Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở khái quát lý luận về VAS22 và các chuẩn mực có liên quan đến báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự, đề tài tìm hiểu
Trang 1BÙI NGỌC NHẠN
HOÀN THIỆN CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG TỰ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế Toán Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG TỰ 5
1.1 Vai trò của thông tin kế toán 5
1.2 Vai trò của Báo cáo tài chính và sự cần thiết của chuẩn mực kế toán 6
1.2.1 Vai trò của Báo cáo tài chính 6
1.2.2 Sự cần thiết của chuẩn mực kế toán 8
1.3 Nội dung chuẩn mực “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” và các chuẩn mực liên quan 9
1.3.1 Chuẩn mực số 22 - Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự 9
1.3.1.1 Chính sách kế toán 10
1.3.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 11
1.3.1.3 Bảng cân đối kế toán 11
1.3.2 Chuẩn mực số 01 - Chuẩn mực chung 11
1.3.3 Chuẩn mực số 21 - Trình bày báo cáo tài chính 13
1.3.4 Chuẩn mực số 24 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 14
1.4 So sánh chuẩn mực kế toán “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” ở Việt Nam và Quốc tế 16
1.4.1 Điểm giống nhau 17
1.4.2 Điểm khác nhau 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG TỰ Ở VIỆT NAM 20
Trang 4ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam 20
2.1.1 Khái quát các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 20
2.1.2 Chế độ quản lý tài chính áp dụng cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 22
2.1.2.1 Quản lý và sử dụng vốn, tài sản 23
2.1.2.2 Quản lý doanh thu và chi phí 24
2.1.2.3 Quản lý về lợi nhuận và trích lập các quỹ 26
2.1.3 Chế độ kế toán áp dụng cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 27
2.1.3.1 Hệ thống tài khoản kế toán 27
2.1.3.2 Chế độ chứng từ kế toán 27
2.1.3.3 Chế độ sổ sách kế toán 29
2.1.3.4 Biểu mẫu báo cáo tài chính 29
2.2 Thực tế vận dụng các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài chính ở các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam 30
2.2.1 Phạm vi và đối tượng khảo sát 30
2.2.2 Thực tế vận dụng chuẩn mực số 22 tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank 32
2.2.2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 32
2.2.2.2 Bảng cân đối kế toán 33
2.2.2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 34
2.2.2.4 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 34
2.2.2.5 Thuyết minh báo cáo tài chính 35
2.2.3 Thực tế vận dụng chuẩn mực số 22 tại Ngân hàng TMCP Phương Nam - Southernbank 40
2.2.3.1 Tổng quan ngân hàng 40
2.2.3.2 Bảng cân đối kế toán 41
2.2.3.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 42
2.2.3.4 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 42
2.2.3.5 Thuyết minh báo cáo tài chính 43
2.3 Những thuận lợi, khó khăn khi vận dụng chuẩn mực số 22 ở các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở thành phố Hồ Chí Minh và trong cả nước 48
2.3.1 Thuận lợi 48
2.3.2 Khó khăn 49
2.3.3 Nguyên nhân của những khó khăn trên 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
Trang 5BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI
CHÍNH TƯƠNG TỰ Ở VIỆT NAM 53
3.1 Quan điểm hoàn thiện 53
3.1.1 Phù hợp với đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam 53
3.1.2 Phù hợp với môi trường kinh doanh ổn định và môi trường pháp lý chưa chặt chẽ, dân trí còn ở trình độ thấp 54
3.1.3 Tương thích với chuẩn mực kế toán quốc tế 55
3.2 Một số nội dung hoàn thiện đối với các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài chính của ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự 56
3.2.1 Những sửa đổi, bổ sung liên quan đến chuẩn mực số 22 “Trình bày bổ sung thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự” 56
3.2.1.1 Về bảng cân đối kế toán 56
3.2.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 56
3.2.1.3 Trình bày thuyết minh báo cáo tài chính 58
3.2.2 Những sửa đổi, bổ sung liên quan chuẩn mực số 01 “chuẩn mực chung” 60
3.2.3 Những sửa đổi, bổ sung liên quan đến chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” 61
3.3 Một số kiến nghị có liên quan đến việc hoàn thiện và áp dụng chuẩn mực kế toán số 22 63
3.3.1 Một số biện pháp ở tầm vĩ mô 63
3.3.2 Một số biện pháp ở tầm vi mô 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN - Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
ASEAN - Association of South East Asian Nations
AFTA - ASEAN Free Trade Area
WTO - World Trade Organization
VAS - Viet Nam Accounting Standard/ Chuẩn mực kế toán Việt Nam IAS - International Accounting Standard/ Chuẩn mực kế toán quốc tế TMCP - Thương mại Cổ phần
SACOMBANK - Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
SOUTHERNBANK - Ngân hàng TMCP Phương Nam
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Chế độ tài chính, kế toán và báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 22
Bảng 2 Mẫu biễu hệ thống báo cáo tài chính 29
Bảng 3 Các đơn vị thành viên thuộc Sacombank 32
Bảng 4 Dự phòng rủi ro theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN 47
Trang 8DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ Lục 1 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN HỢP NHẤT SACOMBANK 70
Phụ Lục 2 BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HỢP NHẤT SACOMBANK 71
Phụ Lục 3 BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ HỢP NHẤT SACOMBANK 72
Phụ Lục 4 CÁC CAM KẾT VÀ NỢ TIỀM TÀNG SACOMBANK 74
Phụ Lục 5 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN SOUTHERNBANK 75
Phụ Lục 6 BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SOUTHERNBANK 77
Phụ Lục 7 BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ SOUTHERNBANK 79
Phụ Lục 8 BẢNG CÂN ĐỐI TÀI KHOẢN KẾ TOÁN (MẪU F01/TCTD) 82
Phụ Lục 9 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (MẪU F02/TCTD) 83
Phụ Lục 10 BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (MẪU F03/TCTD) 86
Phụ Lục 11 BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ (MẪU F04/TCTD) 89
Phụ Lục 12 THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH (MẪU F05/TCTD) 94 Phụ Lục 13 BÁO CÁO KẾT QUẢ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN (MẪU F06/TCTD)100
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề nổi bật hàng đầu của nền kinh tế thế giới Đây là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn có một vị thế xứng đáng trên bản đồ kinh tế thế giới trong bối cảnh hiện nay
Kể từ ngày thành lập 01/01/1995 đến nay, Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế – WTO đã có 151 nước tham gia Trong tương lai, tổ chức WTO sẽ phát triển thành tổ chức lớn nhất hành tinh Các nước thành viên WTO hiện chiếm trên 85% tổng thương mại hàng hóa và trên 90% thương mại dịch vụ toàn cầu
Bên cạnh đó, làn sóng tự do hóa thương mại hiện đang diễn ra sôi nổi chưa từng có trên thế giới Tính đến thời điểm này, đã có trên 300 hiệp định thương mại song phương (BTAs) và khu vực đã được thông báo cho WTO (tại khu vực Đông
Á có: khu vực thương mại tự do ASEAN/AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (VN-US BTA), hiệp định khung về khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (AC-FTA); …) Trong khi đó, vào thời điểm tháng 1/1995 chỉ mới có
130 hiệp định được ghi nhận
Việt Nam đã làm gì để đẩy nhanh tiến trình hội nhập? Việt Nam đã chủ động
tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: gia nhập Khối ASEAN; tham
gia vào Khu vực Thương mại Tự do ASEAN/AFTA, ký kết Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Việc mở cửa nền kinh tế theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế sẽ
đem lại cho các quốc gia nhiều cơ hội, nhiều lợi ích chẳng hạn như về: nguồn lực, công nghệ tiên tiến trên thế giới, kinh nghiệm quản lý hiện đại, … Nhưng mặt
Trang 10khác, việc hội nhập kinh tế quốc tế này cũng đặt ra nhiều rủi ro và thách thức to lớn đối với quốc gia đang phát triển ở trình độ chưa cao như Việt Nam
Trong tiến trình chung của nền kinh tế nói trên, để nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì trước hết phải kể đến là việc hội nhập ngành ngân hàng rồi sau đó mới kể đến việc hội nhập của các ngành kinh tế khác Bởi vì, nếu chưa có hội nhập ngành ngân hàng thì việc hội nhập các ngành kinh tế khác sẽ gặp nhiều khó khăn Đây là một trong những vấn đề then chốt nhưng cũng rất hết sức nhạy cảm
Thật vậy, xét về mặt kế toán, việc hội nhập này đặt ra yêu cầu là phải có sự thống nhất trong sự đa dạng về mặt ngôn ngữ kế toán của Việt Nam và của các nước trên thế giới Nói cách khác là, việc hội nhập này là sự hòa hợp giữa các thông lệ kế toán quốc gia với các thông lệ kế toán quốc tế trong đó có chuẩn mực kế toán quốc tế
Từ năm 2001 đến nay, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam đã và đang ngày càng hoàn thiện dần theo tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế và đã cho ra đời được 26 chuẩn mực trong 5 đợt
Trong 26 chuẩn mực nói trên có VAS22: “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của
các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” dành riêng cho lĩnh vực ngân hàng
và các tổ chức tài chính tương tự Chuẩn mực này được ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Bộ Trưởng Bộ
Tài Chính Tuy nhiên, hiện nay, chuẩn mực này vẫn chưa có Thông tư hướng dẫn
cụ thể Do vậy, việc vận dụng vào thực tế trong quá trình lập báo cáo tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự còn nhiều bất cập Đây là lý do chính
để tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài
chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam”
Trang 11Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở khái quát lý luận về VAS22 và các chuẩn mực có liên quan đến báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự, đề tài tìm hiểu thực trạng vận dụng các chuẩn mực kế toán về báo cáo tài chính tại các Ngân hàng Việt Nam và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện VAS22 và các chuẩn mực có liên quan đến việc trình bày báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chuẩn mực kế toán Việt Nam số 22 và các chuẩn mực kế toán khác có liên quan đến việc trình bày báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam dựa trên sơ sở tham khảo tài liệu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng TMCP Phương Nam năm 2006 Trên cơ sở nghiên cứu này, đề tài mở rộng kết quả nghiên cứu trên phạm vi cả nước
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm chủ đạo và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề theo mối quan hệ phổ biến và theo sự vận động, phát triển Cùng với hai phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài còn kết hợp với phương pháp phân tích, phương pháp đối chiếu và phương pháp so sánh
Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1 - Cơ sở lý luận về báo cáo tài chính và các chuẩn mực có liên quan đến báo cáo tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự;
Chương 2 - Thực trạng vận dụng các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam; và
Trang 12Chương 3 - Hoàn thiện các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
VÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG TỰ
1.1 Vai trò của thông tin kế toán
Ở bất kỳ một nền kinh tế nào, thông tin luôn có vai trò vô cùng quan trọng Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến, mức độ phát triển kinh tế ngày càng cao thì để nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên thị trường vốn ngày càng trở nên cạnh tranh gay gắt thì nhu cầu thông tin ngày càng trở nên bức thiết Tất cả các đơn vị, khi tiến hành hoạt động kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải tiếp nhận thông tin như là một yếu tố cần thiết để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn làm nên sự thành công trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp
Tầm quan trọng của thông tin đề cập trên đã lý giải vì sao: Kế toán ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại là một trong những phát minh lớn nhất và là hệ thống thông tin kinh doanh được sử dụng rộng rãi và lâu đời nhất trong lịch sử của nhân loại Ở đó, kế toán sẽ theo dõi và phản ảnh tất cả các hoạt động kinh tế cũng như các sự kiện kinh tế khác trong từng đơn vị vào hệ thống thông tin là các báo cáo tài chính Hệ thống thông tin này được hình thành dựa vào việc lưu giữ thông tin trên các loại sổ sách kế toán thông qua khái niệm như ghi sổ kép (đã có từ rất lâu) cũng như các khái niệm kế toán hiện đại hơn như khái niệm lợi tức,… Hệ thống này còn ghi chép và báo cáo các dòng vốn lưu chuyển trong doanh nghiệp dựa trên các số liệu phát sinh và đưa ra các bảng báo cáo tài chính như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,… Ngoài ra,
Trang 14hệ thống này còn lập nên các dự toán về tình hình tương lai như các báo cáo tài chính dự tính và dự toán ngân sách tài chính; sau đó tiến hành so sánh đối chiếu giữa tình hình thực hiện tài chính thực tế và các dự tính trên cơ sở các báo cáo kế toán phân tích khác nhau
1.2 Vai trò của Báo cáo tài chính và sự cần thiết của chuẩn mực kế toán
1.2.1 Vai trò của Báo cáo tài chính
Dù doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào đi nữa (sản xuất, thương mại, tài chính,…) thì báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng nhằm cung cấp thông tin cho hai nhóm đối tượng sử dụng chủ yếu, đó là: nhóm đối tượng sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, và nhóm đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp
Nhóm đối tượng sử dụng báo cáo tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, đó là những nhà quản lý, nhà điều hành và nhân viên của doanh nghiệp
Nhà quản lý, nhà điều hành của doanh nghiệp: họ cần công bố, công khai các
thông tin trên báo cáo tài chính định kỳ về hoạt động của đơn vị mình nhằm thuyết phục các nhà đầu tư, các cổ đông cũng như các chủ nợ Mặt khác thông tin trên báo cáo tài chính mà họ công khai còn phục vụ cho họ trong công tác điều hành và quản lý doanh nghiệp nhằm đưa các quyết định phù hợp với kế hoạch, và mục tiêu đã đề ra
Nhân viên: Nhân viên trong doanh nghiệp thì quan tâm đến thông tin trên báo
cáo tài chính về tính ổn định và khả năng sinh lời của doanh nghiệp để giúp họ đánh giá về khả năng chi trả lương và các khoản trợ cấp
Nhóm đối tượng sử dụng báo cáo tài chính bên ngoài doanh nghiệp gồm các nhà đầu tư và cho vay, các cơ quan nhà nước, khách hàng và nhà cung cấp, và những người khác
Trang 15Nhà đầu tư và những người cho vay doanh nghiệp: Nhà đầu tư cần thông tin
trên báo cáo tài chính để giám sát và bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết, thông tin về các rủi ro tiềm tàng trong các doanh nghiệp có liên quan đến khoản đầu tư của họ Nếu là công ty cổ phần, những thông tin trên báo cáo tài chính giúp họ quyết định lúc nào nên mua, nên giữ hay nên bán các khoản đầu tư cũng như giúp họ đánh giá khả năng chi trả cổ tức của doanh nghiệp Những người cho vay cần những thông tin trên báo cáo tài chính nhằm giúp họ đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi các khoản nợ gốc và lãi vay đến hạn
Các cơ quan Nhà nước: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp các
thông tin cần thiết giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà Nước đối với nền kinh tế Ngoài ra, Báo cáo tài chính của doanh nghiệp còn giúp cho việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan tài chính Nhà Nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như làm cơ sở cho việc tính thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà Nước
Khách hàng và nhà cung cấp: Báo cáo tài chính cung cấp cho họ những thông
tin về khả năng thanh toán cũng như khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp khi họ có những mối liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Những người khác: gồm những nhà phân tích tài chính, những người môi giới
kinh doanh, báo chí,… Họ cần những thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá xu hướng phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp
Với những vai trò của Báo cáo tài chính và nhu cầu của người sử dụng như trên thì Báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần phải được trình bày một cách rõ ràng,
Trang 16dễ hiểu, trung thực, hợp lý, đầy đủ và đáng tin cậy nhằm giúp cho người sử dụng đưa ra những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp Để báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập thỏa mãn những điều nêu trên thì cần phải có những chuẩn mực kế toán quy định trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp Vậy chuẩn mực kế toán là gì?
1.2.2 Sự cần thiết của chuẩn mực kế toán
Chuẩn mực có thể được hiểu là thuật ngữ diễn tả những quy định mực thướt có thể định lượng được để đo lường chất lượng một công việc, nó là những ràng buộc nhằm định hướng công việc chuyên môn đi vào những nguyên tắc chung Chuẩn mực kế toán là những quy ước, nguyên tắc, thủ tục được công nhận như những hướng dẫn cho nghề nghiệp kế toán trong việc soạn thảo báo cáo tài chính và là cơ sở đánh giá chất lượng công việc kế toán
Hoạt động kế toán cũng tương tự như các hoạt động khác, để hoạt động hiệu quả thì cần thiết phải thiết lập những chuẩn mực riêng cho nó Bên cạnh đó, chức năng của kế toán là cung cấp các thông tin để người sử dụng có thể ra quyết định, nghĩa là thông tin kế toán phải phản ánh trung thực tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời giúp người sử dụng dễ hiểu, có độ tin cậy và có thể so sánh các thông tin tài chính được
Để đạt được các mục đích đó, cần có những phương pháp và thước đo để giúp nhận diện những vấn đề hợp lý và không hợp lý liên quan đến việc ghi nhận, trình bày và truyền đạt thông tin tài chính Thực tế đã chứng minh rằng cùng một số liệu kế toán nhưng nếu áp dụng phương pháp đánh giá, ghi nhận khác nhau sẽ đưa đến kết quả khác biệt đáng kể Vì thế, cần có những quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính một cách trung thực và khách quan, và đó chính là những chuẩn mực kế toán
Trang 171.3 Nội dung chuẩn mực “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” và các chuẩn mực liên quan
Về chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính dành cho các doanh nghiệp thì chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS21) cũng như chuẩn mực kế toán quốc tế đã được xây dựng và thiết lập một cách bài bản và khoa học Tuy nhiên, đối với các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự thì chuẩn mực báo cáo tài chính (VAS21) chưa đáp ứng đầy đủ Ở đây, ngoài chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính (VAS21) thì các ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự còn sử dụng chuẩn mực “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” (VAS22) Do vậy, để có cơ sở lý luận vững chắc về việc trình bày báo cáo tài chính đối với các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự, đề tài xin trình bày VAS22 và các chuẩn mực có liên quan như sau:
1.3.1 Chuẩn mực số 22 - Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự
Chuẩn mực này được ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính nhưng đến nay vẫn chưa có Thông tư hướng dẫn Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn việc trình bày bổ sung các thông tin cần thiết trong báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự
Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự là những doanh nghiệp đặc thù, hoạt động có rủi ro cao nên ngoài việc bị chi phối của Luật doanh nghiệp thì chúng còn bị chi phối bởi Luật các tổ chức tín dụng do có hoạt động ngân hàng Theo khoản 7 điều 22 của Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX thì hoạt động ngân hàng được định nghĩa như sau: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
Trang 18doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Hệ thống báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự hiện
nay bao gồm: Bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
bảng thuyết minh báo cáo tài chính và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Ngoài các yêu cầu của các chuẩn mực kế toán khác cũng như những yêu cầu về việc lập và trình bày báo cáo tài chính của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21
“Trình bày báo cáo tài chính” (được ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC, ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), chuẩn mực còn nêu lên những yêu cầu về việc trình bày chính sách kế toán; kết cấu và nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; kết cấu và nội dung của bảng cân đối kế toán Cụ thể như sau:
1.3.1.1 Chính sách kế toán
Để giúp người sử dụng hiểu được cơ sở lập báo cáo tài chính của Ngân hàng, khi lập và trình bày báo cáo tài chính cần phải trình bày những chính sách kế toán như: cơ sở ghi nhận các loại thu nhập chủ yếu; cơ sở định giá chứng khoán đầu tư và chứng khoán kinh doanh; cơ sở của việc phân biệt các giao dịch, sự kiện dẫn đến việc ghi nhận tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán, sự kiện chỉ làm tăng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; cơ sở xác định tổn thất các khoản cho vay và ứng trước và cơ sở xóa sổ các khoản cho vay và ứng trước không có khả năng thu hồi; và cơ sở xác định chi phí phát sinh từ các rủi ro chung trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và phương pháp hạch toán đối với các chi phí đó
Ngoài ra, với mục đích là kiểm soát khả năng thanh toán và kiểm soát rủi ro trong ngân hàng nên khi lập báo cáo tài chính, chuẩn mực yêu cầu phải trình bày thêm nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết ngoài bảng cân đối kế toán; kỳ hạn của
Trang 19tài sản và nợ phải trả (chẳng hạn như: dưới 1 tháng, từ 1 tháng đến 3 tháng; từ trên 3 tháng đến 1 năm; từ trên 1 năm đến 3 năm; từ trên 3 năm đến 5 năm và từ trên 5 năm trở lên); tổn thất các khoản cho vay và ứng trước; dự phòng rủi ro chung trong hoạt động của ngân hàng
1.3.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Chuẩn mực yêu cầu trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng các khoản thu nhập và chi phí theo bản chất và theo chủ yếu Và chuẩn mực cũng yêu cầu rõ các khoản mục thu nhập và chi phí tối thiểu cần phải trình bày nhưng không được bù trừ chúng với nhau ngoại trừ: thanh lý chứng khoán kinh doanh; thanh lý chứng khoán đầu tư và hoạt động kinh doanh ngoại hối được trình bày trên cơ sở thuần
1.3.1.3 Bảng cân đối kế toán
Giống như doanh nghiệp, chuẩn mực cũng yêu cầu ngân hàng trình bày trong bảng cân đối kế toán các nhóm tài sản và nợ phải trả theo bản chất của chúng và sắp xếp chúng theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần cũng như những khoản mục tối thiểu cần phải trình bày trên bảng cân đối kế toán Ngoài ra, ngân hàng không được bù trừ bất kỳ khoản mục tài sản và nợ phải trả này với các khoản mục tài sản và nợ phải trả khác trong bảng cân đối kế toán, trừ trường hợp pháp luật quy định cho phép bù trừ và việc bù trừ thể hiện dự kiến điều chuyển thanh lý hoặc quyết toán khoản tài sản và nợ phải trả
1.3.2 Chuẩn mực số 01 - Chuẩn mực chung
VAS1 được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC, ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Mục đích của chuẩn mực này là nhằm: làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất; giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế toán
Trang 20và lập báo cáo tài chính theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán đã ban hành một cách thống nhất và xử lý các vấn đề chưa được quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho các thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý; giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về sự phù hợp của báo cáo tài chính với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán; giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu và đánh giá thông tin tài chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán
Chuẩn mực này đã nêu lên những nguyên tắc cơ bản (cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu) và những yêu cầu cơ bản (trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được) khi lập báo cáo tài chính cho tất cả các loại doanh nghiệp trong đó có ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự
Ngoài ra, chuẩn mực này còn nêu lênõ: “Chuẩn mực này không thay thế các chuẩn mực kế toán cụ thể, mà khi thực hiện doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực kế toán cụ thể Trường hợp chuẩn mực kế toán cụ thể chưa quy định thì thực hiện theo chuẩn mực chung.” - Đoạn 2 VAS01
Chuẩn mực chung cũng quy định các yếu tố của báo cáo tài chính Theo đó, báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố báo cáo tài chính Các yếu tố có liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong bảng cân đối kế toán là tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình kết quả kinh doanh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu, thu nhập khác, chi phí và kết quả kinh doanh Trong đó, tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích trong tương lai; nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp
Trang 21phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp thanh toán từ các nguồn lực của mình; còn vốn chủ sở hữu là giá trị vốn của doanh nghiệp được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản doanh nghiệp trừ (-) nợ phải trả
Khi xác định các khoản mục trong các yếu tố của báo cáo tài chính cần chú ý đến hình thức sở hữu và nội dung kinh tế của chúng Trong một số trường hợp, tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng căn cứ vào nội dung kinh tế của tài sản thì được phản ảnh trong các yếu tố của báo cáo tài chính Ví dụ: trường hợp thuê tài chính, nghiệp vụ thuê tài chính làm phát sinh khoản mục “tài sản” và khoản mục “nợ phải trả” trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đi thuê Báo cáo tài chính phải ghi nhận các yếu tố tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, các yếu tố phải được ghi nhận theo từng khoản mục Một khoản mục được ghi nhận trong báo cáo tài chính khi thỏa mản cả hai tiêu chuẩn sau: chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích kinh tế trong tương lai và khoản mục đó có giá trị và xác định giá trị một cách đáng tin cậy
1.3.3 Chuẩn mực số 21 - Trình bày báo cáo tài chính
Chuẩn mực này được ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC, ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của báo cáo tài chính
Trang 22Chuẩn mực này được áp dụng cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp và báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn đồng thời còn được vận dụng cho việc lập và trình bày thông tin tài chính tóm lược giữa niên độ
Chuẩn mực có nêu rõ: chuẩn mực này áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Những yêu cầu bổ sung đối với báo cáo tài chính của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính được quy định ở Chuẩn mực “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự" Trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính thuộc về Giám đốc hoặc người đứng đầu doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc: Hoạt động liên tục; Cở sở dồn tích; Nhất quán; Trọng yếu và tập hợp; Bù trừ; Có thể so sánh Ngoài ra, chuẩn mực còn đưa ra kết cấu và nội dung chủ yếu của báo cáo tài chính như: nội dung và thông tin trình bày trên bảng cân đối kế toán, thông tin trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; thông tin trình bày trên bảng thuyết minh báo cáo tài chính Còn báo cáo lưu chuyển tiền tệ được trình bày trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24
1.3.4 Chuẩn mực số 24 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Chuẩn mực này được ban hành và công bố theo Quyết định số BTC, ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và các phương pháp lập, trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 23165/2002/QĐ-Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của 165/2002/QĐ-Báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần,
cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lại cách đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả
Chuẩn mực đã giải thích các thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực như: tiền (gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn); tương đương tiền (là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền); luồng tiền (là luồng vào và luồng ra của tiền và những khoản tương đương tiền trong doanh nghiệp); hoạt động kinh doanh (là các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền); hoạt động tài chính (là các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp) Chuẩn mực còn nêu lên kết cấu và nội dung trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp
Trang 24Chuẩn mực cũng đề cập đến hai phương pháp báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đó là:
Phương pháp trực tiếp là phương pháp phản ánh các chỉ tiêu liên quan đến các luồng tiền vào, các luồng tiền ra được trình bày trên báo cáo và được xác định bằng cách phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu và chi theo từng nội dung thu, chi từ cách ghi chép kế toán của doanh nghiệp hoặc bằng cách điều chỉnh doanh thu, giá vốn hàng bán và các khoản mục khác trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho: các thay đổi trong kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu và các khoản phải trả từ hoạt động kinh doanh, các khoản mục không phải bằng tiền khác và các luồng tiền liên quan đến hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính;
Phương pháp gián tiếp là phương pháp phản ánh các khoản chi tiêu về luồng tiền được xác định trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh các khoản liên quan đến doanh thu và chi phí không phải bằng tiền mà bằng khấu hao tài sản cố định, dự phòng, lãi lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện…
Chuẩn mực còn nêu rõ: Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính thì tiền lãi đã trả, tiền lãi đã thu được phân loại là luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, trừ tiền lãi đã thu được xác định rõ ràng là luồng tiền từ hoạt động đầu tư Cổ tức và lợi nhuận đã thu được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư Cổ tức và lợi nhuận đã trả được phân loại là luồng tiền từ hoạt động tài chính
1.4 So sánh chuẩn mực kế toán “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự” ở Việt Nam và Quốc tế
Nhìn chung, VAS22 tuân thủ IAS30 về thông tin trên báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự nên giữa VAS22 và IAS30 không có sự khác biệt lớn
Trang 251.4.1 Điểm giống nhau
VAS22 và IAS30 đều quy định việc trình bày trên báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự, bao gồm các vấn đề sau:
Chính sách kế toán;
Báo cáo lãi lỗ;
Bảng cân đối kế toán;
Nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và cam kết trình bày ngoài bảng cân đối kế toán;
Kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả;
Trình bày sự tập trung của tài sản, nợ phải trả và khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán;
Rủi ro ngân hàng;
Lỗ trên các khoản cho vay và ứng trước;
Tài sản thế chấp;
Các hoạt động tín thác và các giao dịch bên liên quan
VAS22 và IAS30 thống nhất cách trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần phải trình bày được các khoản thu nhập và chi phí theo bản chất của chúng và phải trình bày được các loại thu nhập và chi phí chủ yếu Còn bảng cân đối kế toán cần phải trình bày được các nhóm tài sản và nợ phải trả theo bản chất và phải sắp xếp chúng theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần
VAS22 và IAS30 đều yêu cầu các khoản mục tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn không trình bày riêng biệt vì phần lớn tài sản và nợ phải trả của một ngân hàng có thể được thực hiện hoặc thanh toán trong tương lai gần
Trang 26VAS22 yêu cầu tương tự như IAS30 về nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và cam kết trình bày
ngoài bảng cân đối kế toán: là trình bày bản chất và số lượng nghĩa vụ nợ tiềm
ẩn và các khoản nợ phải trả, các khoản cam kết và những khoản nợ phát sinh
ngoài bảng cân đối kế toán
Kỳ hạn của tài sản và nợ phải trả: theo VAS22 và IAS30, ngân hàng cần phải
trình bày các khoản mục tài sản và nợ phải trả thành các nhóm có kỳ hạn phù
hợp dựa trên thời gian còn lại tính từ ngày khóa sổ lập bảng cân đối kế toán đến
ngày đáo hạn theo điều khoản của hợp đồng Thông thường kỳ hạn của tài sản và
các khoản nợ phải trả được phân theo thành các nhóm sau: dưới 1 tháng; từ 1
tháng đến 3 tháng; từ 3 tháng đến 1 năm; từ 1 năm đến 5 năm; từ trên 5 năm trở
lên
Về tổn thất của khoản cho vay và ứng trước, VAS22 và IAS30 đều quy định cơ sở
cho việc ghi nhận chi phí hoặc xóa sổ các khoản cho vay và ứng trước không có
khả năng thu hồi
VAS22 và IAS30 đều quy định tài sản được sử dụng để đảm bảo thì trình bày
tổng giá trị khoản nợ được đảm bảo, tính chất và số tiền sinh lời của các tài sản
dùng để thế chấp
Nhìn chung, VAS22 yêu cầu tương tự như IAS30 Tuy nhiên, giữa VAS22 và
IAS30 cũng có điểm khác nhau
1.4.2 Điểm khác nhau
IAS30 quy định việc trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính là trình bày
giá trị thực tế của các loại tài sản và nợ phải trả tài chính theo yêu cầu của
IAS32 “Các công cụ tài chính: trình bày và thuyết minh báo cáo”;
VAS22 không quy định đều này
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Báo cáo tài chính có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng, đặc biệt là trong thời đại ngày nay khi mà nền kinh tế của nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán được hình thành từ việc ghi nhận, phản ánh, tính toán, đo lường, tổng hợp của nghiệp vụ kế toán tài chính
Ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự cũng là một doanh nghiệp, việc trình bày những thông tin trên báo cáo tài chính cũng phải đáp ứng những yêu cầu: dễ hiểu, thích hợp, đáng tin cậy, dễ sử dụng Những yêu cầu này cũng đã được quy định trong những chuẩn mực kế toán có liên quan đến Ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự
Trên cơ sở nghiên cứu vai trò của thông tin kế toán, vai trò của Báo cáo tài chính cùng với một số chuẩn mực kế toán có liên quan đến Hệ thống báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự Đề tài xem đó là cơ sở lý luận vững chắc để nghiên cứu thực trạng vận dụng các chuẩn mực kế toán có liên quan đến báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TƯƠNG TỰ Ở VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống báo cáo tài chính tại các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong quản lý và phân bổ ngân sách nhà nước Đến năm 1990, hệ thống ngân hàng nước ta đã được tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước được tách khỏi hệ thống ngân hàng thương mại Nhờ đó cho phép tất cả các ngân hàng tiếp cận các nguồn vốn Pháp lệnh ngày 23/05/1990 đối với lĩnh vực ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình mới và quy định kiểm soát ngành kinh tế này
Pháp lệnh năm 1990 này được thay thế bởi Luật các tổ chức tín dụng số 2/1997/QH10 ngày 12/12/1997 Pháp lệnh năm 1990 quy định các loại tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hợp tác và các công ty tài chính Theo điều 12, Luật các tổ chức tín dụng địng nghĩa lại các loại hình tổ chức tín dụng gồm có: Hợp tác xã tín dụng, Ngân hàng cổ phần, Tổ chức tín dụng nhà nước
Luật các tổ chức tín dụng cho phép thành lập tổ chức tín dụng liên doanh, các tổ chức phi ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài, và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng như văn phòng đại diện hoạt động tại Việt Nam Theo bản sửa
Trang 29đổi của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11, ban hành ngày 15/06/2004, các ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam Điều này mở ra một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài
Hệ thống ngân hàng nước ta hiện nay có 5 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước 100%, đó là: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); Ngân hàng Công thương Việt Nam (INCOMBANK); Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VBARD); Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long; Ngân hàng Chính sách Xã hội Trong đó, có 3 ngân hàng gồm: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); Ngân hàng Công thương Việt Nam (INCOMBANK); Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK) là các ngân hàng thương mại
Ngoài ra, hầu hết các ngân hàng cổ phần, các ngân hàng liên doanh nước ngoài, các hợp tác xã tín dụng, và các quỹ tiết kiệm và đầu tư đều có sự tham gia của ngân sách nhà nước hoặc thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, trong lĩnh vực này, tính cạnh tranh chỉ ở mức độ tương đối
Biểu mẫu báo cáo tài chính của các tổ chức tín dụng và các tổ chức phi tín dụng
bị ảnh hưởng bởi yêu cầu báo cáo thuế Như vậy, những mục đích của kế toán (ví dụ như mục tiêu nhằm đưa ra được thông tin tin cậy và hợp lý về tình hình tài chính của công ty) có thể bị xem nhẹ
Các tổ chức tín dụng khác nhau có thể áp dụng các chế độ kế toán khác nhau Đối với các loại hình thức tín dụng (ngân hàng và phi ngân hàng), chế độ kế toán không ban hành theo hình thức sở hữu của tổ chức tín dụng được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng
Trang 30Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của chính phủ chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động tiền tệ (ngân hàng và phi ngân hàng) tại Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là đơn vị phát hành tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng quy định hoạt động của các tổ chức tín dụng Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 1/1997/QH10, ban hành ngày 12/12/1997
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chế độ quản lý tài chính, chế độ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, và chế độ báo cáo tài chính riêng (Bảng 1)
Bảng 1 Chế độ tài chính, kế toán và báo cáo tài chính của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Các chế độ tài
chính, kế toán và
báo cáo tài chính
Ngân hàng Nhà nước Việât Nam Ghi chú
Nghị định 100/1998/NĐ-CP, ngày 9/12/1998, chế độ quản lý tài chính Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Quyết định 657/2003/QĐ-NHNN, ngày 25/6/2003, chế độ tài chính Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Chính thức Chế độ quản lý
tài chính
Thông tư 108 ngày 16/11/2004 Sửa đổi và bổ sung Quyết định 425/QĐ-NHNN2, ngày
17/12/1998; Quyết định 225, ngày 2/3/2001 Chính thức Chế độ kế toán
Quyết định 961 năm 2002 Sửa đổi và bổ sung Quyết định 1511 năm 2001 Chính thức
Chế độ báo cáo
tài chính Quyết định 1405 năm 2002 Sửa đổi và bổ sung
2.1.2 Chế độ quản lý tài chính áp dụng cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chế độ quản lý tài chính hiện nay của các tổ chức tín dụng bị chi phối bởi Luật các tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới Luật như: Nghị định 146/2005/NĐ-CP của chính phủ, Thông tư 12/2006/TT-BTC ban hành ngày
Trang 3121/02/2006 của Bộ Tài Chính và các Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN; 03/2007/QĐ-NHNN; 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà Nước Chế độ quản lý tài chính bao gồm: Chế độ quản lý và sử dụng vốn, tài sản; Quản lý về doanh thu và chi phí; Quản lý về lợi nhuận và trích lập các quỹ
2.1.2.1 Quản lý và sử dụng vốn, tài sản
Theo Nghị định 146/2005/NĐ-CP của chính phủ và Thông tư 12/2006/TT-BTC ban hành ngày 21/02/2006 của Bộ Tài Chính thì vốn hoạt động của tổ chức tín dụng bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn khác theo quy định của pháp luật nhưng phải đảm bảo duy trì vốn điều lệ thực có không thấp hơn mức vốn pháp định do Chính phủ quy định cho từng loại hình tổ chức tín dụng Khi có sự thay đổi vốn điều lệ, tổ chức tín dụng phải công bố công khai số vốn điều lệ mới Tổ chức tín dụng cần sử dụng vốn theo nguyên tắc “an toàn và phát triển” Các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động bao gồm:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn duy trì ở mức trên 8% vốn tự có;
Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần luôn duy trì ở mức không quá 40% vốn tự có Tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng không quá 50% vốn tự có cấp một (theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước) để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định và phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng Ngoài ra, tổ chức tín dụng cần phải duy trì tỷ lệ vốn ngắn hạn so với cho vay trung hạn không quá 40% cũng như tỷ lệ khả năng chi trả cho một tháng tiếp theo luôn lớn hơn 25%
Để bảo đảm an toàn vốn thì tổ chức tín dụng cần phải: quản lý, sử dụng tài sản; duy trì các tỉ lệ bảo đảm an toàn, mua bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật;
Trang 32tham gia tổ chức bảo hiểm tiền gửi hoặc bảo toàn tiền gửi để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng Ngoài việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự phòng tổn thất các khoản đầu tư dài hạn (bao gồm cả giảm giá chứng khoán); dự phòng phải thu khó đòi; dự phòng trợ cấp mất việc làm Tổ chức tín dụng còn được trích dự phòng rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng Và hiện nay, việc trích dự phòng rủi ro tín dụng được thực hiện theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
2.1.2.2 Quản lý doanh thu và chi phí
Doanh thu của tổ chức tín dụng được phân thành 2 loại: thu từ hoạt động kinh
doanh và thu khác
Thu từ hoạt động kinh doanh gồm: thu từ hoạt động tín dụng, thu lãi tiền gửi, thu dịch vụ, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, thu lãi góp vốn, mua cổ phần, thu từ hoạt động mua bán nợ, thu về chênh lệch tỷ giá, thu từ hoạt động kinh doanh khác;
Thu khác gồm: các khoản thu từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu về các khoản vốn đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro; thu kinh phí quản lý đối với công ty thành viên độc lập; thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng và các khoản thu khác
Theo mục 1.2 của thông tư số 12/2006/TT-BTC, ngày 21/02/2006 có quy định cụ thể điều kiện và thời điểm để ghi nhận doanh thu đối với hoạt động tín dụng, thu lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu… và các hoạt động khác Và tất cả các khoản thu của tổ chức tín dụng phát sinh trong kỳ phải có hóa đơn hoặc chứng từ hợp lệ và phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu
Trang 33Chi phí của tổ chức tín dụng cũng được phân thành 2 loại: chi cho hoạt động kinh
doanh và chi khác:
Chi hoạt động kinh doanh gồm: chi phí phải trả lãi tiền gửi; chi phí phải trả lãi tiền vay; chi hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; chi trích khấu hao tài sản cố định; chi đi thuê và cho thuê tài sản; tiền lương, tiền công và chi phí có tính chất lương theo quy định; chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn; chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, nước, điện thoại, giấy in, văn phòng phẩm,…
Chi khác gồm: chi trang phục giao dịch; chi trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ quy định; chi nghiên cứu khoa học; tiền ăn ca cho cán bộ và nhân viên tổ chức tín dụng;…
Điều kiện để ghi nhận chi phí là: Khoản chi phí đó phải phù hợp với việc ghi nhận doanh thu cả về thời điểm lẫn bản chất Ví dụ: cùng một bản chất nhưng việc ghi nhận doanh thu trong tháng X còn việc ghi nhận chi phí trong tháng (X+1)là không phù hợp thời điểm Khoản chi phí đó phải được ghi nhận theo bản chất phát sinh và có liên quan đến hoạt động kinh doanh, tức là: những khoản chi phí nào không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không cho phép ghi nhận chi phí
Việc ghi nhận chi phí không được vượt mức khống chế theo quy định như: Chi phí môi giới về cho thuê tài sản không được vượt quá 5% giá trị tài sản cho thuê Chi phí mô giới bán tài sản thế chấp, cầm cố không được vượt quá 1% giá trị tài sản và không quá 100 triệu đồng đối với một tài sản Chi phí khác theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (chẳng hạn như: chi phí về quảng cáo, tiếp tân, khách tiết không được vướt quá 10% trên tổng chi phí); hoặc chi phí thu hồi nợ
Trang 34không được vượt quá 5% hoặc không được vượt quá 150 triệu đồng trên một món nợ Và tất cả các khoản chi trên phải có hoá đơn, chứng từ hợp lệ
2.1.2.3 Quản lý về lợi nhuận và trích lập các quỹ
Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng bao gồm: lợi nhuận hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận các hoạt động khác Lợi nhuận của tổ chức tín dụng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ khác
Lợi nhuận của các tổ chức tín dụng sau khi bù đắp lỗ năm trước (theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp) và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (theo quy định của pháp luật) được phân phối như sau:
Việc phân phối lợi nhuận đối với các tổ chức tín dụng có 100% vốn nhà nước: trích lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ 5%, mức tối đa của quỹ này không vượt mức vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng; chia lãi cho các thành viên góp vốn liên kết theo quy định hợp đồng (nếu có); bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp; còn lại, trích quỹ dự phòng tài chính 10% nhưng số dư tối đa của quỹ này không vượt quá 25% vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; quỹ khen thưởng
Phân phối lợi nhuận đối với các tổ chức tín dụng khác: trích lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, chia lãi cho các thành viên liên kết theo quy định của hợp đồng (nếu có), bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp; trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính, số dư tối đa của quỹ này không vượt quá 25% vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng Việc phân chia phần lợi nhuận còn lại do tổ chức tín dụng tự quyết định
Trang 352.1.3 Chế độ kế toán áp dụng cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chế độ kế toán của các tổ chức tín dụng bị chi phối bởi Luật kế toán và các văn bản dưới Luật gồm Nghị định 129/2004/NĐ-CP, hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam do Bộ Tài Chính Ban hành và các quyết định chuyên ngành của Ngân hàng Nhà Nước
2.1.3.1 Hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán của các tổ chức tín dụng cần phải tuân thủ theo Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN, ban hành ngày 29/4/2004 (thay thế quyết định 435/1998/QĐ-NHNN, ban hành ngày 25/12/1998) quy định hệ thống tài khoản kế toán và các bước hạch toán kế toán; Quyết định 807/2005/QĐ-NHNN, ban hành ngày 01/06/2005, quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng; Quyết định 29/2006/QĐ-NHNN, ban hành ngày 10/07/2006, quy định về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một số tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Cấu trúc hệ thống tài khoản các tổ chức tín dụng giống cấu trúc các hệ thống tài khoản cấp 1, 2 và 3 cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Hệ thống tài khoản được phân thành 9 loại tài khoản (bao gồm các tài khoản trong bảng cân đối kế toán và các tài khoản ngoài bảng cân đối) Mỗi loại bao gồm các tài khoản chính và các tài khoản cấp 2, 3, 4 và 5 Các ngân hàng muốn mở thêm tài khoản chi tiết phải được Ngân hàng Nhà nước đồng ý
2.1.3.2 Chế độ chứng từ kế toán
Chế độ chứng từ kế toán của các tổ chức tín dụng hiện nay được áp dụng theo Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước, ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2005 và Quyết định 1913/2005/QĐ-NHNN (thay thế
Trang 36cho Quyết định số 321/QĐ-NH2 ngày 04/12/1996 và Quyết định số 308/QĐ-NH2 ngày 16/09/1997)
Theo Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước thì chứng từ kế toán ngân hàng là những giấy tờ, vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán ngân hàng Chứng từ điện tử dùng trong kế toán ngân hàng cũng có đầy đủ các yếu tố như chứng từ thông thường (tên, số hiệu chứng từ, ngày tháng lập, nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, …) và phải được mã hoá bảo đảm an toàn dữ liệu điện tử trong quá trình sử dụng, xử lý truyền tin và lưu trữ
Việc lập và ký chứng từ kế toán ngân hàng đều phải lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo các quy định trên mẫu; chữ ký trên chứng từ kế toán ngân hàng phải do người có thẩm quyền ký hoặc người được ủy quyền ký; đồng thời nghiêm cấm ký những chứng từ kế toán ngân hàng khi không có quyền, không được ủy quyền, chứng từ kế toán trắng, hoặc chứng từ kế toán chưa ghi đủ nội dung
Đối với chứng từ giấy cần kiểm soát tính rõ ràng, đầy đủ, trung thực của các nội dung ghi trên chứng từ, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; kiểm soát tính chính xác của số liệu và thông tin trên chứng từ, nếu những chứng từ có quy định ký hiệu mật (KHM) thì cần kiểm soát KHM Chứng từ luân chuyển giữa các bộ phận trong đơn vị ngân hàng do ngân hàng tự tổ chức luân chuyển, không luân chuyển qua tay khách hàng Chứng từ thanh toán khác ngân hàng như chuyển tiền, thanh toán bù trừ,… thì luân chuyển qua mạng nội bộ, mạng liên ngân hàng, bưu điện hoặc giao nhận chứng từ trực tiếp giữa các ngân hàng liên quan
Trang 372.1.3.3 Chế độ sổ sách kế toán
Chế độ sổ sách kế toán của ngân hàng cần tuân thủ theo quyết định số 32/2006/QĐ-NHNN, ban hành ngày 19/07/2006, quy định về kế toán trên máy vi tính đối với Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng Theo quyết định này, sổ sách kế toán của các tổ chức tín dụng cũng giống như sổ sách của doanh nghiệp gồm sổ chi tiết và sổ tổng hợp
2.1.3.4 Biểu mẫu báo cáo tài chính
Quyết định 1145/2002/QĐ-NHNN quy định các mẫu báo cáo tài chính cho các ngân hàng Giống như biểu mẫu báo cáo tài chính áp dụng với doanh nghiệp, mức độ công khai thông tin tài chính còn rất hạn chế Việc trình bày quá chi tiết các thông tin trên bảng cân đối và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong khi thuyết minh báo cáo tài chính lại quá ngắn gọn khiến người sử dụng khó nắm bắt được những thông tin tổng hợp Biểu mẫu báo cáo tài chính trong quyết định này mang tính khuôn mẫu, cứng nhắc
Theo quyết định này, mẫu biểu hệ thống báo cáo tài chính được quy định gồm:
Bảng 2 Mẫu biễu hệ thống báo cáo tài chính
STT Tên biểu mẫu Ký hiệu Ghi chú
1 Bảng cân đối tài khoản kế toán F01/TCTD Phụ Lục 8
2 Bảng cân đối kế toán F02/TCTD Phụ Lục 9
3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh F03/TCTD Phụ Lục 10
4 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ F04/TCTD Phụ Lục 11
5 Thuyết minh báo cáo tài chính F05/TCTD Phụ Lục 12
6 Báo cáo phân phối thu nhập F06/TCTD Phụ Lục 13
Trang 382.2 Thực tế vận dụng các chuẩn mực kế toán liên quan đến báo cáo tài chính ở các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam
2.2.1 Phạm vi và đối tượng khảo sát
Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự luôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước Sau hơn một năm Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO, hoạt động ngân hàng đã có những tiến triển rõ rệt và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu (nền kinh tế có điều kiện và môi trường kinh doanh ngày càng trở nên bình đẳng cho các đối tác tham gia, không phân biệt đối tác trong hay ngoài nước Do vậy, yêu cầu các đối tác tham gia phải biết luật và chơi đúng luật)
Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường tài chính ngân hàng (theo cam kết gia nhập WTO) đã làm cho các chế định tài chính Việt Nam thay đổi tích cực đồng thời tạo ra một “sân chơi” toàn cầu với mức độ cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt
Bên cạnh đó, Việt Nam được các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài đánh giá là một thị trường tiềm năng lớn Do vậy, các tổ chức tài chính này tích cực tham gia và không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động tại thị trường Việt Nam Điều này góp phần hình thành nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự ở nội địa
Phải ghi nhận rằng, sau một thời gian ngắn gia nhập WTO, các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự ở Việt Nam đã có một sự thay đổi đáng kể về nhận thức cũng như sự năng động trong môi trường kinh doanh Các ngân hàng này đã không ngừng tăng vốn điều lệ (hầu hết đều tăng gấp đôi), mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động, cải thiện dịch vụ, … nhằm nâng cao vị thế của mình Nhiều ngân hàng đã ráo riết xây dựng và triển khai hàng loạt phương án nhằm phân khúc,
Trang 39chiếm lĩnh thị trường, … với mong muốn sớm phát triển và trở thành các tập đoàn tài chính đa năng Với sự thay đổi tích cực nói trên, ngân hàng đã không ngừng nâng cao vai trò trong quá trình phát triển bền vừng nền kinh tế đất nước
Trong hệ thống các chuẩn mực kế toán, hầu hết các chuẩn mực kế toán đều được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp với nhiều ngành khác nhau Riêng chuẩn mực số 22 là chuẩn mực duy nhất có tính chất đặc thù liên quan đến ngành ngân hàng Đề tài nghiên cứu tập trung ở phạm vi chuẩn mực này
Ngân hàng được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong phạm vi của đề tài là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) Đây là ngân hàng có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi có thị trường rộng, kinh tế phát triển mạnh với mức năng động cao nhất nước
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có các ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự tập trung cao nhất và hoạt động mạnh nhất trên phạm vi cả nước Theo số liệu thống kê từ Sở Kế Hoạch Đầu Tư TP HCM, tính đến thời điểm hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã cấp 522 giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự đang hoạt động Trong đó, Sacombank là một trong những ngân hàng có vốn điều lệ lớn (4.448.814.170.000VND); đồng thời đây cũng là ngân hàng có mạng lưới phát triển rộng trên phạm vi cả nước, phân bố đều từ Bắt tới Nam Đó là lý do để đề tài chọn Sacombank làm đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, để đảm bảo có được kết quả nghiên cứu phản ánh một cách chính xác và khách quan, hạn chế tối đa những nhận định chủ quan, đề tài còn tiến hành nghiên cứu dựa trên số liệu của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Nam
Trang 402.2.2 Thực tế vận dụng chuẩn mực số 22 tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank
2.2.2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín là một ngân hàng thương mại cổ phần do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép hoạt động theo Giấy Phép Ngân hàng số 0006/NH-GP được cấp ngày 05 tháng 12 năm 1991 Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 21 tháng 12 năm 1991
Trụ sở chính của Ngân hàng hiện nay tọa lạc tại số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh Vào ngày 31/12/2006, Ngân hàng có một Hội Sở, hai sở giao dịch, 47 chi nhánh và 99 phòng giao dịch trên toàn quốc Đến thời điểm ngày 31/12/2006, Ngân hàng đã có bốn công ty con và một công ty liên doanh, thông tin cụ thể như sau:
Bảng 3 Các đơn vị thành viên thuộc Sacombank
Tên công ty Giấy phép hoạt động Lãnh vực kinh doanh Tỷ lệ sở hữu Công ty TNHH Quản lý nợ và khai
thác Tài sản Ngân hàng 4104000053 Quản lý tài sản 100% Công ty TNHH Cho thuê Tài chính
Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín 04/GP-NHNN Cho thuê tài chính 100% Công ty TNHH Chứng khoán Ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín 4104000197 Nghiệp vụ chứng khoán 100% Công ty TNHH Kiều hối Sài Gòn
Thương Tín 90/QĐ-NHNN Chuyển tiền kiều hối 100% Công ty liên doanh Quản lý Quỹ
Đầu tư Chứng khoán
UBCKNN 50/QĐ-UBCK
01/GPĐT-Quản lý quỹ đầu tư và tư vấn tài chính
51%
Trong năm 2006, Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã lập báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán hợp nhất, Báo cáo kết quả hoạt động