khác nhau và/hoặc nguồn trả nợ khác nhau

1.6.2 Trích lập dự phòng theo phương pháp chiết khấu luồng tiền áp

dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất thực tế của các hợp đồng tín dụng hay giấy nhận nợ:

Dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế: chỉ bao gồm dự phòng cụ thể được xác định đối với các khoản nợ thuộc đối tượng cần phải được trích lập dự phòng, căn vứ vào dấu hiệu rủi ro do Ngân hàng đánh giá Dự phòng cụ thể bao gồm dự phòng xét riêng cho từng khoản nợ và dự phòng cụ thể khi đánh giá theo nhóm các khoản nợ có cùng đặc điểm rủi ro tín dụng

Các khách hàng được phân loại vào nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) không phải là đối tượng được trích lập dự phòng cụ thể nhưng sẽ được tiếp tục xem xét khả năng giảm giá trị khi đánh giá theo nhóm

Các khách hàng được phân loại vào nhóm 2, 3, 4 và 5 sẽ phải lập dự phòng cụ thể Dự phòng cụ thể sẽ được xác định là phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hiện tại của các dòng tiền ước tính thu được trong tương lai áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền sử dụng lãi suất thực tế của các hợp đồng tín dụng Dòng tiền ước tính thu hồi từ tài sản bảo đảm cũng được xem xét khi xác định dòng tiền để chiết khấu Các khách hàng được phân loại vào nhóm 2 đến nhóm 5 sẽ không phải tiếp tục xem xét khả năng giảm giá trị theo nhóm

Cách xác định dự phòng:

Luồng tiền ước tính thu hồi từ gốc và lãi vay:

Luồng tiền ước tính ở đây sẽ được xác định dựa trên lịch trả nợ và theo ước tính của CBTD đối với từng khoản vay của từng khách hàng căn cứ vào tình hình kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ, thiện chí trả nợ của khách hàng Việc xác định luồng

Trang 23

Mức trích lập dự phòng cần thiết lúc này sẽ được xác định bằng:

Dự phòng cần Giá trị hiện tại của Tổng dư nợ của khách hàng

trích lập khoản vay (PV) tại thời điểm đánh giá

* Đơn cử một số lý do tại sao các TCTD Việt Nam chưa áp dụng giống như các chuẩn mực của IAS 39:

 Số DPRRTD được ghi nhận theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) thường nhỏ hơn số DPRRTD theo IAS 39 Điều này làm cho việc trích lập dự phòng

ít => ít ảnh hưởng đến thu nhập của các TCTD

 Việc xác định số DPRRTD theo IAS39 tại các NHTM VN hiện nay có những hạn chế nhất định do tình trạng thông tin bất cân xứng, hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ chưa hoàn thiện và chương trình phần mềm tin học của các ngân hàng chưa đáp ứng được việc tính toán luồng tiền chiết khấu theo lãi suất thực tế của từng khế ước nhận nợ, từng HĐTD

 Những thông tin sẵn có của một số NHTMVN không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế nên không cung cấp được đầy đủ các thông tin cần thiết cho người

sử dụng báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế …

1.7 Kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại một số nước

và bài học cho Ngân hàng thương mại Việt Nam:

1.7.1 Kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại một số nước:

1.7.1.1 Tại nước Anh:

Phương pháp trích lập dự phòng thực hiện theo qui định của Hiệp hội Ngân hàng Anh như sau:

-

Trang 24

- Số tiền của một khoản dự phòng cụ thể phải là ước tính của ngân hàng về số tiền cần thiết để cắt giảm giá trị khoản vay tại thời điểm khởi tạo (giá trị ban đầu) trừ đi bất cứ số dự phòng nào đã được trích lập xuống còn giá trị ròng dự tính cuối cùng mà có thể thu hồi được

- Không có một nguyên nhân cụ thể nào dẫn đến việc trích lập dự phòng – nó thường là một sự kiện vỡ nợ nhưng các khoản dự phòng phải được xác lập bất cứ khi nào có thông tin về sự giảm sút chất lượng các khoản vay

- Các khoản dự phòng chung phải được trích lập cho những khoản vay đã giảm sút về chất lượng nhưng vẫn chưa được xác định một cách cụ thể Việc đánh giá cho dự phòng chung là mang tính “chủ quan một cách tất yếu” nhưng phải tính đến kinh nghiệm quá khứ và các điều kiện kinh tế hiện tại

Mặc dù trong thực tế, một số ngân hàng đã xây dựng các chính sách trích lập

dự phòng với nhiều yếu tố hướng về tương lai nhằm bù đắp một lượng tổn thất nào

đó trong suốt thời hạn của một khoản tín dụng, các khoản dự phòng chung chỉ chiếm một phần khá nhỏ trong tổng dự phòng Điều này một phần là vì các khoản

dự phòng chung là khoản được giảm trừ thuế và Hiệp ước vốn của Basel (1998) đã giới hạn số dự phòng chung được đưa vào trong vốn dự trữ bắt buộc tối thiểu ở mức 1,25% tổng tài sản có rủi ro

1.7.1.2 Tại nước Pháp:

Các chuẩn mực quản trị rủi ro luôn đo lường rủi ro tín dụng thông qua bản chất của tín dụng, theo đó tín dụng luôn có rủi ro dù khoản cho vay có suy giảm hay chưa suy giảm về khả năng thanh toán Vì vậy, các hướng dẫn đều đưa ra phương pháp trích lập ngay từ khi khoản cho vay được bắt đầu Đây là khoản dự phòng tích cực được trích lập cho khoản dư nợ tín dụng cho mỗi thời kỳ kế toán phù hợp với mức tổn thất dự tính dài hạn Tỷ lệ trích lập nâng dần với thời gian vay và khả năng suy giảm khoản nợ, ban đầu khởi tạo mức trích lập tối thiểu là 5% của hiệu số khoản nợ và tài sản đảm bảo

Trang 25

1.7.1.3 Tại nước Mỹ:

Cũng giống như của Anh, các khoản dự phòng chỉ dành cho các khoản tổn thất tín dụng đã xảy ra Theo các chuẩn mực kế toán được chấp thuận rộng rãi của Mỹ (GAAP), “không được công nhận các khoản tổn thất trước khi cho rằng chúng có thể xảy ra, kể cả khi dựa vào kinh nghiệm quá khứ để có thể cho rằng các khoản tổn thất sẽ phát sinh trong tương lai”

Các ngân hàng Mỹ trích lập và duy trì đầy đủ “dự phòng cho các khoản tổn thất tín dụng và cho thuê tài chính” (ALLL) để bù đắp các khoản tổn thất tín dụng dự tính hiện có, mặc dù người ta thừa nhận rằng việc quyết định mức ALLL này được căn cứ nhiều vào sự đánh giá chủ quan của các ngân hàng Để đảm bảo tính hợp lý của ALLL, các nhà thanh tra ngân hàng nhìn vào hệ thống quản lý và phương pháp

đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng và thực hiện các phân tích định lượng đối với ALLL như một phần của sự đánh giá toàn diện danh mục cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của danh mục đó Khi các nhà thanh tra kết luận rằng mức ALLL của một ngân hàng thấp hơn so với mức thích hợp, ngân hàng này phải trích lập thêm dự phòng

1.7.2 Bài học cho Ngân hàng thương mại Việt Nam:

Các tiêu chí phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mà các nước đang áp dụng khá rỏ ràng, vấn đề còn lại của một NHTM Việt Nam là phải theo thông lệ quốc tế và ứng dụng việc trích lập vào thực tiễn Điều này đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải vận dụng đúng tinh thần Quyết định 493 và Quyết định 18, đồng thời cũng phải học hỏi cách thức và tiêu chí trong đánh giá chất lượng nợ và có những ứng xử khác nhau về xử lý nợ Trong vận dụng cần sáng tạo hơn, minh bạch hơn khi đánh giá vấn đề nợ suy giảm hoặc nợ có dấu hiệu nghi ngờ Lựa chọn thời điểm thích hợp để trích lập ngay cả khi nợ chưa suy giảm cũng là một cách làm cần học hỏi

Tuy nhiên, kinh nghiệm ở các nước trên đây nằm ở những khu vực có thị trường tài chính vững mạnh, không nên áp dụng cứng nhắc vào tình hình Việt Nam

vì có thể làm sai biệt cấu trúc nợ, tỷ lệ an toàn trong hoạt động theo các quy định

Trang 26

mà Basel II đưa ra do không phù hợp với các nước đang phát triển Cần minh bạch trong cách chuyển nhóm nợ với vấn đề lảng tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, nên xây dựng chương trình quản lý riêng về trích lập dự phòng, lập hệ thống quản trị rủi

ro tín dụng trên nền tảng công nghệ quản lý tiên tiến được áp dụng ở các ngân hàng hiện đại trên thế giới

Kết Luận Chương 1:

Trong chương 1, đã trình bày tổng quan lý thuyết về một số vấn đề cơ bản sau: khái niệm tín dụng ngân hàng và vai trò của nó trong nền kinh tế, cũng như thế nào là rủi ro, rủi ro tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng

Ngoài ra, chương 1 còn trình bày sự cần thiết phải phân loại và trích lập dự phòng, cách thức trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế Đồng thời nêu được kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại một số nước như: Anh, Pháp, Mỹ và bài học kinh nghiệm cho NHTM Việt Nam

Nhằm làm rỏ cơ sở lý luận phục vụ cho việc phân tích đánh giá thực trạng về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại tỉnh Sóc Trăng ở chương tiếp theo

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP

VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TỈNH SÓC TRĂNG

2.1 Sơ lược tình hình kinh tế xã hội và hệ thống Ngân hàng thương mại: 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Sóc Trăng:

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế:

Năm 2008, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 10,25%, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 730 USD, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (khu vực I, II, III tương ứng trong GDP là 50,44% - 19,04% - 30,52%) Trong nông nghiệp, chăn nuôi được tập trung phát triển, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu nội bộ ngành (năm 2007 chiếm 10,06%, năm 2008 tăng lên 12,09%), lĩnh vực thủy sản tiếp tục phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu khu vực I (năm 2007 chiếm 49,75%, năm 2008 tăng lên 50,3%) Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, nhưng do đặc thù của tỉnh là kinh tế nông nghiệp nên chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch

Trang 28

vụ chậm; lao động khu vực I từ 79,82% (năm 2007) giảm còn 66,28% (năm 2008), lao động khu vực II từ 5,42% (năm 2007) tăng lên 8,89% (năm 2008) và lao động khu vực III từ 14,76% (năm 2007) tăng lên 24,83% (năm 2008)

Tỉnh tiếp tục thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hội nhập kinh

tế với vùng và khu vực; biến tiềm năng thành lợi thế so sánh để thu hút đầu tư; Phát triển công nghệ hiện đại, sản xuất ra hàng hóa có chất lượng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từng bước nâng cao vai trò, vị trí của Tỉnh trong công cuộc phát triển kinh tế của toàn vùng

2.1.1.3 Đặc điểm về hành chính, xã hội:

Dân số toàn tỉnh đến cuối năm 2008 là 1.283.721 người, trong đó dân tộc Khmer chiếm 28,93% dân số, dân tộc Hoa chiếm 5,88%, còn lại là người Kinh Đơn vị hành chính gồm 09 huyện và 01 thành phố, với 106 xã, phường, thị trấn; trong đó, có 39 xã và 98 ấp đặc biệt khó khăn, 06 xã bãi ngang; 29 xã, phường có tỷ

lệ đồng bào dân tộc Khmer chiếm 50% dân số trở lên

2.1.2 Hệ thống Ngân hàng tỉnh Sóc Trăng:

Các loại hình NHTM theo hình thức sở hữu như sau:

Loại hình NHTM nhà nước: gồm 49 đơn vị ngân hàng các cấp, phòng giao

dịch, điểm giao dịch, cho vay Cụ thể:

Chi nhánh NHTM nhà nước cấp 1 có 03 đơn vị, gồm: Ngân hàng AgriBank, Ngân hàng BIDV, Ngân hàng MHB

Ngân hàng Chính Sách Xã Hội, Ngân hàng Phát triển, 1 Quỹ tín dụng trung ương, 12 Quỹ tín dụng cơ sở

Các phòng giao dịch và chi nhánh cấp 3: 31 đơn vị

Loại hình NHTM Cổ phần: đến cuối năm 2008 thì loại hình này có 3 chi

nhánh ngân hàng cấp 1: Ngân hàng SacomBank, Ngân hàng VietcomBank, Ngân hàng VietinBank, và 5 phòng giao dịch trực thuộc

Trong năm 2008 tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động ảnh hưởng đến hoạt động tiền tệ - tín dụng, giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao, kéo theo sự

Trang 29

biến động về lãi suất, song các TCTD đã có những giải pháp linh hoạt, chủ động điều hành trong kinh doanh trên cơ sở bám sát định hướng phát triển hoạt động toàn ngành, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà nên hoạt động kinh doanh vẫn phát triển ổn định, các chỉ tiêu cơ bản đều tăng trưởng so với năm 2007

và tốc độ tăng trưởng nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ năm trước

2.2 Qui định về trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại Việt Nam theo Quyết định 493 và Quyết định 18:

Sau 2 năm ban hành Quyết định 493, ngày 25/04/2007 NHNN đã sửa đổi, bổ sung một số điều trong quy chế này bằng Quyết định 18 Cụ thể, rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tế của các TCTD là những tiêu chí mà NHNN hướng đến khi soạn thảo và ban hành Quyết định 18

Quản lý rủi ro chặt chẽ hơn đối với các cam kết ngoại bảng

Theo Quyết định 18, các khoản bảo lãnh, chấp nhận thanh toán và cam kết cho vay không huỷ ngang vô điều kiện và có thời điểm thực hiện cụ thể (gọi chung

là các cam kết ngoại bảng) phải được TCTD đánh giá, phân loại theo 5 nhóm thay

vì chỉ phân vào nhóm 1 như Quyết định 493 Điều này có nghĩa, các cam kết ngoại bảng có mức độ rủi ro tín dụng tương đương với các khoản nợ nội bảng được phân loại chặt chẽ hơn, phản ánh chính xác hơn rủi ro tín dụng của TCTD

Quyết định 18 bổ sung thêm: Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn, gốc và lãi đúng thời hạn còn lại thì được phân loại vào nhóm 1 Việc bổ sung này giúp TCTD hạn chế việc buộc phân loại các khoản nợ quá hạn vài ngày vì lý do khách quan không xuất phát từ khả năng không trả nợ đúng hạn của khách hàng

Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ (gồm nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và nợ gia hạn thời hạn trả nợ), Quyết định 18 bổ sung tiêu chí số lần cơ cấu lại để phân loại nợ, nhằm hạn chế việc TCTD thực hiện cơ cấu nợ tràn lan, không đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng Và TCTD sẽ không thể sử dụng việc cơ cấu lại nợ để che dấu mức độ rủi ro thực tế của khoản nợ

Trang 30

Tăng độ an toàn cho hoạt động ngân hàng:

Mặc dù, số tiền dự phòng cụ thể phải trích vẫn được tính dựa trên các yếu tố

là tỷ lệ trích lập dự phòng (r), giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo (C) và số dư nợ gốc của khoản nợ (A) nhưng Quyết định 18 đưa ra các điều kiện đối với tài sản bảo đảm được khấu trừ khi tính số tiền dự phòng cụ thể phải trích, cụ thể: TCTD có quyền phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết; thời gian phát mại tài sản theo dự kiến của TCTD là không quá 1 năm đối với tài sản bảo đảm không phải là bất động sản và không quá 2 năm với tài sản là bất động sản Trường hợp TCTD dự kiến việc phát mại tài sản bảo đảm quá thời hạn này hoặc không thể phát mại được thì (C) của khoản vay này là bằng không Việc bổ sung này sẽ hạn chế tình trạng TCTD quá trông chờ vào tài sản bảo đảm, ngay cả tài sản bảo đảm không có khả năng chuyển đổi thành nguồn trả nợ thứ cấp khi quyết định cho khách hàng vay Đồng thời, yêu cầu TCTD phải tự nâng cao năng lực quản lý tài sản bảo đảm để đảm bảo trích lập

dự phòng rủi ro phù hợp với môi trường kinh doanh thực tế

Nhìn chung, Quyết định 18 đã cụ thể và làm rõ hơn một số quy định của Quyết định 493 Nhưng với đặc thù là các quy định mang tính nguyên tắc, nên đòi hỏi khi triển khai thực hiện, TCTD cần căn cứ tình hình cụ thể thực tế và các quy định liên quan để đưa ra các hướng dẫn nội bộ chi tiết, phù hợp hơn với đặc thù hoạt động của mình, đảm bảo việc quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện tốt

2.2.1 Phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể:

2.2.1.1 Phương pháp định lượng: (dựa vào thời gian quá hạn)

Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra

Theo Điều 6 Quyết định 493 và Quyết định 18 quy định:

Khoản 1: Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

Trang 31

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều này Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì TCTD phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều này Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh

kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều này Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời

hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo

thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

Trang 32

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá

hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

Khoản 2: TCTD có thể phân loại lại các khoản nợ vào nhóm nợ có rủi ro

thấp hơn trong các trường hợp sau đây:

Đối với các khoản nợ quá hạn, TCTD phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với

nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;

- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục;

- TCTD có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, TCTD phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại;

- Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục;

- TCTD có đủ cơ sở (thông tin, tài liệu kèm theo) để đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại còn lại

Khoản 3: TCTD phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong

các trường hợp sau đây:

Trang 33

Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một TCTD phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ Đối với khách hàng có từ hai (02) khoản nợ trở lên tại TCTD

mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại theo quy định tại Khoản 1 Điều này vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, TCTD phải phân loại lại các khoản

nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất đó

Đối với khoản cho vay hợp vốn,TCTD làm đầu mối phải thực hiện phân loại

nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định tại Điều này và phải thông báo kết quả phân loại nợ cho các TCTD tham gia cho vay hợp vốn Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại TCTD tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của khoản nợ vay hợp vốn do TCTD làm đầu mối phân loại, TCTD tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do TCTD đầu mối phân loại hoặc do TCTD tham gia cho vay hợp vốn phân loại tuỳ theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn

TCTD phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào các nhóm theo quy định tại Khoản 1 Điều này vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của TCTD khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

- Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng;

- Các khoản nợ của khách hàng bị các TCTD khác phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin);

- Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;

- Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài chính theo yêu cầu của TCTD để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

Khoản 4: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với năm (5) nhóm nợ quy định

Khoản 1 Điều này như sau:

- Nhóm 1: 0%,

Trang 34

2.2.1.2 Phương pháp định tính: (dựa vào khả năng trả nợ)

Phương pháp định tính được Quyết định 493 cho phép áp dụng đối với TCTD đủ điều kiện Theo phương pháp này, nợ cũng được phân thành 5 nhóm tương ứng nợ theo cách phân loại nợ theo phương pháp định lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên HTXHTDNB và chính sách dự phòng rủi ro của TCTD được NHNN chấp thuận

Theo Điều 8 Quyết định 18 quy định: Các nhóm nợ bao gồm:

Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là

có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá

là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Cho dù được phân loại theo phương pháp nào thì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ 1, 2, 3, 4 và 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%

Theo Điều 8 Quyết định 18 quy định:

Số tiền dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính theo công thức sau:

(2.1)

Trang 35

Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: Số dư nợ gốc của khoản nợ C: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Tài sản bảo đảm đưa vào để khấu trừ khi tính số tiền dự phòng cụ thể quy định tại Khoản 1 Điều này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

- TCTD có quyền phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết;

- Thời gian tiến hành phát mại tài sản bảo đảm theo dự kiến của TCTD là không quá một (01) năm đối với tài sản bảo đảm không phải là bất động sản và không quá hai (02) năm đối với tài sản bảo đảm là bất động sản, kể từ khi bắt đầu tiến hành việc phát mại tài sản bảo đảm

Trường hợp tài sản bảo đảm không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên hoặc

không phát mại được, giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm đó (C) quy định tại

Khoản 1 Điều này phải coi là bằng không (0)

Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (C) được xác định trên cơ sở tích số giữa tỷ lệ khấu trừ quy định tại Khoản 4 Điều này với:

- Giá trị thị trường của vàng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;

- Mệnh giá của trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc và các loại giấy tờ có giá, trừ trái phiếu của các TCTD, doanh nghiệp;

- Giá trị trên thị trường chứng khoán của chứng khoán do doanh nghiệp và TCTD khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;

- Giá trị của tài sản bảo đảm là chứng khoán do doanh nghiệp và TCTD khác phát hành chưa được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán, động sản, bất động sản và các tài sản bảo đảm khác ghi trong biên bản định giá gần nhất được TCTD và khách hàng thống nhất (nếu có) hoặc hợp đồng bảo đảm;

Trang 36

- Giá trị còn lại của tài sản cho thuê tài chính tính theo hợp đồng cho thuê tài chính tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;

- Giá trị của tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay tương ứng số tiền giải ngân theo hợp đồng tín dụng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể

Tỷ lệ khấu trừ để xác định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (C) do TCTD

tự xác định trên cơ sở giá trị có thể thu hồi từ việc phát mại tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí phát mại tài sản bảo đảm dự kiến tại thời điểm trích lập dự phòng

cụ thể, nhưng không được vượt quá tỷ lệ khấu trừ tối đa quy định sau đây:

tối đa (%)

Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá bằng Đồng

Tín phiếu Kho bạc, vàng, số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm,

giấy tờ có giá bằng ngoại tệ do TCTD phát hành 95%

Trái phiếu Chính phủ:

- Có thời hạn còn lại từ 1 năm trở xuống

- Có thời hạn còn lại từ 1 năm đến 5 năm

- Có thời hạn còn lại trên 5 năm

95%

85%

80%

Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá do các TCTD

khác phát hành được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán

(SGDCK) và Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK)

70%

Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá do doanh

nghiệp phát hành được niêm yết trên SGDCK và TTGDCK 65%

Chứng khoán, công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá do các

TCTD khác phát hành chưa được niêm yết trên SGDCK và

Trang 37

2.2.2 Dự phòng chung:

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các đơn vị khi chất lượng các khoản

nợ suy giảm

- TCTD thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75 % tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này

- Trong thời hạn tối đa 05 năm kể từ ngày Quy định này có hiệu lực thi hành, TCTD phải thực hiện trích lập đủ số tiền dự phòng chung theo quy định tại Khoản

1, Điều này

2.2.3 Sử dụng dự phòng:

TCTD sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ trong

các trường hợp sau đây:

- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật; cá nhân bị chết hoặc mất tích

- Các khoản nợ thuộc nhóm 5 được quy định tại Điều 6 và Điều 7 Quy định này Riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lý, TCTD được sử dụng dự phòng (nếu có) để xử lý rủi ro tín dụng

Theo Điều 11 Quyết định 493 và Quyết định 18:

TCTD thực hiện việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng một quý một lần Việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo những nguyên tắc sau:

- Sử dụng dự phòng cụ thể quy định tại Khoản 1 Điều 8 Quy định này để xử lý rủi ro tín dụng đối với khoản nợ đó

- Phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ: TCTD phải khẩn trương tiến hành việc phát mại tài sản bảo đảm theo thoả thuận với khách hàng và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ

- Trường hợp phát mại tài sản không đủ bù đắp cho rủi ro tín dụng của khoản nợ

thì được sử dụng dự phòng chung để xử lý đủ

Trang 38

Việc TCTD sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng không phải là xoá nợ cho khách hàng TCTD và cá nhân có liên quan không được phép thông báo dưới mọi hình thức cho khách hàng biết về việc xử lý rủi ro tín dụng

Sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, TCTD phải chuyển các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng từ hạch toán nội bảng ra hạch toán ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có các biện pháp để thu hồi nợ triệt để

Sau 05 năm kể từ ngày sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, TCTD được xuất toán các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng ra khỏi ngoại bảng Riêng đối với các NHTM Nhà nước, việc xuất toán chỉ được phép thực hiện khi có đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh đã sử dụng mọi biện pháp thu hồi nợ nhưng không thu được nợ và phải được Bộ Tài chính và NHNN chấp thuận bằng văn bản”

Trình tự, hồ sơ thủ tục để tiến hành việc xử lý rủi ro tín dụng (xem Phần Phụ Lục - Điều 13, 15 Quyết định 493 và Quyết định 18)

2.2.4 Hạch toán, báo cáo:

- Dự phòng chung và dự phòng cụ thể được hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD

- Dự phòng chung và dự phòng cụ thể được hạch toán vào tài khoản “Dự phòng rủi ro” TCTD thực hiện hạch toán việc trích lập, sử dụng dự phòng, số tiền thu hồi được sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo quy định của NHNN

TCTD phải báo cáo việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử

lý rủi ro tín dụng theo quy định về Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị thuộc NHNN và các TCTD do NHNN ban hành

Trước ngày 15 tháng thứ hai của mỗi quý, TCTD phải báo cáo việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng cho Bộ Tài chính và Cục thuế tỉnh, thành phố nơi TCTD đặt trụ sở chính

Trang 39

2.3 Tình hình hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại tỉnh Sóc Trăng trong thời gian qua:

2.3.1 Tổng quát tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại tỉnh Sóc Trăng:

2.3.1.1 Tình hình tăng trưởng huy động vốn:

NHTM là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ và tín dụng Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi nhuận cho NHTM bao gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và hoạt động kinh doanh dịch vụ khác Như vậy huy động vốn là một trong các hoạt động đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Với chủ trương mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn thông qua việc triển khai nhiều hình thức huy động vốn đa dạng khác nhau như: chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm có quà tặng và những biện pháp khuyến mãi hấp dẫn khác … đồng thời với việc điều chỉnh lãi suất một cách linh hoạt, phù hợp hơn với thực tế biến động kinh tế- xã hội, nhiều giải pháp khai thác từ nhiều nguồn vốn như: tiền tiết kiệm của dân chúng, tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh

tế, cá nhân và các nguồn nhàn rỗi khác trong nền kinh tế, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và cải tiến công nghệ dịch vụ thanh toán để thu hút vốn tiền gởi thanh toán của khách hàng – đây là nguồn vốn có qui mô lớn chi phí trả lãi tiền gởi thấp, triển khai thanh toán liên hàng điện tử, mở rộng hình thức thanh toán lương qua Ngân hàng, sử dụng thẻ thanh toán

Trong năm 2008 tình hình lạm phát tăng cao, kéo theo tình hình biến động không ngừng của lãi suất, lãi suất tăng cao liên tục Nên nguồn vốn huy động trên địa bàn năm 2008 tăng nhanh Tính đến ngày 31/12/2008 nguồn vốn huy động của

hệ thống các NHTM trên địa bàn đạt 4.223 tỷ đồng, tăng 884 tỷ đồng, bằng 26,47%

so năm 2007 và tăng 65,22% so 31/12/2006

Trang 40

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng từ 2006-2008

Đvt: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Vốn huy động 2.556 3.339 4.223 Tốc độ tăng trưởng 30,63% 26,47%

có hiệu quả Cơ chế tín dụng mới đã khuyến khích các TCTD chủ động trong việc huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế xã hội Các TCTD đã nhận thức đầy

đủ hơn về trách nhiệm của mình trong hoạt động tín dụng an toàn – hiệu quả - bền vững, chủ động kiểm soát tăng trưởng tín dụng đi đôi với tăng trưởng nguồn vốn huy động và tương ứng với năng lực trình độ quản lý, các biện pháp kiểm soát chặt chẽ tín dụng để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng Vì vậy, chất lượng tín dụng

Ngày đăng: 09/01/2018, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm