1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền chọn chứng khoán công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán viêït nam

93 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 625,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công cụ tài chính phái sinh như giao dịch hoán đổi Swap, hợp đồng mua bán kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng giao sau đã từng bước được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế ở nước t

Trang 1

PHẠM TUẤN SƠN

QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN – CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

LUẬN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2008

Trang 2

PHẠM TUẤN SƠN

QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN – CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học

TS THÂN THỊ THU THỦY

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Quyền chọn chứng khoán – Công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu ra trong đề tài là số liệu thực tế

Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP HCM, ngày 23 tháng 12 năm 2008

Tác giả

Phạm Tuấn Sơn

Trang 4

Trang

Trang phụ bìa .i

Lời cam đoan .ii

Mục lục iii

Danh muc các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng biểu .vii

Danh mục các hình vẽ, đồ thị vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .2

4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA RỦI RO BẰNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN .3

1.1.1 Khái niệm về quyền chọn 3

1.1.2 Những vị thế trong quyền chọn .4

1.2 PHÂN LOẠI QUYỀN CHỌN 6

1.2.1 Phân loại theo quyền của người mua 6

1.2.2 Phân loại theo thời gian thực hiện .7

1.2.3 Phân loại theo tài sản cơ sở .7

1.3 QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN 7

1.4 CÁC LOẠI RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 10

Trang 5

1.5.1 Chiến lược liên quan đến một quyền chọn đơn lẻ và một chứng

khoán 11

1.5.2 Chiến lược phân chia 13

1.5.3 Chiến lược phối hợp 19

1.6 GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN TẠI MỘT SỐ TTCK TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI .22

1.6.1 Sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (“CBOE”) 22

1.6.2 Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (“TSE”) 23

CHƯƠNG 2: NHỮNG RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 24

2.1 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .24

2.1.1 Thực trạng hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE) 24

2.1.2 Thực trạng hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội .30

2.1.3 Đánh giá thực trạng hoạt động .33

2.1.4 Những thành tựu và tồn tại của thị trường chứng khoán Việt Nam

35

2.2 NHẬN DIỆN NHỮNG RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 37

2.2.1 Rủi ro từ thông tin .37

2.2.2 Rủi ro từ trình độ của nhà đầu tư .39

2.2.3 Rủi ro từ yếu tố tâm lý của nhà đầu tư .41

2.2.4 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của sàn giao dịch .43

Trang 6

2.2.7 Hệ thống quản lý và giám sát thị trường chưa hiệu quả .49

2.2.8 Quy mô của thị trường còn nhỏ - hàng hóa còn hạn chế 51

2.2.9 Rủi ro từ phát hành cổ phiếu tăng vốn 52

2.3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 54

2.4 THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN CHỌN TRÊN THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ NGOÀI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM .56

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN TRÊN TTCKVIỆT NAM 58

3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN TRÊN TTCK VIỆT NAM .59

3.1.1 Tạo công cụ hạn chế rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam

59

3.1.2 Đa dạng hóa cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư tài chính trong và ngoài nước .64

3.1.3 Thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển 65

3.1.4 Thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 65

3.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỂ ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM .67

3.2.1 Tiền đề về hàng hóa 67

3.2.2 Tiền đề về con người .67

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN TRÊN TTCK VIỆT NAM 69

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý .69

Trang 7

3.3.3 Nâng cao trình độ của nhà quản lý và công chúng đầu tư .74

3.3.4 Nâng cao chất lượng thông tin của thị trường chứng khoán .76

3.3.5 Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao dịch quyền chọn .78

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TÊN VIẾT TẮT TÊN TIẾNG ANH TÊN TIẾNG VIỆT

ACB Mã chứng khoán của Ngân hàng thương

mại cổ phần Á châu ATM At the money Ngang giá quyền chọn

CBOE Chicago Board

Options Exchange

Sở giao dịch quyền chọn Chicago

DPM Mã chứng khoán của Tổng công ty phân

đạm và hóa chất dầu khí FII Foreign indirect

investment

Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

GDP Gross domestic

product

Tổng sản phẩm quốc dân

HaSTC-Index Chỉ số chứng khoán tại Trung tâm giao

dịch chứng khoán Hà Nội HBD Mã chứng khoán của Công ty cổ phần

bao bì PP Bình Dương ITM In the money Cao giá quyền chọn

Trang 8

OTM Out the money Kiệt giá quyền chọn

STB Mã chứng khoán của Ngân hàng thương

mại cổ phần Sài gòn thương tín

VN-Index Chỉ số chứng khoán Việt Nam

VNM Mã chứng khoán của Công ty cổ phần

sữa Việt Nam

Organization

Tổ chức thương mại thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng các công ty chứng khoán một số nước châu Á 47

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Đồ thị minh họa thu nhập từ các vị thế trong quyền chọn

Châu Âu

6

Trang 9

Hình 1.3 Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn mua 13 Hình 1.4 Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn bán 14 Hình 1.5 Chiến lược Bear Spread sử dụng quyền chọn mua 15 Hình 1.6 Chiến lược Bear Spread sử dụng quyền chọn bán 16 Hình 1.7 Chiến lược Butterfly Spread sử dụng quyền chọn mua 17 Hình 1.8 Chiến lược Butterfly Spread sử dụng quyền chọn bán 18 Hình 1.9 Chiến lược Calendar Spread sử dụng hai quyền chọn mua 18 Hình 1.10 Chiến lược Calendar Spread sử dụng hai quyền chọn bán 19

Hình 1.12 Mô hình lợi nhuận chiến lược Strip và chiến lược Strap 21

Biểu đồ 2.1 Biến động của VN INDEX từ ngày 28/07/2000 đến

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua, thị trường tài chính của nước ta đã thực sự hội nhập với thế giới và đã thu được những thành quả đáng khích lệ, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần có những cải cách, thay đổi để tăng tính hấp dẫn của thị trường, đồng thời rút ngắn khoảng cách về sự chênh lệch trong trình độ phát triển trong lĩnh vực này so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Các công cụ tài chính phái sinh như giao dịch hoán đổi (Swap), hợp đồng mua bán kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng giao sau đã từng bước được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế ở nước ta Trong những công cụ tài chính phái sinh đó thì hợp đồng quyền chọn, cụ thể là hợp đồng quyền chọn vàng đã được các ngân hàng Eximbank, ACB, VietA Bank, Sacombank nghiên cứu ứng dụng và cung cấp cho khách hàng của các ngân hàng này

Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 07 năm 2000 Do đó, thị trường chứng khoán đang ở trong giai đoạn sơ khai mang đầy đủ tính chất của thị trường mới nổi, trong đó có sự tăng giảm giá chứng khoán mang tính bất thường Với một thị trường mang đặc tính như vậy thì cần có những công cụ tài chính phái sinh như quyền chọn chứng khoán để vừa tạo ra sự đa dạng về hàng hoá, đồng thời là công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư là yêu cầu mang tính cấp thiết Tuy nhiên để ứng dụng quyền chọn chứng khoán vào thực tế tại nước ta là một việc không dễ dàng, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hành lang pháp lý, tâm lý, sự hiểu biết về công cụ này… Với xuất phát như trên, tôi đã chọn đề tài “Quyền chọn chứng khoán – công cụï phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc

sĩ của mình

Trang 11

1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những lý thuyết về quyền chọn chứng khoán, lý thuyết về các chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn chứng khoán Bên cạnh đó, đưa một số mô hình quyền chọn tiêu biểu trên thế giới

Đánh giá thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam, nhận diện những yếu tố rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam

Nêu ý nghĩa và những tiền đề của việc áp dụng giao dịch quyền chọn vào thị trường chứng khoán Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để áp dụng quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các sản phẩm quyền chọn chứng khoán

Tổng kết quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cuối tháng 11 năm 2008 Nhận diện ra những rủi ro để thấy sự cần thiết ứng dụng quyền chọn chứng khoán tại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và phân tích để nhận diện bản chất của các vấn đề nghiên cứu

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương:

- Chương 1 Tổng quan về quyền chọn chứng khoán và chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn chứng khoán

- Chương 2 Những rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Chương 3 Ứng dụng quyền chọn trên TTCK Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀ CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA RỦI RO BẰNG QUYỀN CHỌN

CHỨNG KHOÁN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CHỌN

1.1.1 Khái niệm về quyền chọn

Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán Trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hiện tại Người mua quyền chọn phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn

Đặc điểm của quyền chọn:

- Tính phái sinh: Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh, bắt nguồn từ nghiệp vụ giao ngay

- Tính lựa chọn: Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp quyền cho người nắm giữ quyền chọn chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hay bán Bên cạnh đó, nội dung trong hợp đồng quyền chọn là sự thỏa thuận giữa các bên, trên cơ sở đó hình thành mức phí mua quyền

- Tính kỳ hạn: Quyền chọn có ngày ký kết và ngày hết hiệu lực, khoảng thời gian từ ngày ký kết đến hết ngày hết hiệu lực là thời gian hiệu lực của quyền chọn (nếu các bên không có thỏa thuận khác)

- Tính thanh khoản: Các hợp đồng quyền chọn có thể được giao dịch cả trên thị trường chính thức và thị trường phi tập trung (OTC) Do đó, nó tạo cho nghiệp vụ này tính thanh khoản tương đối cao

Các chủ thể tham gia mua bán quyền chọn gồm: Nhà bảo hộ (Hedgers) mua bán quyền chọn nhằm mục đích bảo hộ về giá; Nhà đầu cơ (Speculators)

Trang 13

mua bán quyền chọn với mục đích để thực hiện quyền chọn của mình để kiếm lời nếu diễn biến của giá cả chứng khoán đúng như họ đã dự đoán sẽ lên hoặc xuống; Nhà kinh doanh chênh lệch giá (Arbitraguers), họ tạo ra lợi nhuận do đồng thời tham gia mua bán trên cả hai hoặc nhiều thị trường quyền chọn khác nhau và thông qua sự chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường này

1.1.2 Những vị thế trong quyền chọn

Bên mua quyền chọn: là bên nắm giữ quyền chọn, và phải trả cho bên bán phí quyền chọn để được “quyền” mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở nào đó Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, bên mua có ba sự lựa chọn:

(i) Thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu giá trên thị trường biến động theo hướng có lợi cho họ;

(ii) Bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường để hưởng chênh lệch giá;

(iii) Để quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ một giao dịch mua bán nào nếu giá trên hợp đồng quyền chọn bất lợi hơn so với giá trên thị trường Trường hợp không thực hiện quyền chọn, họ vẫn bị mất phí mua quyền Do vậy, bên mua quyền bị lỗ chỉ giới hạn bằng phí quyền chọn nhưng có lời thì không giới hạn Có hai loại người mua quyền: người mua quyền chọn mua (Buyer Call Option) và người mua quyền chọn bán (Buyer Put Option)

Bên bán quyền chọn: là bên phát hành quyền chọn, sau khi thu phí quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch (mua hoặc bán) tài sản

cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua – khi bên mua thực hiện quyền trong thời hạn đã thỏa thuận Bên bán quyền chọn có lợi nhuận giới hạn (tối đa là phí quyền chọn), còn lỗ thì không giới hạn Trên thị trường, có hai loại người

Trang 14

bán quyền: người bán quyền chọn mua (Seller Call Option) và người bán quyền chọn bán (Seller Put Option)

Có hai bên cho mỗi hợp đồng quyền chọn Một bên là nhà đầu tư ở vị thế dài hạn (mua quyền chọn) Bên kia là nhà đầu tư ở vị thế ngắn hạn (bán hoặc phát hành quyền chọn) Người phát hành quyền chọn nhận tiền mặt trước nhưng có khoản nợ tiềm tàng về sau

Có 4 vị thế của quyền chọn:

- Vị thế dài hạn trong mua quyền chọn

- Vị thế dài hạn trong bán quyền chọn

- Vị thế ngắn hạn trong mua quyền chọn

- Vị thế ngắn hạn trong bán quyền chọn

Việc xác định rõ đặc điểm các vị thế quyền chọn Châu Aâu, theo điều kiện của giá trị đáo hạn hoặc chi trả của nhà đầu tư lúc đáo hạn, thường là rất có ích Chi phí ban đầu của quyền chọn không được bao hàm trong sự tính toán Nếu X là giá thực hiện và St là giá khi đáo hạn của tài sản cơ sở, thu nhập từ vị thế dài hạn trong quyền chọn mua Châu Aâu là:

Max (St – X, 0)

Điều này phản ánh thực tế là quyền chọn sẽ được thực hiện nếu St > X và sẽ không được thực hiện nếu St < X Khoản thu nhập của người nắm giữ quyền chọn mua Châu Aâu ở vị thế ngắn hạn là:

Trang 15

Hình 1.1: Đồ thị minh họa thu nhập từ các vị thế trong quyền chọn Châu Âu Thu nhập Thu nhập

(a) Quyền chọn mua- Vị thế (b) Quyền chọn mua- Vị thế

dài hạn ngắn hạn

Thu nhập Thu nhập

(c) Quyền chọn bán - (d) Quyền chọn bán –

Vị thế dài hạn Vị thế ngắn hạn

1.2 PHÂN LOẠI QUYỀN CHỌN

1.2.1 Phân loại theo quyền của người mua

1.2.1.1 Quyền chọn mua (Call option)

Quyền chọn mua là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được mua (hoặc không mua) một loại hàng hóa cơ sở (một đồng tiền, hàng hóa, chứng khoán…) theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc bán loại hàng hóa cơ sở này khi bên mua thực hiện quyền của mình

Trang 16

1.2.1.2 Quyền chọn bán (Put option)

Quyền chọn bán là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được bán (hoặc không bán) một loại hàng hóa cơ sở (một đồng tiền, hàng hóa, chứng khoán…) theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua loại hàng hóa cơ sở này khi bên mua put option thực hiện quyền của mình

1.2.2 Phân loại theo thời gian thực hiện

1.2.2.1 Quyền chọn kiểu Châu Aâu (European style option)

Quyền chọn kiểu Châu Âu là quyền chọn trong đó cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện hợp đồng quyền chọn tại thời điểm đến hạn

1.2.2.2 Quyền chọn kiểu Mỹ (American style option)

Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền chọn trong đó cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện quyền chọn vào những ngày làm việc hợp pháp trong thời gian hiệu lực của hợp đồng và trước khi hợp đồng đáo hạn

1.2.3 Phân loại theo tài sản cơ sở

Phân loại quyền chọn theo tài sản cơ sở gồm : Quyền chọn về chỉ số chứng khoán; Quyền chọn chứng khoán; Quyền chọn về lãi suất; Quyền chọn ngoại tệ; Quyền chọn về hợp đồng giao sau…

1.3 QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN

Quyền chọn chứng khoán cho phép người nắm giữ hợp đồng nhưng không bắt buộc thực hiện mua hoặc bán chứng khoán với giá được thỏa thuận trước Người bán hoặc người phát hành quyền chọn bắt buộc phải thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu như người mua quyền chọn yêu cầu

Trang 17

Quyền chọn chứng khoán được mua bán trên các thị trường giao dịch quyền chọn về chứng khoán nổi tiếng ở Mỹ là Chicago Board Option Exchange (CBOE), Philadelphia Stock Exchange (PHLX), New York Stock Exchange (NYSE), American Stock Exchange (AMEX), Pacific Stock Exchange (PSE) Đặc điểm về quyền chọn chứng khoán

- Giá thực hiện (Exercise price): Là mức giá mà theo đó quyền chọn có thể được phát hành

Tại CBOE, giá thực hiện thường được đặt cách nhau từng khoảng 2,5$, 5$, hoặc 10 $ (ngoại trừ khi có sự phân chia chứng khoán hoặc cổ tức, thì khoảng cách được rút ngắn hơn) Quy tắc thường được nhiều sở giao dịch làm theo là khoảng cách 2,5$ nếu giá cổ phiếu thấp hơn 25$, khoảng 5$ nếu giá cổ phiếu từ 25$ đến 200$, và khoảng cách 10$ nếu giá cổ phiếu trên 200$

- Ngày đáo hạn (Expiration date): Là ngày mà hợp đồng quyền chọn hết hạn

Với CBOE, quyền chọn chứng khoán có chu kỳ theo các tháng 1, tháng 2 hoặc tháng 3 Chu kỳ tháng 1 (gồm các tháng 1, 4, 7 và 10) Chu kỳ tháng 2 (gồm các tháng 2, 5, 8 và 11) Chu kỳ tháng 3 (gồm các tháng 3, 6, 9 và 12) Theo thông lệ, nhà đầu tư nắm giữ quyền chọn (nếu quyết định thực hiện quyền chọn) sẽ có thời gian đến hết 16 giờ 30 phút của ngày thứ sáu đó để ra chỉ thị cho nhà môi giới thực hiện quyền chọn Sau đó, nhà môi giới sẽ có thời gian đến

22 giờ 59 phút của ngày hôm sau để hoàn thành các thủ tục giấy tờ thông báo cho sở giao dịch chứng khoán thực hiện quyền chọn đó

- Ảnh hưởng của việc phân chia cổ tức và cổ phiếu: quyền chọn chứng khoán trên thị trường OTC được đảm bảo về cổ tức Nếu một công ty công bố chia cổ tức bằng tiền mặt, thì giá thực hiện của quyền chọn về cổ phiếu sẽ giảm một khoản bằng số cổ tức vào thời điểm không nhận cổ tức Quyền chọn trao đổi

Trang 18

qua sở giao dịch chứng khoán nói chung không được điều chỉnh theo cổ tức trả bằng tiền mặt, nhưng điều chỉnh theo sự phân chia cổ phiếu Mặt khác, khi mức cổ tức bằng tiền được công bố sẽ không có sự điều chỉnh nào trong các điều kiện của hợp đồng quyền chọn

- Giới hạn vị thế và giới hạn thực hiện: Sở giao dịch nêu ra giới hạn vị thế (position limit) cho mỗi loại chứng khoán được giao dịch trên hợp đồng quyền chọn Điều này xác định số hợp đồng quyền chọn tối đa mà một nhà đầu tư có thể nắm giữ Sàn giao dịch chứng khoán ban hành giới hạn vị thế cho từng chứng khoán căn cứ vào khối lượng cổ phiếu giao dịch và số cổ phiếu trôi nổi Giới hạn thực hiện (exercise limit): là số hợp đồng quyền chọn tối đa có thể được thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc liên tục bất kỳ bởi mỗi nhà đầu tư riêng lẻ hay một nhóm các nhà đầu tư cùng hành động với nhau Giới hạn vị thế và giới hạn thực hiện được thiết kế để ngăn ngừa tình trạng thị trường bị chi phối quá mức bởi hành vi của một nhà đầu tư cá biệt hoặc một nhóm nhà đầu tư

- Điều kiện niêm yết: Các sở giao dịch quyền chọn qui định các tài sản mà giao dịch được phép Đối với quyền chọn cổ phiếu, sở giao dịch qui định những điều kiện tối thiểu mà một cổ phiếu phải đạt được để có thể giao dịch quyền chọn

- Qui mô hợp đồng: một hợp đồng quyền chọn giao dịch trên sở tiêu chuẩn gồm 100 quyền chọn đơn lẻ, mỗi quyền chọn đơn lẻ được mua (bán) một cổ phiếu Như vậy một hợp đồng quyền chọn được mua (bán) tối thiểu là 100 cổ phiếu Tuy nhiên, quyền chọn cũng được tuân thủ nguyên tắc chia tách cổ phiếu và cổ tức

- Ký quỹ: Nhà đầu tư mua quyền chọn chứng khoán không được mua bằng cách ký quỹ mà phí quyền chọn phải được thanh toán đầy đủ ngay thời điểm mua Đối với nhà đầu tư phát hành quyền chọn luôn bị yêu cầu duy trì ký quỹ

Trang 19

trong tài khoản ký qũy do nhà môi giới và sở giao dịch đều e ngại bên phát hành có thể mất khả năng thanh toán khi quyền chọn được yêu cầu thực hiện Mức yêu cầu ký quỹ tùy thuộc từng trường hợp

1.4 CÁC LOẠI RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Khi tham gia vào TTCK, các nhà đầu tư có thể gặp phải những rủi ro chính như sau:

Rủi ro về tính thanh khoản

Đây là rủi ro làm cho các nhà đầu tư không bán được chứng khoán Rủi ro này thường xuất hiện trong trường hợp thiếu các nhà làm giá và một hệ thống mua bán chứng khoán hoạt động hiệu quả, dẫn đến những rắc rối, khó khăn trong việc mua – bán chứng khoán

- Rủi ro không hệ thống (hay còn gọi là rủi ro có thể dàn trải) như phá sản, bãi công, thay đổi trong khuynh hướng tiêu dùng, kiện tụng…phụ thuộc vào tình hình cụ thể của công ty

Rủi ro do luật pháp thay đổi và không ổn định

Ở bất cứ TTCK nào trên thế giới, việc điều chỉnh luật pháp và các quy định về quản lý TTCK thường không có lợi cho nhà đầu tư chứng khoán Lý do cơ bản là các nhà đầu tư hoạch định chiến lược đầu tư dựa trên cơ sở nền tảng của luật pháp hiện hành Một khi luật pháp thay đổi, toàn bộ chiến lược đầu tư được hoạch định trước đó sẽ bị đảo lộn và phải thay đổi theo

Trang 20

1.5 CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA RỦI RO BẰNG QUYỀN CHỌN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.5.1 Chiến lược liên quan đến một quyền chọn đơn lẻ và một chứng khoán Có một số chiến lược khác nhau liên quan đến quyền chọn đơn trên một loại chứng khoán và bản thân chứng khoán Ta có mô hình lợi nhuận từ những chiến lược này như sau

Hình 1.2: Các mô hình lợi nhuận từ những chiến lược của một quyền chọn

đơn lẻ và một chứng khoán

Trong các hình vẽ ở hình 1.2, 1.3, 1.4, 1.5, 1.6, 1.7, 1.8, 1.9, 1.10, 1.11, 1.12, 1.13 đường nét không liền chỉ mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá chứng khoán đối

STX

Lợi nhuận

(a)

STX

Lợi nhuận

(d)

Trang 21

với những chứng khoán cá biệt cấu thành danh mục đầu tư, trong khi đó đường liền nét chỉ mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá chứng khoán đối với toàn bộ danh mục đầu tư

(a) Vị thế mua trên chứng khoán kết hợp với vị thế bán trên quyền chọn mua

(b) Vị thế bán trên chứng khoán kết hợp với vị thế mua trên quyền chọn mua

(c) Vị thế mua trên quyền chọn bán kết hợp với vị thế mua trên chứng khoán

(d) Vị thế bán trên quyền chọn bán kết hợp với vị thế bán trên chứng khoán

Trong hình 1.2a, danh mục đầu tư bao gồm vị thế dài hạn trên chứng khoán cộng với vị thế ngắn hạn trên quyền chọn mua Chiến lược đầu tư thể hiện bởi danh mục đầu tư này được gọi là bán hợp đồng quyền chọn mua có bảo đảm Vị thế dài hạn trên chứng khoán đảm bảo hay bảo vệ nhà đầu tư khỏi tình trạng tăng đột biến của giá chứng khoán

Trong hình 1.2b, vị thế ngắn hạn trên chứng khoán được phối hợp bởi vị thế dài hạn trên quyền chọn mua

Trong hình 1.2c, chiến lược đầu tư liên quan đến mua một quyền chọn bán trên chứng khoán và bản thân chứng khoán Giải pháp này đôi khi được xem là chiến lược quyền chọn bán có bảo vệ

Trong hình 1.2d, một vị thế ngắn hạn trên quyền chọn bán được phối hợp với vị thế ngắn hạn trên chứng khoán

Mối liên hệ giữa cân bằng bán – mua được thể hiện như sau:

p + S = c + Xe-rT

+ D (1.2)

Trang 22

Trong đó: p là giá quyền chọn bán Châu Aâu, S là giá chứng khoán, c là giá quyền chọn mua Châu Aâu, X là giá thực hiện của cả quyền chọn bán và quyền chọn mua, r là lãi suất không rủi ro, T là thời gian đáo hạn của cả quyền chọn bán và quyền chọn mua D là hiện giá của cổ tức mong đợi trong vòng đời của quyền chọn

Phương trình 1.2 cho thấy vị thế mua quyền chọn bán phối hợp với vị thế mua chứng khoán tương đương với vị thế mua quyền chọn mua cộng với số tiền mặt nhất định bằng (Xe-rT

+ D)

Phương trình (1.2) cũng có thể viết lại như sau:

S – c = Xe-rT

+ D - p (1.3) Mặt khác, vị thế mua chứng khoán phối hợp với vị thế bán quyền chọn mua tương đương với vị thế bán quyền chọn bán cộng với một số tiền nhất định bằng (Xe-rT

+ D)

1.5.2 Chiến lược phân chia

Chiến lược Bull Spread

Chiến lược Bull Spread có thể được tạo bằng cách mua một quyền chọn mua về chứng khoán với giá thực hiện nhất định và bán quyền chọn bán trên cùng loại chứng khoán với giá thực hiện cao hơn Cả hai quyền chọn có cùng ngày đáo hạn Vì giá quyền chọn mua luôn luôn giảm khi giá thực hiện tăng, giá trị của quyền chọn bán luôn luôn thấp hơn giá trị của quyền chọn mua Vì vậy, đối với chiến lược bull spread cần có một số vốn đầu tư ban đầu

Hình 1.3 Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn mua

S T

X 1 X 2 Lợi nhuận

Trang 23

Giả sử rằng X1 là giá thực hiện của mua quyền chọn mua, X2 là giá thực hiện của bán quyền chọn mua, và ST là giá chứng khoán vào ngày đáo hạn của quyền chọn Thu hồi từ chiến lược Bull Spread như sau:

Hình 1.4 Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn bán

Chiến lược Bear Spread

Nhà đầu tư tham gia chiến lược bear spread với hy vọng giá chứng khoán sẽ giảm Cũng giống như chiến lược bull spread, chiến lược bear spread có thể được tạo ra bằng cách mua quyền chọn mua với một mức giá thực hiện và bán quyền chọn mua với mức giá thực hiện khác Tuy nhiên, trong trường hợp bear

S T

X 2 Lợi nhuận

X1

Trang 24

spread, giá thực hiện của quyền chọn mua cao hơn giá thực hiện của quyền chọn bán

Hình 1.5: Chiến lược Bear Spread sử dụng quyền chọn mua

Chiến lược bear spread tạo nên từ các quyền chọn mua có liên quan đến một khoản thu tiền mặt ban đầu (khi bỏ qua yêu cầu ký quỹ), bởi vì giá bán quyền chọn mua cao hơn giá mua quyền chọn mua Thu hồi từ chiến lược bear spread như sau:

Chiến lược bear spread giới hạn cả tiềm năng có chiều hướng đi lên và rủi

ro do giá có chiều tiếp tục xuống của nhà đầu tư Chiến lược bear spread có thể được tạo ra bằng cách sử dụng quyền chọn bán thay vì quyền chọn mua Nhà đầu tư mua quyền chọn bán với giá thực hiện cao và bán quyền chọn bán với giá thực hiện thấp Bear spread được tạo nên bởi quyền chọn bán đòi hỏi phải có một số vốn đầu tư ban đầu Về thực chất, nhà đầu tư đã mua quyền chọn bán với

S T

Lợi nhuận

Trang 25

mức giá thực hiện nhất định và chọn để nhượng lại một vài tiềm năng về lợi nhuận bằng cách bán quyền chọn bán với mức giá thực hiện thấp hơn Trong khoản thu hồi do nhượng lại tiềm năng về lợi nhuận, nhà đầu tư lấy theo giá của quyền chọn bán

Hình 1.6: Chiến lược Bear Spread sử dụng quyền chọn bán

Chiến lược Butterfly Spread

Chiến lược butterfly spread liên quan đến các vị thế quyền chọn với 3 mức giá thực hiện khác nhau Nó có thể được tạo nên bằng cách mua một quyền chọn mua với giá thực hiện X1 tương đối thấp; mua một quyền chọn mua với giá thực hiện X3 tương đối cao; và bán hai quyền chọn mua với giá thực hiện X2, nằm giữa X1 và X3 Nhìn chung, X2 gần với giá chứng khoán hiện hành Chiến lược butterfly spread sẽ có lợi nhuận nếu giá chứng khoán gần với X2 nhưng sẽ phát sinh lỗ nhẹ nếu có sự dịch chuyển đáng kể của giá chứng khoán theo cả hai hướng Vì vậy, nó là chiến lược thích hợp cho nhà đầu tư nào không thích giá chứng khoán dịch chuyển nhiều Chiến lược yêu cầu phải có một số vốn đầu tư nhỏ ban đầu

ST

X 1 X2

Lợi nhuận

Trang 26

Hình 1.7: Chiến lược Butterfly Spread sử dụng quyền chọn mua

Ta có bảng thu hồi từ chiến lược Butterfly Spread như sau:

Giá chứng

khoán

Thu hồi từ mua quyền chọn mua thứ nhất

Thu hồi từ mua quyền chọn mua thứ hai

Thu hồi từ bán hai quyền chọn mua

Tổng thu hồi*

Chiến lược butterfly có thể được bán hoặc bán khống bằng chiến lược nghịch đảo sau đây : Hai lần bán quyền chọn với giá thực hiện X1 và X3, rồi

S T

X 1 X 2 Lợi nhuận

X 3

Trang 27

mua hai quyền chọn với giá X2 (ở giữa hai mức X1 và X3 ) Chiến lược này cho lợi nhuận khiêm tốn nếu có sự giao động đáng kể của giá chứng khoán

Hình 1.8: Chiến lược Butterfly Spread sử dụng quyền chọn bán

Chiến lược Calendar Spread

Trong chiến lược calendar spread, các quyền chọn có cùng mức giá thực hiện nhưng ngày đáo hạn lại khác nhau

Calendar spread có thể được tạo ra bằng cách bán một quyền chọn mua với mức giá thực hiện nhất định và mua quyền chọn mua (có thời hạn dài hơn) với cùng giá thực hiện Quyền chọn có thời gian đáo hạn dài hơn thì sẽ đắt hơn Vì vậy, chiến lược calendar spread yêu cầu phải có một số vốn đầu tư ban đầu Giả sử quyền chọn có thời hạn dài sẽ được bán khi quyền chọn có thời hạn ngắn đến hạn Với chiến lược này, nhà đầu tư sẽ có lời nếu giá chứng khoán vào ngày đáo hạn của quyền chọn thời hạn ngắn gần với giá thực hiện của quyền chọn có thời hạn ngắn Tuy nhiên, sẽ bị lỗ khi giá chứng khoán dao động ở trên hoặc dưới giá thực hiện này

Hình 1.9: Chiến lược Calendar Spread sử dụng hai quyền chọn mua

Trang 28

Chiến lược calendar Spread có thể được tạo nên với quyền chọn bán giống như đối với quyền chọn mua Nhà đầu tư mua quyền chon bán thời hạn dài và bán quyền chọn bán thời hạn ngắn

Hình 1.10: Chiến lược Calendar Spread sử dụng hai quyền chọn bán

1.5.3 Chiến lược phối hợp

Phối hợp là chiến lược kinh doanh quyền chọn liên quan đến việc nắm giữ cả hợp đồng quyền chọn mua và hợp đồng quyền chọn bán đối với cùng một loại chứng khoán

Chiến lược Straddle

Đây là một dạng trong chiến lược quyền chọn phối hợp bằng cách kết hợp một hợp đồng mua quyền chọn mua và một hợp đồng quyền chọn bán tại cùng một mức giá và cùng ngày đáo hạn, với cùng một mức phí quyền chọn như nhau đối với cả hai hợp đồng Chiến lược này được áp dụng trong trường hợp nhà kinh doanh quyền chọn kỳ vọng rằng giá thị trường của hàng hóa cơ sở sẽ tăng hoặc giảm mạnh so với giá thỏa thuận trên hợp đồng Như vậy, lợi nhuận của chiến lược này là không giới hạn, trong khi đó khoản lỗ là có giới hạn và khoản lỗ tối

đa bằng với tổng mức phí mua 2 hợp đồng quyền chọn

Lợi nhuận

Trang 29

Hình 1.11: Chiến lược Straddle

Khoản thu hồi từ chiến lược Straddle như sau:

Giá chứng

khoán

Thu hồi từ quyền chọn mua

Thu hồi từ quyền chọn bán

Tổng thu hồi

Chiến lược Strip và Strap

Chiến lược Strip bao gồm mua một hợp đồng quyền chọn mua và hai hợp đồng quyền chọn bán với cùng giá thực hiện và ngày đáo hạn Trong chiến lược Strip nhà đầu tư cho rằng sẽ có sự biến động lớn về giá chứng khoán và giá sẽ giảm hơn là tăng

Chiến lược Strap bao gồm mua hai hợp đồng quyền chọn mua và một hợp đồng quyền chọn bán với cùng giá thực hiện và ngày đáo hạn Trong chiến lược Strap nhà đầu tư cho rằng sẽ có sự biến động lớn về giá chứng khoán và cho rằng giá tăng hơn là giảm

S T

X

Lợi nhuận

Trang 30

Hình 1.12: Mô hình lợi nhuận (a) chiến lược Strip; (b) chiến lược Strap

Chiến lược Strangle

Chiến lược Strangle là chiến lược mà nhà đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn bán và một hợp đồng quyền chọn mua cùng ngày đáo hạn và khác giá thực hiện Chiến lược Strangle tương tự như chiến lược Stradde, nhà đầu tư đánh cuộc rằng có biến động lớn về giá nhưng không chắc rằng tăng hay giảm Để nhà đầu tư thu được lợi nhuận trong chiến lược Strangle giá chứng khoán phải dịch chuyển ra xa hơn so với chiến lược Stradde, lợi nhuận của chiến lược Strangle phụ thuộc vào mức độ gần nhau của các mức giá thực hiện, chúng càng

xa nhau thì rủi ro do giá có chiều hướng giảm xuống càng ít và biên độ dịch chuyển xa nhau của giá chứng khoán càng nhiều, tức là lợi nhuận càng nhiều Hình 1.13: Chiến lược Strangle

X 2

Trang 31

Thu hồi từ chiến lược Strangle như sau:

Giá chứng

khoán

Thu hồi từ quyền chọn mua

Thu hồi từ quyền chọn bán

Tổng thu hồi

1.6.1 Sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (“CBOE”)

CBOE thực hiện giao dịch quyền chọn đầu tiên vào ngày 26/04/1973 dựa trên 16 loại chứng khoán cơ sở Năm 1975, Trung tâm thanh toán các giao dịch bù trừ quyền chọn (Options Clearing Corporation – OCC) được thành lập Năm

1977, Quyền chọn bán được đưa vào giao dịch Tiếp sau đó lần lượt vào các ngày 11/03/1983, 01/07/1983, CBOE đưa vào giao dịch quyền chọn chỉ số S&P100 và S&P 500 Chỉ số NASDAQ được đưa vào giao dịch năm 1985, và quyền chọn được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) Năm 1989, CBOE bắt đầu chuyển hướng phát triển loại hình giao dịch quyền chọn lãi suất Năm 1997, thiết lập sàn giao dịch điện tử và đưa vào giao dịch chỉ số công nghiệp Down Jones Năm 2002, CBOE phát triển hệ thống giao dịch kép, kết hợp giữa việc mua bán thủ công trên sàn với giao dịch tự động hóa qua hệ thống điện tử

Năm 2007, CBOE có khối lượng giao dịch đạt mức kỷ lục với hơn 944 triệu cổ phiếu (tăng hơn 40% so với năm 2006)

Trang 32

1.6.2 Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (“TSE”)

Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange - TSE) là sàn giao dịch chứng khoán và các hợp đồng phái sinh lớn thứ hai thế giới tính về lượng tiền tệ chỉ xếp sau Sàn giao dịch chứng khoán New York Hiện tại Sàn giao dịch này niêm yết khoảng 22.271 công ty nội địa và 31 công ty nước ngoài với tổng khối lượng vốn hóa thị trường hơn 4.000 tỷ đô la Mỹ

Hiện nay, bên cạnh các loại hàng hóa được giao dịch thông thường trên sàn là cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, TSE còn giao dịch các hợp đồng tương lai, quyền chọn tài sản, chứng khoán và chỉ số chứng khoán

Lịch sử hình thành và phát triển của Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo được chia thành 2 giai đoạn trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ 2

Kết luận chương 1

Như vậy, có thể khẳng định rằng Quyền chọn là một sản phẩm tài chính phái sinh đã rất thông dụng và phổ biến trên thế giới Chương này đã trình bày khái quát về quyền chọn, các chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn Bên cạnh đó là việc trình bày giao dịch quyền chọn chứng khoán tại một số TTCK tiêu biểu trên thế giới

Qua Chương 1 đã cung cấp những lý luận cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu sản phẩm quyền chọn Đồng thời cho thấy quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh rất đắc lực cho các nhà đầu tư trong việc phòng ngừa rủi

ro Do đó, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu để đưa sản phẩm này vào áp dụng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 2: NHỮNG RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

Nhằm thực hiện đường lối Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Chính phủ đã đề ra, bên cạnh đó, để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn cho đầu tư và phát triển Thêm vào đó, để thực hiện một cách hiệu quả nhất việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình của Chính phủ đã đề ra Vì vậy việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt nam là một yêu cầu mang tính tất yếu Và điều này giúp cho nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nước

ta ngày càng công khai, minh bạch và lành mạnh hơn Theo đó, ngày 10 tháng

07 năm 1998, Chính phủ đã ra Quyết định số 127/1998/QĐ-Ttg về việc thành lập hai Trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước 2.1 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1.1 Thực trạng hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

(HOSE)

Ngày 20 tháng 07 năm 2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM) chính thức đi vào hoạt động, và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28 tháng 07 năm 2000 với 02 loại cổ phiếu niêm yết Qua hơn 8 năm hình thành và phát triển với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới, Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh đã chính thức được chính phủ ký quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE) Ngày 08/08/2007, SGDCK TP.HCM đã chính thức được khai trương

Trang 34

Thực trạng hoạt động tại SGDCK TP.HCM được thể hiện trên các mặt chính như sau:

Công ty niêm yết: Tính đến ngày 15/11/2008, số lượng các công ty niêm yết trên SGDCK TP HCM là 165 công ty và 04 chứng chỉ qũy Trong đó, công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất trên SGDCK TP HCM là DPM với giá trị vốn hóa thị trường là 15.552 tỷ đồng, tiếp đến là VNM và STB với giá trị vốn hóa thị trường lần lượt là 15.161 tỷ đồng và 11.818 tỷ đồng Mã chứng khoán có giá trị vốn hóa thấp nhất là HBD với giá trị vốn hóa là 17 tỷ đồng

Hàng hóa: Đến ngày 15/11/2008 tại SGDCK TP HCM có 165 mã cổ phiếu và 04 mã chứng chỉ quỹ đầu đang được niêm yết Với 165 mã cổ phiếu đang niêm yết thì giá trị vốn hóa trên SGDCK TP HCM đạt 172.944 tỷ đồng chiếm 75,5% tổng giá trị vốn hóa của TTCK Việt Nam

Nhà đầu tư: Sau hơn 8 năm đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã đón nhận sự tham gia của nhiều nhà đầu tư, số lượng tài khoản của nhà đầu tư không ngừng được tăng lên qua các năm Nếu đến cuối năm 2006, số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán thành viên trên 106 ngàn tài khoản, thì cho đến hết năm 2007 số lượng tài khoản của nhà đầu tư mở tại các CTCK đã lên tới trên 307 ngàn tài khoản trong đó có trên 7 ngàn tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài, và đến tháng 8 năm 2008 trên TTCK chính thức đã có trên 430 ngàn tài khoản của nhà đầu tư Với số lượng tài khoản tăng nhanh thể hiện sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với thị trường và đây là động lực quan trọng để thị trường phát triển Tuy nhiên, trong số các tài khoản của các nhà đầu

tư đã được mở thì đa phần là các tài khoản của các nhà đầu tư cá nhân, năng lực tài chính còn hạn chế, khả năng chịu đựng rủi ro không cao và dễ bị chi phối bởi tâm lý đầu tư theo bầy đàn Trong khi đó, thị trường còn thiếu sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức, các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp

Trang 35

Hệ thống công bố thông tin: Công tác công bố thông tin của các công ty niêm yết, chứng chỉ quỹ trên SGDCK TP Hồ Chí Minh thì đối với các công ty và chứng chỉ quỹ niêm yết trước năm 2007 đã thực hiện khá đầy đủ các quy định về công bố thông tin do đã quen với quy trình thực hiện công bố thông tin Tuy nhiên, đối với các công ty và chứng chỉ quỹ mới niêm yết trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, việc công bố thông tin vẫn chưa chủ động

- Công tác công bố thông tin định kỳ: Đa số các công ty đã công bố báo cáo tài chính quý I/2008 và báo cáo tài chính kiểm toán năm 2007 đúng hạn Tuy nhiên, vẫn còn trường hợp một số công ty công bố chậm hơn một vài ngày so với quy định Tại sở GDCK TP Hồ Chí Minh, có tới 23 công ty niêm yết chậm công bố thông tin về báo cáo tài chính thường niên năm 2007

- Công bố thông tin bất thường: Việc công bố các thông tin bất thường được các công ty niêm yết thực hiện khá nghiêm túc Tuy nhiên, vẫn còn một số công

ty đã không thực hiện đúng theo quy định như chậm công bố thông tin về Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc không công bố thông tin khi có thay đổi nhân sự chủ chốt

- Công bố thông tin theo yêu cầu: Hầu hết các Công ty niêm yết đều thực hiện tốt trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được công văn yêu cầu công bố thông tin của SGDCK Đến cuối tháng 06/2008, tại SGDCK TP.HCM, có 26 công ty chưa xây dựng website, 4 công ty có tên miền nhưng chưa hoạt động, 2 công ty đăng ký website là website của công ty mẹ Trong số các công ty có website hoạt động chỉ có 32 công ty cập nhật đầy đủ thông tin, còn 76 công ty chưa cập nhật đầy đủ thông tin công bố và 11 công ty chưa cập nhật các thông tin về tình hình tài chính của công ty

Hệ thống giám sát Công tác giám sát TTCK Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu

Trang 36

của công tác giám sát trước sự phát triển của thị trường đảm bảo TTCK hoạt động công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả và bảo vệ lợi ích của nhà đầu

tư thì công tác giám sát cần phải nỗ lực hơn nữa để hoàn thiện mình

- Trong thời gian qua, khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động của hệ thống giám sát đã từng bước được thiết lập Luật chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29/06/06, Nghị định 36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 và Quyết định 63/2007/QĐ-TTg ngày 10/05/2007 đây là nền tảng quan trọng cho công tác giám sát Tuy nhiên, hệ thống pháp lý về giám sát TTCK vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết như luật chứng khoán mới chỉ đề cập chứ chưa đưa quy định chi tiết về các hành vi vi phạm trên TTCK như thao túng thị trường, giao dịch nội gián Bên cạnh đó, khung xử phạt hành chính đối với các vi phạm còn thấp (khung xử phạt hành chính tối đa quy định tại nghị định 36/2007/ND9-CP ngày 08/03/2007 là 70 triệu đồng) còn Bộ luật hình sự cũng chưa quy định cụ thể về tội phạm và hình phạt đối với hành vi vi phạm trên TTCK

- Mô hình, hệ thống giám sát TTCK Việt Nam được xây dựng theo mô hình giám sát hai cấp phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, hiệu lực và hiệu quả giám sát còn chưa cao, mới chỉ phát hiện được những vi phạm đơn giản như vi phạm chế độ công bố thông tin, việc phát hiện ra những vi phạm tinh vi hơn như giao dịch nội gián, thao túng giá cả và thị trường còn hạn chế

- Nguồn lực con người và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác giám sát còn hạn chế Đội ngũ cán bộ giám sát còn thiếu, yếu về chuyên môn và thiếu kinh nghiệm Bên cạnh đó, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác giám sát chưa hiện đại, vận hành thiếu hiệu quả

Sự thăng trầm của VN-Index Sau hơn 8 năm hình thành và phát triển, VN INDEX đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm

Trang 37

Biểu đồ 2.1 Biến động của VN INDEX từ ngày 28/07/2000 đến 14/11/2008

(Nguồn: Công ty cổ phần chứng khoán TP Hồ Chí Minh)

Biến động giá cổ phiếu được phản ánh rõ nét qua biến động VN INDEX Khi mới ra đời, thị trường đã thể hiện được tính hấp dẫn của mình và được đón nhận với tâm lý phấn chấn của nhà đầu tư Điều này được thể hiện qua việc VN INDEX tăng liên tục từ 100 điểm và đạt 571,04 điểm vào phiên giao dịch thứ

137 ngày 25/06/2001, với khối lượng khớp lệnh là 2,68 triệu cổ phiếu, đạt 23,571 tỷ đồng Đây là đợt tăng trưởng nóng đầu tiên của thị trường

Khi thị trường đi lên, nhà đầu tư đầy sự lạc quan vào sự tiếp tục tăng trưởng của thị trường Nhưng sự lạc quan này nhanh chóng biến thành nỗi thất vọng khi

VN INDEX rơi tự do trong khoảng thời gian từ tháng 07/2001 đến tháng 10/2001, đồng thời đây cũng là khoảng thời gian đánh dấu sự bắt đầu cho một thời kỳ ảm đạm kéo dài 04 năm của thị trường cho đến tháng 10/2005 Mốc đánh dấu sự ảm đạm của giai đoạn này là phiên giao dịch thứ 652 ngày 24/10/2003 với tổng giá trị giao dịch trên thị trường là 1,782 tỷ đồng Và vào cuối năm 2005 VN INDEX chỉ còn 307,5 điểm

VN Index

Trang 38

Sau giai đoạn ảm đạm trên, VN INDEX đã có dấu hiệu chuyển hướng và thị trường tăng trưởng trở lại vào những tháng đầu của năm 2006 Và đây là mốc đánh dấu đợt sốt lần thứ 2 của thị trường, mà đỉnh điểm của đợt này là VN INDEX đạt 623,69 điểm ở phiên giao dịch thứ 1276 ngày 25/04/2006, tổng số chứng khoán khớp lệnh trong phiên giao dịch này là 37,767 triệu cổ phiếu và tổng giá trị giao dịch trên sàn tương đương 314,238 tỷ đồng

TTCK Việt nam phát triển với những dấu hiệu quá nóng Trong phiên ngày 12/03/2007 khi VN INDEX đạt mức cao nhất ở mức 1.170,67 điểm thì thị trường xuất hiện ảo tưởng về những cơ hội kinh doanh chứng khoán Do đó các nhà đầu tư mua vào ồ ạt và đợi giá lên để bán ra Nhưng rất nhanh chóng, thị trường đột ngột đảo chiều và giảm liên tục, đến ngày 25/04/2007 còn 923,89 điểm Tiếp tục với những thăng trầm của mình, TTCK tăng lại và VN INDEX đạt 1.098,64 điểm vào ngày 28/05/07 Đây cũng chính là thời điểm ngân hàng Nhà nước công bố chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/05/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán Phản ứng trước chỉ thị này, thị trường liên tục giảm, nhưng chưa dừng lại ở đó thị trường tăng trở lại và VN INDEX đạt 1106,6 điểm vào ngày 03/10/07 Và từ đó thị trường liên tục mất điểm và cuối năm 2007 VN-Index còn 927,02 điểm

Tiếp theo đà suy giảm của năm 2007, Vn-Index trong 6 tháng đầu năm

2008 tiếp tục suy giảm mạnh và xoay quanh ngưỡng 400 điểm Mặc dù, trong các phiên giao dịch đầu tháng 7 năm 2008 VN-Index có tăng điểm, và mức tăng khá mạnh trong hơn 2 tuần giao dịch (VN-Index tăng từ 366,02 điểm – mức thấp nhất từ tháng 02 năm 2008 lên 439,68 điểm tại phiên 4/7/2008) và tính thanh khoản đã được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, điều này không mang tính ổn định và dài hạn Doanh số giao dịch trong 6 tháng đầu năm 2008 giảm mạnh, giá trị giao dịch bình quân tháng 5 năm 2008 chỉ đạt 204 tỷ đồng/phiên, trong khi đó bình

Trang 39

quân 4 tháng đầu năm là 582 tỷ đồng/phiên (bình quân năm 2007 là 1.086 tỷ đồng/phiên) Đến ngày 13/11/2008, chỉ số VN Index ở mức 346,24 điểm, các cổ phiếu lớn trên thị trường sụt giảm giá mạnh, làm cho tính thanh khoản trên thị trường giảm rõ rệt Giá cổ phiếu xuống thấp, trong đó có một số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư có giá giao dịch thấp hơn mệnh giá

Ngoại trừ những yếu tố vĩ mô như lạm phát, ảnh hưởng chung từ nền kinh tế thế giới và mặc dù sự điều chỉnh của thị trường sau những giai đoạn phát triển nóng là bình thường, nhưng những diễn biến của TTCK Việt Nam trong nhiều giai đoạn, nóng lên như lửa, rồi chợt nguội nhanh như trong nhiều giai đoạn là thất thường Đặc biệt, sự diễn biến này được xét trong một số giai đoạn kinh tế ngắn và không có biến động thì các diễn biến đó cho thấy có sự pha trộn giữa các yếu tố tích cực và phức tạp, TTCK Việt Nam tồn tại các rủi ro dễ gây thương tổn cho các nhà đầu tư

2.1.2 Thực trạng hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được đánh dấu bằng việc ngày 11/07/1998, Chính phủ ra quyết định số 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán Theo đó, TTGDCK Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp Biên chế của TTGDCK Hà Nội thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, và có các nhiệm vụ chủ yếu sau

- Tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán

- Quản lý, điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán

- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán

- Thực hiện đăng ký chứng khoán

Trang 40

Việc xây dựng mô hình hoạt động cụ thể cho TTDGCK Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của nền kinh kế, vừa phải phù hợp với quy mô và lộ trình phát triển TTCK Việt Nam

Ngày 05/08/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 Theo đó, xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội, chuẩn bị điều kiện để sau 2010 chuyển thành OTC Tháng 06/2004, Bộ tài chính ra thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo bộ về mô hình tổ chức và xây dựng TTCK Việt Nam Trong đó, định hướng xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ, theo đó, TTGDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn:

Giai đoạn từ 2005 đến 2007 Với quyết định số 224/2004/QĐ-BTC ban hành quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại TTGD CK Hà Nội và đây là cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã được thiết lập Theo đó, các nội dung hoạt động chính trong giai đoạn đầu của TTGDCK Hà Nội như sau:

- Tổ chức đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp : TTGDCK Hà Nội cung cấp các phương tiện để thực hiện đấu giá cổ phần, đặc biệt là cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, theo tinh thần Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần đã được Chính phủ ban hành và thông tư số 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP

- Tổ chức đấu thầu trái phiếu : TTGDCK Hà Nội tổ chức đấu thầu trái phiếu, bao gồm các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công trình …

- Tổ chức giao dịch chứng khoán theo cơ chế đăng ký giao dịch

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm