Tuy nhiên, để có cơ sở xem xét, đánh giá tầm quan trọng và ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại nói chung mà cụ thể là các NHTMCP trên địa
Trang 1-Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh Loan
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TRÊN ĐỊA BÀN CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh 2008
Trang 2MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM TẠ
Mục lục I Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt IV Danh mục biểu bảng V Danh mục hình, biểu đồ, phụ lục VI
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Phạm vi nghiên cứu: 2
3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu: 2
3.2 Giới hạn vùng nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: 3
4.2 Phương pháp phân tích: 3
5 Kết cấu đề tài: 3
6 Lược khảo tài liệu nghiên cứu: 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại: 6
1.2 Lý luận về rủi ro lãi suất: 11
1.2.1 Khái niệm rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM: 11
1.2.2 Các loại rủi ro lãi suất: 12
1.3 Nguyên nhân rủi ro lãi suất đối với ngân hàng thương mại 15
1.3.1 Nguyên nhân chủ quan: 15
1.3.2 Nguyên nhân khách quan: 16
1.4 Môt số mô hình nghiên cứu: 21
1.4.1 Mô hình thay đổi lãi suất cho vay: 21
1.4.2 Mô hình ảnh hưởng của thay đổi lãi suất cho vay đến dư nợ cho vay: 22
1.4.3 Mô hình định giá lại trong đo lường rủi ro lãi suất 24
Trang 3CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC CHI NHÁNH
NHTMCP TRÊN ĐỊA BÀN CẦN THƠ 27
2.1 Tổng quan về hệ thống Ngân hàng tại Cần thơ: 27
2.1.1 Tình hình huy động và cho vay vốn của các NH tại Cần Thơ 27
2.1.1.1 Về huy động vốn: 27
2.1.1.2 Về cho vay: 28
2.1.2 Tình hình biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ từ năm 2005 đến háng 06 năm 2008: 30
2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của các NHTMCP: 32
2.2.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của 5 NHTMCP: 35
2.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dư nợ cho vay của 5 NHTMCP: 37
2.3 Phân tích về rủi ro lãi suất tại các chi nhánh NHTMCP Cần Thơ 40
2.3.1 Vài nét về hoạt động Ngân hàng Á Châu: 41
2.3.2 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh giai đoạn 2005 -2007: 42
2.3.3 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng: 45
2.3.4 Phân tích cơ cấu tài sản của Ngân hàng: 47
2.3.5 Phân tích tình hình biến động của tài sản nhạy cảm với lãi suất: 49
2.3.6 Phân tích tình hình biến động của nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất: 50
2.3.7 Phân tích ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng theo mô hình định giá lại 53
2.4 Đánh giá về thực trạng rủi ro lãi suất tại các chi nhánh NHTMCP Cần Thơ 56
2.4.1 Điểm mạnh: 56
2.4.1 Hạn chế: 57
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP TRÊN DỊA BÀN CẦN THƠ: 61
3.1 Nhóm giải pháp về vi mô 61
3.1.1 Nâng cao năng lực quản trị tại các NHTMCP: 61
3.1.2 Kiểm soát rủi ro lãi suất 61
3.1.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có năng lực đáp ứng nhu cầu hội nhập 64
3.1.4 Ngân hàng cần đầu tư nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin, trình độ công nghệ 64
3.1.5 Ngân hàng cần hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ 65
3.2 Nhóm giải pháp về vĩ mô 67
Trang 43.2.1 Đối với ngân hàng nhà nước 67
3.1.2 Đối với chính phủ và các cơ quan liên quan 69
3.2.1 Đối với các NHTMCP 71
3.3 Kiến nghị 72
PHẦN KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 77
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
TCTD: Tổ chức tín dụng
TPCT: Thành phố Cần Thơ
VND: Việt Nam đồng
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHCPNT: Ngân hàng cổ phần nông th ôn
TSC: Tài sản có ; TSN: Tài sản nợ
LSCB: Lãi suất cơ bản
ACB Cần Thơ: Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Cần Thơ
Sacombank: Ngân hàng Sài Gòn Thương tín chi nhánh Cần ThơEximbank: Ngân hàng xuất nhập khẩu chi nhánh Cần ThơEAB:Ngân hàng Đông Á chi nhánh Cần Thơ
MSB: Ngân hàng Hàng Hải chi nhánh Cần Thơ
PKT: Phòng Kế toán
Libor: Lãi suất cho vay thị trường London
Fed: Lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ
LSCVTB: Lãi suất cho vay trung bình
LSHĐTB: lãi suất huy động trung bình
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sự thay đổi lãi suất và thu nhập theo Mô hình định giá lại 25
Bảng 2: Cơ cấu huy động vốn và cho vay của các Ngân hàng 2005 –2007 29
Bảng 3: Các yếu tố ảnh hưởng lãi suất cho vay 35
Bảng 4: Các yếu tố ảnh hưởng Dư nợ cho vay 38
Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB Cần Thơ (2005 – 2007) 43
Bảng 6: Bảng cơ cấu Nguồn vốn của ACB Cần Thơ 2005 –2007 46
Bảng 7: Bảng tổng kết tài sản của ACB Cần Thơ (2005 -2007) 48
Bảng 8: Bảng cơ cấu tài sản nhạy cảm lãi suất 49
Bảng 9: Tình hình nguồn vốn nhạy cảm lãi suất 2005-2007 52
Bảng 10: Trạng thái nhạy cảm lãi suất của ACB Cần Thơ 2005-2007 53
Bảng 11: Phân tích tài sản-nguồn vốn phân nhóm theo khoản mục nhạy cảm lãi suất.54 Bảng 12: Phân tích tài sản – Nguồn vốn theo khoản mục nhạy cảm lãi suất tăng 1% 55
Bảng 13: Phân tích tài sản – Nguồn vốn Phân nhóm theo khoản mục nhạy cảm lãi suất không cùng mức độ 55
Bảng 14: Bảng kết quả Thu nhập thuần từ tiền lãi khi lãi suất biến động 56
Trang 7DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, PHỤ LỤC
HÌNH
Hình1 Biến động của lãi suất thị trường do tác động của lạm phát 17
Hình 2: Biến động của lãi suất thị trường do tác động của chu kỳ kinh doanh 18
Hình 3:Biến động lãi suất thị trường do tác động của chính sách tiền tệ 19
Hình 4: Biến động của lãi suất thị trường do tác động của chính sách tài chính 20
-BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Biểu đồ sự thay đổi lãi suất Fed, Lscb, Lscv các NHTMCP 2005 đến 06/2008 33
Biểu đồ 2: Biểu đồ Dư nợ cho vay các NHTMCP 2005 đến 2007 34
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Số liệu về lãi suất Fed, Lscb, lãi suất cho vay trung bình, dư nợ của các NHTMP trên địa bàn TPCT (2005 – 2007) và 6 tháng đầu năm 2008
Phụ lục 2: Phân phối thống kê của các biến sử dụng trong mô hình rủi ro lãi suất
Phụ lục 3: : Dư nợ cho vay trung bình của các ngân hàng
Phụ lục 4: Thu nhập tuần từ tiền lãi khi lãi suất biến động
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Một số giải pháp nhằm hạn chế
rủi ro lãi suất tại các Chi nhánh NHTMCP trên địa bàn thành phố Cần Thơ” là
kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và làm việc với tinh thần nghiêm túc của tôi.
Học viên
Nguyễn Thị Ánh Loan
Trang 9LỜI CẢM TẠ
Để thực hiện được đề tài này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy Cô của Khoa QTKD trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh nói chung và các thầy cô khoa kinh tế QTKD Trường Đại học Cần Thơ, quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy tôi nói riêng đã giúp đỡ, cung cấp nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biêt, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Võ Thành Danh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều mặt để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp của mình
Xin cảm ơn đến Ban lãnh đạo Ngân hàng Á Châu – Chi nhánh Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn lớp Cao học QTKD Khóa 15 đã ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin kính chúc Quý thầy cô Khoa kinh tế - QTKD dồi dào sức khỏe, luôn thành công trong công việc Đặc biệt kính chúc Thầy Võ Thành Danh sức khỏe, thành đạt và ngày một tiến xa hơn nữa trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của mình và gặt được nhiều thành công mới
Sau cùng một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả Quý Thầy Cô, các đồng nghiệp và các bạn
Trân trọng!
Trang 10TÓM TẮT
Trong tiến trình phát triển chung của nền kinh tế cả nước, các NHTMCP tại thành phố Cần Thơ ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng Tuy nhiên, có thể thấy rằng, quản lý rủi ro lãi suất hiện đang còn là vấn đề mới mẽ đối với các Ngân hàng từ sự nhận thức đến thực tế triển khai trong công tác này Trong một thời gian dài các Ngân hàng hầu như không quan tâm đến vấn đề này và với cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Gần đây, khi lãi suất thị trường có nhiều biến động, cuộc đua lãi suất giữa các Ngân hàng đang ngày càng trở nên nóng bỏng, các Ngân hàng mới nhận thấy mình đang đang đứng trước nguy cơ rủi ro và bước đầu thực hiện một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro lãi suất Song, hiệu quả thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro này ra sao? Những thay đổi lãi suất của Cục
Dự trữ liên bang Mỹ Fed? Những ảnh hưởng của sự điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN như thế nào? kéo theo lãi suất cho vay và Dư nợ cho vay của các NHTMCP tại
Thành phố Cần Thơ thay đổi như thế nào? Đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro lãi suất tại các Chi nhánh NHTMCP trên địa bàn thành phố Cần Thơ” sẽ làm rõ hơn vấn đề nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của
rủi ro lãi suất gây ra cho bản thân Ngân hàng cũng như cho nền kinh tế - xã hội nước
ta
Bố cục của đề tài gồm những phần chính như sau:
- Chương 1: Lý luận về rủi ro lãi suất và các mô hình nghiên cứu
- Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro lãi suất tại các chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Cần thơ
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP Cần Thơ
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, kinh doanh ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro, thậm chí trong hoạt động Ngân hàng hầu như không có loại nghiệp vụ nào là không có rủi ro Đặc biệt là rủi ro trong hoạt động ngân hàng có phản ứng dây chuyền lây lan và ngày càng diển biến phức tạp khi nền kinh tế có sự thay đổi Sự sụp đỗ của ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một nước Bởi
lẽ, trong nền kinh tế thị trường ngân hàng là một hoạt động rất nhạy cảm, luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn Do đó các Ngân hàng phải gánh chịu rủi ro đáng kể để kiếm được lợi nhuận Đo lường và quản trị rủi ro là khía cạnh quan trọng nhất của quản trị tài chính Ngân hàng Trong đó, rủi ro lãi suất là rủi ro hết sức phức tạp đang được nhiều ngân hàng quan tâm, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu Chính vì thế ngày nay trên thế giới, khoa học công nghệ quản lý rủi
ro kinh doanh ngân hàng đã đạt được trình độ tiên tiến hiện đại Đó là việc áp dụng phương pháp lượng hoá rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro trong hoạt động ngoại bảng… đồng thời sử dụng các công cụ hiện đại vào việc phòng chống các rủi ro như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn…
Trong thời gian qua ở Việt Nam, cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng đang ngày càng trở nên nóng bỏng thì rủi ro lãi suất là khó tránh khỏi đối với các ngân hàng hiện nay Đó là một loạt các phản ứng dây chuyền, khi lãi suất tăng khiến chi phí huy động tăng, người đi vay cũng phải chịu chi phí cao hơn, rủi ro thất bại của dự án đầu tư cũng tăng theo và nếu quá ngưỡng sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ Với tính chất quan trọng như vậy, chúng ta cần phải phân tích những ảnh hưởng của thay đổi lãi suất đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách sâu sắc toàn diện nhằm phát huy tối đa năng lực quản lý đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của việc thay đổi
Trang 12lãi suất gây ra cho các ngân hàng cũng như cho nền kinh tế của nước ta Tuy nhiên, để có
cơ sở xem xét, đánh giá tầm quan trọng và ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại nói chung mà cụ thể là các NHTMCP trên
địa bàn thành phố Cần Thơ, Đề tài Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro lãi suất tại các chi nhánh NHTMCP trên địa bàn thành phố Cần Thơ để thấy được những tác
động của sự điều chỉnh lãi suất cơ bản qua từng thời kỳ của NHNN đối với các NHTMCP trên địa bàn thành phố Cần Thơ và những thay đổi lãi suất cho vay của các NHTMCP ảnh hưởng đến dư nợ cho vay tại các Ngân hàng này ra sao, từ đó rút ra những kết luận và đề xuất những giải pháp hợp lý để phòng tránh tác hại của loại rủi ro lãi suất góp phần làm lành mạnh hóa hệ thống Ngân hàng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là nhằm hạn chế rủi ro lãi suất ảnh tại các NHTMCP
tại địa bàn thành phố Cần Thơ Các mục tiêu cụ thể là:
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Đề tài tập trung phân tích những biến động của lãi suất cơ bản của NHNN, lãi suất Fed ảnh hưởng đến lãi suất cho vay và dư nợ cho vay của các Chi nhánh NHTMCP tại thành phố Cần Thơ thời gian từ năm 2005 – 2007 và 6 tháng đầu năm 2008
- Nghiên cứu tình huống điển hình tại ACB Cần Thơ cho nội dung phân tích tính nhạy cảm của Tài sản và Nguồn vốn trước sự thay đổi của lãi suất
3.2 Giới hạn vùng nghiên cứu
Nghiên cứu các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Cần Thơ,
cụ thể là 5 ngân hàng (Á Châu, Sacombank, Eximbank, Đông Á, Hàng Hải)
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
− Thu thập lãi suất cho vay, dư nợ cho vay từ năm 2005 – 2007 và 6 tháng đầu năm
2008 của 05 Ngân hàng thương mại cổ phần: Á Châu, Sacombank, Eximbank, Đông Á, Hàng Hải
− Thu thập tình hình biến động lãi suất Fed, LSCB từ 2005 – 2007 và 6 tháng đầu năm 2008 từ Phòng Tổng hợp NHNN thành phố Cần Thơ, Phòng Kinh doanh ACB Cần Thơ và từ mạng Internet
4.2 Phương pháp phân tích: đề tài dùng hai phương pháp phân tích là phương pháp
định tính và phương pháp định lượng
- Phương pháp định tính: Dùng phương pháp thống kê mô tả, so sánh và tỷ lệ.
- Phương pháp định lượng: Mô hình hồi qui tương quan để lượng hóa các mối
quan hệ giữa lãi suất Fed, lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay và dư nợ cho vay tại 05 NHTMCP tại Thành phố Cần Thơ, mô hình Gap phân tích sự nhạy cảm lãi suất bằng cách nghiên cứu tình huống tại ACB Cần Thơ
5 Kết cấu đề tài
- Chương 1: Lý luận về rủi ro lãi suất và các mô hình nghiên cứu
- Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro lãi suất tại các chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Cần thơ
- Chương 3: Một số giải pháp nhắm hạn chế rủi ro lãi suất tại các chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
6 Lược khảo tài liệu nghiên cứu
- Peter S.Rose, 2001, Quản trị Ngân hàng thương mại: Cung cấp kỹ thuật và chiến lược quản lý tài sản nợ và phòng chống rủi ro lãi suất
Trang 14- Nguyễn Văn Tiến, 2005, Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: Nghiên cứu các phép đo lãi suất và những ứng dụng trong kinh doanh Ngân hàng, xác định lãi suất hòa vốn bình quân, xác định chênh lệch đầu vào – đầu ra, dự báo lãi suất Đặc biệt là phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất, cung cấp cho ta những phương pháp rất hiện đại để các nhà quản trị ngân hàng phòng chống được rủi ro lãi suất một cách hiệu quả
để tránh những thiệt hại có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của Ngân hàng Tùy vào tình hình thực tế của đất nước và của chính bản thân ngân hàng mà có thể
áp dụng một trong 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại trên thế giới áp dụng như sau: Mô hình kỳ hạn (the maturity model), mô hình định giá lại (the repricing model), mô hình thời lượng (the duration model) Đề tài nghiên cứu áp dụng
mô hình định giá lại tài sản để lượng hóa rủi ro lãi suất vì nó tương đối đơn giản và phù hợp với tình hình nước ta hiện nay
-Vương Minh Triết, 2008, Phân tích ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động cho vay tại các chi nhánh NHTMQD trên đia bàn thành phố Cần Thơ, Luân văn thạc sĩ kinh tế Đề tài trình bày thực trạng hoạt động cho vay của hệ thống NHTMQD, tình hình biến động lãi suất huy động và lãi suất cho vay, các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay, Các gỉải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất
- Lâm Hồng Anh, 2007, Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành lãi suất của Chính phủ đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế Đề tài nêu tổng quan về lãi suất, các khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng,
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả chính sách lãi suất, kinh nghiệm điều hành lãi suất ở một số quốc gia, cơ chế điều hành lãi suất của chính phủ Việt Nam và đưa ra giải pháp kiến nghị với chính phủ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành lãi suất đối với Ngân hàng phát triển trong điều kiện hội nhập
- Lâm Thị Hồng Hoa, 2006, Phương hướng phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sỹ kinh tế Đề tài trình
Trang 15bày hệ thống Ngân hàng Việt Nam và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng, thực trạng hoạt động của hệ thống Ngân hàng, phương hướng phát triển, giải pháp thực hiện trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Vương Ngọc Linh, 2005, Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro các Ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề tài trình bày tập trung vào bốn loại rủi ro tín dung, tỷ giá, thanh khoản, lãi suất, đánh giá thực trạng các loại rủi
ro trên và đưa ra một số giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế các loại rủi ro trên
- Ngô Ngọc Tuấn, 2001, Bàn về các giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong nước cũng như trên thị trường tài chính quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế Đề tài nêu thực trạng hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHNT trong và ngoài nước
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: "Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính" Hay như Luật Ngân hàng của Ấn Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư" Những định nghĩa trên như vậy là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động
Một loạt định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động Ví
dụ như Luật Ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại
và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm, v.v…"
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy các Ngân hàng thương mại đều có chung một tính chất, đó là: Việc nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng
Ở Việt Nam, trong bước chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp, các hình thức sở hữu hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật
Trang 17Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Vì vậy, để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân, theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán".
Ngân hàng thương mại có các vai trò sau đây
Một là, ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Vốn được tạo ra từ
quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong nền kinh
tế Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý Để tăng thu nhập quốc dân tức là cần mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế và muốn làm được điều đó cần thiết phải có vốn Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển càng tạo ra nhiều vốn, điều đó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng Ngân hàng thương mại là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như: Vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của cá nhân trong xã hội Bằng vốn huy động được trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng
Trang 18sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Hai là, ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường: Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện được thể hiện như: Không những thỏa mãn nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà còn đòi hỏi thỏa mãn cả phương diện thời gian, địa điểm Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng
cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán… mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới,
mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp… Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp Do đó,
để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh
Ba là, ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công
cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Bằng các hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại trong
hệ thống, các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng
Trang 19trong lưu thông Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: "Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường".
Bốn là, ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hóa tiền tệ
ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hòa nhập này Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được
mở rộng Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thống ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sư vận động của nền tài chính quốc tế
Có nhiều cách phân loại rủi ro, tuy nhiên trong phạm vi hoạt động của các NHTM Việt Nam, có thể tổng hợp thành một số loại rủi ro cơ bản sau:
Rủi ro tín dụng: Rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác
không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn Rủi ro này bao gồm cả rủi ro thanh toán khi một bên thứ ba (ví
dụ một Ngân hàng thanh toán) không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng này
Trang 20Rủi ro lãi suất: Thể hiện rủi ro lỗ tiềm tàng của một Ngân hàng do các biến động
của lãi suất Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau, như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm
Rủi ro thanh khoản: Phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các Ngân hàng là huy
động ngắn hạn và cho vay dài hạn Trường hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt kỹ thuật sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền, đặc biệt như chúng ta đã thấy trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ
Rủi ro giá cả: Đây là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một Ngân hàng có thể
biến động Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến
cổ phiếu và trái phiếu
Rủi ro ngoại hối: Phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của
các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua
lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động
Rủi ro hoạt động: Bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà
một Ngân hàng điều hành các hoạt động của mình Các ví dụ về rủi ro hoạt động là rất nhiều như: Việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị tồi các quy trình quản lý tín dụng, cán bộ tham ô, thiếu các kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm họa
Rủi ro pháp lý: Thường tác động tới các Ngân hàng theo hai cách
- Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện Ngân hàng Lý do của việc khởi kiện có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh bình thường, ví dụ việc Ngân hàng từ chối cấp lại hạn mức cho vay mà theo khách hàng là vô lý Tuy nhiên, các trường hợp có thể phát sinh từ các lý do tách biệt khỏi hoạt động kinh doanh
Trang 21Ngân hàng như việc tài trợ cho những khách hàng gây ô nhiễm môi trường có thể làm Ngân hàng bị các bên thứ ba kiện cáo
- Khi các thu xếp pháp lý của một Ngân hàng, ví dụ, các hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng đó có vấn đề, hoặc Nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên điều này có thể dẫn tới rủi ro thua
lỗ cho Ngân hàng
1.2 Lý luận về rủi ro lãi suất:
1.2.1 Khái niệm rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM:
Danh từ “rủi ro” đã được các nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau Theo từ điển tài chính ngân hàng của P.H collin, rủi ro có thể được định nghĩa
là khả năng gánh chịu thiệt hại của một chủ thể Định nghĩa này thường được sử dụng
khá phổ biến trong cuộc sống và trong thực tế quản lý kinh doanh của các chủ thể kinh
tế, coi rủi ro là những thiệt hại tiềm tàng các chủ thể có khả năng phải gánh chịu
Xét trên giác độ nghiên cứu kinh tế, một quan điểm khá phổ biến khác cho rằng
rủi ro chính là sự không chắc chắn Theo Bernard Manso, “Rủi ro là tác động của
những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào” Rủi ro thường được đo lường
bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của các chủ thể kinh tế với mức lợi nhuận dự kiến Mức độ biến động của lợi nhuận càng lớn, nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro càng cao
Hai định nghĩa trên được sử dụng đan xen trong quá trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng thấy rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị
Trang 22tác động Ngoài ra, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản có
và nợ, làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vì vậy, lãi suất thay đổi tác động đến toàn bộ Bảng cân đối kế toán và Báo cáo thu nhập của ngân hàng
Như vậy, rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động Đây là rủi ro mang tính đặc trưng của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào Quá trình chuyển hóa tài sản được coi như là một chức năng đặc biệt cơ bản của hệ thống ngân hàng Quá trình chuyển hóa tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức sử dụng vốn và phát hành các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro lãi suất khi lãi suất trên thị trường biến động
1.2.2 Các loại rủi ro lãi suất
suất thị trường biến động Rủi ro lãi suất tác động đến thu nhập ngân hàng bao gồm các loại rủi ro sau:
- Rủi ro định giá lại hay rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản
có, thực chất là rủi ro nảy sinh khi xuất hiện sự chênh lệch về kỳ hạn của tài sản có và tài
sản nợ của ngân hàng (đối với các khoản mục tài sản có lãi suất cố định) và chênh lệch
về thời điểm định giá lại tài sản (đối với các khoản mục tài sản có lãi suất thả nổi)
Ví dụ, một ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn là 01 năm và đầu tư có kỳ hạn 02 năm với lãi suất huy động là 9%/năm và lãi suất cho vay là: 10%/năm, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay là 10% - 9% = 1% Nếu sang năm thứ hai lãi suất thị trường tăng và ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành là 11%, ngân hàng sẽ chịu lỗ 10% -11% = -1% Trong trường hợp này, lợi nhuận thu được của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp cho khoản lỗ của nam thứ hai Như vậy, trong mọi
Trang 23trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ.
Ngược lại, nếu ngân hàng huy động vốn với lãi suất 9%/năm, kỳ hạn là 02 năm và đầu tư vào tài sản có mức lãi suất 10%/năm, kỳ hạn là 01 năm Sau năm thứ nhất, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1% Nếu sang năm thứ hai lãi suất thị trường giảm và ngân hàng chỉ có thể cho vay vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành là 8%, ngân hàng sẽ chịu lỗ: 8% - 9% =1% Như vậy, ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ
- Rủi ro cơ bản: Là rủi ro phát sinh khi việc định giá lại không hoàn hảo hoặc
giống nhau đối với những khoản mục khác nhau, nghĩa là xuất hiện sự khác nhau về mức
độ thay đổi lãi suất thu được từ tài sản có và lãi trả cho tài sản nợ mặc dù những khoản mục này có cùng thời hạn định giá lại Ví dụ ngân hàng có một khoản cho vay thời hạn một năm được định giá lại hàng tháng theo mức lãi suất của tín phiếu kho bạc 01 tháng Giả định, ngân hàng sử dụng một khoản huy động tương xứng có thời hạn 01 năm, được định giá lại hàng tháng theo mức lãi suất Libor một tháng để tài trợ cho khoản vay này Nếu xét trên phương diện định giá lại, lẽ ra ngân hàng không có rủi ro nhưng nếu hai mức lãi suất làm cơ sở để định giá lại (lãi suất của tín phiếu kho bạc 01 tháng và lãi suất Libor 01 tháng) lại có mức độ biến động khác nhau ngoài dự kiến, chẳng hạn lãi suất Libor tăng nhanh hơn lãi suất Tín phiếu kho bạc 01 tháng thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu những thiệt hại
- Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro thay đổi về phương thức thanh toán đối với Tài sản có
hoặc tài sản nợ khi lãi suất biến động Có thể lấy ví dụ là những trường hợp khách hàng thanh toán trước hạn đối với khoản vay dài hạn như vay thế chấp nhà ở, trong đó khách hàng nhận thấy lãi suất tái tài trợ giảm xuống đã trở nên hấp dẫn hơn Tương tự như vậy
là những trường hợp khách hàng rút trước hạn các khoản tiền gửi có kỳ hạn để gửi vào các khoản tiền gửi mới với lãi suất cao hơn khi lãi suất thị trường biến động tăng lên Tất
Trang 24cả các trường hợp thay đổi phương thức thanh toán đối với tài sản nợ hoặc tài sản có khi lãi suất thị trường biến động đều có khả năng gây thiệt hại cho ngân hàng.
Rủi ro giảm giá trị tài sản, là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảm khi
lãi suất thị trường biến động Rủi ro lãi suất tác động đến giá trị tài sản ngân hàng bao gồm các loại sau:
- Rủi ro kỳ hạn: Là rủi ro giảm giá trị ròng của ngân hàng khi tồn tại sự không cân
xứng về kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ
Giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên làm cho giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên
Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, chẳng hạn tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản
có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với giá trị tài sản nợ
Ví dụ, một ngân hàng có tài sản có trị giá 100.000 tỷ đồng, kỳ hạn 03 năm và tài sản nợ có giá trị tương đương với kỳ hạn 01 năm Nếu lãi suất thị trường tăng từ 9% lên 10%, giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ sẽ thay đổi như sau:
∆NPVA = 100.000(1+0,1)-3 – 100.000(1+0,09)-3
= 75.131 – 77.220 = -2.089(tỷ đồng)
∆NPVL= 100.000(1+0,1)-1 – 100.000(1+0,09)-1
= 90.910 – 91.743 = -833 (tỷ đồng)Như vậy, giá trị tài sản có giảm 2.089 tỷ đồng trong khi giá trị tài sản nợ chỉ giảm
833 tỷ đồng và như vậy, giá trị ròng của ngân hàng sẽ giảm 1.256 tỷ đồng
Trang 25- Rủi ro đường cong lãi suất: Là rủi ro của ngân hàng trước những thay đổi về độ
dốc và hình dạng của đường cong lãi suất Rủi ro này phát sinh khi những thay đổi không dự đoán trước của đường cong lãi suất có tác động làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng do lãi suất của những thời hạn khác nhau thay đổi theo những mức độ khác nhau Ví dụ, đường cong lãi suất trở nên dốc hơn với dự đoán ban đầu, khi đó lãi suất của các khoản cho vay có kỳ hạn ba năm có thể tăng lên 2%/năm, trong khi cùng thời điểm đó, lãi suất huy động kỳ hạn một năm lại chỉ tăng có 0,5%/năm Trong trường hợp này giá trị tài sản có của ngân hàng sẽ càng giảm mạnh hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ dẫn đến rủi ro rất lớn đối với giá trị ròng của ngân hàng Những trường hợp như thế này xảy ra tương đối phổ biến trong thực tế kinh doanh của các ngân hàng thương mại
1.3 Nguyên nhân rủi ro lãi suất đối với ngân hàng thương mại
1.3.1 Nguyên nhân chủ quan: Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN của
ngân hàng
Sự không cân xứng về kỳ hạn là tình trạng TSC của ngân hàng có kỳ hạn dài hơn hoặc ngắn hơn so với kỳ hạn của TSN Trên thực tế điều này xảy ra là hoàn toàn tất yếu vì các khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền của ngân hàng hết sức đa dạng, mỗi người trong số họ có những nhu cầu khác nhau khi gửi tiền hoặc vay tiền ngân hàng dẫn đến sự đa dạng về kỳ hạn của các khoản vốn huy động và các khoản cho vay Mặt khác, các ngân hàng cũng có khuynh hướng duy trì thời hạn TSC dài hơn thời hạn TSN nhằm có được lợi thế về lợi nhuận Chẳng hạn, các ngân hàng thường sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay thời hạn dài hơn với lãi suất cao hơn Ngoài ra, trong mối quan hệ với khách hàng, ngân hàng thường không quy định các khách hàng bắt buộc phải tôn trọng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng Chẳng hạn, các khách hàng gửi tiền ngân hàng với thời hạn ban đầu là 5 năm nhưng có thể rút sớm trước thời hạn mà không bị ngân hàng ngăn cấm, các khách hàng vay tiền cũng có
Trang 26thể trả nợ trước hạn, và ngược lại có trường hợp được ngân hàng cho gia hạn nợ Tần
số xuất hiện sự vi phạm thỏa thuận về thời hạn của các khách hàng gửi tiền và vay tiền thường không tương xứng với nhau và thực tế này càng làm tăng khả năng mất cân xứng về kỳ hạn của các khoản cho vay và các khoản vốn huy động của ngân hàng Chính vì vậy, sự chênh lệch về kỳ hạn của TSC và TSN của ngân hàng là điều không thể tránh khỏi
1.3.2 Nguyên nhân khách quan:
Lãi suất là giá cả của tín dụng, giá mà người cho vay đặt ra để đánh đổi quyền sử dụng vốn cho vay của họ Nói cách khác, lãi suất là tỷ lệ giữa mức phí chúng ta phải trả
để nhận được quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định trên tổng số tiền vay
Ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp tín dụng, tuy nhiên mỗi ngân hàng chỉ là một nhà cung cấp trên thị trường vốn cùng với hàng ngàn nhà cung cấp khác nhau Tương tự như vậy, khi huy động tiền gửi hoặc phát hành giấy nợ để tạo nguồn, ngân hàng tạo ra cầu về tín dụng trên thị trường Tuy nhiên, một ngân hàng dù quy mô lớn đến đâu cũng chỉ là một tổ chức có nhu cầu về tín dụng trên một thị trường có hàng ngàn người đi vay Vì vậy dù cho đứng bên phía cung hay phía cầu của thị trường, ngân hàng cũng không thể tự xác định mức lãi suất hoặc xác định chắc chắn về xu hướng vận động của lãi suất Lãi suất cũng như bất kỳ một loại giá cả nào khác được hình thành tự nhiên và khách quan theo quy luật cung cầu của thị trường Như vậy, mỗi ngân hàng chỉ có thể phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động lãi suất để đạt được mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất Nói cách khác, một ngân hàng đơn lẻ không thể là người quyết định mức lãi suất mà chỉ là người chấp nhận mức lãi suất thị trường, chấp nhận và lập kế hoạch hoạt động trên cơ sở mức độ hiện tại và khuynh hướng vận động của lãi suất
Trang 27Có nhiều nhân tố khác nhau có thể tác động làm thay đổi mức lãi suất cân bằng trên thị trường Một sự dịch chuyển của đường cầu hoặc cung về vốn xảy ra khi lượng cầu hoặc lượng cung về vốn thay đổi ở một mức lãi suất cho trước để đáp ứng lại sự thay đổi của một yếu tố khác nào đó ngoài lãi suất sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất cân bằng, xuất hiện một giá trị cân bằng mới cho lãi suất Có thể liệt kê một số nhân tố cơ bản làm thay đổi mức lãi suất cân bằng như sau:
- Lạm phát dự tính: Khi lạm phát dự tính xảy ra, lãi suất sẽ tăng Kết quả này được gọi là Hiệu ứng Fisher, theo Irving Fisher, nhà kinh tế học đầu tiên đã nêu ra sự liên hệ giữa lạm phát dự tính với lãi suất Với một lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống do đó lượng cầu quỹ cho vay tăng lên ở bất kỳ lãi suất nào cho trước và đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển về bên phải Đồng thời, khi lạm phát dự tính tăng lên, có nghĩa là giá cả hàng hóa dự tính tăng,
do đó tăng lợi tức dự tính của những tài sản thực, trong khi đó tiền tệ mất giá sẽ làm sụt giảm lợi tức dự tính của những tài sản tài chính so với tài sản thực Do vậy, người có tiền có xu hướng chuyển sang nắm giữ nhiều hơn các tài sản thực, hạn chế việc cho vay tiền làm lượng cung về quỹ cho vay giảm ở bất kỳ lãi suất nào cho trước và đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái Tổng hợp tác động của sự dịch chuyển đường cung và đường cầu quỹ cho vay trong trường hợp này dẫn đến sự tăng lên của lãi suất thị trường i1 đến i2
Trang 28- Giai đoạn phát triển trong chu kỳ kinh doanh: Trong giai đoạn phát triển của một chu kỳ kinh doanh, tổng số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế tăng lên khiến cho thu nhập quốc dân tăng lên Nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong xã hội gia tăng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường việc cung ứng, đồng nghĩa với việc họ sẽ có thêm rất nhiều cơ hội đầu tư kiếm lời Khi điều này xảy
ra, các doanh nghiệp có thêm nhu cầu vay tiền vì họ có thể có nhiều cơ hội đầu tư sinh lợi cần được tài trợ, trong khi nguồn vốn tự tài trợ không tăng tương xứng Thực tế này làm tăng mức cầu về quỹ cho vay và làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay sang phải, có tác động làm tăng mức lãi suất cân bằng Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh phát đạt, thu nhập của mọi chủ thể trong xã hội đều tăng lên làm tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng và đường cung quỹ cho vay cũng dịch chuyển sang phải có tác động ngược lại làm giảm mức lãi suất cân bằng Tùy thuộc ảnh hưởng nào lớn hơn sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng làm tăng hay giảm lãi suất cân bằng thị trường
i S S’
o q1 q2 qHình 2: Biến động của lãi suất thị trường do tác động của chu kỳ kinh doanhNếu chỉ xét riêng ảnh hưởng về bên cầu quỹ cho vay, sự tăng trưởng trong chu
kỳ kinh tế sẽ có tác động làm cho đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải từ D sang D’ và ảnh hưởng này sẽ làm tăng lãi suất thị trường lên mức i2 Tuy nhiên, nếu xét tổng hợp với tác động tăng thu nhập làm tăng khả năng cung ứng vốn trong nền kinh
tế, làm đường cung quỹ cho vay cũng dịch chuyển sang phải từ S sang S’ thì ở trường hợp này lãi suất cân bằng thị trường sẽ có kết quả tăng lên từ i1 đến i2
i2 i1 i
D' D
Trang 29- Chính sách tiền tệ của NHTW cũng là một nhân tố quan trọng có tác động thay đổi lãi suất Theo John Maynard Keynes, lãi suất cân bằng được xác định dựa vào lượng cung và cầu tiền tệ và việc xác định lãi suất cân bằng theo cách này có cùng kết quả với việc xác định theo lý thuyết cung cầu quỹ cho vay Trong khi đó, khối lượng tiền cung ứng phụ thuộc vào việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc mở rộng thông qua các công cụ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thị trường mở,… sẽ tác động đến cung tiền tệ là cho cung tiền tệ giảm xuống hoặc tăng lên, do đó là giảm cung quỹ cho vay hoặc tăng, từ đó tác động làm tăng hoặc giảm lãi suất.
S S’
i1
i2
D
o q1 q2 qHình 3: Biến động lãi suất thị trường do tác động của chính sách tiền tệ
Khi NHTW theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng, lượng tiền cung ứng tăng lên làm tăng khả năng cung ứng vốn trong nền kinh tế và đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang phải từ S sang S’ dẫn đến sự suy giảm lãi suất thị trường từ i1 đến i2
Tuy nhiên, cơ sở dẫn đến kết luận trên đây của Keynes là giả định “Các yếu tố khác không đổi” không hoàn toàn phù hợp với quốc tế Theo Milton Friedman, phân tích trên được xem là tác động tính lỏng của sự thay đổi lượng tiền cung ứng và bên cạnh đó còn có thêm tác dụng khác: Tác động mức giá, thu nhập và lạm phát dự tính Những tác động này có ảnh hưởng theo chiều hướng ngược lại đối với mức lãi suất cân bằng trên thị trường Như vậy, trên thực tế, khi mức cung tiền tăng lên, lãi suất trên thị
Trang 30trường sẽ tăng hay giảm còn phụ thuộc vào độ lớn và thời gian phát huy của các tác động trên Nói chung, tác động tính lỏng của sự thay đổi mức cung tiền hữu hiệu ngay tức khắc bởi vì việc tăng lượng tiền cung ứng ở đây dẫn đến sự giảm ngay tức khắc lãi suất cân bằng Tác động thu nhập và mức giá cần có thời gian để phát huy kết quả bởi
vì lượng tiền cung ứng tăng lên cần có thời gian để tác động làm tăng mức giá và thu nhập, từ đó mới làm tăng lãi suất Tác động lạm phát dự tính cũng làm tăng lãi suất, có thể tác dụng chậm hay nhanh tùy theo liệu dân chúng điều chỉnh dự tính lạm phát của
họ cho đi đúng một cách nhanh chóng hay chậm trễ khi lượng tiền cung ứng tăng lên
- Một nhân tố khác có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất là chính sách tài chính của nhà nước: Đó là các chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ Khi chính phủ thực hiện một chính sách tài chính mở rộng, tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ trực tiếp làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay về bên phải, từ D sang D’, do đó lãi suất tăng Đồng thời, nhà nước có thể giảm thu thuế, mặc dù không ảnh hưởng trực tiếp đến tổng cầu, nhưng thay vào đó lại làm tăng số thu nhập từ đầu tư mới, từ đó kích thích đầu tư làm tăng cầu quỹ cho vay Mặt khác, một sự giảm xuống của thuế sẽ làm tăng số thu nhập sẵn sàng để chi tiêu, làm tăng nhu cầu chi tiêu và do
đó cũng làm tăng cầu quỹ cho vay Kết quả của những tác động trên sẽ làm tăng lãi suất cân bằng trên thị trường i1 lên i2
Trang 31- Ngoài các nguyên nhân trên còn có một số nhân tố khác cũng có tác động đến mức lãi suất thị trường Đó là nhân tố rủi ro và tính lỏng của các công cụ đầu tư Khi tính rủi ro của các công cụ nợ tăng lên (do giá cả của công cụ nợ bất ổn định, rủi ro vỡ nợ,…) so với các công cụ đầu tư khác, sẽ làm cho nhu cầu mua các công cụ nợ giảm
đi, lượng cung quỹ cho vay giảm tại các mức lãi suất, làm cung quỹ cho vay giảm, đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái từ S sang S’ và lãi suất cân bằng thị trường tăng
Tính lỏng của các công cụ đầu tư là nói tới khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của các công cụ đó một cách nhanh chóng và ít tốn kém Nếu tính lỏng của các công cụ
nợ cao hơn so với tính lỏng của các công cụ đầu tư khác, thì tính hấp dẫn của các công
cụ nợ tăng lên, làm tăng nhu cầu về các công cụ nợ, tức là tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng dẫn tới cung quỹ cho vay tăng Đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang phải từ S sang S’ và lãi suất thị trường giảm
1.4 Một số mô hình nghiên cứu
Hàm hồi quy tuyến tính biểu hiện mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến dưới dạng một hàm số thông qua việc phân tích các đặc điểm, bản chất và mối liên hệ giữa các hoạt động kinh tế xã hội để chọn hàm số cho phù hợp Đồng thời đánh giá mức độ liên
hệ giữa các biến độc lập đến biến phụ thuộc hoặc ảnh hưởng giữa các biến độc lập với nhau tức là xem mối quan hệ giữa các hiện tượng chặt chẽ hay lỏng lẽo
1.4.1 Mô hình thay đổi lãi suất cho vay
4
LnLSCVit = ao + a1LnFEDt+ a2LnLSCBt + ∑Dn
n=1
Trong đó: ao: hằng số; a1, a2: các hệ số ước lượng
LnLSCVit: Lãi suất cho vay của NHTMCP (Biến phụ thuộc) LnFEDt: Lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Biến độc lập)
Trang 32LnLSCBt: Lãi suất cơ bản của NHNN (Biến độc lập)
D08=1 là dữ liệu thuộc 6 tháng đầu năm 2008
D08=0 là dữ liệu thuộc từ năm 2005 đến 2007
1.4.2 Mô hình ảnh hưởng của thay đổi lãi suất cho vay đến dư nợ cho vay
4
LnDUNOit = bo + b1LnLSCVit + ∑Dn
n=1
Trong đó: bo: hằng số; b1: hệ số ước lượng
lnDUNOit: Dư nợ cho vay của NHTMCPi (Biến phụ thuộc)
lnLSCVit: Lãi suất cho vay của NHTMCPi (Biến độc lập)
D1 (Biến giả):
Trang 33D08=1 là dữ liệu thuộc 6 tháng đầu năm 2008D08=0 là dữ liệu thuộc từ năm 2005 đến 2007
- Sig F < α cho biết mô hình có ý nghĩa
- Durbin-waston(d): dùng để kiểm định tương quan của các sai số kề nhau Đại lượng (d) biến thiên từ 0 đến 4 Nếu các phần dư không có tương quan chuổi bậc nhất thí giá trị (d) gần bằng 2 Giá trị (d) thấp hơn (nhỏ hờn) có nghĩa các phần dư gần nhau
có tương quan thuận Giá trị (d) lớn hơn 2 (và gần 4) có nghĩa là có phần dư tương quan nghịch
Trang 341.4.3 Mô hình định giá lại trong đo lường rủi ro lãi suất
Một số khái niệm liên quan mô hình định giá lại
- Tài sản nhạy cảm lãi suất: Là các loại tài sản mà trong đó thu nhập về lãi sẽ thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định khi lãi suất thị trường thay đổi
- Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất: Là các khoản nợ mà trong đó chi phí lãi suất thay đổi trong thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM): Là tỷ lệ giữa các khoản phải thu từ lãi suất trên tổng tài sản Tỷ lệ này thể hiện sự nhạy cảm với lãi suất của Ngân hàng, nếu ngân hàng đang ở trạng thái nhạy cảm tài sản thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ tăng nếu lãi suất tăng sẽ giảm nếu lãi suất giảm và ngược lại, nếu ngân hàng đang trong trạng thái nhạy cảm Nguồn vốn thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ giảm nếu lãi suất tăng và sẽ tăng khi lãi suất giảm
Nội dung của mô hình định giá lại
Nội dung của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị sổ sách kế toán nhằm xác định chênh lệch giữa tiền lãi thu được từ tài sản có và lãi phải thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định Để áp dụng mô hình này, trước hết toàn bộ tài sản có và tài sản nợ của Ngân hàng sẽ được phân thành các nhóm tài sản nhạy cảm với lãi suất theo các mức kỳ hạn, tính trên cơ sở thời hạn còn lại của tài sản
Tài sản nhạy cảm với lãi suất (RSA) là các loại tài sản mà trong đó thu nhập về lãi suất sẽ thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định khi lãi suất thị trường thay đổi
Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất (RSL) là các khoản nợ mà trong đó chi phí lãi suất sẽ thay đổi trong thời gian nhất định khi lãi suất thị trường thay đổi
Trang 35Cơ sở cho việc phân loại dựa vào mức độ biến động của thu nhập từ lãi suất (đối với TSC) và chi phí trả lãi (đối với TSN) khi lãi suất thị trường có sự thay đổi Như vậy, có thể xác định mức độ thay đổi thu nhập lãi ròng của Ngân hàng khi lãi suất thay đổi theo mô hình định giá lại như sau:
∆NIIi= GAPi x ∆Ri
Với GAPi = RSAi - RSLi
Trong đó:
∆NIIi: Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm tài sản i
∆Ri: Mức thay đổi lãi suất của nhóm i
GAPi: Chênh lệch tài sản có và tài sản nợ của nhóm i
RSAi: Số dư tài sản có nhóm i
RSLi: Số dư tài sản nợ nhóm i
Theo mô hình trên có thể thấy rằng, khi TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất của Ngân hàng có sự chênh lệch, Ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro lãi suất mỗi khi lãi suất biến động ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất đến thu nhập ròng của Ngân hàng được tóm tắt như sau:
Bảng 1: Sự thay đổi lãi suất và thu nhập theo Mô hình định giá lại
Tình trạng của GAP Sự thay đổi lãi suất Sự thay đổi thu nhập ròng
Trang 36trường tăng lên sẽ làm tăng chứ không làm giảm thu nhập ròng của Ngân hàng và tương tự như vậy, khi GAP<0, nếu lãi suất biến động giảm cũng có tác động làm tăng thu nhập ròng Rủi ro lãi suất thực tế xảy ra đối với hai trường hợp còn lại, tức là khi GAP>0 kết hợp với sự biến động giảm của lãi suất thị trường và khi GAP<0 kết họp với biến động tăng lãi suất thị trường Ở hai trường hợp này Ngân hàng đều chịu thiệt hại về thu nhập lãi ròng.
Đây là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất tại các ngân hàng thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới do việc thực hiện tương đối đơn giản, không đòi hỏi những
kỹ thuật phức tạp một số mô hình khác như mô hình kỳ hạn, mô hình thời lượng, Bên cạnh đó, mô hình định giá lại có thể là một công cụ hữu ích đối với nhà quản trị ngân hàng và những nhà định chế trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất
Trong đề tài này, mô hình này được sử dụng để phân tích sự nhạy cảm đối với lãi suất của tài sản và nguồn vốn bằng cách nghiên cứu tình huống của ACB Cần Thơ giai đoạn 2005 – 2007
Kết luận chương 1: Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh rất đặc biệt Hoạt
động kinh doanh của một ngân hàng có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng và xã hội vì các chủ thể gửi tiền và vay tiền của ngân hàng là những các TCKT, các tầng lớp dân cư trong toàn xã hội Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng cần đề cao công tác quản trị rủi ro lãi suất để bảo vệ ngân hàng, bảo vệ khách hàng
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN CẦN THƠ
2.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Cần Thơ
Hiện nay hệ thống Ngân hàng trên địa bàn Thành phố Cần Thơ rất đa dạng về hình thức sở hữu, bao gồm các loại hình như Ngân hàng thương mại Quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh, văn phòng đại diện của các Ngân hàng nước ngoài Các ngân hàng được phép hoạt động nhiều nội dung khác nhau như huy động vốn, cho vay, thanh toán quốc tế, kinh doanh dịch vụ,… theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng và nhiều Luật liên quan của Chính phủ Việt Nam Tính đến 31/12/2007 hệ thống Ngân hàng tại thành phố Cần Thơ đứng thứ ba cả nước về số lượng, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 32 Chi nhánh Ngân hàng và hơn 45 Phòng giao dịch cùng hoạt động (Số liệu thống kê từ Phòng Tổng hợp - NHNN Cần Thơ)
2.1.1 Tình hình huy động và cho vay vốn của các ngân hàng tại Cần Thơ
2.1.1.1 Về huy động vốn
Đến 31/12/2005, Số vốn huy động toàn địa bàn đạt 5.106 tỷ đồng (lãi suất huy động trung bình 4,8%/năm) Năm 2006, Số vốn huy động toàn địa bàn đạt 6.233 tỷ đồng tăng 22,07% so năm 2005 (lãi suất huy động trung bình 6,5%/năm) Số vốn huy động toàn địa bàn đến tháng 12/2007 đạt 10.315 tỷ đồng tăng 65,49% so năm 2006 (lãi suất huy động bình quân 8,2%/năm) Số vốn huy động của các Ngân hàng trên toàn địa bàn liên tục tăng qua các năm cho thấy hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng là khá tốt thể hiện được uy tín đối với khách hàng
Trang 382.1.1.2 Về cho vay
Năm 2005, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đạt 10.419 tỷ đồng(lãi suất cho vay trung bình 8,5%/năm), Năm 2006, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đạt 11.032 tỷ đồng tăng 5,89% so năm 2005, lãi suất cho vay trung bình 10,7%/năm) Đến năm 2007, tổng
dư nợ cho vay toàn địa bàn đạt 19.483 triệu đồng tăng (76,6%) so năm 2006, (lãi suất cho vay trung bình 13,2%/năm) Như vậy nhìn chung tổng dư nợ trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã gia tăng liên tục qua các năm 2005 -2007, cả về ngắn hạn cũng như trung và dài hạn Tuy nhiên, nếu xét về tốc độ tăng trưởng tín dụng thì khối các ngân hàng thương mại cổ phần có tốc độ tăng trưởng rất tốt (năm 2006 tăng 38% so năm
2005, năm 2007 tăng 53% so năm 2006), trong khi khối các Ngân hàng thương mại Quốc doanh thì liên tục giảm, nếu năm 2005 dư nợ/tổng dư nợ toàn địa bàn chiếm 70% thì năm 2006 là 59% và năm 2007 là 41% Điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của khối các Ngân hàng thương mại cổ phần là chiều hướng tăng trưởng tốt so với khối các Ngân hàng thương mại Quốc doanh
Như vậy, lãi suất huy động vốn và cho vay của các Ngân hàng có khuynh hướng tăng qua các năm (2005 – 2007), nguyên nhân do các TCTD trên địa đã tăng cường các biện pháp huy động vốn có hiệu quả để cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của người dân trên địa bàn, nên mặt bằng chung về lãi suất có biến động tăng Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động của các TCTD trên địa bàn giai đoạn 2005 –
2007 tương đối ổn định, mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng trên cùng địa bàn để phát triển
Trang 39Bảng 2: Cơ cấu huy động vốn và cho vay của các Ngân hàng 2005 -2007
II Tổng dư nợ cho vay 10,418 11,032 19,483
1 Theo nội, ngoại tệ 10,418 11,032 19,483
III Dsố cho vay, thu nợ
1 Doanh số cho vay 35,829 37,016 57,569
Trang 402.1.2.Tình hình biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ từ năm 2005 đến tháng
06 năm 2008
Trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm 2005, lãi suất cơ bản NHNN Việt Nam không có nhiều biến động chỉ 01 lần điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 7.5%/năm (0.625%/tháng) lên 7.8%/năm (0.65%/tháng), mặc dù Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed đã
5 lần điều chỉnh tăng lãi suất từ 2.25%/năm đến 3.25%/năm Số liệu thực tế cho thấy những điều chỉnh này chưa làm thay đổi lãi suất cho vay của các NHTMCP tại TPCT,
cụ thể lãi suất cho vay của các Ngân hàng dao động từ 1%/tháng đến 1.20%/tháng đối với kỳ hạn cho vay ngắn, trung và dài hạn Do vậy, dư nợ cho vay tại các ngân hàng tuy có biến động nhưng chủ yếu là những biến động tự nhiên theo tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong 6 tháng cuối năm 2005, Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed sau 04 lần điều chỉnh lãi suất đã tăng từ 3,25%/năm lên đến 4,25%/năm vào tháng 12/2005 Trước áp lực đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 7,8%/năm lên 8,25%/năm (0,6875%tháng) vào tháng 12/2005, việc điều chỉnh này đã định hướng cho các NHTM trong nước điều chỉnh tăng lãi suất cho vay dao động từ khoảng 0,85 đến 1,25%/tháng cho các kỳ hạn, việc điều chỉnh tăng lãi suất lần này đã làm cho dư nợ cho vay của các Ngân hàng tăng trưởng chậm lại Tổng dư nợ cả năm 2005 của khối các Ngân hàng thương mại cổ phần đạt 2.828tỷ đồng chiếm 30% thị phần cho vay vốn toàn địa bàn.Trong 6 tháng đầu năm 2006, cục dự trữ liên bang Mỹ Fed đã 4 lần điều chỉnh tăng lãi suất từ 4,25% lên đến 5,25%/năm vào tháng 6/2006 Tuy nhiên lãi suất cho vay tại các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TPCT tiếp tục ổn định và duy trì ở mức 1.0 – 1.25%/tháng đến cuối tháng 6/2006 lãi suất này dao động trong khoảng 1.0 – 1.2%/tháng
Trong 6 tháng cuối năm 2006 lãi suất cho vay các Ngân hàng TMNN tiếp tục ổn định do lãi suất cục dự trữ liên bang Mỹ Fed và lãi suất cơ bản của NHNN tiếp tục ổn