1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi việt nam đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

84 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 7 năm hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã khẳng định được vai trò và vị thế của mình là một định chế tài chính quốc gia, là công cụ quan trọng của Chính phủ trong việc thanh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

………

NGUYỄN MINH PHƯƠNG

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM ĐỐI VỚI TỔ

CHỨC THAM GIA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐẮC SINH

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2008

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP

1.1 Bảo hiểm tiền gửi và vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự an toàn của

1.1.2 Điều kiện cần thiết của bảo hiểm tiền gửi 1

1.2 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI 10

1.2.3.2 Hoạt động giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi 10

1.2.3.1 Địa điểm tiến hành giám sát 11

1.3 KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VỀ NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA

1.3.2 Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) 20 1.3.3 Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan (CDIC) 21

Trang 3

Kết luận chương I 23 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO

2.1 Giới thiệu chung về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN)

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 24

2.2.2 Mục đích của hoạt động giám sát 33

2.2.3.1 Phân cấp quản lý đối với Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi khu vực 35

2.2.3.2 Phân cấp quản lý đối với cán bộ giám sát 35

2.2.4.1 Giám sát về việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo quy

2.2.4.2 Giám sát về các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động

2.2.4.3 Giám sát về việc thực hiện nộp phí bảo hiểm tiền gửi 49

Trang 4

2.2.5 Thực trạng giám sát từ xa của BHTGVN 51

2.2.5.1 Nội dung, hình thức, chất lượng báo cáo giám sát 51

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT

3.1.1 Định hướng phát triển chung của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 59 3.1.2 Định hướng phát triển đối với hoạt động giám sát từ xa 59

3.1.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ bảo hiểm tiền gửi giai

3.2 Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của BHTGVN đối với các tổ

3.2.1.1 Đáp ứng được yêu cầu cung cấp đầy đủ, chính xác thường xuyên,

liên tục những thông tin về tình hình hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi 61 3.2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và sự phát triển

3.2.2 Hoàn thiện nội dung và phương pháp giám sát 63

Trang 5

3.2.2.2 Giải pháp về nội dung và phương pháp giám sát: 63

3.3.1.1 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng pháp lý cho BHTGVN 67 3.3.1.2 Chỉ đạo việc phối hợp trao đổi thông tin của các Bộ,

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 68

3.3.2.1 Cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN bằng các văn bản

3.3.2.3 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động

3.3.2.4 Trình dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi để Quốc hội thông qua 69

3.3.3.1 Sửa đổi hướng dẫn thực hiện Quy chế giám sát cho phù hợp với các văn

3.3.3.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo và sử dụng cán bộ một cách hiệu quả 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Danh mục các bảng

Bảng 1: Bảng số 1 Bảng chỉ tiêu giám sát nhóm NHTMNN năm 2007

Bảng 2: Nguồn vốn hệ thống ngân hàng thương mại quý 4/2007

Bảng 3: Sử dụng vốn hệ thống ngân hàng thương mại quý 4/2007

Bảng 4: Kết quả kinh doanh hệ thống ngân hàng thương mại quý 4/2007

Bảng 5: Bảng tính phí một số NHTMNN quý 4/2007

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 1: Tỷ lệ nợ xấu / Tổng dư nợ của Ngân hàng Đầu tư và phát triển

Việt Nam

Biểu đồ 2: Lãi suất huy động VND tính đến hết quye1 4/2007

Biểu đồ 3: Diễn biến tỷ giá VND/USD của nhóm NHTMNN quý 4/2007 (giá bán) Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hoạt động trên toàn hệ thống quý 4/2007 Biểu đồ 5: Nợ xấu / Tổng dư nợ quý 4/2007

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

FDIC : Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (Federal Deposit Insurance of Corporation) KDIC : Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (Deposit Insurance of Korea)

CDIC : Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan

BHTGVN : Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Deposit Insurance of Viet Nam – DIV)

NHTMNN : Ngân hàng thương mại Nhà nước

NHCPĐT : Ngân hàng cổ phần đô thị

NHCPNT : Ngân hàng cổ phần nông thôn

NHLD : Ngân hàng liên doanh

CNNHNNg : Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực hoạt động tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro, việc phòng ngừa, xử lý rủi ro luôn đi song hành và là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và lành mạnh Sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi, một định chế tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận đã góp phần duy trì

sự phát triển ổn định, an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng

Ngày 01/9/1999 Chính phủ ký ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi và trên cơ sở đó Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã ra đời theo Quyết định thành lập số 218/1999/QĐ-TTg ngày 9/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ, chính thức đưa chính sách bảo hiểm tiền gửi vào thực tiễn từ tháng 7/2000 Sau hơn

7 năm hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã khẳng định được vai trò và vị thế của mình là một định chế tài chính quốc gia, là công cụ quan trọng của Chính phủ trong việc thanh tra giám sát hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng Bên cạnh mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng quan tâm phát triển nghiệp vụ giám sát từ xa, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong định hướng phát triển bảo hiểm tiền gửi

Xuất phát từ tình hình đó tôi chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ

giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi” làm đề tài luận văn của mình

Là sinh viên đang theo học khoa đào tạo sau đại học chuyên ngành tài chính ngân hàng tại Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, với mong muốn được nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi nói chung và nghiệp vụ giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi nói riêng, cùng với sự hướng dẫn của tiến sĩ Nguyễn Đắc Sinh, tôi đã dần hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp của mình Do kiến thức thực tế còn phần nào hạn

Trang 9

chế nên luận văn của tôi sẽ còn thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của tiến sĩ Nguyễn Đắc Sinh để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài: “Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của Bảo hiểm

tiền gửi Việt Nam đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi”, tôi mong muốn

làm rõ hơn sự cần thiết khách quan của hoạt động giám sát từ xa đối với tổ chức nhận tiền gửi; phản ánh một cách khách quan những tồn tại và bất cập về công tác giám sát từ xa; đề xuất các giải pháp sát với thực tế trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát từ xa đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định và an toàn hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng nghiệp vụ giám sát từ xa và hệ thống chỉ tiêu giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thời gian qua

Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài: Do đề cập đến vấn đề giám sát từ xa đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là rất phức tạp, liên quan đến tất cả các hoạt động ngân hàng, do đó phạm vi đề tài luận văn tốt nghiệp chủ yếu nghiên cứu nghiệp vụ giám sát từ xa đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là các Ngân hàng thương mại

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của phép duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử có kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê so sánh… đồng thời vận dụng các phương pháp khác của khoa học kinh tế

5 Kết cấu của luận văn

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp giám sát từ xa của

Bảo hiểm tiền gửi đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát từ xa các tổ chức tham gia bảo

hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP

GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1 BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI ĐỐI VỚI SỰ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi là định chế tài chính được thành lập nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động của

hệ thống tài chính ngân hàng

1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm tiền gửi

Ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn hàng đầu trong nền kinh tế Hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro, trong đó rủi ro về tín dụng, rủi ro kinh doanh ngoại tệ, rủi ro trong các nghiệp vụ thanh toán, là những rủi ro lớn, dễ xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thống ngân hàng Vì vậy, trong lịch sử phát triển của ngân hàng, các nước trên thế giới đã phải tìm ra các giải pháp để kiểm soát và xử lý khi rủi

ro xảy ra Họ đã xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế để có thể phòng ngừa và kiểm soát rủi ro Các chỉ tiêu này được sử dụng như một thước đo, giúp người quản

lý và điều hành có thể dự báo, nhận định tình hình, đề ra các giải pháp xử lý kịp thời

Để có thể xử lý các rủi ro, họ cũng xây dựng các biện pháp nghiệp vụ như một công

cụ để xử lý bằng cách trích từ chi phí nghiệp vụ để phòng ngừa rủi ro Với các khoản trích này được tích lũy trong một thời gian, đã giúp cho ngân hàng có đủ nguồn lực vật chất để xử lý khi rủi ro xảy ra Tuy nhiên giải pháp này không thu được nợ mà chỉ

có thể xử lý các khoản vay khó đòi bằng chi phí của mình

Bên cạnh đó, khi khả năng thanh khoản bị đe dọa, hoặc ngân hàng không còn khả năng chi trả, có nguy cơ dẫn đến phá sản, dẫn đến tổn thất không chỉ cho ngân hàng mà còn tổn thất cho người gửi tiền Lúc đó cần có một tổ chức đứng ra thực

Trang 12

hiện nghĩa vụ chi trả cho người gửi tiền và trong hoạt động của mình, bằng những công cụ tài chính tổ chức đó có thể hỗ trợ tài chính hoặc xử lý nợ của ngân hàng, tổ chức đó là bảo hiểm tiền gửi

Việc ra đời của tổ chức bảo hiểm tiển gửi là điều kiện cần thiết để góp phần duy trì sự ổn định trong hoạt động của các ngân hàng và sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng Quan trọng hơn là tạo niềm tin trong công chúng đối với hoạt động ngân hàng

Xác định được tầm quan trọng của bảo hiểm tiền gửi, nhiều quốc gia thường vận hành hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại quốc gia mình một cách riêng biệt phù hợp với mục tiêu chính sách công của quốc gia đó Sự lựa chọn phương thức hoạt động của một hệ thống bảo hiểm tiền gửi phụ thuộc vào những yếu tố riêng có của từng quốc gia

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi

Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm đặc biệt chỉ xuất hiện trong nền kinh

tế thị trường So với các loại hình bảo hiểm khác, ngoài tính chất chung của hoạt động bảo hiểm là lấy số đông bù số ít, bảo hiểm tiền gửi có những đặc điểm riêng có:

1.1.3.1 Bảo hiểm tiền gửi là loại hình tổ chức bảo hiểm đặc biệt, hoạt động

vì mục tiêu của chính sách công, không vì mục tiêu lợi nhuận

Ở hầu hết các quốc gia bảo hiểm tiền gửi được thành lập nhằm thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính ngân hàng Do đó hoạt động của bảo hiểm tiền gửi thực thi chính sách nhằm mục tiêu quản lý nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận

Trang 13

1.1.3.2 Đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi của khách hàng gửi vào ngân hàng

Hàng hóa mà dịch vụ Bảo hiểm tiền gửi cung cấp là bảo hiểm cho tiền gửi của người gửi tiền gửi vào tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Các loại hình bảo hiểm khác thường cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như: bảo hiểm thiệt hại vật chất bất ngờ, bảo hiểm tàu biển, bảo hiểm công nghiệp, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm bắt buộc cho nghĩa vụ của chủ xe cơ giới… Bảo hiểm tiền gửi bảo hiểm cho loại hàng hóa đặc biệt

và người thân Còn khách hàng của bảo hiểm tiền gửi là những tổ chức nhận tiền gửi bắt buộc phải tham gia để bảo vệ cho quyền lợi của khách hàng gửi tiền vào những tổ chức nhận tiền gửi đó Tóm lại, khách hàng của bảo hiểm tiền gửi tham gia bảo hiểm

vì quyền lợi của bên thứ ba

1.1.3.4 Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm là tổ chức nhận tiền gửi chứ không phải là người gửi tiền

Tuy bảo hiểm tiền gửi bảo hiểm cho tiền gửi của người gửi tiền song trách nhiệm nộp phí thuộc về tổ chức nhận tiền gửi Với các loại bảo hiểm thông thường người được bảo hiểm phải trực tiếp nộp phí để có được khoản bảo hiểm trong tương lai Nhưng đối với bảo hiểm tiền gửi thì người được chi trả khi xảy ra rủi ro lại không phải là người đóng phí bảo hiểm Bảo hiểm tiền gửi được coi như bảo hiểm cho nghĩa

vụ của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền

Trang 14

1.1.3.5 Việc chi trả bảo hiểm tiền gửi áp dụng đối với người gửi tiền

Đối với các trường hợp tổ chức nhận tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, bảo hiểm tiền gửi sẽ có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền với hạn mức

và trong khoảng thời gian theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

1.1.3.6 Việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi mang tính bắt buộc đối với các tổ chức tài chính có huy động tiền gửi, không thông qua hợp đồng bảo hiểm

Đối với các loại hình bảo hiểm khác để xác nhận việc tham gia bảo hiểm phải thông qua hợp đồng được ký giữa bên bảo hiểm và bên nhận bảo hiểm Việc tham gia bảo hiểm là tùy thuộc vào nhu cầu và sự lựa chọn của khách hàng, không mang tính bắt buộc Đối với loại hình bảo hiểm tiền gửi thì các tổ chức tài chính có huy động tiền gửi, nhất là tiền gửi của đối tượng là cá nhân thì bắt buộc phải tham gia bảo hiểm tiền gửi

1.1.3.7 Giấy chứng nhận Bảo hiểm tiền gửi phải được niêm yết công khai ở tất cả các điểm giao dịch của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Do việc tham gia bảo hiểm tiền gửi mang tính chất bắt buộc và nhằm mục tiêu bảo vệ người gửi tiền do đó Giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi phải được niêm yết công khai tại tất cả các điểm giao dịch để người gửi tiền yên tâm vì quyền lợi của mình được bảo vệ

1.1.3.8 Bảo hiểm tiền gửi có quyền thu hồi Giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Trong một số trường hợp nhất định, các tổ chức này vi phạm thì bảo hiểm tiền gửi có quyền thu phí phạt và thu hồi chứng nhận, thậm chí chấm dứt bảo hiểm tiền gửi đối với các tổ chức vi phạm Ví dụ như vi phạm về

Trang 15

thời hạn nộp phí, không nộp phí trong thời gian dài hoặc do yêu cầu của Ngân hàng nhà nước

1.1.3.9 Công cụ bảo hiểm tiền gửi là sự lựa chọn của nhiều quốc gia vì lợi ích đối với xã hội và nền kinh tế

Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền, góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng Cụ thể là chi trả tiền gửi được bảo hiểm nếu

tổ chức nhận tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán; trong trường hợp

tổ chức nhận tiền gửi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, nếu việc giải thể, phá sản có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng cũng như sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội, bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ bằng cách cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ của các đơn vị này Do lợi ích của bảo hiểm tiền gửi đem lại là rất lớn đối với hệ thống tài chính và việc thực hiện chính sách công, do đó công cụ bảo hiểm tiền gửi là sự lựa chọn của nhiều quốc gia trên thế giới

1.1.4 Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động của bảo hiểm tiền gửi được đánh giá là một trong các giải pháp bảo đảm ổn định và an toàn trong hoạt động ngân hàng thông qua cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền Vai trò của bảo hiểm tiền gửi được thể hiện trên nhiều góc độ do xuất phát từ bản chất của dịch vụ mà bảo hiểm tiền gửi cung cấp Đó là loại hình dịch

vụ công đặc biệt, có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới tất cả các thành viên trong xã hội Vai trò của bảo hiểm tiền gửi có tác dụng thu hút tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong cộng đồng, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng Từ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế vững chắc Vai trò nổi bật của bảo hiểm tiền gửi được thể hiện trên các mặt sau:

Trang 16

1.1.4.1 Bảo vệ người gửi tiền có hiểu biết giới hạn về tài chính, góp phần củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng

Mục tiêu của chính sách công cho bảo hiểm tiền gửi thường được nêu ra là bảo vệ những người có hiểu biết giới hạn về tài chính, đó là những người có những khoản tiền gửi nhỏ Họ được bảo vệ vì những lý do sau đây Thứ nhất, bảo hiểm tiền gửi bảo vệ những người gửi tiền cá nhân trước những hậu quả của sự đổ vỡ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Thứ hai, quỹ dự phòng bảo hiểm tiền gửi làm giảm bớt gánh nặng đối với người gửi tiền được bảo hiểm trước vấn đề khó khăn và phức tạp là đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tài chính nơi họ gửi tiền

Chi trả và hỗ trợ đầy đủ, kịp thời cho khách hàng khi các ngân hàng mất khả năng thanh toán Vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền của Bảo hiểm tiền gửi được thể hiện rất rõ và được tạo lập trên cơ sở niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng

Bảo hiểm tiền gửi là chỗ dựa vô cùng quan trọng cho các ngân hàng trong việc củng cố, duy trì và làm tăng lòng tin của công chúng và toàn xã hội trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn

1.1.4.2 Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng của quốc gia phát triển

Thông qua hoạt động giám sát và kiểm tra nhằm phát hiện sớm rủi ro trên cơ

sở đó cảnh báo tới các ngân hàng, Bảo hiểm tiền gửi đã góp phần đảm bảo ổn định hoạt động ngân hàng và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng tránh đổ vỡ ngân hàng

Các hoạt động nghiệp vụ của bảo hiểm tiền gửi góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình

độ phát triển khác nhau, tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới hoạt động ngân hàng

Quy định rõ trách nhiệm và quyền của người gửi tiền, tổ chức huy động tiền gửi và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có ngân hàng đổ bể

Trang 17

1.1.4.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Với vai trò bảo vệ người gửi tiền, bảo hiểm tiền gửi tạo niềm tin trong công chúng và toàn xã hội trong việc mở rộng huy động vốn, thu hút tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi Việc thiết lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi có thể làm tăng cường dòng vốn chảy vào các tổ chức nhận tiền gửi, nhờ đó tạo nguồn cho hoạt động cho vay và đầu tư Do đó bảo hiểm tiền gửi góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách gián tiếp

1.1.4.4 Giảm thiểu rủi ro rút tiền hàng loạt

Khi không có hệ thống bảo hiểm tiền gửi, có một khả năng lớn có thể xảy ra là người gửi tiền có thể rút tiền hàng loạt do những khó khăn – có thể là thực sự hoặc chỉ là hiện tượng quan sát – tại tổ chức nhận tiền gửi đó Khi hiện tượng rút tiền hàng loạt xảy ra tại một tổ chức nó có thể kéo theo hiện tượng trên tại các tổ chức khác mà không quan tâm đến tình trạng hoạt động thực tế của các tổ chức đó do người gửi tiền không có khả năng phân biệt được một tổ chức hoạt động lành mạnh hay không Khả năng của hệ thống bảo hiểm tiền gửi trong việc ngăn chặn hoặc tránh hiện tượng rút tiền hàng loạt phụ thuộc vào mức độ người gửi tiền nhận thấy mình được bảo vệ như thế nào đối với những thiệt hại khi một tổ chức bị đổ vỡ Điều này phụ thuộc vào hạn mức chi trả, tốc độ chi trả bảo hiểm và mức độ tín nhiệm của hệ thống bảo hiểm sẽ tác động đến mức độ tăng cường ổn định hệ thống tài chính Hệ thống bảo hiểm tiền gửi tự nó không thể đảm bảo ổn định hệ thống tài chính Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hệ thống Hệ thống bảo hiểm tiền gửi sẽ hiệu quả hơn nếu nó là bộ phận cấu thành của Mạng an toàn tài chính bao gồm các cơ quan kiểm tra, giám sát và công cụ người cho vay cuối cùng

1.1.4.5 Tạo ra một cơ chế chính thức trong việc xử lý các ngân hàng bị đổ

vỡ

Việc xây dựng hoặc cải cách hệ thống bảo hiểm tiền gửi có thể liên quan đến

nỗ lực của quốc gia trong việc xây dựng Luật và cơ chế xử lý các tổ chức bị đổ vỡ

Trang 18

Việc xây dựng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có thể liên hệ với thiết lập khung pháp lý cho việc xử lý đổ vỡ ngân hàng của quốc gia

1.1.4.6 Góp phần vào một hệ thống thanh toán theo trật tự

Bảo hiểm tiền gửi góp phần tăng cường ổn định tài chính thông qua việc đóng góp vào sự hoạt động thuận lợi của hệ thống thanh toán Thông qua việc tăng cường niềm tin trong hệ thống, bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch tiền gửi dễ dàng giữa các bên Để hệ thống thanh toán hoạt động, người gửi tiền phải tin chắc rằng tiền gửi của mình được an toàn như tiền mặt

Bên cạnh đó, bảo hiểm tiền gửi có thể cung cấp một số hình thức hỗ trợ tài chính tức thời, điều này có thể đảm bảo giao dịch thanh toán giữa các tổ chức gặp vấn đề Hình thức hỗ trợ này có thể giúp tránh sự gián đoạn trong nghiệp vụ chi trả

và dòng tiền thanh toán

1.1.4.7 Giải quyết khủng hoảng tài chính

Hệ thống bảo hiểm tiền gửi thường được thiết lập khi một quốc gia đang trải qua hoặc vừa trải qua một giai đoạn mất ổn định nghiêm trọng về tài chính Khi vấn

đề trong khu vực tài chính xảy ra, bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức duy trì ổn định đối với tiền gửi và là công cụ bảo đảm với người gửi tiền về độ

an toàn của tiền gửi của họ

Hệ thống bảo hiểm tiền gửi được xây dựng nhằm đẩy lùi bất ổn hệ thống tài chính trong ngắn hạn có thể dẫn đến các vấn đề trong dài hạn

1.1.4.8 Thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực tài chính trong việc giảm thiểu các rào cản cạnh tranh trong lĩnh vực nhận tiền gửi

Thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức mới tham gia vào hoạt động nhận tiền gửi và giúp đỡ các tổ chức nhỏ cạnh tranh với các tổ chức lớn, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể khuyến khích cạnh tranh Khi không có tổ chức bảo hiểm tiền gửi, người gửi tiền có xu hướng lựa chọn các tổ chức lớn, được biết đến

Trang 19

rộng rãi và được cho là ít có ít nguy cơ xảy ra rủi ro đổ vỡ Hiện tượng này phản ánh một số yếu tố Thứ nhất, tổ chức lớn có danh mục đầu tư đa dạng hơn các tổ chức nhỏ Thứ hai, tổ chức lớn có thể nhận được bảo lãnh ngầm của Chính phủ do các tổ chức này được xem là quá lớn để có thể đổ vỡ Thứ ba, các tổ chức này thường có lịch sử lâu đời và đã xây dựng được thương hiệu trong công chúng Lợi ích của việc khuyến khích việc gia nhập và cạnh tranh các tổ chức mới có thể nâng cao hiệu quả kinh tế, làm giảm tỉ lệ lãi suất, tăng đầu tư và phát triển kinh tế Việc thực hiện các mục tiêu trên gặp khó khăn về khung pháp lý được xây dựng chỉ phản ánh các vấn đề

cụ thể liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi và không đủ toàn diện để góp phần vào sự ổn định tổng thể của hệ thống tài chính

1.1.4.9 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông qua các quy định pháp lý và

cơ chế giám sát

Việc thiết lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi có thể tạo động lực cho các nhà lập pháp trong việc vượt qua các rào cản về chính trị nhằm thực hiện các cải cách cần thiết cho việc duy trì ổn định hệ thống tài chính

1.1.4.10 Phân bổ lại chi phí đổ vỡ

Tại các quốc gia không có hệ thống bảo hiểm tiền gửi chính thức, chi phí bảo

vệ người gửi tiền thường do Chính phủ gánh chịu Việc thiết lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi công khai có thể làm giảm bớt gánh nặng tài chính của Chính phủ thông qua việc thực hiện chi trả trong giới hạn và cung cấp một cơ chế thông qua đó các tổ chức lành mạnh sẽ trang trải toàn bộ hoặc một phần chi phí giải quyết đổ vỡ Tuy nhiên, khả năng đóng góp của các tổ chức lành mạnh phụ thuộc vào tình hình tài chính của

họ Điều này đặt ra sự cần thiết đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc điều chỉnh mức phí bảo hiểm tiền gửi nhằm phản ánh khả năng đóng góp từng tổ chức

Trang 20

1.2 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.2.1 Khái niệm giám sát từ xa

1.2.1.1 Khái niệm giám sát từ xa

Giám sát từ xa là quá trình thu thập, xử lý số liệu tiến hành phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các ngân hàng trên cơ sở báo cáo tài chính, báo cáo thống

kê và các thông tin khác do ngân hàng gửi cho bảo hiểm tiền gửi và qua việc trao đổi, thu thập thông tin từ các nguồn khác Từ đó lập báo cáo và ra các văn bản khuyến cáo đối với các ngân hàng nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các ngân hàng, cảnh báo sớm, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, có tác dụng định hướng cho thanh tra tại chỗ, đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng

1.2.1.2 Hoạt động giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động giám sát là chức năng quan trọng của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, góp phần tác động lên tiến trình lành mạnh hóa hệ thống tài chính thông qua nghiệp

vụ giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ Nhờ đó, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tiếp cận được các mặt yếu kém trong hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi để đánh giá chính xác những yếu tố rủi ro Nói cách khác, giám sát của tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo hướng tích cực được tập trung vào kiểm tra những mặt yếu kém của hoạt động ngân hàng Đối tượng giám sát là tài sản xấu, nợ khó đòi, công tác quản lý có nhiều vấn đề Kết quả giám sát theo các chuẩn mực là cơ sở để tổ chức bảo hiểm tiền gửi áp dụng giải pháp tác động tích cực tiếp theo như: để thu phí theo mức độ rủi ro, để xử lý tài sản, nợ xấu, nợ khó đòi, thông qua nghiệp vụ mua bán nợ, hỗ trợ tài chính Hơn nữa, các nghiệp vụ này được thực hiện ngay cả trước khi tổ chức nhận tiền gửi bị phá sản

Ngày nay, hoạt động giám sát an toàn hệ thống đã làm thay đổi cơ bản diện mạo

và nội dung hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính Nhà nước,

so với các quỹ bảo hiểm tiền gửi chỉ thực hiện chức năng chi tiền mặt cho người gửi

Trang 21

tiền sau khi tổ chức nhận tiền gửi đóng cửa Hoạt động giám sát quan trọng đến mức nhiều nước gọi tổ này là cơ quan giám sát hoặc như một thành viên của hệ thống giám sát an toàn tài chính quốc gia

1.2.2 Đặc điểm giám sát từ xa

Giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi về nguyên tắc cơ bản cũng như hoạt động giám sát từ xa của các cơ quan thanh tra, giám sát khác Để đạt được đầy đủ các mục tiêu mà hoạt động bảo hiểm tiền gửi đề ra, đặc biệt đối với quốc gia mà ở đó hệ thống kiểm soát hoạt động ngân hàng còn hạn chế, môi trường pháp lý và kỷ cương thị trường đang trong quá trình hình thành, hoạt động kiểm tra và giám sát hoạt động ngân hàng của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tuân theo khuôn khổ pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của từng quốc gia quy định Môi trường pháp lý của từng quốc gia khác nhau, quy định về hoạt động giám sát từ của bảo hiểm tiền gửi cũng có những nét riêng biệt Tuy nhiên nhìn chung hoạt động giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi

có những đặc điểm sau:

1.2.2.1 Địa điểm tiến hành giám sát

Việc giám sát được thực hiện tại trụ sở của cơ quan giám sát, chứ không phải tại trụ sở của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

1.2.2.2 Nguồn số liệu để giám sát

Giám sát từ xa sử dụng nguồn thông tin từ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và các nguồn thông tin được thu thập khác Thực hiện chế độ thông tin báo cáo của bảo hiểm tiền gửi các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi định kỳ gửi báo cáo theo quy định Đây là nguồn số liệu chính phục vụ cho công tác giám sát từ xa

Ngoài ra, giám sát từ xa còn sử dụng các nguồn thông tin khác được thu thập như: thông tin do Ngân hàng nhà nước cung cấp, thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng

Trang 22

1.2.2.3 Cách thức giám sát

Việc giám sát được thực hiện liên tục theo định kỳ tháng, quý, năm trên cơ sở nguồn thông tin từ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, của các cơ quan thanh tra giám sát khác và các nguồn thông tin khác tự thu thập

Hệ thống các chỉ tiêu phân tích, đánh giá dựa trên khuôn khổ CAMELS và hệ thống các nguyên tắc của Hiệp ước Basel 1, Basel 2

Xử lý thông tin, phân tích, đánh giá, đưa ra những nhận định về thực trạng của từng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và của cả hệ thống

Các chương trình giám sát được thực hiện trên mạng máy tính, trên cơ sở phần mềm giám sát xử lý thông tin

1.2.3 Các phương pháp giám sát từ xa

Phương pháp giám sát từ xa phụ thuộc vào các yếu tố khuôn khổ luật pháp, hệ thống kiểm toán, chế độ hạch toán, kỷ luật thông tin báo cáo ở từng nước có vận dụng khác nhau về nội dung, về quy mô của phương pháp này Các cơ quan giám sát tại các quốc gia có hệ thống giám sát và ngân hàng phát triển thường sử dụng kết hợp nhiều hệ thống, phương pháp để đánh giá, giám sát rủi ro, qua đó có điều kiện để phát hiện ra dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong quá trình hoạt động Các hệ thống được sử dụng thường kết hợp những đánh giá định tính và những tính toán định lượng Việc lựa chọn tỉ trọng của nhân tố định tính và nhân tố định lượng

Trang 23

thay đổi rất khác nhau tùy theo từng quốc gia Hệ thống bảo hiểm tiền gửi ở các quốc gia khác nhau, vận dụng các phương pháp giám sát khác nhau Tuy nhiên về cơ bản gồm những nội dung sau:

1.2.3.1 Hệ thống xếp hạng

Hệ thống xếp hạng giám sát ngân hàng được dựa trên cơ sở kết quả kiểm tra tại chỗ, cho phép cơ quan giám sát xác định được các tổ chức cần phải lưu ý theo kết quả xếp hạng hàng năm

Hệ thống xếp hạng được xây dựng theo thông lệ quốc tế và có vận dụng cho phù hợp với thực trạng hệ thống tài chính ngân hàng của từng quốc gia

Các hệ thống xếp hạng thường được áp dụng:

a) Hệ thống xếp hạng theo CAMELS

Hệ thống CAMELS được xây dựng và các cơ quan giám sát Mỹ sử dụng từ những năm 1980 Hệ thống xếp hạng theo phương pháp CAMELS tính toán với các tiêu chí Vốn, Chất lượng tài sản, Khả năng Quản lý, Thu nhập và Tính thanh khoản

để xếp hạng các ngân hàng theo mức từ 1đến 5 theo mức độ cần giám sát tăng dần

Từ năm 1996, hệ thống này mới bổ sung thêm các tiêu chí về mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường Mô hình giám sát từ xa theo CAMELS hiện đang được nhiều nước trên thế giới thực hiện, chứa đựng đầy đủ những nội dung cần thiết để tiến hành đánh giá xếp hạng các ngân hàng Các thành phần của CAMELS là: C = Capital adequacy (sự đủ vốn); A = Assets quality (chất lượng tài sản có); M = Management capacity (năng lực quản lý); E = Earnings (khả năng sinh lời); L = Liquydity (khả năng thanh toán); S = Sensibility to market risk (sự nhạy cảm rủi ro thị trường), cụ thể:

- Mức đủ vốn (yếu tố C): Vốn ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng hơn không chỉ đơn thuần là vốn tự có của ngân hàng Vốn tự có của ngân hàng chỉ là thành phần được đưa ra đầu tiên để giám sát sự đủ vốn của ngân hàng Một ngân hàng hoạt động trong môi trường kinh doanh bình đẳng, có đủ vốn là một lợi thế và còn là nội dung bắt buộc Một ngân hàng cần duy trì một mức vốn đảm bảo chống đỡ

Trang 24

với các loại rủi ro đặc trưng của ngân hàng và khả năng quản lý để xác định, đo lường, kiểm soát và điều chỉnh những rủi ro này Các loại hình và mức độ rủi ro tác động đến hoạt động của một ngân hàng sẽ quyết định đến mức vốn cần duy trì thêm trên mức vốn tối thiểu theo quy định để từ đó có thể đề phòng những hậu quả xấu mà những rủi ro này có thể có đối với mức vốn của ngân hàng

- Chất lượng tài sản có (Yếu tố A): Tài sản có của ngân hàng được xem là có

chất lượng, khi ngân hàng quản lý được rủi ro, tránh được sự tập trung tín dụng, tỷ lệ

nợ bị phân loại trong tổng dư nợ ở mức chấp nhận được Chất lượng tài sản có được đánh giá dựa trên mức độ, sự phân bổ và tình trạng của các nhóm tài sản không tính cộng dồn và tài sản được giảm lãi suất; mức độ đảm bảo dư nợ, năng lực quản lý và điều hành, việc xử lý và thu hồi những khoản nợ có vấn đề Mức đảm bảo dự phòng

nợ và khả năng có thể xử lý và thu hồi các khoản nợ có vấn đề chính là yếu tố tác động tốt, ở một chừng mực nào đó, đến khả năng khắc phục những khó khăn có thể xảy ra với các nhóm nợ Việc đánh giá chất lượng tài sản có nên xem xét đến các mức độ tập trung tín dụng hoặc đầu tư, bản chất và số lượng của các nhóm nợ đặc biệt, và tính hợp lý của các chính sách cho vay và các quy trình thủ tục tín dụng

- Năng lực quản lý (Yếu tố M): Giám sát về năng lực quản lý điều hành của Ban điều hành như: trình độ năng lực của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc, trình

độ của hệ thống nhân viên, sự hoàn hảo của hệ thống thông tin quản lý… Năng lực quản lý cần được đánh giá dựa trên tất cả các yếu tố được cho là cần thiết đối với hoạt động của ngân hàng trong một môi trường an toàn và các hoạt động ngân hàng được chấp nhận Do vậy, năng lực quản lý được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, năng lực điều hành và lãnh đạo, các chính sách và quy trình quản lý rủi ro, khả năng tuân thủ pháp luật và các quy định, khả năng lên kế hoạch và đối phó với những biến động của môi trường và những kết quả từ sự thành công trong quản lý Việc đánh giá năng lực quản lý cũng cần xem xét đến những chất lượng của những hoạt động kinh doanh và tất cả các chính sách cho vay, đầu tư và kinh doanh, cũng như sự tham gia của Ban giám đốc và các cổ đông Căn cứ vào đặc trưng và phạm vi hoạt động của ngân hàng, hoạt động quản lý có thể xem xét đến một số hoặc tất cả những rủi ro sau:

Trang 25

rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, hoặc các giao dịch, danh tiếng, chiến lược, khả năng tuân thủ, tính pháp lý và thanh khoản của ngân hàng

- Khả năng sinh lời (Yếu tố E): Khả năng sinh lời được đánh giá dựa trên khả năng xử lý với các khoản nợ mất vốn và khả năng đảm bảo mức vốn cần thiết, xu hướng tăng trưởng của thu nhập, so sánh trong nhóm tương đồng, chất lượng và các thành phần của thu nhập ròng, mức độ thu nhập của nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất Việc đánh giá cũng cần xem xét mối quan hệ với tỷ lệ chi trả cổ tức, với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận để lại và mức độ đảm bảo vốn của ngân hàng Mức đảm bảo dự phòng mất nợ và đề phòng với những bất thường, với các giao dịch chứng khoán và với các tác động của thuế cũng được xem xét khi đánh giá khả năng sinh lời

- Khả năng thanh khoản (Yếu tố L): Mức độ thanh khoản được đánh giá theo khả năng thanh toán nhanh chóng các khoản tiền gửi; tần suất và mức độ sử dụng nguồn vốn đi vay của ngân hàng; năng lực chuyên môn liên quan đến cơ cấu tài sản nợ; mức độ sẵn có của tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt và mức độ tiếp cận với thị trường tiền tệ hoặc những nguồn vốn khác Mức độ thanh khoản của một ngân hàng phải được đánh giá theo từng giai đoạn và từng thời điểm cụ thể Cũng cần phải xem xét đến hiệu quả nói chung của chiến lược quản lý tài sản có – tài sản nợ của ngân hàng cũng như mức độ tuân thủ và mức độ đầy đủ của các chính sách về thanh khoản của họ Về bản chất, số lượng và sử dụng trước các cam kết về tín dụng và bảo lãnh cũng là các yếu tố đuợc đưa vào xem xét

- Sự nhạy cảm rủi ro thị trường (Yếu tố S): Mức độ nhạy cảm với rủi ro phản ánh mức độ tại đó những thay đổi về lãi suất, tỉ giá hối đoái, giá tiêu dùng hoặc giá vốn có thể ảnh hưởng đến thu nhập hoặc vốn cuă một ngân hàng Khi đánh giá hạng mục này xem xét cả các vấn đề sau: khả năng của Ban lãng đạo ngân hàng trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro thị trường; quy mô ngân hàng; bản chất và mức độ phức tạp về các hoạt động kinh doanh của ngân hàng; và mức độ đầy

đủ về vốn và thu nhập liên quan đến mức độ rủi ro thị trường Đối với nhiều ngân hàng, các rủi ro thị trường chủ yếu xuất phát từ trạng thái đầu tư theo đúng kỳ hạn và

Trang 26

mức độ nhạy cảm với những thay đổi về lãi suất Ở một số ngân hàng lớn hơn, các hoạt động ở nước ngoài có thể là nguyên nhân chủ yếu về rủi ro thị trường và một số khác thì các hoạt động kinh doanh ngoại hối lại là nguyên nhân chính về rủi ro thị trường

Việc xếp hạng sẽ được sử dụng để đánh giá thực trạng của hệ thống ngân hàng, đưa ra những hoạt động cần thiết cho thanh tra tại chỗ Nội dung của toàn bộ hoạt động thanh tra tại chỗ sẽ dẫn đến những điều chỉnh cho việc xếp hạng tổng thể CAMELS Mức xếp hạng tổng hợp là kết quả của việc xếp hạng 6 yếu tố trên Xếp hạng 1 là mức xếp hạng cao nhất với ý nghĩa là tổ chức có hệ thống tốt nhất, đảm bảo chất lượng quản lý rủi ro, gắn liền với một mức độ giám sát ít nhất Xếp hạng 5 là mức xếp hạng xấu nhất, tức là tổ chức này có hoạt động yếu kém, không đảm bảo khả năng quản lý rủi ro và đòi hỏi khả năng quản lý rủi ro và đòi hỏi hoạt động giám sát cao nhất cho tổ chức này

b) Các mô hình xếp hạng khác

Ngoài ra, có một số mô hình khác được sử dụng ở các cơ quan giám sát khác nhau hoặc ở các quốc gia khác nhau như ORAP, PATROL nhưng về cơ bản, các mô hình đó cũng dựa trên cơ sở các tiêu chí tương đối giống như mô hình CAMELS

Phân tích từng ngân hàng bằng nhiều tiêu chí được chuẩn hóa (ORAP): ORAP nhằm phát hiện từ gốc những yếu kém có thể có của các ngân hàng, dựa trên việc nghiên cứu toàn bộ những thành tố của rủi ro gắn với hoạt động và môi trường riêng của từng ngân hàng và qua đó bổ sung cho việc tổ chức và tăng cường hoạt động phòng ngừa Phân tích được thực hiện bằng cách nghiên cứu các số liệu về an toàn và được bổ sung thêm bằng việc đánh giá định lượng và định tính các yếu tố gây rủi ro như phân tích hoạt động của ngân hàng, việc tuân thủ các hệ số an toàn, đánh giá định tính và định lượng các cam kết, đánh giá khả năng sinh lời sau cùng, khả năng kiềm chế rủi ro Như vậy, việc phân tích từng ngân hàng được chuẩn hóa gồm nhiều tiêu chí nêu trên nhằm mục đích xác định những yếu tố gây đổ vỡ, rủi ro cho một

Trang 27

ngân hàng và qua đó yêu cầu ngân hàng đó thực hiện những biện pháp điều chỉnh trước khi có thể xảy ra những khó khăn

1.2.3.2 Hệ thống phân tích tỉ lệ tài chính và nhóm tương đồng

Hệ thống này sử dụng các tỉ lệ và phân tích theo nhóm tương đồng để đánh giá các chỉ tiêu với mục đích có thể nhận diện được những vấn đề hoặc các dấu hiệu rủi

ro của các ngân hàng để đưa ra cảnh báo sớm Ở từng quốc gia, các cơ quan giám sát

sử dụng phương pháp phân tích này với số lượng các tỉ lệ tài chính khác nhau

Hệ thống giám sát BAKIS được thực hiện vào năm 1997 ở cơ quan giám sát

và ngân hàng Trung ương Đức, sử dụng 47 tỉ lệ trong đó: 19 tỉ lệ về rủi ro tín dụng,

16 tỉ lệ về rủi ro thị trường, 2 tỉ lệ về khả năng thanh khoản, 10 tỉ lệ về khả năng sinh lời để thực hiện giám sát hoạt động của ngân hàng Các tỉ lệ này được phân tích theo tháng, quý, năm để đánh giá khả năng phòng ngừa và chịu đựng rủi ro của từng ngân hàng

Hệ thống phát hiện nhanh rủi ro của Ủy ban ngân hàng tại Pháp thực hiện phân chia các ngân hàng hay ngân hàng thành nhóm tín dụng tương đồng (GHE): Việc lập nhóm các ngân hàng tương đồng về phương diện hoạt động và cơ cấu cho thấy là thích hợp nhất để cho phép thực hiện việc phân tích, so sánh Vì trên thực tế, mỗi nhóm ngân hàng tương đồng được hình thành bởi các ngân hàng có những đặc điểm chung về phương diện hoạt động, quy mô, tầm cỡ, điều này cho phép định vị được một ngân hàng với các ngân hàng còn lại trong nhóm (tách xa so với số liệu bình quân chung của nhóm) Việc phân chia các ngân hàng được căn cứ theo các tiêu chí khách quan được rút ra từ các yếu tố của bảng cân đối kế toán và các báo cáo khác cùng những số liệu định tính về ngân hàng và việc xác định loại hình ngân hàng

để phân chia vào nhóm ngân hàng tương đồng được dựa trên sự kết hợp giữa 2 yếu tố

là “khách hàng” và “sản phẩm” của ngân hàng

Trang 28

1.2.3.3 Hệ thống đánh giá rủi ro

Phương pháp này cho phép các cơ quan giám sát đánh giá tổng hợp về tình hình rủi ro của toàn bộ ngân hàng Cụ thể, các khoản mục hoạt động của ngân hàng hoặc nhóm ngân hàng sẽ được phân chia thành từng mục, từ đó phân tích tình hình rủi ro, cấu trúc và kiểm soát của ngân hàng dựa trên cơ sở một số những yếu tố nhất định Trên cơ sở đó, mô hình sẽ đưa ra kết quả chấm điểm đối với từng ngân hàng trong những khoảng thời gian nhất định Sau đó, sử dụng trọng số để kết hợp các phân tích định lượng và đánh giá định tính để đưa ra mức điểm cuối cùng

1.2.3.4 Mô hình thống kê

Mô hình thống kê dự báo về tình hình hoạt động của các ngân hàng được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây vì những mô hình này có tác dụng cảnh báo sớm cao Các mô hình này thường sử dụng những kĩ thuật định lượng tiên tiến để dự báo về tình hình hoạt động và mức độ rủi ro dựa trên những số liệu hiện tại, qua đó cho phép các cơ quan giám sát có thể phân loại những ngân hàng có mức độ rủi ro, nguy cơ đổ vỡ cao hoặc ngân hàng có rủi ro và nguy cơ đổ vỡ thấp Phương pháp này được áp dụng vào đầu những năm 90, xuất phát từ nguyên nhân có hàng loạt các ngân hàng bị đổ vỡ ở Mỹ, chi phí để giải quyết những ngân hàng sau khi đổ vỡ là quá lớn

Phương pháp thống kê phân tích tổng thể (SAABA): đây là hệ thống trợ giúp phân tích ngân hàng một cách tự động hóa nhằm phát hiện một cách nhanh nhất có thể những yếu tố gây rủi ro Sự độc đáo của hệ thống này chính là phần mềm tin học Toàn bộ những thông tin liên quan đến từng ngân hàng lấy từ các cơ sở dữ liệu khác nhau được tái tạo lại dưới dạng tin học để có thể xử lý một cách tự động để có thể xem xét, đánh giá những rủi ro khác nhau của ngân hàng Những loại hình rủi ro khác nhau được xử lý thích hợp với bản chất của chúng, những rủi ro mang tính định lượng sẽ được tiếp cận qua đánh giá tài chính, những rủi ro định tính sẽ được xử lý bằng hệ thống chuyên gia SAABA theo một phương pháp dàn dựng đặc thù với mỗi ngân hàng Đối với mỗi ngân hàng thông qua việc sử dụng phương pháp này người

Trang 29

sử dụng có thể nắm bắt được: Một bản phân tích tổng hợp về ngân hàng; nhiều phân tích từng phần tương ứng với những khía cạnh chính của rủi ro ngân hàng; một bản trình bày chi tiết về ngân hàng để người sử dụng có thể chọn lựa mức độ chi tiết mong muốn (đi từ những yếu tố chính của rủi ro đến việc phân tích các số liệu kế toán và tài chính)

1.3 KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VỀ NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Hầu hết các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đều quan tâm tới công tác kiểm tra và giám sát Tùy theo môi trường pháp lý và tính chất hoạt động mà công tác giám sát ở Bảo hiểm tiền gửi mỗi nước có những điểm khác biệt Tuy nhiên hầu hết đều xây dựng các tiêu chí giám sát trên cơ sở khuôn khổ CAMEL

1.3.1 Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC):

FDIC là tổ chức có sự quan tâm chú ý đến công tác kiểm tra, giám sát các ngân hàng nhất trong số các tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới Ngay từ khi mới thành lập tổ chức này đã có hơn 4.000 ủy viên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát

và cho tới nay con số này đã lên tới khoảng 8.000 người

Nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:

- Kiểm tra, giám sát việc đảm bảo là thành viên tham gia bảo hiểm tiền gửi và

bổ sung vốn nhằm đảm bảo quy định về vốn trong hoạt động ngân hàng

- Kiểm tra, giám sát khả năng đảm bảo hoạt động lành mạnh và an toàn của ngân hàng với bốn nội dung:

+ Xác định chất lượng tài sản hiện có

+ Phát hiện các hoạt động phát sinh có thể dẫn đến khó khăn tài chính + Thẩm định điều hành ngân hàng

+ Phát hiện các hoạt động không bình thường và có dấu hiệu vi phạm pháp luật

Trang 30

Hoạt động giám sát từ xa của FDIC cũng dựa trên cơ sở xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá, phân loại và xếp hạng các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi FDIC sử dụng hệ thống các chỉ tiêu xếp hạng theo CAMELS, theo đó giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi về các mặt như: mức đủ vốn, chất lượng tài sản có, năng lực quản lý, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản, sự nhạy cảm rủi

ro thị trường Hệ thống xếp hạng đánh giá dựa trên các chỉ tiêu định tính và định lượng Các chỉ tiêu định lượng được cho điểm từng chỉ tiêu và từng hạng mục Các chỉ tiêu định tính nhận xét và đánh giá theo dạng bảng hỏi FDIC yêu cầu các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ cho công tác giám sát Đồng thời FDIC cũng sử dụng kết quả giám sát của cơ quan giám sát ngân hàng để có thêm cơ sở đánh giá thực trạng của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

1.3.2 Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC)

KDIC được xác định là bộ phận trong cơ cấu giám sát tài chính quốc gia KDIC sử dụng thông tin chủ yếu để giám sát từ số liệu và kết quả đánh giá của Ban giám sát tài chính Đây là Ban giám sát độc lập, tiến hành giám sát các tổ chức tài chính và cung cấp kết quả cho các cơ quan quản lý khi có yêu cầu Trên cơ sở đó, KDIC có thể nghiên cứu, giám sát và kiểm tra, xây dựng hệ tống cảnh báo riêng đối với hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính hiện thời của tổ chức tài chính được bảo hiểm, qua đó dựa vào các tiêu chuẩn đã được quy định, KDIC có thể phát hiện thấy tổ chức này có nguy cơ mất khả năng thanh toán

Nội dung giám sát chủ yếu đánh giá về việc thực hiện nộp phí, việc đảm bảo

an toàn trong hoạt động ngân hàng và phân loại tổ chức tài chính được bảo hiểm Phương pháp giám sát dựa vào các tiêu chí đánh giá theo mô hình CAMELS

Trên cơ sở kết quả giám sát KDIC có quyền yêu cầu các tổ chức tài chính được bảo hiểm và Tổng công ty kiểm soát tài chính đệ trình các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính hiện thời từ đó có sự đánh giá nhất định

Trang 31

về quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các tổ chức này và để phân loại các tổ chức tài chính được bảo hiểm

Trong trường hợp dựa trên kết quả phân tích và đánh giá, khi thấy cần thiết phải bảo vệ người gửi tiền và duy trì tính ổn định của hệ thống tài chính, KDIC có quyền yêu cầu Chủ tịch Ban giám sát tài chính gửi bản tường trình kết quả về cuộc kiểm tra giám sát hoặc chỉ đạo hướng dẫn các thành viên trong Ban giám sát tài chính cùng tham gia kiểm tra giám sát tổ chức tài chính được bảo hiểm bằng nghiệp vụ cụ thể

Trong trường hợp cần thiết phải xác nhận lại nội dung dữ liệu báo cáo của các

tổ chức tài chính được bảo hiểm để phân loại rủi ro trong khả năng dễ xảy ra rủi ro đối với các tổ chức này thì KDIC có quyền yêu cầu Chủ tịch Ban giám sát tài chính tiến hành kiểm tra giám sát các tổ chức này

1.3.3 Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan (CDIC)

Mặc dù triển khai chậm hơn nhiều nước trên thế giới song chính sách BHTG ở Đài Loan đã khẳng định được vai trò to lớn trong kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt có tác dụng kiểm soát hiện tượng khủng hoảng hệ thống ở quốc gia này Để đạt được kết quả nêu trên bên cạnh việc áp dụng tính phí theo mức độ rủi

ro và xây dựng thành công Hệ thống cảnh báo sớm tài chính quốc gia thì CDIC rất coi trọng các hoạt động nghiệp vụ kiểm tra, giám sát Các hoạt động này được tiến hành bài bản, có hiệu quả cao, có đóng góp lớn trong bảo đảm an toàn và ổn định hoạt động ngân hàng Nội dung của nghiệp vụ kiểm tra giám sát bao gồm:

- Giám sát kiểm tra về phí bảo hiểm tiền gửi

- Điều tra điều kiện chấm dứt tư cách thành viên bảo hiểm tiền gửi

- Giám sát kiểm tra tài sản có và tài sản nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có vấn đề

CDIC rất coi trọng việc sử dụng thông tin phục vụ cho công tác giám sát, kiểm tra Theo đó nếu CDIC thấy cần thiết và sau khi được sự đồng ý của cơ quan chức năng có tham khảo ý kiến của Ngân hàng trung ương Đài Loan, CDIC có thể kiểm tra

Trang 32

kết quả kinh doanh và tài khoản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc hướng dẫn tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chuẩn bị và nộp trong thời hạn quy định bảng cân đối tài sản, báo cáo tài sản và các báo cáo khác CDIC dựa trên những phát hiện

từ các cuộc kiểm tra hoặc các báo cáo nói trên, sẽ đề xuất những điều chính đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong một thời gian quy định Nếu trong thời gian đó

mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không tự điều chỉnh thì CDIC sẽ báo cáo vấn

đề này cho các cơ quan chức năng Những thông tin kinh doanh tài chính quan trọng của các ngân hàng sẽ phải được thông báo công khai hàng quý, nội dung, hình thức

và kiểu dáng của báo cáo sẽ được cơ quan có thẩm quyền quy định

Trang 33

Kết luận chương I

Bảo hiểm tiền gửi nói chung và nghiệp vụ giám sát từ xa của bảo hiểm tiền gửi nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động và cảnh báo sớm những rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động của các ngân hàng Việc thành lập và phát triển các nghiệp vụ của bảo hiểm tiền gửi là tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới để góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM (BHTGVN) 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

- Thu phí bảo hiểm tiền gửi của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định;

- Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định;

- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt động của các

tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

- Hỗ trợ cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt;

- Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản;

Trang 35

- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về bảo hiểm tiền gửi;

- Tuyên truyền về bảo hiểm tiền gửi đối với công chúng; tổ chức tập huấn, đào tạo và tư vấn về các nghiệp vụ liên quan đến bảo hiểm tiền gửi;

- Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực hoạt động của BHTGVN và của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

-Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ giao

2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển

Từ khi ra đời và đi vào hoạt động đến nay các ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước nhất là việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư

để cho vay các thành phần kinh tế tạo công ăn việc làm, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn còn thấp và một số sản phẩm còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Nếu không được kiểm tra, giám sát kịp thời và thường xuyên, không có những chính sách thận trọng và phù hợp thì có thể dẫn tới sự đổ vỡ dây truyền mang tính hệ thống, làm mất lòng tin đối với người gửi tiền, đe dọa nghiêm trọng tới an ninh tài chính quốc gia, gây nên sự bất ổn đối với nền kinh tế đất nước, thậm chí còn là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới Những cuộc khủng hoảng tài chính diễn

ra trong thời gian gần đây đã cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm, trong đó có vấn đề đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng Trước tình hình đó, ngày 11/9/1999 Chính phủ đã có Quyết định số 218/QĐ-TTg về việc thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Tháng 7/2000, BHTGVN chính thức khai trương đi vào hoạt động

Bước đầu đi vào hoạt động BHTGVN gặp không ít những khó khăn vướng mắc, nhất là việc xây dựng các định chế và quy chế hoạt động cho bảo hiểm tiền gửi sao cho phù hợp với thực tế hoạt động, do đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới tại Việt Nam Mặc dù là một tổ chức mới được thành lập với vô vàn những khó khăn ban

Trang 36

đầu, song cùng với nỗ lực của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên, BHTGVN đã từng bước xác định được phương hướng nhiệm vụ của mình, khắc phục khó khăn, dần tạo dựng được nền tảng phát triển BHTGVN đã thành lập các Ban nghiên cứu như Ban Nghiên cứu đề án giám sát từ xa, Ban Nghiên cứu phí theo mức

độ rủi ro, Ban Nghiên cứu Luật bảo hiểm tiền gửi, Ban nghiên cứu Vốn… giúp nghiên cứu, xây dựng và phát triển các nghiệp vụ chủ yếu của bảo hiểm tiền gửi BHTGVN đã xây dựng được kênh thông tin báo cáo đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và trao đổi thông tin với Ngân hàng nhà nước BHTGVN thành lập được 6 Chi nhánh khu vực trải đều trên toàn quốc với những chức năng và nhiệm vụ

cụ thể, đảm bảo thông suốt giúp BHTGVN triển khai và thực hiện tốt vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình, đồng thời giúp quản lý tốt các đơn vị tham gia bảo hiểm tiền gửi trên địa bàn từng Chi nhánh phụ trách

Với những kết quả đã đạt được trong thời gian qua đến nay có thể nói BHTGVN đã có những đóng góp đáng kể và quan trọng trong tiến trình đổi mới đất nước nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đồng thời cũng đã tự khẳng định được mình, khẳng định được tính đúng đắn của một chủ trương, một quyết định ra đời tổ chức tài chính mới không thể thiếu trong hệ thống các định chế tài chính của nền kinh tế đất nước trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế giai đoạn tiếp theo

2.1.2 Cơ cấu và bộ máy tổ chức

Trang 37

Ngân hàng Nhà nước và Thứ Trưởng Bộ Tài Chính Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý và chịu trách nhiệm về hoạt động hàng năm của BHTGVN

- Ban kiểm soát có 3 thành viên chuyên trách và một số thành viên kiêm nhiệm được thành lập để giúp Hội đồng quản trị thực hiện việc giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của BHTGVN trong điều hành hoạt động, chấp hành pháp luật và Điều lệ của BHTGVN

- Tổng giám đốc BHTGVN do Chính phủ bổ nhiệm Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của BHTGVN, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về điều hành hoạt động của BHTGVN

- Văn phòng và các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ của BHTGVN có chức năng tham mưu, giúp Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc

2.1.2.2 Mạng lưới hoạt động:

BHTGVN gồm 6 chi nhánh bảo hiểm tiền gửi khu vực: Hà Nội, Đông Bắc Bộ (trụ sở tại Hải Phòng), Bắc Trung Bộ ( trụ sở tại thành phố Vinh), Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (trụ sở tại Nha Trang), Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Bằng Sông Cửu Long (trụ sở tại Cần Thơ)

Trụ sở chính của BHTGVN tại Hà Nội, gồm 14 phòng, ban Mỗi phòng, ban thực hiện chức năng nhiệm vụ riêng

2.1.3 Tình hình hoạt động

2.1.3.1 Khái quát về phí bảo hiểm tiền gửi

Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để được bảo hiểm tiền cho tiền gửi của khách hàng Phí bảo hiểm tiền gửi được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Trang 38

Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi theo mức 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại

tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, các doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Phí bảo hiểm tiền gửi được tính và nộp cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 4 kỳ trong 1 năm theo định kỳ hàng quý trên cơ sở số dư tiền gửi được bảo hiểm bình quân của quý trước sát với quý thu phí bảo hiểm

Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi vào tài khoản của BHTGVN chậm nhất vào ngày 20 tháng đầu tiên của quý nộp phí bảo hiểm tiền gửi

2.1.3.2 Các nghiệp vụ chủ yếu của BHTGVN

a) Nghiệp vụ giám sát từ xa

Nghiệp vụ giám sát từ xa là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của BHTGVN Giám sát từ xa được thực hiện trên cơ sở thông tin báo cáo từ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và các nguồn thông tin khác được thu thập Nội dung của công tác giám sát từ xa bao gồm:

- Xem xét, đánh giá tư cách tham gia bảo hiểm tiền gửi của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Kiến nghị Ban điều hành để trình Hồi đồng quản trị về việc chấp thuận bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi;

- Tiếp nhận các báo cáo, các thông tin liên quan tới hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm để làm cơ sở đánh giá về các tổ chức này;

- Nghiên cứu theo dõi các diễn biến kinh tế trong nước và nước ngoài có thể gây ảnh hưởng hoạt động ngân hàng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

- Thực hiện và xây dựng cơ chế giám sát từ xa nhằm phát hiện và cảnh báo kịp thời những khó khăn tài chính tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; trình Ban điều

Trang 39

hành khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước áp dụng các biện pháp xử lý cần thiết;

- Liên lạc phối kết hợp thường xuyên với Ngân hàng Nhà nước để thu nhận thông tin và phân tích đánh giá về các thông tin đó;

- Đánh giá các bản báo cáo thường niên của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và theo dõi diễn biến có liên quan;

- Kiến nghị chấm dứt bảo hiểm tiền gửi đối với những tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có vấn đề

b) Nghiệp vụ kiểm tra tại chỗ

Sau gần 8 năm đi vào hoạt động bảo hiểm tiền gửi đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm tra đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và đến nay có thể khẳng định hiệu quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ kiểm tra tại chỗ của BHTGVN Hoạt động nghiệp vụ kiểm tra tại chỗ được thực hiện theo các chức năng nhiệm vụ cụ thể bao gồm:

- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo hiểm tiền gửi, bao gồm: quy định về công khai, minh bạch các chính sách về bảo hiểm tiền gửi; quy định về cung cấp cho BHTGVN những thông tin về tổ chức nhận tiền gửi; quy định về tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi;

- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng Việc kiểm tra các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng của BHTGVN hiện nay mới chỉ được thực hiện đối với tổ chức nhận tiền gửi là các Quỹ tín dụng nhân dân, chưa thực hiện đối với các tổ chức nhận tiền gửi là Ngân hàng thương mại;

- Khuyến nghị và yêu cầu thực hiện các biện pháp phòng ngừa, các biện pháp tăng cường năng lực và theo dõi các biện pháp triển khai;

- Kiểm tra khả năng thực hiện các giải pháp khôi phục các tổ chức đã bị đóng cửa, khắc phục các khó khăn tạm thời của các tổ chức tham gia bảo hiểm;

Trang 40

- Tổng hợp những kiến nghị bổ sung cần sửa đổi các văn bản quản lý và điều hành của Ngân hàng Nhà nước và BHTGVN đối với các ngân hàng trình Tổng Giám đốc xem xét, chỉ đạo xử lý

c) Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính

Là một trong những chức năng quan trọng của BHTGVN, hỗ trợ tài chính được thực hiện trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ dưới các hình thức như cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm, bảo lãnh các khoản cho vay đặc biệt để có nguồn chi trả tiền gửi được bảo hiểm, mua lại nợ trong trường hợp khoản nợ đó có tài sản đảm bảo hoặc tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ tiến hành các biện pháp hỗ trợ sau khi xác định rằng việc tiếp tục hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó có vai trò quan trọng đối với sự bảo đảm an toàn của hệ thống và sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội Nghiệp vụ Hỗ trợ tài chính tại có chức năng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Chịu trách nhiệm xây dựng và trình Tổng Giám đốc ban hành các văn bản về quy trình nghiệp vụ, hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ hỗ trợ tài chính;

- Tiếp nhận hồ sơ đề nghị cho vay hỗ trợ, bảo lãnh vay vốn, mua lại nợ từ tổ chức tham gia bảo hiểm hoặc các chi nhánh BHTGVN để thẩm định hoặc tái thẩm định, đưa ra các ý kiến đánh giá, đề xuất trình Tổng Giám đốc quyết định các phương

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w