Tuy nhiên, thuế GTGT không đơn thuần là công cụ thu ngân sách của nhà nước mà còn chứa đựng nội dung kinh tế và chính trị, xã hội sâu sắc như tương quan giữa số thu hiện tại và số thu tư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
ĐỒN THỊ TỪ VI TỬ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẢM NÂNG CAO VAI TRỊ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG
ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2008
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cấu trúc nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG NỀN KINH TẾ 1.1 Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế GTGT 4
1.1.1 Khái niệm thuế GTGT 4
1.1.2 Bản chất của thuế GTGT 4
1.1.3 Chức năng của thuế GTGT trong nền kinh tế 5
1.1.3.1 Chức năng tái phân phối thu nhập xã hội 5
1.1.3.2 Chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô 5
1.2 Vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế 6
1.2.1 Thuế GTGT tạo số thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước 6
1.2.2 Thuế GTGT tham gia điều chỉnh kinh tế vĩ mô 7
1.2.2.1 Thuế GTGT tác động đến cân bằng thị trường 8
1.2.2.2 Thuế GTGT tác động đến yếu tố sản xuất 9
1.2.2.3 Thuế GTGT tác động đến ngoại thương 10
1.2.3 Thuế GTGT tác động đến ý thức xã hội 10
1.2.4 Thuế GTGT điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối 11
1.3 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng thuế GTGT hướng vào kích thích kinh tế 12 1.3.1 Tính minh bạch 12
1.3.2 Tính hiệu quả 12
1.3.3 Tính công bằng 13
Trang 31.4 Một số mâu thuẫn nảy sinh khi sử dụng công cụ thuế trong phát triển kinh
tế 16
1.4.1 Mâu thuẫn giữa tăng thuế để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng và chủ động giảm thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư 16
1.4.2 Mâu thuẫn giữa chủ trương hội nhập các khối thương mại, kinh tế trong khu vực và trên thế giới với chính sách bảo hộ sản xuất nội địa 16
1.4.3 Mâu thuẫn giữa chủ trương ưu đãi thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư với chủ trương tạo hành lang thuế bình đẳng, trung lập 17
1.5 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi áp dụng thuế GTGT 17
1.5.1 Kinh nghiệm ở Thụy Điển về việc qui định áp dụng một thuế suất thuế GTGT.18 1.5.2 Kinh nghiệm của Indonesia về việc tổ chức thực hiện Luật thuế GTGT theo từng bước và mở rộng dần diện chịu thuế 19
1.5.3 Kinh nghiệm của Pháp về đối tượng áp dụng thuế GTGT 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 21
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ GTGT ĐẾN ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1999 ĐẾN NAY 2.1 Khái quát quá trình ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam 22
2.1.1 Tình hình thí điểm thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam năm 1993 22
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam khi triển khai thực hiện thuế GTGT 23
2.1.2.1 Điều kiện thuận lợi 23
2.1.2.2 Yếu tố bất lợi 24
2.1.3 Sự cần thiết phải sử dụng thuế GTGT thay thế thuế Doanh thu 25
2.2 Những thách thức trong quá trình sử dụng thuế GTGT 28
2.2.1 Thách thức từ bản chất của thuế GTGT 28
2.2.2 Thách thức về quản lý thuế GTGT 30
2.3 Tác động của thuế GTGT đến ổn định và phát triển kinh tế VN 32
2.3.1 Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định của NSNN, tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng 32
Trang 42.3.4 Thuế GTGT góp phần đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa hàng nhập khẩu và
hàng hóa nội địa 36
2.3.5 Thuế GTGT thúc đẩy tăng cường quản lý, hạch toán kinh doanh của DN, nâng cao ý thức tự giác chấp hành thuế của các đối tượng nộp thuế 37
2.3.6 Thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Việt Nam 38
2.4 Những hiệu ứng tiêu cực do sử dụng thuế GTGT 38
2.4.1 Xuất hiện hàng loạt “DN ma” 38
2.4.2 Hình thành “Thị trường mua bán hóa đơn” 39
2.4.3 Thực hiện các giao dịch ảo để rút tiền Nhà nước 39
2.4.4 Hiện tượng gian lận, không trung thực trong kinh doanh 40
2.5 Những hạn chế về chính sách, quản lý và tổ chức thu thuế ảnh hưởng đến vai trò kích thích kinh tế của thuế GTGT 42
2.5.1 Hạn chế về chính sách thuế 42
2.5.1.1 Chính sách thuế GTGT chưa ổn định, thiếu nhất quán 42
2.5.1.2 Quy định nhiều đối tượng không chịu thuế GTGT 42
2.5.1.3 Đa thuế suất 43
2.5.1.4 Phương pháp tính thuế GTGT phải nộp chưa đồng nhất 45
2.5.1.5 Quy định về hoàn thuế GTGT thiếu chặt chẽ 46
2.5.2 Công tác quản lý và tổ chức thu thuế còn hạn chế 47
2.5.2.1 Công tác tuyên truyền và hướng dẫn pháp luật về thuế chưa sâu rộng 47
2.5.2.2 Công tác kiểm tra, thanh tra thuế kém hiệu quả 48
2.5.2.3 Tin học hoá ngành thuế chưa được thực hiện 48
2.5.2.4 Quy trình và tổ chức bộ máy ngành thuế còn chồng chéo 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 50
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 3.1 Quan điểm nâng cao vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế tại Việt Nam 51
3.1.1 Định hướng hệ thống thuế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập 51
Trang 5hơn là tăng thuế suất 52
3.1.4 Sự phối hợp rộng rãi các ngành lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội 52
3.2 Giải pháp về chính sách thuế GTGT 52
3.2.1 Thu hẹp đối tượng không chịu thuế GTGT 52
3.2.2 Dùng một thuế suất thuế GTGT 54
3.2.3 Sử dụng một phương pháp tính thuế GTGT 56
3.2.4 Áp dụng ngưỡng chịu thuế GTGT 56
3.2.5 Quy định đầy đủ về khấu trừ và hoàn thuế GTGT 57
3.2.6 Xóa bỏ tình trạng bảo hộ sản xuất nội địa qua giá tính thuế hàng nhập khẩu 58
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực Bộ máy quản lý thuế 59
3.3.1 Quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy quản lý thuế.59 3.3.2 Hình thành hệ thống thuế qua mạng vi tính 59
3.3.3 Nâng cao chất lượng hỗ trợ ĐTNT của cơ quan thuế 61
3.3.4 Nâng cao công tác thanh tra kiểm tra thuế 62
3.3.5 Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng hữu quan 64
3.3.6 Đào tạo đội ngũ cán bộ thuế 64
3.4 Các giải pháp hỗ trợ 65
3.4.1 Thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế GTGT 65
3.4.2 Hoàn thiện luật Doanh nghiệp 66
3.4.3 Cần thực hiện nghiêm chỉnh việc niêm yết giá 67
3.4.4 Khuyến khích thanh toán qua hệ thống ngân hàng 67
3.4.5 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế, khi mua hàng phải lấy hóa đơn 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 69
KẾT LUẬN 70 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 năm đến 7 năm Đến thời điểm đầu tháng 1/2008, Việt Nam đã thực hiện cắt giảm 1.800 dòng thuế, đạt khoảng 17% kế hoạch Việc cắt giảm thuế nhập khẩu - một trong những loại thuế quan trọng, đang đặt ra những thách thức mới cho việc xây dựng hệ thống chính sách thuế, đó là làm sao tiếp tục bảo hộ sản xuất trong nước, tối đa hoá nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, không ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Hiện nay, nước ta có số thu thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu thuế và phí Đây là nguồn bù đắp cho việc giảm thu từ thuế nhập khẩu Mức độ bù trừ này phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và chính sách thuế của quốc gia Tuy nhiên, thuế GTGT không đơn thuần là công cụ thu ngân sách của nhà nước mà còn chứa đựng nội dung kinh tế và chính trị, xã hội sâu sắc như tương quan giữa số thu hiện tại và số thu tương lai, ảnh hưởng của thuế GTGT đến hành vi kinh doanh và động thái tiêu dùng của xã hội, đến thu hút vốn đầu tư và thông lệ quốc tế, đến tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội …
Với mục đích dùng thuế GTGT như một công cụ kinh tế hữu hiệu, hoàn chỉnh các quy định pháp luật về thuế GTGT nhằm đưa thuế GTGT ngày càng tiếp cận với thực tiễn, theo kịp tiến trình hội nhập, khai thác tối đa vai trò của thuế GTGT để kích thích kinh tế phát triển, tác giả chọn đề tài: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế
Trang 7Nêu lên một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam từ thực tiễn
áp dụng thuế GTGT ở một số nước trên thế giới
Đánh giá tình hình sử dụng thuế GTGT trong phát triển kinh tế tại Việt Nam Rút ra những hạn chế cả về mặt chính sách lẫn công tác hành thu ảnh hưởng đến vai trò kích thích kinh tế của thuế GTGT
Đề xuất những quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế tại Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế, những tác động của thuế GTGT đối với phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam, những hạn chế
cả về mặt chính sách lẫn công tác hành thu ảnh hưởng đến vai trò kích thích kinh tế của thuế GTGT
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu phân tích ảnh hưởng của một số quy định pháp luật hiện hành về thuế GTGT gây tác động đến hoạt động kinh tế-xã hội Việt Nam từ khi Luật thuế GTGT được thực hiện giai đoạn 1999-2007 và không đi quá sâu vào nghiệp vụ cụ thể (vì thuộc chuyên ngành Tài Chính Nhà Nước) Tuy nhiên, để phản ánh toàn diện, đề tài còn đề cập đến một số thay đổi của chính sách thuế đã thực hiện trước đây Ngoài ra, do thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng không thuần túy mang tính kinh tế, tài chính mà còn có ảnh hưởng xã hội rất sâu sắc, nên các giải pháp đề ra cũng chú ý đến khía cạnh xã hội của thuế GTGT
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng dựa vào dữ liệu công bố chính thức của Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, của các các Bộ, cơ quan khác và từ báo chuyên ngành kinh tế, tài chính, thuế Do đó, dù hết sức cố gắng, đề tài cũng không thể giảm bớt tính góc cạnh của số liệu từ những nguồn nói trên Ngoài ra, các định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nước ta đến năm 2010 và chiến lược tài chính quốc gia đến năm 2010 cũng được sử dụng làm cơ sở lý luận và định hướng cho các giải pháp nêu trong đề tài
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh…, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
Trang 85 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Trình bày khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò của thuế GTGT trong ổn định và phát triển kinh tế Các nguyên tắc cơ bản xây dựng thuế GTGT hướng vào kích thích kinh tế Một số mâu thuẫn nảy sinh khi sử dụng công cụ thuế trong phát triển kinh tế Kinh nghiệm sử dụng thuế GTGT tác động đến ổn định và phát triển kinh
tế ở một số nước trên thế giới
Chương 2: Khái quát quá trình ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam Sự cần thiết phải sử dụng thuế GTGT thay thế thuế Doanh thu Những thách thức trong quá trình sử dụng thuế GTGT Đánh giá tác động của thuế GTGT đến ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 1999 đến nay Những hạn chế về chính sách, quản lý và tổ chức thu thuế ảnh hưởng đến vai trò kích thích kinh tế của thuế GTGT
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của thuế GTGT trong ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam Trong đó, chủ yếu các giải pháp về chính sách thuế GTGT, giải pháp về nâng cao năng lực Bộ máy quản lý thuế và một số giải pháp
hỗ trợ
Trang 91.1 Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế GTGT
1.1.1 Khái niệm thuế GTGT
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (tiếng Pháp là: Taxe sur la valeur Ajoutéc – TVA, tiếng Anh là: Value Added Tax – VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ
do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên, vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm Hay nói cách khác, đây là
số chênh lệch giữa “giá đầu ra” với “giá đầu vào” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 4).
1.1.2 Bản chất của thuế GTGT
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, được thu theo phân đoạn trong quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, thì khép kín một chu kỳ kinh tế Đến cuối chu kỳ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính cho người tiêu dùng cuối cùng Do đó, các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
dù qua nhiều khâu hay ít khâu trong quá trình kinh doanh đều chịu thuế như nhau Số thuế này sẽ do các tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là người tiêu dùng) chịu thuế dưới dạng trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ Tiêu dùng hiểu theo nghĩa rộng chung của xã hội bao gồm dùng cho sản xuất, kinh doanh, dùng cho các hoạt động không kinh doanh và tiêu dùng cá nhân
Trái lại, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được đánh thuế, gọi chung là cơ sở kinh doanh (CSKD) phải nộp thuế GTGT thông qua việc mua hàng hóa, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh Thực chất chỉ là việc trả (nộp) trước thuế GTGT, khoản thuế này sẽ được chuyển tiếp tới người tiêu dùng Vì vậy, CSKD đóng vai trò là người thu và nộp thuế GTGT vào NSNN thay cho người tiêu dùng Thuế GTGT có tính trung lập cao Tính trung lập thể hiện ở hai khía cạnh:
+ Một là, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch
vụ
Trang 10+ Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít
1.1.3 Chức năng của thuế GTGT trong nền kinh tế
1.1.3.1 Chức năng tái phân phối thu nhập xã hội
Xuất phát từ bản chất, chức năng hàng đầu của thuế là tái phân phối thu nhập xã
hội – còn gọi là chức năng thu ngân sách Thông qua chức năng này, thuế động viên
một phần thu nhập của khu vực tư tạo nên thu nhập nhà nước Tính cần thiết của quá trình này được minh chứng qua thực tiễn là khu vực tư không thể cung cấp hoặc cung cấp kém hiệu quả những sản phẩm công cộng bởi hoạt động sản suất và trao đổi sản phẩm giữa doanh nghiệp và hộ gia đình diễn ra theo cơ chế thị trường Do đó, trong nền kinh tế thị trường, nếu thiếu vắng hoạt động của chính phủ thì các cá nhân và hộ gia đình thu nhập thấp không có cơ hội thụ hưởng lợi ích tối thiểu của đời sống cộng đồng Một mặt, nhà nước cung cấp các dich vụ phúc lợi công cộng như : y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội, hưu bổng Mặt khác, bằng nhiều chính sách, nhà nước can thiệp trực tiếp vào kinh tế nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự hoạt động hữu hiệu của khu vực
tư Nguồn vật chất dồi dào, chắc chắn và thường xuyên để tài trợ cho các họat động này chỉ có thể đến bằng cách đánh thuế vào khu vực tư
1.1.3.2 Chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô
Cũng trong bối cảnh kinh tế thị trường, chức năng thứ nhất – tái phân phối, của
thuế mở đường chức năng thứ hai: điều tiết kinh tế vĩ mô Khi đó thuế trở thành một
tác nhân của quá trình tái sản xuất xã hội Trước hết, thuế tác động vào tổng cầu, làm thay đổi thu nhập khả dụng tại khu vực tư, qua đó gián tiếp tác động đến tổng cung (GDP) Ngoài ra thuế còn tác động đến tốc độ tăng trưởng GPD và các nhân tố sản xuất, điều chỉnh cơ cấu GDP, điều tiết xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư trong và ngoài nước,…
Chức năng tái phân phối thu nhập chỉ ra chiều hướng vận động thu nhập từ khu vực tư đến khu vực công Chức năng điều tiết kinh tế cho thấy hướng tác động bằng công cụ thuế từ nhà nước xuống doanh nghiệp và hộ gia đình Chức năng thứ nhất tạo điều kiện thực hiện chức năng thứ hai Tuy nhiên, ở những giai đoạn kinh tế phát triển nhất định, lạm dụng chức năng tái phân phối thu nhập theo hướng chỉ có lợi cho nhà
Trang 11nước sẽ đần thủ tiêu động lực kích thích phát triển của khu vực tư, và đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa chức năng điều chỉnh kinh tế của thuế Mặt khác, thực tế cũng cho thấy, nếu dùng thuế điều tiết kinh tế bằng việc ấn định thuế suất phân biệt quá mức giữa các ngành, nghề thì có thể dẫn đến hành vi đầu tư kém hiệu quả chỉ vì lựa chọn thuế suất thấp Do đó, quá trình vận dụng hai chức năng trên đòi hỏi phải thích ứng từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội
1.2 Vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế
1.2.1 Thuế GTGT tạo số thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước
Với mục đích tìm nguồn vật chất tài trợ công chi, chính phủ có thể sử dụng nhiều phương thức ngoài thuế, như: quyên góp dân chúng, xin viện trợ từ nước ngoài, vay trong và ngoài nước, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên khai thác được, đầu
tư kinh doanh,phát hành tiên,… Song chúng không thể tạo ra số thu vừa dồi dào, bền vững vừa kịp thời cho nhà nước Chỉ duy nhất thuế tạo được nguồn thu như vậy Từ đó khẳng định, tạo nguồn thu chủ yếu cho nhà nước là vai trò độc tôn của thuế
Để thật sự giữ đúng vai trò tạo số thu quan trọng nhất vào ngân sách nhà nước, thuế phải bao quát mọi hoạt động kinh doanh: chế biến, sữa chữa, chế tạo, khai thác, xây dựng, vận tải, buôn bán, ăn uống, dịch vụ…, mọi nguồn thu nhập: thường xuyên, không thường xuyên, và mọi hoạt động tiêu dùng xã hội Một nền tài chính quốc gia chỉ lành mạnh khi dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ nền kinh tế Nguồn thu đó chính
là thu nhập quốc dân nội địa Mọi sự trông cậy, dựa vào bên ngoài điều mang lại những hậu quả xấu và kéo dài
Nhằm đảm bảo nguồn vật chất cung ứng kịp thời cho nhu cầu chi thường xuyên, ngay cả khi nền kinh tế có những biến động không thuận lợi, thuế gián thu cần luôn được coi trọng, bởi tính ổn định của nó tốt hơn tính ổn định của thuế trực thu Thuế gián thu dựa trên cơ sở tiêu dùng xã hội mà xã hội thì không thể ngừng tiêu dùng cho
dù nền kinh tế bị khủng hoảng Việc coi trọng thuế gián thu còn xuất phát từ nguyên lý: đánh thế vào những gì mà người chịu thuế lấy đi của xã hội sẽ có tác dụng tốt hơn
là đánh vào những gì mà đối tượng chịu thuế nhập vào cho xã hội Hơn nữa, do cơ chế đánh thuế lồng vào giá bán nên thuế gián thu sẽ được người chịu thuế dễ dàng chấp nhận, đôi khi còn ‘kiêu hãnh’ khi trả giá cho sự tiêu dùng cao cấp của mình Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức,
Trang 12cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, hoặc được dung ứng dịch vụ, nên có thể tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước
Thông qua thuế, một phần tổng sản phẩm quốc nội được động viên để hình thành ngân sách nhà nước Tuy nhiên nếu nhà nước dùng sức mạnh để tái phân phối quá mức GDP thì phần thuộc về doanh nghiệp và gia đình giảm xuống Họ sẽ cảm thấy công sức
bỏ vào kinh doanh ngầm nhằm trốn thuế hoặc chấm dứt kinh doanh Nói cách khác, nếu nhà nước ngày càng tăng áp lực thu, người nộp thuế càng bị thôi thúc trốn thuế bởi một mãnh lực vô hình Do đó, khi tái phân phối thu nhập xã hội bằng thuế phải chú ý đến khả năng thụ thuế của từng doanh nghiệp và cá nhân
Khả năng thụ thuế là tỷ lệ tối đa từ thu nhập mà doanh nghiệp và người dân sẵn sàng trích ra để trả thuế mà không làm thay đổi hoạt động vốn của họ Đứng ở góc độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thụ thuế của một đất nước cho thấy tỷ phần bình quân của thu nhập xã hội được động viên thông qua thuế
Khả năng thụ thuế tùy thuộc vào bản chất và trạng thái kinh tế, truyền thống của mỗi quốc gia, sự hiểu biết và thái độ của dân chúng đối với các chương trình hành động và sức mạnh quyền lực của nhà nước Khả năng thụ thuế là một khái niệm lý thuyết được dùng để phân định ranh giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa khu vực công và khu vực tư Nếu nhà nước động viên thuế chưa đạt giới hạn khả năng thụ thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào tay nhà nước chưa thật đầy đủ Nếu nhà nước động viên vượt giới hạn khả năng thụ thuế thì sẽ bào mòn khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng tại doanh nghiệp và làm giảm sút số thu tương lai
1.2.2 Thuế GTGT tham gia điều chỉnh kinh tế vĩ mô
Bất kỳ loại thuế nào khi được ban hành đều ảnh hưởng đến các hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng, bởi nó động viên một phần thu nhập của những người này vào tay nhà nước Ngoài ra, thuế tác động trực tiếp đến các thành tố chính của kinh tế
vi mô như: tổng sản lượng kinh tế (GDP hoặc GNP), giá cả, lãi suất, thặng dư hoặc thâm hụt ngoại thương,… Thuế còn giữ một vị trí quan trọng trong các chính sách lớn của chính phủ: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tạo việc làm, chính sách ngoại thương, chính sách tiêu dùng – tiết kiệm – đầu tư xã hội…
Như vậy, thuế không chỉ tạo khoản thu chủ yếu cho Nhà nước mà còn được dùng như một công cụ điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô Có thể nói, thông qua thuế
Trang 13Tác động của thuế lên hoạt động kinh tế những đặc trưng:
- Phạm vi rộng: thuế bao trùm lên mọi hành vi kinh doanh trên toàn lãnh thổ;
- Trực tiếp: Thuế tác động thẳng vào chi phí, giá cả và thu nhập;
- Nhạy cảm: Thuế tác động vừa tức thời vừa lâu dài đến động thái kinh doanh, hành vi đầu tư và tiêu dùng
Vai trò kích thích kinh tế của thuế thể hiện đa dạng trên nhiều lĩnh vực Ở đây chỉ trình bày một số tác động cơ bản của thuế đến hoạt động kinh tế và hành vi của người
tiêu dùng
1.2.2.1 Thuế GTGT tác động đến cân bằng thị trường
Khi chính phủ đánh thuế, ngay lập tức, một áp lực xuất hiện và chi phối doanh nghiệp và dân chúng, khiến họ ít nhiều thay đổi hành vi của mình Tác động này ảnh hưởng đến cân bằng thị trường như sau Gọi PS là giá cung – giá mà người bán nhận được, Pd là giá cầu – giá mà người mua trả cho người bán Việc đặt ra các loại thuế như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ tạo ra một khoảng chênh lệch giữa giá cung và giá cầu Giả sử ta xét thuế GTGT và gọi t là thuế suất thì quan hệ giữa giá cung và giá cầu như Hình 1.1
Trang 14(S1) = (S0) + T
Cân bằng mới trên thị trường được thiết lập tại A (Q1, Pd
1) Sản lượng được mua, bán giảm một lượng Q giá mà người mua thanh toán cho người bán tăng từ P0 lên
Pd1 Giá mà người bán nhận được giảm từ P0 xuống Ps1
Ta vẫn có: Pd1 = Ps1 + T (T là số tiền thuế: T = t.P)
Tổng số thuế Nhà nước thu là diện tích hình chữ nhật APd1PS1E
Phần gánh chịu thuế (tax incidence) bởi người bán là diện tích CP0Ps1E Phần gánh chịu thuế bởi người mua là diện tích APd1P0C Người này hoặc người kia gánh chịu thuế nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào độ co giãn của cầu và cung theo giá
Thặng dư của người tiêu dùng (consumer surplus) bị giảm là diện tích ABC
Thặng dư của người sản xuất (producer surplus) bị giảm là diện tích BCE Tổng thặng
dư của hai người bị mất đi hoàn toàn không thuộc về ai cả, gọi là phần bị mất trắng (deadweight loss) hay mất mát xã hội (social loss) Phấn mất trắng do thuế gây ra là
diện tích ABE Độ lớn của phần mất trắng cũng phụ thuộc vòa độ co giãn của cầu vào cung theo giá
Trong thuế gián thu, người chịu ảnh hưởng đầu tiên là các doanh nghiệp, sau đó thuế được chuyển qua nhiều bậc đến người tiêu dùng, tạo hiện tượng chuyển thuế
Chuyển thuế xảy ra theo một trong ba trường hợp một là, doanh nghiệp chuyển hết
thuế vào người tiêu dùng bằng cách cộng thuế vào giá bán và người tiêu dùng mua với
giá cao hơn Trường hợp này gọi là thuận chuyển Hai là, doanh nghiệp chuyển một
phần thuế vào người tiêu dùng, nghĩa là gánh nặng thuế được san sẽ giữa hai người Ba
là, doanh nghiệp chịu toàn bộ gánh nặng thuế, tức là người mua chuyển tất cả số thuế
ngược lại cho người bán bằng cách mua giá thấp Trường hợp này gọi là nghịch
chuyển Ranh giới giữa chuyển thuế nghịch và chuyển thuế thuận không phải lúc nào
cũng mang ý nghĩa tuyệt đối mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác (độ co giãn của cung, cầu théo giá, cơ chế đánh thuế,…) (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5).
1.2.2.2 Thuế GTGT tác động đến yếu tố sản xuất
Thuế GTGT tác động trực tiếp đến việc sử dụng tư liệu lao động, nhất là tài sản
cố định So với tài sản lưu động, tài sản cố định đóng vai trò nền tảng của sản xuất, có giá trị đầu tư lớn nên chậm luân chuyển và kém linh hoạt Do đó, để khuyến khích các
Trang 15doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa công nghệ, nghiên cứu ứng dụng thành tựu mới của khoa học – kỹ thuật, các quốc gia thường dùng chính sách thuế ưu đãi trong lĩnh vực này Chẳng hạn, giảm hoặc miễn thuế GTGT đối với tài sản cố định nhập khẩu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được hoặc các loại vật tư hình thành nên tài sản cố định; miễn thuế GTGT cho các hoạt động của quỹ đầu tư, hoạt động cho thuê tài chính, qua đó khuyến khích đổi mới công nghệ tại các đơn vị sản xuất
Cùng với tài sản cố định, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất cũng được hưởng nhiều ưu đãi hoặc bảo hộ bằng thuế của Nhà nước, như miễn thuế GTGT đối với các nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu; nếu nguyên liệu sản xuất được trong nước thì Nhà nước cho hưởng chính sách bảo hộ Tuy nhiên, cũng cần chú ý mặt tiêu cực khi bảo hộ quá mức: làm suy giảm tính cạnh tranh và có thể gây ra tình trạng độc quyền
Thuế cũng tác động đến quá trình cung cấp một yếu tố đầu vào khác rất quan trọng cho nền kinh tế, đó là vốn Để khuyến khích quá trình cung ứng vốn, các quốc gia thường miễn thuế GTGT đánh vào dịch vụ tài chính, tín dụng, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và chuyển nhượng vốn góp…
Việc khấu trừ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, tích cực đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm
Thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế chồng lên thuế, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, qua đó kích thích đầu tư
1.2.2.3 Thuế GTGT tác động đến ngoại thương
Với thuế suất 0% cho hàng hóa xuất khẩu, toàn bộ thuế GTGT đầu vào được hoàn trả lại đơn vị xuất khẩu, có tác dụng giảm chi phí, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế Đây là một động lực mạnh mẽ đối với hoạt động xuất khẩu mà không một sắc thuế nào có thể tạo
ra
Thuế GTGT kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn với hàng nhập khẩu,
có tác dụng tích cực bảo vệ sản xuất, kinh doanh hàng nội địa
1.2.3 Thuế GTGT tác động đến ý thức xã hội
Trang 16Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nộp thuế Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tự tính thuế, tự kê khai, tự nộp thuế Từ đó, tạo được tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vụ kinh doanh không phải hiệp thương, thỏa thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải lập và lưu giữ chứng từ, hóa đơn đầy
đủ, nên việc thu thuế tương đối sát với thực tế hoạt động kinh doanh
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế Ở khâu bán lẻ, thường xảy ra trốn lậu thuế Người tiêu dùng không cần đòi hóa đơn, vì đối với họ không còn xảy ra việc khấu trừ thuế.Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều
1.2.4 Thuế GTGT điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Trong nền kinh tế thị trường thuần túy, việc phân phối của cải và thu nhập mang tính tập trung rất cao, tạo hai cực đối lập: cực thứ nhất gồm thiểu số người giàu một cách nhanh chóng; cực kia là những người còn lại không đạt được mức tiến bộ nào đáng kể về mức sống Tình hình trên không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa cao cả của sự phát triển kinh tế - xã hội Thực tế, sự phát triển mọi mặt của một đất nước là kết quả của nỗ lực cộng đồng; mỗi thành viên xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi người thì rõ ràng thiếu công bằng Do vậy cần phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội Một công cụ tác động trực tiếp vào quá trình này là chính sách thuế
Thuế GTGT góp phần điều hòa thu nhập xã hội được thực hiện Tuy nhiên do đặc tính lũy thóai nên nhà nước can thiệp vào bằng cách quy định về đối tượng chịu thuế
và đối tượng không chịu thuế, chế độ miễn giảm, thuế suất … nhằm thực hiện công bằng xã hội
Trang 17Nhìn chung, trong các sắc thuế gián thu, thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao về vai trò trong phát triển kinh tế
1.3 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng thuế GTGT hướng vào kích thích kinh tế 1.3.1 Tính minh bạch
Về mặt xã hội nguyên tắc này đòi hỏi các quy định về thuế phải rõ ràng và mang tính đại chúng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng đối với người nộp, ngăn ngừa hiện tượng tham ô và biển lận thuế ở nhân viên thuế, đồng thời cho thấy thái độ tôn trọng người nộp thuế của chính phủ Trong kinh doanh, thuế là một khỏan chi phí (nghĩa vụ) nhưng cũng có thể là một khoản ưu đãi (quyền lợi) Do đó, sự rõ ràng của thuế giúp các chủ thể kinh doanh hoạch định chính xác mọi chi phí về thuế và đánh giá đầy đủ ưu đãi của thuế Từ đó, họ cảm thấy yên tâm sản xuất, kinh doanh và mạnh dạn đầu tư lâu dài
Nguyên tắc minh bạch thể hiện cụ thể qua các điểm sau:
- Thuế phải được xây dựng theo một trình tự pháp lý nghiêm ngặt
- Nhà nước và các cơ quan hành thu phải tạo điều kiện để doanh nghiệp và dân chúng thực hiện quyền được biết một cách minh bạch số tiền thuế phải nộp, thủ tục thu, nộp thuế, ưu đãi về thuế, …
- Những quy định về thuế phải phổ thông và nhất quán; tính toán thuế phải đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra Điều mà bất kỳ người nào cũng nhận thức được là để chấp nhận được một sắc thuế, người nộp thuế phải hiểu được nó Khi mà tính phức tạp của sắc thuế mới gia tăng so với sắc thuế cũ thì sự hiểu biết của quần chúng giảm xuống, kết quả tất yếu là cản sự tăng của số thu
- Thuế thu phải thuận tiện cho người nộp theo thời gian và không gian
Trang 18hội, điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo hành lang cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư và tiết kiệm bên trong nền kinh tế, điều tiết hợp lý thu nhập của các doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư,… Tính đa mục tiêu không đòi hỏi mỗi sắc thuế phải được xây dựng theo hướng đa mục tiêu bởi như thế sẽ cồng kềnh và kém hiệu quả, mà trái lại, cần phải chuyên biệt hóa mục tiêu cho từng sắc thuế
Thêm nữa, hiệu quả của hệ thống thuế còn thể hiện thông qua chi phí hành thu thấp Chi phí này khác nhau ở mỗi sắc thuế, nhưng bình quân không nên vượt 1% số thuế thu được Tiết giảm chi phí thu thuế liên quan nhiều đến phương pháp hành thu Phương pháp tương đối tiết kiệm chi phí là để người nộp thuế tự khai, tự tính và nộp thuế
Trên phương diện nền kinh tế, phải tính vào chi phí thu thuế những chi phí mà xã hội mất đi cho một đồng thuế thu được vào ngân sách nhà nước Đó là chi phí thời gian
và công sức mà đối tượng nộp thuế phải bỏ ra để nghiên cứu thực thi thuế, là chi phí sắp xếp quá trình kinh doanh phù hợp những quy định thuế mới
1.3.3 Tính công bằng
Trên phương diện kinh tế, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế tái phân phối thu nhập xã hội theo khả năng tài chính của người chịu thuế Về mặt xã hội, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế không được phân biệt đối xử đối tượng nộp thuế và thuế phải góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Nguyên tắc công bằng có liên quan đến nguyên tắc thuế trung lập Nguyên tắc thuế trung lập đòi hỏi nhà nước không được nhân cơ hội đánh thuế để làm thay đổi tương quan thu nhập giữa các doanh nghiệp hoặc tình trạng kinh tế của mỗi công dân Thuế chỉ nên làm số thu nhập thường xuyên của tư nhân giảm xuống, rồi đến khi chi tiêu, nhà nước hoàn lại cho cá nhân bằng lợi ích của các dịch vụ do chính phủ cung cấp
Không chỉ hành thu thuế sao cho công bằng, mà ngay cả động viên bao nhiêu phần trăm GDP qua thuế cũng là một vấn đề thuộc lĩnh vực công bằng Nhà nước nắm quyền lực lượng công cộng, nên chiếm ưu thuế khi phân chia thu nhập với doanh nghiệp và dân cư Nếu nhà nước thu thuế vượt qua khả năng thụ thuế của doanh nghiệp
và dân cư thì không những chi phí để thu một đồng thuế sẽ vượt quá lợi ích do đồng
Trang 19thuế mang lại mà còn gây căng thẳng trong phân chia thu nhập giữa khu vực tư và khu vực công Điều này chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ đến bầu không khí kinh doanh trên phạm vi cả nước
Thuế GTGT là một loại thuế có tính chất lũy thoái và như vậy, tính công bằng của thuế GTGT được đề ra khó có thể được đáp ứng đầy đủ Ở đây, cần nên hiểu tiêu chuẩn này đối với thuế GTGT trên nghĩa hẹp là: các doanh nghiệp trong hoàn cảnh như nhau phải chịu thuế như nhau và các doanh nghiệp có khả năng thanh toán khác nhau phải bị đánh thuế khác nhau khi chịu thuế GTGT
1.3.4 Tính linh hoạt
Nguyên tắc linh hoạt đòi hỏi thuế gắn chặt hoạt động kinh tế, phản ánh thực sự những thăng trầm kinh tế và những biến động chính trị, xã hội Tính linh hoạt thể hiện qua độ nổi và độ co giãn của thuế (tax bouyancy and tax eláticity)
+ Độ nổi của thuế là tỷ số giữa phần trăm thay đổi tổng số thuế thu được với phần trăm thay đổi GDP Gọi % T là phần trăm thay đổi của tổng thu thuế năm nay so với năm trước và % Y là phần trăm thay đổi GDP năm nay so với năm trước, thì độ nổi của thuế được tính như sau:
Độ nổi của thuế = % T / % Y
Chẳng hạn, = % T là 7%và % Y là 5% thì độ nổi của thuế là 1,4 Điều này có nghĩa là cứ 1% tăng GDP thì tổng thu thuế tăng 1,4% Khi đó ta nói hệ thống thuế mang tính nổi: thuế được coi như chiếc lá trên mặt nước là nền kinh tế Nếu những thay đổi về cơ sở thuế hoặc thuế suất hoặc cả hai khiến tổng thu thuế tăng theo nhịp độ bằng hoặc lớn hơn nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế thì khi đó chiếc lá – thuế sẽ nổi trên bề mặt của nền kinh tế Nếu những thay đổi về cơ sở thuế hoặc thuế suất hoặc cả hai không làm tổng thu thuế gia tăng hoặc tăng không kịp GDP thì chiếc lá – thuế không nổi được ( độ nổi 1 ) Như vậy, độ nổi phản ánh độ quyện chặt của thuế vào hoạt động kinh tế
Miễn, giảm thuế sẽ gây ảnh hưởng nguy hiểm đến độ nổi của thuế Tức là, nếu căn bản thuế bị sói mòn do quy định này thì số thuế thu được không thể tăng cùng một
tỷ lệ GDP Hơn nữa, sự lạm dụng chính sách đó sẽ làm suy yếu tính cưỡng chế của thuế và gây ra trạng thái bất bình đẳng thuế
Trang 20+ Độ co giãn của thuế là tỷ số giữa phần trăm thay đổi tổng thu thuế với phần trăm thay đổi GDP Tổng thu thuế dùng để tính độ co giãn không được bao gồm các khoản thu do thay đổi cơ sở thuế hoặc thuế suất hoặc cả hai Độ co giãn của thuế là một số đo nhạy cảm của thuế trước những thay đổi của nền kinh tế Gọi % T* là phần trăm thay đổi tổng thu thuế không tính đến thay đổi cơ sở thuế hoặc thuế suất hoặc cả hai và % Y là phần trăm thay đổi GDP, độ co giãn của thuế được tính như sau
Độ co giãn của thuế = % *
%
T Y
Δ
=Δ
Độ co giãn thuế khó tính hơn độ nổi của thuế bởi phải loại trừ thay đổi cơ sơ thuế hoặc thuế suất hoặc cả hai Độ co giãn thuế thường nhỏ dưới độ nổi của thuế
Như vậy, tình trạng không nổi được hoặc nổi quá mức của thuế phản ánh tình trạng thuế thoát ly hoạt động kinh tế Khi đó không thể bàn đến vai trò kích thích kinh
tế của thuế
Ngoài độ nổi và độ co giãn, nguyên tắc linh hoạt còn đòi hỏi khi đưa ra các quy định, pháp luật thuế phải tiên liệu mọi phát sinh hay thay đổi của căn bản thuế, khi đó thuế sẽ đạt một độ ổn định trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy chính sự linh hoạt của thuế làm cho những quy định về thuế ổn định Điều này, không chỉ giúp nhà nước tiết kiệm chi phí hành thu mà còn giúp các doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức cho việc thực thi thuế
1.3.5 Tính chắc chắn
Tiêu chuẩn này đòi hỏi thuế GTGT phải ổn định tương đối, có thể dự kiến trước được để cho người nộp thuế - bao gồm các thể nhân và pháp nhân- không phải do đối phó thường xuyên với nhà nước về việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế mà có thể tập trung vào các hoạt động nhằm thăng tiến hoạt động kinh doanh hoặc cá nhân Một mô hình thuế GTGT đáp ứng được tiêu chuẩn chắc chắn này phải có những đặc điểm sau:
Thuế suất phải được ổn định cho một khoảng thời gian dài ít nhất là 5 năm Thời hạn này trong nhiều trường hợp có thể là yên tâm các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đó cũng là khoảng thời gian tương đối vừa đủ cho các doanh nghiệp hoạt động kém phải cảnh giác với tương lai phá sản đang tới
Tính chất ổn định và rõ ràng, tuy vậy cũng không nên đối lập hẳn với tính linh hoạt của hệ thống thuế Bởi nền kinh tế là một thể thống nhất, luôn luôn vận động và
Trang 21tạo ra những môi trường mới cho việc cải cách thuế Cả hai tính chất chắc chắn và linh hoạt cần được cân đối với nhau Tính linh hoạt được đặt ra bởi các lý do về mặt kinh tế
và cả về mặt chính trị quyết định Nếu một chính sách về thuế GTGT được sử dụng để
ổn định nền kinh tế thì nó phải có được khả năng làm thay đổi thuế suất và nguồn thu nhằm điều chỉnh được thu nhập hiện tại cũng như tác động đến tổng mức cầu
1.4 Một số mâu thuẫn nảy sinh khi sử dụng công cụ thuế trong phát triển kinh
họ “tự nguyện” nộp thuế, tức là họ hành động theo lý tính
Một khi chế độ thuế khiến người nộp thuế hành động theo lý tính, thì mâu thuẫn nói trên sẽ được hóa giải
1.4.2 Mâu thuẫn giữa chủ trương hội nhập các khối thương mại, kinh tế trong khu vực và trên thế giới với chính sách bảo hộ sản xuất nội địa
Mỗi nước đối với cộng đồng vừa là người bán vừa là người mua, nên sự tồn tại của các nước cần thiết cho nhau Mỗi nước không thể phát triển mạnh mẽ và bền vững nếu dựa trên các quan hệ kinh tế bất bình đẳng, xâm hại lợi ích của nhau Khi hiểu tính liên kết để tồn tại là một tất yếu, chúng ta sẽ thấy rằng chính sách thuế đương nhiên là những bước dẫn nhập đầu tiên cho quá trình hội nhập Trong quá trình này thuế tạo sân chơi bình đẳng cho cả DN nội địa lẫn nước ngoài và không phân biệt đối xử hàng trong nước hay hàng nhập khẩu Muốn tồn tại, các DN chỉ còn một cách duy nhất là cạnh tranh đúng luật bằng chính nội lực của mình, chứ không thể trông chờ Nhà nước bảo
hộ bằng thuế như trước
Trang 22Đồng thời, nếu không có chính sách bảo hộ sản xuất nội địa thì các ngành công nghiệp non trẻ của quốc gia (như: công nghiệp điện tử, công nghệ sinh học, công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp thông tin, công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng) khó đứng vững trước những đợt cạnh tranh gay gắt từ nước ngoài Nhưng nếu dùng thuế để bảo hộ lâu dài, một quốc gia sẽ bị cô lập với thế giới bên ngoài và chắc chắn bị tụt hậu Mâu thuẫn này được khắc phục bằng cách thay đổi cơ cấu thuế theo hướng nội địa hóa nguồn thu, tức là từng bước giảm thấp tỷ trọng thuế xuất – nhập khẩu trong tổng thuế
1.4.3 Mâu thuẫn giữa chủ trương ưu đãi thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư với chủ trương tạo hành lang thuế bình đẳng, trung lập
Chính sách thuế ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến thu hút đầu tư vào các quốc gia Nhưng càng về sau, bất kể Chính phủ tăng nhiều biện pháp ưu đãi như: kéo dài thời gian giảm thuế, mở rộng diện miễn thuế nhập khẩu,… tình hình đầu tư nước ngoài vẫn không nhộn nhịp như giai đoạn trước Tình
hình trên cho phép nhận định rằng, nếu chỉ chú trọng đến thuế mà bỏ qua các công cụ
kinh tế mà hành chính khác thì không những chưa đủ hiệu lực để lôi kéo trở lại nhà đầu
tư nước ngoài mà còn cản trở sự phát triển của đầu tư trong nước Nhà đầu tư nội địa
bị đối xử bất bình đẳng lâu dài ngay trên đất nước của mình là một nghịch lý khó biện minh Vậy giải quyết như thế nào giữa ưu đãi thuế để thu hút đầu tư nước ngoài và bình đẳng thuế để khơi nguồn vốn nội địa?
Ba mâu thuẫn nói trên thực chất xuất phát từ mâu thuẫn giữa tính hiệu quả và tính
công bằng (efficiency vs equity) trong quá trình sử dụng thuế Chúng đòi hỏi phải chọn
lựa và bắt buộc chấp nhận đánh đổi Cơ sở lý luận cho sự đánh đổi những phân tích về
hiệu quả (chứ không phải kết quả) và chi phí của một biện pháp thuế đưa ra
1.5 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới khi áp dụng thuế GTGT
Người đầu tiên nghĩ ra thuế GTGT là ông Carl Friedrich Von Siemens (người Đức, là thành viên của gia đình sáng lập Công ty Siemens A.G), tuy nhiên, ông không thuyết phục được chính phủ Đức lúc bấy giờ (1918) thực thi loại thuế này, mà mãi đến năm 1968 thuế GTGT mới được áp dụng ở Đức
Trên thực tế, thuế GTGT được khai sinh từ nước Pháp Vào năm 1954, chính phủ Pháp đã ban hành một loại thuế mới với tên gọi là thuế GTGT để thay thế cho thuế
Trang 23doanh thu hiện hành (phát hiện sự cần thiết đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế Pháp là ông Maurice Laure, một cán bộ thuế)
Tính đến nay đã có trên 120 quốc gia trên thế giới đã áp dụng sắc thuế này Tuy nhiên, về tên gọi ở một số nước có thể không giống nhau, chẳng hạn như: các nước Pháp, Anh, Thụy Điển… thì gọi là thuế GTGT, một số nước gọi là thuế hàng hóa và dịch vụ như: Canada, Niu di lân…, ở Phần Lan, Áo, Đức… vẫn dùng tên gọi cũ là thuế doanh thu cũ, chỉ thay đổi nội dung và biện pháp thu
Khi nói đến kinh nghiệm là phải dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhưng tổng kết kinh nghiệm áp dụng thuế GTGT của các nước là việc khó thực hiện Trong nội dung phần này, đề tài cũng chỉ nêu lên những nét cơ bản của Luật thuế GTGT được áp dụng ở một số nước trên thế giới, qua đó rút ra những điểm cơ bản về nội dung có thể vận dụng vào điều kiện của Việt Nam hiện nay
1.5.1 Kinh nghiệm ở Thụy Điển về việc qui định áp dụng một thuế suất
Ngay từ khi áp dụng thuế GTGT (01/01/1960), Thụy Điển đã áp dụng một thuế suất là 4%, sau đó lại mở rộng áp dụng ba mức thuế suất là 4%, 12%, 20% Nhưng kể
từ ngày 01/01/1991 cho đến nay, Thụy Điển áp dụng một thuế suất duy nhất là 25%, đánh vào tất cả các hàng hóa, dịch vụ (trừ những loại ngành hàng và dịch vụ qui định được miễn thuế GTGT như giáo dục, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, hội họa,
mỹ thuật, sách báo, tạp chí, dịch vụ tang lễ…)
Như vậy, xu hướng thuế suất của Thụy Điển là ngày càng cao và ít thuế suất, không phân biệt ngành hàng, mặt hàng Tuy nhiên, điều kiện áp dụng của Thụy Điển là
hệ thống thuế của họ đã có từ lâu đời, được tổ chức tập trung, thống nhất và việc thu thuế đã trở thành nề nếp, áp dụng kỹ thuật hiện đại Hơn nữa, Thụy Điển là một nước
có nền kinh tế phát triển cao, nhân dân Thụy Điển đã quen với sự quản lý nhà nước bằng Pháp luật, tinh thần tự giác chấp hành luật thuế rất cao, các cơ sở nộp thuế GTGT luôn chấp hành tốt chế độ kê khai và mở sổ sách kế toán, sử dụng hóa đơn đầy đủ
Ở Việt Nam, hiện nay với một nền kinh tế phát triển chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật còn thấp Do đó, khi rút kinh nghiệm cần quan tâm đến các nội dung:
- Nếu quy định nhiều mức thuế suất thì việc áp dụng sẽ rất phức tạp, khó thực hiện Vì vậy cần hướng đến một thuế suất GTGT duy nhất và mức thuế suất điều chỉnh cần hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
Trang 24- Cần phải quan tâm đến công tác tuyên truyền về pháp luật, nhất là pháp luật về thuế để nâng cao ý thức chấp hành về thuế trong nhân dân khi triển khai thực hịên Có
như thế thì mới thực hiện thuế GTGT một cách có hiệu quả
1.5.2 Kinh nghiệm của Indonesia về việc tổ chức thực hiện Luật thuế GTGT theo từng bước và mở rộng dần diện chịu thuế
Trước khi áp dụng thuế GTGT, Indonesia cũng đã vận dụng kinh nghiệm của những nước đi trước nhưng họ luôn coi trọng đặc điểm kinh tế xã hội ở nước mình để từng bước thực hiện sao cho phù hợp Thuế GTGT của Indonesia tương đối đơn giản,
áp dụng ít thuế suất, với thuế suất thấp và các qui định miễn giảm chặt chẽ Luật thuế chỉ qui định hai thuế suất: 0% áp dụng đối với xuất khẩu, còn đối với tất cả các loại hàng, hóa, dịch vụ khác áp dụng thuế suất 10% Những hàng hóa, dịch vụ miễn giảm được qui định rất cụ thể
Thời gian đầu thực hiện triển khai Luật thuế GTGT, do trình độ quản lý của cán
bộ thuế chưa cao và nhận thức của người nộp thuế còn nhiều hạn chế nên để phù hợp với khả năng nhận thức, Chính phủ Indonesia đã có kế hoạch tổ chức thực hiện thuế GTGT theo từng bước Thời gian áp dụng thuế GTGT cho từng đối tượng cụ thể như sau:
- Năm 1985 áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, dịch vụ và người nhập khẩu, sau đó mở rộng đến các Tổng địa lý bao tiêu sản phẩm, dịch vụ
- Năm 1989 áp dụng đến các Địa lý bán buôn
- Năm 1992 áp dụng đến các cửa hang bán lẻ và người tiêu dùng
Tóm lại, ở Indonesia đã tổ chức thực hiện luật thuế GTGT theo từng bước và mở rộng dần diện chịu thuế GTGT, trong thời gian cụ thể sẽ có những đối tượng không áp dụng thuế GTGT Có như vậy, cán bộ thuế có đủ thời gian thích nghi với luật thuế mới,
có điều kiện nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh luật thuế phù hợp với thực tế Tuy nhiên, điểm yếu của việc điều chỉnh dần đối tượng chịu thuế theo cách triển khai này là dễ gây ra thất thu cho ngân sách, không đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế
1.5.3 Kinh nghiệm của Pháp về đối tượng áp dụng thuế GTGT
Thời gian đầu áp dụng, Luật thuế GTGT áp dụng tại Pháp có 04 thuế suất: 9%, 20%, 25% và 33%, đến nay nhằm phù hợp với thuế suất theo cộng đồng Châu Âu, Pháp áp dụng còn 02 mức thuế suất là 18,6% đánh vào tất cả các hàng hóa, dịch vụ và
Trang 255,5% đánh vào các sản phẩm hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa dịch vụ hoặc gia công theo qui định cụ thể, hàng xuất khẩu sẽ được miễn thuế GTGT Các đối tượng thuộc diện nộp thuế GTGT phải thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách, chứng từ hóa đơn đúng qui định, phải có nghĩa vụ khai báo và nộp thuế cho cơ quan thuế Ngoài ra, tại Pháp cũng qui định về thuế khoán thu thuế với mức ấn định áp dụng đối với những cơ sở kinh doanh thuộc lại vừa và nhỏ có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng chịu thuế GTGT mà nhà nước qui định
Như vậy, rút kinh nghiệm từ Pháp, khi thực hiện Luật thuế GTGT, Việt Nam cần xem xét các vấn đề:
- Chỉ áp dụng thuế GTGT đối với những cơ sở kinh doanh lớn, mở sổ sách kế toán và sử dụng hóa đơn chứng từ đúng qui định của Luật
- Đối với những hộ vừa và nhỏ có doanh thu hàng năm thấp không đạt đến ngưỡng phải đưa vào diện chịu thuế GTGT hoặc vi phạm về chế độ kế toán chứng từ hóa đơn thì chuyển sang diện thu thuế khoán theo tỉ lệ ấn định trên doanh thu nhằm tránh việc thất thu đối với các hộ này Nhà nước phải qui định cụ thể ngưỡng doanh thu chịu thuế GTGT áp dụng phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh và trình độ phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn
Từ sự phân tích về những bài học kinh nghiệm của một số nước khi áp dụng thuế GTGT, chúng ta có thể rút ra những nhận xét chung và có thể coi đó là những bài học cơ bản để đảm bảo sự thành công của luật thuế GTGT
Thứ nhất, phải áp dụng thuế GTGT trên phạm vi rộng từ sản xuất, lưu thông
cho đến tiêu dùng không phân biệt hàng hóa sản xuất trong nước hay nhập khẩu Tuy nhiên, đối với những cá nhân, hộ kinh doanh nhỏ có doanh thu hàng năm phát sinh thấp thì vẫn áp dụng hình thức ấn định thuế không nên đưa vào diện nộp thuế GTGT vì điều này sẽ dẫn đến hiệu quả quản lý thuế thấp và chưa tập trung
Thứ hai, chỉ nên áp dụng một hoặc hai thuế suất và trong hai thuế suất đó có
một thuế suất là 0% nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các cơ sở kinh doanh, đảm bảo được tính đơn giản của Luật thuế và dễ áp dụng
Thứ ba, phải chú trọng đến công tác tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về thuế
và nhất là thuế GTGT nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người công dân
Trang 26Đồng thời, trong quá trình triển khai thực hiện, chúng ta cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước
Thứ tư, tăng cường quản lý chặt chẽ hóa đơn, sổ sách kế toán làm cơ sở cho
việc khấu trừ thuế được chính xác, tránh tình trạng gian lận tiền thuế trong khấu trừ và hoàn thuế GTGT
Cuối cùng, ngành thuế phải chủ động xây dựng qui trình quản lý thuế khoa học
trên cơ sở sử dụng các công nghệ thông tin hiện đại Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo huấn luyện các bộ thuế thực hiện thuế GTGT
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Những nghiên cứu về lý thuyết đã chỉ ra rằng thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến có nhiều chức năng và vai trò quan trọng Trong đó, xuất phát từ bản chất, chức năng hàng đầu của thuế là tái phân phối thu nhập xã hội – còn gọi là chức năng thu
ngân sách và chức năng thứ hai: điều tiết kinh tế vĩ mô
Xu thế các nước chuyển sang áp dụng thuế GTGT ngày càng nhiều, từ những nước có nền kinh tế phát triển đến những nước kém phát triển như là một minh chứng cho những ưu việt mà sắc thuế này mang lại cho nền kinh tế cũng như ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, để phát huy hết ưu điểm này cần phải xây dựng chính sách thuế
GTGT hướng vào kích thích kinh tế dựa trên các nguyên tắc quan trọng là tính minh
bạch, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính chắc chắn
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, thuế GTGT nói riêng và chính sách thuế nói chung không thể tách khỏi hoạt động kinh tế Từ một công cụ tài chính – công cụ thu ngân sách nhà nước; thuế GTGT được sử dụng để trở thành một công cụ kinh tế với những đặc trưng: toàn diện, trực tiếp và nhạy cảm Điều này đang được xã hội đón nhận như một thành tố khách quan của thực tiễn kinh tế
Trang 272.1 Khái quát quá trình ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình thí điểm thuế GTGT ở Việt Nam năm 1993
Căn cứ Nghị quyết của Quốc Hội khóa IX, kỳ họp thứ hai ngày 23/12/1992 Thuế GTGT được thực hiện thí điểm từ tháng 9/1993 Bước đầu chỉ chọn áp dụng ở một số DN quốc doanh thuộc các ngành sản xuất có quá trình luân chuyển từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm thường phải qua nhiều công đoạn, thuế doanh thu thường tính trùng lắp, cụ thể là các ngành: Sản xuất xi măng; Sản xuất sợi, dệt; Sản xuất đường; đối với 11 DN gồm: Cty dệt kim Đông Xuân; Cty dệt vải công nghiệp; Cty dệt Hà Đông; Nhà máy dệt Đông Phương; Nhà máy dệt Phước Long; Nhà máy dệt Đông Á; Nhà máy đường Khánh Hội; Nhà máy đường Biên Hòa; Nhà máy đường La Ngà; Nhà máy đường Lam Sơn; Nhà máy xi măng Bỉm Sơn
Qua kết quả thực hiện thí điểm thuế GTGT năm 1993, Chính phủ đã rút ra được một số kết luận sau:
- Thuế GTGT làm thí điểm trong phạm vi hẹp ở một số ít DN đã không thành
công, không phát huy được các ưu điểm và tác dụng của chính sách thuế này vì:
+ Hoạt động sản xuất – kinh doanh của các DN trong nền kinh tế có quan hệ và tác động lẫn nhau, từ quá trình cung cấp nguyên, vật liệu tới sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Nếu cắt khúc làm thí điểm thuế GTGT ở một số ngành hay một số ít DN, sẽ làm cho việc thực hiện chính sách này không đồng nhất và tất yếu dẫn tới những bất lợi cho các DN làm thí điểm
+ Chưa có tác động thúc đẩy các DN thực hiện tốt việc mua, bán có hóa đơn, chứng từ, thiếu cơ sở tính toán khấu trừ thuế Do làm thí điểm trong phạm vi hẹp nên trên các hóa đơn chưa phản ánh rõ khoản thuế làm cơ sở xác định số thuế phải nộp và
số thuế được khấu trừ; mặt khác, các đơn vị không áp dụng thuế GTGT mua sản phẩm của các đơn vị làm thí điểm thuế GTGT cũng không quan tâm tới việc có ghi hay không ghi số thuế GTGT trên hóa đơn, vì họ cũng không được tính khấu trừ khoản thuế này
- Áp dụng thí điểm thuế GTGT ở ít DN nên không ảnh hưởng tới số thu ngân
sách, giá cả và công tác quản lý thu của ngành thuế, đồng thời cũng hạn chế các tác động tích cực của thuế GTGT như:
Trang 28+ Do chưa áp dụng thí điểm đối với khâu nhập khẩu và thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu, nên chưa thấy được mặt tích cực của chính sách thuế này là tập trung thu ngay từ khâu đầu, hạn chế thất thu, đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT, đồng thời, chưa khuyến khích đối với hoạt động xuất khẩu
+ Chưa đòi hỏi phải xem xét sửa đổi các chính sách thuế liên quan như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa xây dựng hệ thống chính sách thuế phù hợp, có hiệu quả hơn
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam khi triển khai và thực hiện thuế GTGT
Sau nhiều lần hoàn chỉnh dự thảo thông qua ý kiến đóng góp của các Tổng Cty, Cty kiểm toán và cơ quan nghiên cứu, dự thảo Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9được trình Quốc hội và đã được thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa IX ngày 10/5/1997, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế doanh thu Đến ngày 17/6/2003 Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2004) sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 1997 ra đời
2.1.2.1 Điều kiện thuận lợi
- Chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở các nước, mà đặc biệt là ở những nước trong khu vực, là những nước có điều kiện kinh
tế - chính trị, xã hội tương tự như nước ta
- Trong cuộc cải cách thuế Bước 1, nước ta đã chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh
tế không có thuế sang cơ chế quản lý kinh tế bằng công cụ thuế là chủ yếu, đặc biệt là việc ban hành các Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
đã làm cho các DN cần thiết phải nâng cao trình độ quản lý tài chính tại đơn vị mình,
từ đó góp phần tạo thói quen trong việc quản lý và sử dụng hóa đơn, chứng từ và ứng dụng công nghệ tin học trong công tác hạch toán kế toán
- Nền kinh tế từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và đi vào thế ổn định + GDP tăng trưởng, mặc dù không nhanh như giai đoạn 1992 – 1995 song vẫn thuộc loại trung bình của Khu vực và bắt đầu tăng trưởng trở lại từ năm 2000; + Công nghiệp đã có bước nhảy vọt với tốc độ phát triển hai chữ số suốt mười năm (từ năm 1991 đến 2000), trở thành lĩnh vực năng động nhất, đóng góp nhiều
Trang 29nhất cho sự tăng trưởng GDP và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: dịch
vụ - công nghiệp – nông nghiệp;
+ Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản được Nhà nước đặc biệt chú trọng, nhất là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tàng kinh tế, tỷ lệ đầu tư so vớ GDP đạt xấp xỉ 28,7%, khá cao so với các quốc gia nội vực, trong đó, phải kể đến ảnh hưởng to lớn của vốn từ các hình thức đầu tư nước ngoài;
+ Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã phát triển rất mạnh
- Tình hình chính trị nước ta luôn ổn định; lòng tin của dân chúng vào các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ngày càng bền chắc Trên lĩnh vực tài chính, Chính phủ quan tâm thực sự đến cải cách thuế, xem đây là một công cụ chính sách sắc bén, tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh Toàn xã hội cũng quan tâm đến thuế; ý niệm thuế dần hình thành trong mỗi công dân
2.1.2.2 Yếu tố bất lợi
- Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực đã làm cho tốc
độ phát triển kinh tế chậm lại trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT Tỉ lệ tăng trưởng GDP giảm sút liên tục từ năm 1995 đến cuối năm 1999 Nếu như tỉ lệ tăng trưởng GDP năm 1995 là 9,5% thì năm 1998 giảm xuống 5,8% và chỉ còn 4,8% năm
1999 Năng lực cạnh tranh quốc gia kém Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEL) thì Việt Nam đứng thứ 49 trong 53 nước được xếp hạng trong năm 1997; thứ 39/53 trong năm 1998; thứ 53/59 trong năm 1999; thứ 62/72 trong năm 2001 và thứ 65/80 trong năm 2002
- Môi trường pháp luật của chúng ta tuy đã được quan tâm và ngày càng hoàn thiện nhưng hệ thống văn bản pháp luật chưa được đồng bộ, còn chống chéo, phức tạp
mà lại thiếu những chế tài theo luật định Ví dụ như: Luật doanh nghịêp qui định về điều kiện đăng ký kinh doanh hết sức thông thoáng nhưng Luật hình sự hiện nay lại quá lạc hậu đã không điều chỉnh hết các hành vi vi phạm mới về mua bán, sử dụng hóa đơn không hợp pháp… Điều này, đã tạo rất nhiều kẽ hở để lợi dụng trốn thuế, nhưng khi phát hiện lại thiếu những chế tài xử lý để ngăn chặn
- Tăng trưởng về tiêu dùng không ổn định, việc mở rộng tiêu dùng hết sức khó khăn Đây là kết quả của việc gởi tiết kiệm, đầu tư nhiều, thu nhập thấp từ lâu cho đến nay, cụ thể năm 80 tỷ lệ đầu tư 35,3% năm 1993 – 1998 tăng lên 40,2% và tỷ lệ tiêu
Trang 30dùng cuối cùng cũng từ 65,1% xuống 58,2% Điều này đã làm cho nhu cầu về tiêu dùng của nước ta suy giảm, quy mô tiêu dùng thì nhỏ, lẻ với thói quen tiêu dùng hoặc mua bán trao đổi hàng hóa không dùng hóa đơn, chứng từ
- Trình độ thanh toán của nền kinh tế còn rất lạc hậu, chủ yếu là dùng phương thức thanh toán bằng tiền mặt Phương thức thanh toán thông qua Ngân hàng vẫn chưa được xem là phương thức thông dụng và hiệu quả đối với đa số người dân Theo báo cáo ước tính của ngành ngân hàng, hiện nay vẫn có đến 40% khối lượng thanh toán còn được thực hiện bằng tiền mặt, trong khi các nước trên thế giới tỷ lệ này chỉ từ 10 – 15%
- Hoạt động kế toán và kiểm toán hiện đang còn thiếu khuôn khổ về môi trường pháp lý (Luật kế toán vừa mới được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004) Các chế độ chuẩn mực kế toán còn chưa đầy đủ (chỉ mới có 10 chuẩn mực) Chất lượng thông tin kế toán chưa cao, chưa theo kịp các qui định trong quản lý thuế hiện đại và của một số nước đầu tư vào Việt Nam
- Trình độ nhận thức của người dân về thuế và ý thức tuân thủ pháp luật thuế chưa cao Việc trốn thuế, vi phạm pháp luật về thuế vẫn chưa được lên án mạnh mẽ và nghiêm trị Người nộp thuế luôn nhấn mạnh “nghĩa vụ” nộp thuế mà không biết hoặc không quan tâm đến “quyền” nộp thuế Hơn nữa, việc trang bị kỹ thuật, trình độ cán bộ thuế còn thiếu và yếu đã làm cho trình độ bộ máy quản lý thuế chưa đáp ứng được yêu cầu trong quản lý thuế hiện đại
2.1.3 Sự cần thiết phải sử dụng thuế GTGT thay thế thuế Doanh thu
Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp thuế Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh cuả sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trước Ðiều đó mang tính bất hợp
lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá
Công thức tính thuế doanh thu như sau:
Thuế doanh thu = Doanh thu tính thuế x Thuế suất doanh thu
Trang 31Doanh thu tính thuế là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp có được khi bán hàng
hóa hoặc cung cấp dịch vụ Doanh thu tính thuế có ba đặc điểm cơ bản: chưa trừ bất kỳ một khoản chi phí nào, kể cả thuế doanh thu; đã hạch toán vào kết quả kinh doanh trong kỳ; và không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Tùy theo từng hoạt động kinh doanh cụ thể mà doanh thu tính thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cước vận tải, tiền hoa hồng, tổng giá trị công trình xây lắp, hoặc tiền dịch vụ (kể cả phụ thu)
Thuế suất của thuế doanh thu áp dụng chung cho các doanh nghiệp theo ngành nghề như sau (thuế suất cuối cùng trước khi chuyển sang thuế giá trị gia tăng)
- Thuế suất của ngành sản xuất gồm: 0%, 0,5%, 1%, 2%, 4%, 6%, 8% và 10%;
- Thuế suất của ngành vận tải: 0%, 0,5%, 1%, 2%, và 4%;
- Thuế suất của ngành xây dựng: 4% và 6%;
- Thuế suất của ngành thương nghiệp: 1%, 2%, 4%, 10% và 15%;
- Thuế suất của ngành ăn uống: 6% và 10%
- Thuế suất của ngành dịch vụ: 0%, 0,5%, 1%, 2%, 4%, 6%, 8%, 10%, 15%, 20%
và 30%
Qua thời gian sử dụng lâu dài, thuế doanh thu đã bộc lộ những bất hợp lý không thể chấp nhận được nền kinh tế đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đó là:
- Thứ nhất, dù đơn giản nhưng phương pháp tính bất hợp lý đã gây ra tình trạng
trùng thuế biểu hiện qua ba góc độ: thuế đánh lên chính nó, thuế khâu sau đánh lên
thuế khâu trước và thuế khâu sau đánh lên phần giá trị đã chịu thuế Nguyên nhân trùng thuế là cơ sở tính thuế bao gồm mọi khoản phí tổn kể các thuế doanh thu Hậu quả là tạo cảm giác nặng nề cho cả người nộp lẫn người chịu thuế
- Thứ hai, mặc dù chồng lên nhau ở các khâu, nhưng thuế thu một cách độc lập
giữa các khâu, khiến quá trình hành thu kém hiệu quả: vừa tốn nhiều thời gian, chi phí vừa tạo nhiều kẽ hở trốn thuế do thiếu áp lực kiểm soát của xã hội
- Thứ ba¸đa mục tiêu nên đa thuế suất, dẫn đến kém công bằng Do chứa đựng
nhiều mục tiêu: vừa tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước vừa thực hiện chính sách
xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô, nên thuế suất của thuế doanh thu gồm nhiều mức và
phân biệt đối với từng ngành nghề kinh doanh, từng sản phẩm Điều này khiến thuế
doanh thu mất vai trò trung lập và thực thi kém hiệu quả các mục tiêu đặt ra Thêm
Trang 32nữa, chế độ miễn thuế, giảm thuế, mặc dù Luật không đặt ra, song trên thực tế lại xét duyệt tương đối dễ, đã làm suy giảm tính pháp lý của thuế doanh thu và gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế
- Thứ tư, thuế doanh thu vẫn phát sinh bất kể doanh nghiệp bán thấp dưới giá
Việc sử dụng thuế giá trị gia tăng đã khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu và tiếp tục cải thiện môi trường thuế, thể hiện ở các điểm sau:
- Hệ thống thuế suất của thuế GTGT đơn giản hệ thống thuế suất thuế doanh thu nên góp phần gia tăng tính trung lập của thuế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sắp xếp sản xuất theo hướng chuyên môn hóa
- Diện khấu trừ thuế GTGT đầu vào ngày càng mở rộng, đã tạo hành lang liên thông giữa mọi doanh nghiệp;
- Cơ chế vận hành của thuế GTGT tạo ra tiềm năng chống trốn thuế: những doanh nghiệp nào trước đây trốn thuế do kẽ hở của thuế doanh thu thì nay không còn
cơ hội đó nữa Như vậy nghĩa vụ nộp thuế được thực thi đồng đều hơn, hay nói cách
khác, các điểm rò rỉ thuế được bít kín hơn Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện
căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế
- Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản
lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu
- Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ
Trang 33giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế
- Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa
- Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả người nộp thuế Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế Từ đó, tạo tâm lý
và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi
vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế GTGT vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế
độ hoá đơn, chứng từ
- Việc khấu trừ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm
Trang 34- Thuế GTGT có ít thuế suất nên người tiêu dùng có thu nhập cao hay thấp thường phải nộp thuế giống nhau, thuế mang tính lũy thoái Tỷ lệ động viên qua thuế GTGT với người có thu nhập thấp lại lớn hơn tỷ lệ động việc đối với người có thu nhập cao, thuế không bảo đảm yêu cầu công bằng trong chính sách động viên giữa người nghèo và người giàu
- Giữa lý luận và thực tế, thuế GTGT cũng có những điểm chưa được nhất quán Thuế GTGT đánh trên phần trị giá tăng thêm nhưng đối với một số ngành dịch vụ (như phục vụ, sửa chữa, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học), cách đánh thuế và khấu trừ thuế GTGT như thế nào là hợp lý? Đối với tài sản cố định, mức khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào thế nào là thỏa đáng… Những vấn đề này là nội dung tranh luận trong nhiều cuộc hội thảo trên thế giới, nhưng đến nay ở nhiều nước vẫn có những quan điểm
và cách xử lý rất khác nhau
- Thuế GTGT có ưu điểm về tính trung lập rất cao Đồng thời cũng lại có nhược điểm là thiếu linh hoạt, mềm dẻo, không thật thích hợp với nền kinh tế mới bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia
Từ những nhược điểm trên, thuế GTGT đã bị phản ứng và không được chấp nhận một cách dễ dàng Ví dụ: ở Nhật Bản, thuế GTGT đã thành đề tài tranh luận gay gắt trong quá trình nghiên cứu, thậm chí còn bị phê phán kịch liệt, nên mặc dù đã có đề xuất ban hành từ năm 1955, nhưng cho đến năm 1988 mới được Quốc Hội Nhật Bản thông qua Ở Úc và Niu Di Lân, thuế GTGT cũng đã bị bác bỏ tại các cuộc tranh luận trong nhiều năm đầu thập kỷ 80 Khi gia nhập khối Cộng đồng Châu Âu năm 1981, Hy Lạp đã đồng ý ban hành thuế GTGT, nhưng lại tìm nhiều lý do để trì hoãn cho đến năm
1987 mới chính thức ban hành Đến nay, thuế GTGT vẫn còn gặp nhiều phản ứng của một số nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ, Úc … Vấn đề nổi lên ở đây là tính lũy thoái của thuế GTGT Ở Mỹ, người ta đã tính thử, với thuế suất đồng loại là 10% thì người nghèo phải nộp thuế này đến 14,20% thu nhập, còn người giàu chỉ nộp thuế này
có 3% - 4% thu nhập… Để khắc phục phần nào nhược điểm về tính lũy thoái của thuế GTGT, một số nước không đánh thuế hoặc đánh thuế với thuế suất thấp đối với mặt hàng hoặc dịch vụ thiết yếu cho đời sống nhân dân như: lương thực, thực phẩm, thuốc thông thường, quần áo, đồ dùng học tập…
Trang 35Trong các nước phát triển hiện nay, chỉ còn 2 nước chưa áp dụng thuế GTGT là Thụy Sĩ - Quốc gia có chính sách kinh tế độc lập và Hoa Kỳ - Quốc gia phát triển hàng đầu thế giới chưa áp dụng thuế GTGT Sở dĩ, tại Hoa Kỳ không áp dụng thuế GTGT, bởi vì, Quốc gia này là có bộ máy quản lý hành chính theo Bang, các Bang và Liên Bang có cơ chế quản lý hành chính độc lập, có quyền ban hành Luật thuế riêng và
có quyền sử dụng nguồn thu từ thuế cho sự phát triển văn hóa xã hội, cơ sở hạ tầng của Bang mình Mỗi Bang có Luật thuế doanh thu đánh vào hàng hóa bàn lẻ (Retail sales tax) riêng Thuế này khác với thuế doanh thu (Sales tax) là chỉ thu một lần vào hàng bán lẻ chứ không thu ở từng khâu bán hàng, do đó, loại trừ được việc thu trùng Trường hợp một doanh nghiệp vừa bán buôn, vừa bán lẻ thì phân biệt doanh thu phải chịu thuế và doanh thu không chịu thuế chỉ bằng cách mở sổ sách kế toán, vì trong sổ sách kế toán nếu là bán buôn thì phải ghi rõ địa chỉ người mua và mã số kinh doanh, còn nếu bán lẻ thì không cần phải ghi Mặt khác, Hoa Kỳ đã phát triển hệ thống máy vi tính hoàn hảo, nó cho phép đối chiếu một cách chính xác doanh số bán buôn và doanh
số bán lẻ Tất cả các cửa hàng bán lẻ, dù lớn hay nhỏ, đều dùng máy tính tiền, trong đó
có cài đặt tỷ lệ thuế phải đóng và tổng số tiền phải trả, cá nhân mua hàng, dù muốn lấy hóa đơn hay không thì máy vẫn cứ in ra hóa đơn Trên thực tế, tâm lý mọi người dân Hoa Kỳ khi mua hàng đều muốn có hóa đơn để kiểm tra số lượng hàng đã mua, minh chứng thời gian mua hàng, địa điểm mua hàng và quan trọng hơn là để mang trả lại hoặc đổi hàng khi thấy không vừa ý hoặc khi cần, đồng thời nó cũng là chứng từ để kê khai trừ thuế thu nhập Nói chung, việc lấy hóa đơn sau khi mua hàng đã trở thành thói quen của mọi người dân Mỹ Mục đích áp dụng thuế GTGT là tránh đánh thuế trùng thì thuế doanh thu đánh vào hàng bán lẻ ở Hoa Kỳ đã đạt được mục đích đó Mặt khác, thuế đánh vào người tiêu dùng thuộc Bang nào thì để lại cho chính quyền Bang đó sử dụng Vì vậy, Quốc hội Hoa Kỳ cũng đã từng đưa ra ý kiến áp dụng thuế GTGT song không được thông qua
2.2.2 Thách thức về quản lý thuế GTGT
Ðể áp dụng thuế GTGT đúng đắn, công bằng, có hiệu quả, đáp ứng được chủ trương "góp phần thúc đẩy sản xuất, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập cuả người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước", cần phải giải quyết trước hết một số vấn đề sau:
Trang 36- Các hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lớn
và vừa phải thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ hợp lệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và khấu trừ thuế đối với từng cơ sở kinh doanh
- Công tác kế toán doanh nghiệp, nhất là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải được hướng dẫn thực hiện thật tốt, đảm bảo được giá thành sản phẩm phản ảnh trung thực các chi phí thực tế phát sinh đã cấu tạo ra sản phẩm lưu thông trên thị trường đến tay người tiêu dùng Hệ thống bán lẽ (các cửa hàng, cửa hiệu, các siêu thị) cũng được hướng dẫn chế độ sổ sách kế toán hợp lệ, thực hiện nghiêm chỉnh và được kiểm tra chặt chẽ Chỉ số giá cả lên xuống từng thời kỳ phải được quy định rõ để tiến hành điều chỉnh giá bán lẽ, đảm bảo giá trị tăng thêm hợp lý
- Trình độ cán bộ quản lý thu thuế phải được nâng cao về chế độ hoá đơn, chứng
từ, sổ kế toán, thông thạo về chế độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng Hơn nữa, khi áp dụng thuế giá trị gia tăng thì vai trò cuả người thu thuế đồng thời cũng là người trả thuế (thoái thu) và vai trò cuả người nộp thuế cũng là người thu thuế (được cơ quan thuế khấu trừ hoặc hoàn lại) Người thu thuế phải có khả năng tính được mức thuế phải thu, mức thuế khấu trừ cho đúng, đũ, kịp thời Về khả năng thì có thể đào tạo được, nhưng vấn đề quan trọng nhất là người thu thuế nếu kém phẩm chất
sẽ có điều kiện để tiêu cực, đó là việc tính mức khấu trừ, mức thoái thu cao hơn mức chính xác, làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc khấu trừ không đủ, hoàn thuế chậm trễ làm thiệt hại cho các chủ thể đã chịu thuế trong quá trình sản xuất, kinh doanh Ðối với người nộp thuế, tất nhiên ngoài khả năng tính toán đầy đủ số thuế mình còn phải nộp sau khi được khấu trừ, còn phải có đầy đủ phẩm chất cuả một nhà kinh doanh lương thiện xem việc nộp thuế đầy đủ, kịp thời là một nghĩa vụ hợp lý và công bằng
- Mở rộng diện thanh toán mua bán hàng hoá thông qua các tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện cho việc xác định doanh thu bán hàng, làm căn cứ cho việc tính thuế được chính xác Việc quy định căn cứ khấu trừ thuế là hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ mà không quy định chứng từ chứng minh hàng hoá, dịch vụ mua bán đã thực tế thanh toán Quy định này tuy phù hợp với thực tiễn thanh toán phổ biến bằng tiền mặt nhưng tạo kẽ hở cho một số DN lợi dụng sử dụng hoá đơn giả, hoá đơn ghi
Trang 37chép không trung thực và các loại hoá đơn bất hợp pháp khác để gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT không những gây thất thu cho NSNN mà còn ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế
- Ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành các luật thuế cuả các doanh nghiệp từng bước được nâng lên, gắn liền với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế
- Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đưa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỷ cương, cả trong nhận thức tư tưởng và trong hành động thực tế
2.3 Tác động của thuế GTGT đến ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam từ 1999 đến nay
Trong điều kiện kinh tế - xã hội có rất nhiều khó khăn, nhưng Nhà nước đã sử dụng thuế GTGT trong phát triển kinh tế mang lại nhiều kết quả khả quan Cụ thể:
2.3.1 Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định của NSNN, tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng.
Thuế GTGT dồi dào, tăng đều, ổn định và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu
thuế và phí Phạm vi áp dụng thuế GTGT thực hiện thu rộng rãi hầu hết tất cả đối với
mọi tổ chức, cá nhân, ngành nghề kinh doanh, các hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam Số thu được tập trung ở khâu sản xuất, khâu nhập khẩu hàng hóa, từ đó tạo nguồn thu lớn, góp phần bù đắp số giảm thu về thuế nhập khẩu do phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế Số thu thuế GTGT năm sau luôn cao hơn năm trước; năm 2007 tăng gấp 4.13 lần năm 1999
Số thu thuế GTGT ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu thuế, phí và
lệ phí Năm 1999 chỉ chiếm 26.67%, đến năm 2007 đã chiếm 35.58%
Thuế GTGT tăng đều và ổn định Tốc độ tăng số thu thuế GTGT bình quân giai đoạn 1999-2007 đạt bình quân 19.61%
Trang 38TNCN 3%
GTGT 21%
TTĐB 10%
GTGT 36%
TTĐB 8%
XNK 20%
Khác 5%