CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến định giá chuyển giao 1.1.1 Công ty đa quốc gia MNC 1 1.1.3 Khái niệm nguyên tắc căn bản giá thị trư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ HẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 2CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến định giá chuyển giao
1.1.1 Công ty đa quốc gia (MNC) 1
1.1.3 Khái niệm nguyên tắc căn bản giá thị trường (Arm’s Length Principle –
1.1.4 Các phương pháp định giá chuyển giao 4 1.1.5 Cơ chế thoả thuận định giá trước 8 1.1.6 Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC 14
1.2 Ảnh hưởng của định giá chuyển giao không theo nguyên tác giá thị trường
đến các bên trong hoạt động đầu tư trực tiếp
1.2.1 Định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường- phân tích trên
quan điểm công ty đa quốc gia 17 1.2.2 Định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường– phân tích trên
quan điểm quốc gia nhận đầu tư 22
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊNH GIÁ
CHUYỂN GIAO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1 Kinh nghiệm về định giá chuyển giao và xác định giá thị trường trên thế giới
2.1.1 C ác quy định về định giá chuyển tại một số nước trên thế giới 27 2.1.2 Kinh nghiệm về định giá chuyển giao tại một số nước trên thế giới 29
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về định giá chuyển giao tại Việt Nam
2.2.1 Tình hình các doanh nghiệp FDI và định giá chuyển giao không theo giá thị
trường tại Việt Nam 34 2.2.2 Quản lý nhà nước về định giá chuyển giao 44 2.2.3 Thành tựu đạt được và những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về định
giá chuyển giao trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam 47
Trang 3CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO TẠI VIỆT NAM 3.1 Vận dụng cơ chế thoả thuận định giá trước (APA)
3.1.1 Thoả thuận định giá trước 50 3.1.2 Áp dụng thoả thuận định giá trước tại Việt Nam 51 3.1.3 Những giải pháp cần thực hiện để phát triển hoạt động thoả thuận định giá
trước tại Việt Nam 53
3.2 Hoàn thiện các phương pháp định giá chuyển giao
3.2.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được 54 3.2.2 Phương pháp giá bán lại 57 3.2.3 Phương pháp chi phí cộng thêm 58 3.2.4 Phương pháp tỷ suất lợi nhuận (Rate of return method) 59 3.2.5 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method) 59
3.3 Hoàn thiện môi trường kinh doanh và môi trường pháp lý
3.4 Xây dựng một cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính đối với hoạt động của
các doanh nghiệp FDI
3.4.1 Kiểm tra giám sát tài chính đầu vào 62 3.4.2 Kiểm tra, giám sát tài chính đầu ra 64 3.4.3 Kiểm soát các chính sách về định giá chuyển giao trong nội bộ công ty dựa
theo tiêu chuẩn giá thị trường 66
3.5 Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan chức năng có liên quan
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ALP Nguyên tắc giá thị trường
APA Thoả thuận định giá trước
CHND Cộng hoà nhân dân
CUP Phương pháp giá tự do có thể so sánh được
CUT Phương pháp nghiệp vụ chuyển giao tự do có thể so sánh
được
DN Doanh nghiệp
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FIE Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
GTTT Giá trị gia tăng
IRS Cơ quan Thuế nội địa của Hoa Kỳ
MNC Công ty đa quốc gia
NSNN Ngân sách nhà nước
OECD Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
R&D Nghiên cứu và phát triển
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Khái quát các chỉ tiêu tài chính của Công ty S.O.N VN
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tài chính của công ty trồng và chế biến trà
Bảng 2.3: Giá vốn, giá xuất khẩu và giá bán nội địa của Công ty trồng và chế biến
trà
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mô hình tập đoàn S.O.N Group Pte Hình 3.1: Sơ đồ thỏa thuận định giá song phương Hình 3.2: Sơ đồ thỏa thuận định giá đơn phương
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong nền kinh tế toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia ngày càng có nhiều chi nhánh, văn phòng trong phạm vi khu vực và toàn cầu, ước tính có đến 60% thương mại quốc tế được tiến hành bên trong các nhóm đa quốc gia Phác thảo toàn cảnh khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho thấy hiện tượng định giá chuyển giao không theo nguyên tắc thị trường đang tăng lên cùng với việc tăng lên của toàn cầu hóa Để đối phó với hiện tượng này, hầu hết các nước trong khu vực đã xây dựng và ban hành luật lệ quy định các quy tắc về định giá chuyển giao Hiện nay, nhiều nước trên thế giới, bao gồm Canada, Mexico, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Australia, Mỹ và Nhật Bản đã thông qua pháp luật
về định giá chuyển giao, hoặc cải tạo và làm mạnh thêm luật pháp về định giá chuyển giao đang tồn tại Vấn đề này được Nhật Bản thực hiện từ năm 1986, Trung Quốc từ năm 1998 Năm 2004, ngành thuế Nhật Bản điều tra và thu về 216,8 tỷ Yên liên quan đến giá chuyển giao
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây làn sóng đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc gia, song bên cạnh đó việc nhận thức sâu sắc và đầy đủ về định giá chuyển giao nhằm có đối sách phù hợp, vừa tạo động lực khuyến khích đầu tư nước ngoài, vừa giảm thiểu thất thoát thuế do tác động của giá chuyển giao là hết sức cấp thiết
Với nhận thức trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP nhằm trang bị thêm cho mình những hiểu
biết trong lĩnh vực này và hy vọng đóng góp vào việc nghiên cứu, vận dụng các phương pháp định giá chuyển giao vào Việt Nam một cách hiệu quả nhất, hạn chế được những tổn thất do định giá chuyển giao đem lại cho nền kinh tế nước nhà
Trang 8Đề tài tập trung nghiên cứu những phần cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận, định nghĩa, thuật ngữ liên quan đến định giá chuyển giao, lý thuyết về các phương pháp định giá chuyển giao được sử dụng, cơ chế thỏa thuận định giá trước và ảnh hưởng của định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường đến các công ty đa quốc gia và các nước nhận đầu
tư nước ngoài
- Kinh nghiệm về quản lý nhà nước trong hoạt động định giá chuyển giao của một số nước từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích thực trạng, cũng như thành tựu và tồn tại về tình hình đầu tư nước ngoài và quản
lý nhà nước về định giá chuyển giao tại Việt Nam trong những năm vừa qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong hoạt động định giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia tại Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về quản lý nhà nước trong hoạt động định giá chuyển giao tại Việt Nam và kinh nghiệm về quản lý nhà nước trong hoạt động định giá chuyển giao của các quốc gia đi trước nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong hoạt động định giá chuyển giao tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện trên cơ sở áp dụng nghiên cứu theo phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp phương pháp tổng hợp, quy nạp, suy diễn, cùng với các phương pháp thống kê, phân tích các nguồn dữ liệu trong và ngoài nước làm rõ những vấn đề lý luận về định giá chuyển giao trong quản lý nhà nước tại Việt Nam
Luận văn gồm 3 chương có kết cấu như sau:
Chương 1: Nhận thức về định giá chuyển giao
Trang 9Chương 2: Thực tiễn về quản lý nhà nước trong định giá chuyển giao trên thế giới
Trang 10CHƯƠNG 1
NHẬN THỨC VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã và đang là một xu thế tất yếu
khách quan, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là một bước tiến quan trọng cho việc
hội nhập vào nền kinh tế thế giới Cùng với sự mở cửa thị trường trong nước là sự
thâm nhập của những tập đoàn, những công ty đa quốc gia (MNC) lâu đời, đã có
nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện đầu tư vào các nước đang phát triển như
Việt Nam Trong quá trình đầu tư vào các nước đang phát triển, các MNC ắt hẳn đã
tích lũy không ít những kinh nghiệm, những bí quyết trong kinh doanh để tối đa hoá
lợi ích cho công ty, “định giá chuyển giao” cũng chính là một trong những phương
thức mà các MNC có thể vận dụng để đem lại lợi ích cho chính các MNC hơn là cho
các quốc gia nhận đầu tư
CHUYỂN GIAO
1.1.1 Công ty đa quốc gia (MNC)
Công ty đa quốc gia là công ty có sở hữu hay có quyền kiểm soát khả năng
sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một nước mà công ty có trụ sở
chính
1.1.2 Định giá chuyển giao
Với sự hiện diện ngày càng nhiều của các MNC ở khắp nơi trên thế giới thì
các nghiệp vụ chuyển giao về hàng hoá, dịch vụ, bí quyết công nghệ và tài sản trí
tuệ trong nội bộ các MNC nhưng lại vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia ngày
càng trở nên phổ biến Một vấn đề nảy sinh trong quá trình đó là làm sao kiểm soát
được các nghiệp vụ chuyển giao xuyên biên giới đó, khái niệm “định giá chuyển
giao” đã xuất hiện
Trang 11Định giá chuyển giao, theo khái niệm chung nhất, đó là việc sử dụng các
phương pháp để xác định giá cả trong các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ
trong nội bộ MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia
mà các công ty con của MNC đang hoạt động
Như vậy định giá chuyển giao là một lĩnh vực phức tạp không chỉ liên quan
đến bản thân MNC mà còn có ảnh hưởng quan trọng đến cơ quan thuế của các quốc
gia hữu quan trên nhiều phương diện khác nhau Định giá chuyển giao quốc tế được
xem là một cơ chế quan trọng để MNC vận động vốn giữa các quốc gia và chọn lựa
quốc gia mà họ mong muốn báo cáo lợi nhuận Chính sách định giá chuyển giao mà
các MNC sử dụng sẽ tác động trực tiếp lên lợi nhuận được báo cáo ở một nước và vì
thế tác động lên nguồn thu về thuế của nước đó
Vấn đề định giá chuyển giao là một vấn đề quan trọng đối với mọi nước tiếp
nhận đầu tư, không biệt trình độ phát triển kinh tế, nhưng nó trở nên đặc biệt quan
trọng đối với những nước đang phát triển bởi thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn
thu thuế chính của họ và cũng bởi các nước này thường thiếu nguồn lực để đối phó
lại các vấn đề này Công cụ chính mà các MNC thường sử dụng trong khi thực hiện
cơ chế định giá chuyển giao là định giá thấp hơn giá thị trường các mặt hàng xuất
khẩu từ nước chủ nhà và định giá cao hơn giá thị trường các mặt hàng nhập khẩu
vào nước chủ nhà Do một số các nghiệp vụ giao dịch nội bộ của các MNC không
thể hiện dưới hình thức giá trị, không phản ánh trên một hoá đơn hay chứng từ nào
Vì vậy, các cơ quan quản lý thuế không thể kiểm tra được các nghiệp vụ kể trên
Các quy tắc định giá chuyển giao ở các nước phát triển thường đòi hỏi các doanh
nghiệp đền bù với nhau một cách đúng mực bất cứ khi nào các nghiệp vụ có tính
chất nội bộ của công ty xảy ra Cơ sở để xác định đền bù phổ biến là dựa vào
nguyên tắc “giá thị trường”
Trang 121.1.3 Khái niệm nguyên tắc căn bản giá thị trường (Arm’s Length Principle
– ALP)
Nguyên tắc thị trường (ALP): là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức Hợp tác
kinh tế và phát triển (OECD) đưa ra nhằm yêu cầu “mọi giao dịch giữa hai bên có
quan hệ liên kết phải sử dụng giá cả thị trường – tức là giá được xác định trường
hợp có một giao dịch tương tự diễn ra giữa hai bên độc lập”
Nguyên tắc “giá thị trường ” yêu cầu sự thanh toán có tính chất đền bù đối
với bất cứ nghiệp vụ nào trong nội bộ MNC phải thích ứng với cấp độ được áp dụng
khi có nghiệp xảy ra giữa các bộ phận không có quan hệ liên kết, trong khi các yếu
tố khác đều như nhau Điều này có thể hiểu một cách cụ thể là nếu tồn tại một
nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ MNC thì nghiệp vụ đó phải được đánh giá theo
tiêu chuẩn nó được thực hiện với những đơn vị khác không có liên kết trên thị
trường Song trên thực tế, việc xác định giá trị nghiệp vụ và chuyển giao theo giá thị
trường là một vấn đề cực kỳ khó khăn bởi vì nó không chỉ bao gồm loại nghiệp vụ
được xét đến mà còn phải quan tâm đến những tình huống kinh tế xoay quanh
nghiệp vụ đó
Các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ MNC có nội dung rất phong phú và
đa dạng Đó là các nghiệp vụ liên quan đến: vấn đề bán tài sản hữu hình, vấn đề bán
máy móc thiết bị, vấn đề bán hàng tồn kho, vấn đề chuyển giao các tài sản vô hình,
cung ứng dịch vụ, việc tài trợ cho các nghiệp vụ
Nói một cách rõ ràng hơn, nguyên tắc giá thị trường là nguyên tắc sử dụng
hành vi của những bên độc lập làm tiêu chuẩn hay làm cơ sở tham khảo để xác định
việc phân bổ thu nhập và chi phí trong các giao dịch quốc tế giữa các doanh nghiệp
có quan hệ liên kết Nguyên tắc này yêu cầu có sự so sánh giữa những gì doanh
nghiệp liên kết đã thực hiện và những gì mà một doanh nghiệp thực sự độc lập thực
hiện trong các trường hợp như vậy hay tương tự như vậy
Trang 131.1.4 Các phương pháp định giá chuyển giao
Các phương pháp định giá chuyển giao gồm ba nhóm: nhóm phương pháp
truyền thống dựa trên cơ sở của nghiệp vụ chuyển giao gồm phương pháp giá tự
do có thể so sánh được, phương pháp giá bán lại, phương pháp chi phí cộng thêm;
nhóm phương pháp dựa trên lợi nhuận của nghiệp vụ chuyển giao: phương pháp
chiết tách lợi nhuận, phương pháp lợi nhuận ròng của nghiêp vụ chuyển giao,và
phương pháp công thức phân chia lợi nhuận toàn cầu dựa trên cách tiếp cận không
nhằm xác định giá trị thị trường
Phần lớn các nước đã phát triển khi xây dựng các quy định về định giá
chuyển giao cho nước mình đều chịu ảnh hưởng của các hướng dẫn về định giá
chuyển giao của OECD và các quy định của Hoa Kỳ (điều luật 482) Các quy định
về định giá chuyển giao của những nước khác cũng đều dựa vào các khái niệm được
rút ra từ một trong hoặc từ cả hai nguồn này Do đó, những nét cơ bản trong hai
phương pháp tiếp cận về định giá chuyển giao của OECD và của Hoa Kỳ sẽ là nền
tảng cho việc xác lập quan điểm của Việt Nam trong xây dựng các phương pháp
định giá chuyển giao trong thời gian tới
Mặc dù cả OECD và Hoa Kỳ đều ủng hộ và cam kết theo nguyên tắc giá thị
trường, nhưng các tiếp cận của họ lại khác nhau ở một số mặt cơ bản như: các
phương pháp chuyển giao được ưa thích; các phương pháp dựa trên cơ sở lợi nhuận
được chấp nhận; mức độ chi tiết của các tài liệu được yêu cầu; bên (MNC hay cơ
quan thuế) chịu gánh nặng thu nhập và đưa ra tài liệu, chứng cứ; hình thức và mức
độ phạt Những khác biệt lớn có thể tóm tắt như sau:
• Các cập nhật mới trong các hướng dẫn của OECD có hai mặt: được sử
dụng như là một nền tảng của các quy định về định giá chuyển giao của một nước và
đồng thời cung cấp cho các MNC một hướng dẫn trong việc lựa chọn một phương
pháp định giá chuyển giao phù hợp với nguyên tắc thị trường Các hướng dẫn này có
thể linh động áp dụng, đòi hỏi các tài liệu ở mức độ khiêm tốn, tránh đánh thuế hai
lần, và tạo nên mối quan hệ không thù địch giữa cơ quan thuế và các MNC Hiện tại,
Trang 14các hướng dẫn của OECD là nguồn tham khảo cho mọi quy định về định giá chuyển
giao ở phần lớn các nước có những quy định về vấn đề này Theo quan điểm của
OECD, các phương pháp dựa trên cơ sở nghiệp vụ chuyển giao được ưa thích hơn
các phương pháp dựa trên cơ sở lợi nhuận Các phương pháp dựa trên cơ sở lợi
nhuận chỉ được sử dụng như là những phương pháp sau cùng
• Cơ Quan Thuế Nội Địa của Hoa Kỳ (IRS) quy định vấn đề định giá
chuyển giao thông qua điều luật 482 và thường xuyên cập nhật, thay đổi trong vòng
hai thập niên qua Những thay đổi mới nhất vào năm 1994 cho phép một MNC được
lựa chọn phương pháp tốt nhất (có thể là phương pháp dựa trên cơ sở nghiệp vụ
chuyển giao hoặc là phương pháp dựa trên cơ sở lợi nhuận) để định giá tài sản hữu
hình hoặc tài sản vô hình được chuyển giao Các phương pháp này bao gồm phương
pháp giá tự do có thể so sánh được (CUP), phương pháp nghiệp vụ chuyển giao tự
do có thể so sánh được (CUT), phương pháp giá bán lại, phương pháp chiết tách lợi
nhuận và phương pháp cộng thêm phí Tuy vậy, theo nguyên tắc “phương pháp tốt
nhất” này, IRS có thể buộc các MNC phải tự lựa chọn một phương pháp để áp dụng,
và vì thế đặt gánh nặng về thu nhập và giải trình chứng cứ lên các MNC Mặt khác,
cùng với việc tiếp tục ủng hộ các phương pháp định giá chuyển giao đặt căn bản
trên nghiệp vụ chuyển giao, Mỹ cũng đã trực tiếp đối đầu với OECD bằng việc áp
đặt các phương pháp đặt căn bản trên lợi nhuận
1.1.4.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được
Phương pháp giá tự do có thể so sánh được là phương pháp so sánh giá
chuyển giao trong một nghiệp vụ chuyển giao giữa các doanh nghiệp có quan hệ
liên kết và giá được xác định trong một giao dịch khác không bị kiểm soát (giá thị
trường) Hai nghiệp vụ này phải đảm bảo có thể so sánh được với nhau Nếu điều
kiện này đã đảm bảo mà có sự khác biệt giữa hai giá thì giá trong giao dịch không bị
kiểm soát sẽ được sử dụng để làm căn cứ tính thuế đối với nghiệp vụ giao dịch bị
kiểm soát
Trang 151.1.4.2 Phương pháp giá bán lại
Phương pháp giá bán lại đặt giả định là sản phẩm được giao dịch giữa hai
doanh nghiệp cĩ quan hệ liên kết (doanh nghiệp A và B) sau đĩ được bán lại cho
một doanh nghiệp độc lập (doanh nghiệp C)
Doanh nghiệp A
(có liên kết)
Doanh nghiệp B (có liên kết) Doanh nghiệp C (độc lập)
mua sản phẩm giá mua
bán sản phẩm giá bán lại
Phương pháp giá bán lại bắt đầu từ việc xem xét giá bán lại sản phẩm Giá
này được điều chỉnh giảm một lượng tương thích – biểu hiện là số tiền mà doanh
nghiệp B (nhà bán lại) mong muốn kiếm được để bù đắp vào chi phí bán hàng, các
chi phí hoạt động khác theo chức năng và cĩ lời ở mức bình thường Phần cịn lại
của giá bán lại sau khi đã điều chỉnh giảm được coi là giá thị trường trong giao dịch
mua sản phẩm giữa hai doanh nghiệp cĩ quan hệ liên kết (doanh nghiệp A và B)
Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong trường hợp được áp dụng để xác
định giá thị trường khi doanh nghiệp B chỉ thực hiện chức năng phân phối
1.1.4.3 Phương pháp chi phí cộng thêm
Phương pháp chi phí cộng thêm bắt đầu từ chi phí mà doanh nghiệp bán phải
gánh chịu trong nghiệp vụ giao dịch nhằm chuyển giao sản phẩm và dịch vụ giữa
hai doanh nghiệp cĩ liên kết Theo phương pháp này, một khoản tiền tính thêm
(mark-up) sẽ được cộng vào chi phí của doanh nghiệp bán để đảm bảo doanh nghiệp
bán sẽ cĩ được mức lợi nhuận tương ứng với chức năng hoạt động và các điều kiện
thị trường Tổng chi phí sau khi đã được cộng thêm chính là giá thị trường của
nghiệp vụ giao dịch bị kiểm sốt ban đầu
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong trường hợp đối tượng chuyển
giao giữa hai doanh nghiệp cĩ quan hệ liên kết là bán thành phẩm, dịch vụ hay giữa
các bên cĩ liên kết đã cĩ sự thỏa thuận dài hạn về mua bán
Trang 16Ba phương pháp kể trên được coi là các phương pháp truyền thống và là các
phương pháp trực tiếp để xác định xem liệu rằng các điều kiện trong quan hệ thương
mại và tài chính giữa hai doanh nghiệp có liên kết có thực sự được hình thành theo
nguyên tắc thị trường – biểu hiện bằng việc xác định giá chuyển giao tương đương
với giá thị trường - hay không Tính chất trực tiếp làm cho chúng được áp dụng một
cách thường xuyên hơn tại nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, với sự gia tăng tính
đa dạng và phức tạp trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp có liên kết, trong
nhiều trường hợp, các phương pháp này không thể áp dụng được Như vậy cần có
các phương pháp khác, chúng bao gồm:
1.1.4.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận
Phương pháp này thực chất cũng dựa trên sự phân chia lợi nhuận mà các
công ty độc lập kỳ vọng nhận được từ việc tham gia vào các giao dịch với các điều
kiện tương tự Phương pháp này được thực hiện bao gồm 2 bước (giả định các điều
kiện khác đã được điều chỉnh hợp lý):
• Xác định lợi nhuận của nghiệp vụ chuyển giao sẽ được chiết tách cho các
công ty có quan hệ liên kết
• Chiết tách lợi nhuận cho các công ty có liên kết trên các cơ sở hợp lý –
đó là các điều kiện được được dự tính và được phản ánh trong các hợp đồng chuyển
giao theo giá thị trường
1.1.4.5 Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao
Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao là phương pháp xem
xét lợi nhuận ròng mà công ty trả thuế nhận được khi thực hiện một nghiệp vụ
chuyển giao có kiểm soát với điều kiện là các điều kiện giao dịch (như doanh số, chi
phí …) là tương tự Điều này nghĩa là lợi nhuận ròng mà công ty trả thuế nhận được
từ việc thực hiện các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ phải được hình thành tương tự
như lợi nhuận ròng mà một công ty trả thuế khác thu được khi thực hiện một giao
dịch không bị kiểm soát và có thể so sánh được Nếu các điều kiện để so sánh hai
Trang 17giao dịch không tồn tại thì cần phải có các điều chỉnh trên cơ sở tham chiếu lợi
nhuận ròng mà một công ty độc lập nhận được từ một giao dịch không bị kiểm soát
nhằm đưa đến các kết quả có thể tin cậy được
Như vậy, về bản chất, phương pháp này được đặt trên cơ sở tương tự như
cách thức áp dụng phương pháp chi phí cộng thêm và phương pháp giá bán lại
1.1.4.6 Phương pháp công thức phân chia lợi nhuận toàn cầu
Phương pháp công thức phân chia lợi nhuận toàn cầu sẽ phân bổ lợi nhuận
của cả MNC vào các doanh nghiệp có liên kết trong toàn bộ tổ chức MNC đóng tại
các quốc gia khác nhau trên một cơ sở thống nhất và được phản ánh trong một công
thức được xác định trước Phương pháp này sẽ bao gồm 3 bước:
• Xác định số đơn vị sẽ chịu thuế
• Xác định đúng đắn lợi nhuận toàn cầu
• Thiết lập công thức phân chia lợi nhuận toàn cầu Công thức này được
thiết lập dựa trên sự kết hợp giữa tài sản, chi phí, tiền lương và doanh số của từng
công ty con trong MNC
Về nguyên tắc, phương pháp này không được mâu thuẫn với phương pháp lợi
nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao – vốn dựa trên cơ sở từng nghiệp vụ chuyển
giao và sự so sánh với các giao dịch tương tự được thực hiện bởi các công ty độc lập
- và công thức phân chia lợi nhuận cũng không được tạo ra tranh cãi giữa các cơ
quan thuế và các công ty trả thuế hay cả MNC Như thế, cần phải có sự phân tích rất
cẩn thận về những dữ kiện thực tế
Phương pháp này rất thuận lợi cho việc quản lý thuế và tạo sự chắc chắn cho
người trả thuế Tuy nhiên, hầu như nó không được áp dụng ở tầm quốc gia mặc dù
một số cơ quan thuế của địa phương đã vận dụng
1.1.5 Cơ chế thoả thuận định giá trước
Chương trình thỏa thuận định giá trước nhằm giúp doanh nghiệp đạt được
thoả thuận với cơ quan thuế về việc áp dụng nguyên tắc giá thị trường cho các giao
Trang 18dịch quốc tế trong tương lai với các bên liên quan, bằng cách này, doanh nghiệp có
thể xóa bỏ được nghi ngờ về giá chuyển giao của các giao dịch kể trên
Các thoả thuận định giá trước được đàm phán trong một môi trường hợp tác,
khi đó, cơ quan thuế và doanh nghiệp sẽ đạt được thỏa thuận về phương pháp định
giá chuyển giao nhằm tiến tới một sự phân bổ doanh thu và chi phí cho các bên
liên quan một cách thích hợp Thoả thuận định giá trước đạt được thông thường sẽ
duy trì từ 3-5 năm và có thể tiếp tục trên cơ sở hoạt động liên tục
Thoả thuận định giá trước đạt được có thể là song phương, nghĩa là được
ràng buộc bởi cơ quan thuế và tổ chức ở một quốc gia khác, hay là đơn phương
Thoả thuận định giá trước phương được ký kết giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp,
nhưng không đảm bảo có được sự thoả thuận với một cơ quan thuế khác
1.1.5.1 Ai có thể áp dụng thoả thuận định giá trước ?
Bất cứ doanh nghiệp nào có các giao dịch quốc tế với các bên liên quan đều
có thể áp dụng thoả thuận định giá trước Giao dịch với các bên liên quan bao gồm
bất cứ giao dịch, thỏa thuận hay dàn xếp giữa:
• pháp nhân độc lập có liên quan;
• cơ sở hoạt động lâu dài và trụ sở chính (hoặc công ty con trong cùng
tập đoàn);
• hai cơ sở hoạt động lâu dài của cùng tập đoàn
1.1.5.2 Tại sao phải xem xét thoả thuận định giá trước?
Thoả thuận định giá trước có thể đem lại lợi ích to lớn cho nhiều doanh
nghiệp bởi vì chúng giải quyết được những vấn đề thực tế bao gồm những hoạt động
có tính liên kết cao và những tình huống mới
Thoả thuận định giá trước bao trùm nhiều loại hình giao dịch quốc tế với các
bên liên quan khác nhau, bao gồm chuyển giao tài sản hữu hình, tài sản vô hình,
dịch vụ, chia sẻ chi phí, thương mại và sản xuất toàn cầu Cơ quan thuế công nhận
Trang 19rằng các giao dịch trong nội bộ tập đoàn thường được phân tách và/hoặc hợp nhất
cũng như việc phân bổ lợi nhuận chi phí giữa các pháp nhân thường được được xem
xét ở một mức độ nào đó
Để bắt đầu một thoả thuận định giá trước, cơ quan thuế sẽ làm việc với doanh
nghiệp để có được hiểu biết về ngành nghề kinh doanh hoạt động của doanhnghiệp
và sự đóng góp tương ứng của các bên khác nhau Đạt được thoả thuận định giá
trước trong mội trường kinh doanh ngày nay đem lại sự chắc chắn cho doanh nghiệp
vì nó sẽ cho phép doanh nghiệp hoạch định hoạt động và kết quả kinh doanh của
mình trong những năm tới, đảm bảo rằng chính sách định giá chuyển giao phù hợp
với thông lệ được chấp nhận toàn cầu
Cơ quan thuế cũng ưa thích việc thoả thuận định giá trước được áp dụng cho
tất cả các giao dịch quốc tế giữa các bên liên quan Tuy nhiên họ cũng xem xét việc
áp dụng thoả thuận định giá trước giới hạn cho những nhóm giao dịch giữa các bên
liên kết nhất định
1.1.5.3 Thoả thuận định giá trước và các phương pháp định giá chuyển
giao
Có nhiều phương pháp định giá chuyển giao được chấp nhận trên thế giới
Thoả thuận định giá trước là quá trình nhằm đạt được thoả thuận về việc áp dụng
một phương pháp định giá chuyển giao cụ thể, nhiều phương pháp hoặc sự kết hợp
nhiều phương pháp để thiết lập phương pháp định giá chuyển giao phù hợp nhất
Quyết định về sự phù hợp của phương pháp định giá chuyển giao sẽ dựa trên thực tế
tại thời điểm nhất định
1.1.5.4 Lợi ích của thoả thuận định giá trước
Thoả thuận định giá trước là những thoả thuận về tương lai, đàm phán trong
môi trường hợp tác Thoả thuận định giá trước sẽ:
Trang 20• Cho phép doanh nghiệp sự chắc chắn trong việc xác định phương pháp
định giá chuyển giao phù hợp, tăng khả năng dự báo về những hành vi thuế trong
giao dịch quốc tế;
• Giảm đáng kể thậm chí loại trừ khả năng trùng thuế trong tương lai;
• Cung cấp giải pháp khả thi cho những tình huống không có giải pháp
thực tế thay thế để tránh trùng thuế và đảm bảo lợi nhuận được phân bổ và chịu thuế
đúng đắn;
• Hạn chế khả năng tiêu tốn chi phí và thời gian vào việc kiểm tra các
vấn đề định giá chuyển giao có thể dẫn đến việc thanh tra định giá chuyển giao, và
giảm khả năng tranh chấp tốn kém và lâu dài;
• Đặt hoạt động của doanh nghiệp vào vị thế tốt hơn để dự báo chi phí
bao gồm nghĩa vụ thuế;
• Giảm gánh nặng ghi chép, lưu giữ tài liệu vì doanh nghiệp đã biết
trước những tài liệu cần thiết lưu giữ liên quan đến phương pháp định giá chuyển
giao;
• Giảm chi phí kinh doanh, vì thoả thuận định giá trước không tốn phí
Việc thoả thuận sẽ hoàn thành trong 12 tháng từ khi trình đơn, đem lại cho doanh
nghiệp lợi thế về thời gian và chi phí trong các cuộc thanh tra định giá chuyển giao
1.1.5.5 Thoả thuận định giá trước song phương
Thoả thuận định giá trước song phương là sự sắp xếp giữa doanh nghiệp, cơ
quan thuế và một hay nhiều cơ quan thuế nước ngoài Trong thoả thuận định giá
trước song phương, cơ thuế nước chủ nhà sẽ thương thuyết với cơ quan thuế nước
ngoài để đạt được thoả thuận như sơ đồ dưới đây Thoả thuận định giá trước song
phương đảm bảo cho doanh nghiệp sự chắc chắn tránh được hiện tượng trùng thuế
Trang 21Cơ quan thuế
Hình 3.1: sơ đồ thỏa thuận định giá song phương
1.1.5.6 Thoả thuận định giá trước đơn phương
Trường hợp thoả thuận định giá trước không liên quan đến hay không yêu
cầu thỏa thuận với cơ quan thuế nước ngoài hay liên quan đến các quốc gia chưa ký
kết hiệp ước về thuế với nước chủ nhà thì việc thoả thuận giữa doanh nghiệp và cơ
quan thuế trong trường hợp này thoả thuận định giá trước đơn phương Nếu có nhu
cầu phát sinh về thỏa thuận giữa cơ quan thuế trong nước và cơ quan thuế nước
ngoài về các vấn đề liên quan đến thuế thì thoả thuận định giá trước đơn phương sẽ
là nền tảng cho cuộc thương thuyết
Cơ quan thuế (nước chủ nhà)
Doanh nghiệp trong nước
Hình 3.2: sơ đồ thỏa thuận định giá đơn phương
1.1.5.7 Tham khảo quy trình thoả thuận định giá trước tại Úc
Bước 1 Họp trước khi đệ đơn
Nhằm mục đích:
• thảo luận sự phù hợp của thoả thuận định giá trước;
Trang 22• cho phép doanh nghiệp phác thảo về phương pháp định giá chuyển
giao đề nghị;
• thảo luận xem thoả thuận định giá trước là song phương hay đơn
phương;
• thảo luận về các tài liệu và phân tích cần thiết;
• xác định sự cần thiết của tư vấn của các chuyên gia độc lập;
• thảo luận về hoạt động thanh tra của cơ quan thuế (nếu thoả thuận
định giá trước xuất phát từ cuộc thanh tra);
• thoả thuận ngày trình đơn;
• thoả thuận lịch thoả thuận định giá trước;
• thảo luận quy trình xem xét đơn;
Bước 2 Trình đơn chính thức
Nếu tiến hành thoả thuận định giá trước, doanh nghiệp sẽ được yêu cầu nộp
đơn chính thức
Bao gồm:
• chi tiết phương pháp định giá chuyển giao đề nghị, bao gồm các thông
tin liên quan hỗ trợ;
• kỳ hạn và điều kiện chi phối phương pháp định giá chuyển giao;
• các dữ liệu chứng minh phương pháp định giá chuyển giao đề nghị sẽ
đảm bảo tuân theo nguyên tắc giá thị trường;
•
• thời gian áp dụng thoả thuận định giá trước đề nghị;
Đối với thoả thuận định giá trước song phương, cơ quan thuế thường thông
báo cho cơ quan thuế của quốc gia ký hiệp ước ngay khi thoả thuận định giá trước
được chấp nhận
thảo luận và phân tích các giả định cơ bản;
Trang 23Bước 3 Phân tích/ Đánh giá
Cơ quan thuế nước chủ nhà sẽ đánh giá các tài liệu được nộp và những thông
tin có liên quan và tìm kiếm thêm những thông tin cần thiết Cơ quan thuế thường sẽ
có p trong giai đoạn này
Bư
nhiều cuộc họp với doanh nghiệ
ớc 4 Đàm phán và thoả thuận
Đối với thoả thuận định giá trước song phương, cơ quan thuế liên quan sẽ
trao đổi qua lại bằng giấy tờ khái quát khả năng chấp nhận phương pháp định giá
chu thoả thuận bằng văn bản sẽ được cấp cho
doanh
oả thuận định giá trước
• các giao dịch, thoả thuận, sắp xếp được áp dụng thoả thuận định giá
ịnh giá trước;
yển
• ó thể, phạm vi kết quả giá thị trường và
1.1.6 Các nghi p vụ chuyển giao nội bộ trong MNC
ột đặ ổ chức gồm hai bộ phận
yển giao Cuối cùng, sự xác nhận
nghiệp
Đối với thoả thuận định giá trước đơn phương, cơ quan thuế cũng cấp xác
nhận về thoả thuận đã đạt được với doanh nghiệp bằng văn bản
Nội dung th
Thoả thuận định giá trước cuối cùng tối thiểu sẽ bao gồm:
trước;
• thời kỳ và năm tính thuế được áp dụng thoả thuận đ
• phương pháp định giá chuyển giao thỏa thuận và những giả định cơ
M c trưng cơ bản của MNC là thường có cơ cấu t
ty mẹ và một hoặc nhiều công ty con hoặc chi nhánh ở nước ng
Trang 24Vớ i dưới hình thức này hay
i cơ cấu tổ chức này, cho dù những công ty con có tồn tạ
ức khác thì quyền kiểm soát về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn
thuộc về những nhà tư bản ở chính quốc hay công ty mẹ
Các MNC đầu tư dưới hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) sẽ hỗ trợ các quốc gia
nhận đầu tư trên nhiều phương diện bên cạnh nguồn vốn còn là sự hỗ trợ về mặt kỹ
thuật, công nghệ; kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất,
ng được đào tạo, bồi dưỡng về nhiều mặt… Song bên cạnh đó, các quốc gia
nhận đầu tư sẽ không tránh khỏi tình trạng phụ thuộc về vốn, kỹ thuật và mạng lưới
tiêu thụ của MNC
Xuất phát từ đặc trưng này, các MNC luôn phát sinh những giao dịch nội bộ
giữa các bên liên kết – chính là những giao dịch cần được định giá theo nguyên tác
giá thị trường – cụ t
• Chuyển giao tài sản hữu hình: công ty mẹ sẽ đầu tư máy móc, thiết bị
cho công ty con ở các nước đang phát triển chẳng hạn như công ty mẹ ở Úc đầu tư
máy móc thiết bị sản xuất
ại Việt Nam
• Chuyển giao tài sản vô hình: công ty mẹ chuyển giao công nghệ, bí mật
kinh doanh cho công ty đầu tư tại Việt Nam, hoặc cho phép công ty con tại nước
chủ nhà sử dụng tê
T a VN phải thanh toán chi phí chuyển giao công nghệ sản xuất sơn từ công
ty mẹ
• Mua bán các loại nguyên vật liệu có tính đặc thù cao, có sẵn trong kho
hàng của công ty mẹ, nhưng lại hoàn toàn khan hiếm trong kho nguyên vật liệu của
một côn
u sản xuất sản phẩm dinh dưỡng đặc chế riêng cho trẻ em thế hệ mới
(Pedia Sure, Gain Advance, Gain IQ, Grow School…) của hãng Abbott Laboratories, Hoa Kỳ
Trang 25• Việc xuất khẩu các sản phẩm của Công ty con tại nước chủ nhà sang
cho Công ty mẹ hoặc các công ty liên kết theo điều phối của Công ty mẹ
• Việc cung cấp các dịch vụ tư vấn các loại như tư vấn tài chính, tư vấn
quản lý, tư
trong hoạt động k
o là hệ quả tất yếu phát sinh từ các giao dịch nội bộ kể trên N
ng cấp dịch vụ, hàng hóa… được thực hiện giữa các công ty con hoặc
giữa cô
rong cùng tập đoàn, kết quả, tổng giá trị
căn bản giá thị trường đã được trình bày ở trên
vấn kỹ thuật…, như trường hợp công ty Landmark hàng năm vẫn sử
dụng dịch vụ tư vấn quản lý của tập đoàn khách sạn Hongkong Shanghai
inh doanh cao ốc văn phòng của mình
• Việc tài trợ và nhận tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản của
hoạt động sản xuất kinh doanh như vốn, con người (cho vay không tính lãi, cử
chuyên gia hướng dẫn…)
• Việc hỗ trợ các chi phí bảo hành (xe ô tô) từ công mẹ cho công ty con ở
Việt Nam
Định giá chuyển gia
hư vậy, nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thực chất là các nghiệp vụ mua bán,
trao đổi, cu
ng ty mẹ với các công ty con và ngược lại
Thoạt nhìn thì giá chuyển giao chẳng ảnh hưởng gì đến tổng giá trị giao dịch
của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ, bởi lẽ khi ghi nhận doanh thu của một thành viên,
thì sẽ hạch toán chi phí cho một thành viên khác t
của tập đoàn bằng không Tuy nhiên, giá chuyển giao ảnh hưởng trực tiếp đến
lợi nhuận của từng thành viên trong tập đoàn và ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế phải
thực hiện của từng thành viên Khi đó, xét trên tổng thể lợi ích của toàn tập đoàn sẽ
có sự thay đổi do sự khác biệt của giá chuyển giao xuất phát từ sự khác biệt trong
các quy định về thuế và quản lý tài chính tiền tệ của từng quốc gia
Chính vì thế, nhằm đảm bảo công bằng khi có phát sinh nghiệp vụ chuyển
giao nội bộ, các quốc gia đã thống nhất áp dụng một nguyên tắc chung cho việc xác
định giá trị của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ Đó là nguyên tắc
Trang 261.2 Ả
1.2.1 Định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường- phân tích
rộng ợi nhuận Các MNC thường
n các hành vi định giá chuyển giao không o
g trường p
NH HƯỞNG CỦA ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO KHÔNG THEO
NGUYÊN TẮC GIÁ THỊ TRƯỜNG ĐẾN CÁC BÊN TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
trên quan điểm công ty đa quốc gia
Một trong những đặc trưng tiêu biểu của MNC là xu hướng bành trướng, mở
hoạt động trên phạm vi toàn cầu nhằm tối đa hoá l
yên sử dụng định giá chuyển giao như một phương tiện để đạt được mục tiêu trên,
từ các nguyên nhân cụ thể sau:
.2.1.1 Tối thiểu hóa gánh nặng thuế phải nộp của toàn MNC
Trong các chính sách thuế của một quốc gia có ảnh hưởng đến hoạt động của
MNC thì thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu là hai loại thuế có tác
động trực tiếp đến lợi nhuận của doanh ng
• Hoạt động định giá chuyển giao không theo nguyên giá thị trườ
u hóa số thuế lợi tức phải nộp là một trong những động cơ chủ yếu và quan
trọng nhất Theo động cơ này, sự chênh lệch về thuế suất thuế thu nhập công ty giữa
các quốc gia chính là kẽ hở để MNC thực hiệ
the nguyên tắc thị trường và điều này cũng chính là điểm khác biệt cơ bản
giữa các giao dịch nội bộ MNC và các giao dịch quốc tế không bị kiểm soát khác
• Về nguyên tắc, để tối thiểu hóa số thuế thu nhập phải nộp, các MNC sẽ
tiến hành chuyển thu nhập từ những nước có thuế suất thuế thu nhập cao hơn sang
nước có thuế suất thuế thu nhập thấp hơn;
• Với mục đích tối thiểu hóa thuế thu nhập phải nộp của toàn MNC, tron
hợ một nước có thuế suất cao hơn và với các điều kiện khác không đổi thì
xu hướng định giá chuyển giao đối với các giao dịch nội bộ MNC qua biên giới
nước này là:
Trang 27- Định giá cao hàng nhập khẩu
- Định giá thấp hàng xuất khẩu
thể được trình bày ng
Tác động của thuế quan đến các thủ thuật định giá chuyển giao của MNC có
ắn gọn như sau: nếu thuế suất thuế nhập khẩu của nước chủ nhà (n c trị hàng hóa nhập khẩu và cao, công ty mẹ
sẽ tiến hóa nhập khẩu từ công ty mẹ vào công ty
ướ nhận đầu tư) được tính trên giá
hành định giá thấp đối với hàng
nước chủ nhà nhằm giảm thuế nhập khẩu phải nộp Trong trường hợp thuế
suất thuế xuất khẩu của nước chủ nhà cũng đánh trên giá trị hàng hóa xuất khẩu và ở
mức cao, công ty con sẽ định giá thấp hàng xuất khẩu đối với hàng hóa bán cho
công ty mẹ nhằm giảm thuế xuất khẩu
Thí dụ, một doanh nghiệp sản xuất xe hơi tại Thái Lan với giá 9.000 USD
Chi phí để quảng cáo và bán chiếc xe đó tại Việt Nam là 1.000 USD Công ty đó có
thể nâng giá bán cho doanh nghiệp Việt Nam lên 10.000 USD, và bán lại xe tại Việt
Nam với giá 10.000 USD
Về tổng thể, công ty đã có lời 1.000 USD và phải đóng thuế tại Thái Lan thay
vì Việt Nam Nếu tại Thái Lan công ty đang được ưu đãi thuế, thì khoản lãi này sẽ
được miễn thuế toàn bộ
Như vậy, nếu giá m
à Nhà nước Việt Nam sẽ thất thu thuế Tuy nhiên lợi nhuận của cả tập đoàn
sẽ không đổi (vì lợi nhuận tại Việt Nam đã được chuyển sang cho công ty con khác
ở Thái Lan)
Tuy nhiên, nếu cơ quan thuế Việt Nam nghi ngờ giá mua này là quá cao và
định giá lại 9.000 USD, thì tập đoàn sẽ rơi vào tình trạng khó xử Đó là họ đã đóng
thuế cho khoản thu nhập 1.000 USD tại Thái Lan, nay lại phải đóng cho khoản thu
nhập đó tại V
u nhập
Trang 28Vấn đề chuyển giá chỉ xảy ra ở giao dịch giữa các công ty liên kết Nếu
doanh nghiệp Việt Nam nói trên phải mua linh kiện ở một doanh nghiệp độc lập của
Nhật Bản, họ sẽ phải trả giá và mua theo giá thị trường Khi đó, lợi nhuận sẽ không
thể "tự
etherlands Antilles hay các quốc gia đang thu hút đầu tư
ận của các FIE – trong đó có những
cũng l
này còn vượt quá một ngưỡng nà
lên" hay "tự xuống" được
Hiện tượng định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường nhằm
giảm gánh nặng thuế là khá phổ biến nhất là tại các thiên đường về thuế như British
Virgin Islands, Cayman Islands, N
có nhiều ưu đãi trong chính sách thuế
1.2.1.2 Đối phó với các chính sách quản lý và kiểm soát của chính phủ
Chính phủ một số quốc gia – nhất là các nước đang phát triển thường áp đặt
một số chính sách có ảnh hưởng đến lợi nhu
ủa các MNC đóng tại nước này Phản ứng lại với các chính sách n
à một hình thức tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của cả MNC nói chung và như
vậy, các thủ thuật định giá chuyển giao được MNC áp dụng Có thể kể ra đây một số
chính sách tác động đến lợi nhuận sau thuế của MNC và cách thức định giá chuyển
giao của MNC phản ứng lại với các chính sách này như sau:
• Chính sách thuế đối với thu nhập bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận và
thu nhập ra nước ngoài Theo chính sách này, nhà nước sẽ tính thuế vào thu nhập
còn lại sau khi MNC đã nộp thuế thu nhập nếu như phần
o đó và một loại thuế khác sẽ được đánh vào các khoản lợi tức, cổ tức,
tiền lãi, tiền bản quyền … được chuyển ra khỏi biên giới quốc gia Do đó, các MNC
thường định giá chuyển giao cao nhằm gia tăng các khoản thanh toán thương mại
(tức là nâng giá các khoản chi phí đối với hàng hóa mà công ty mẹ cung cấp cho
công ty con Các khoản chi phí này sẽ biến thành thu nhập của toàn bộ tập đoàn
nhưng không phải là đối tượng đánh thuế chuyển lợi nhuận và thu nhập ra nước
ngoài của quốc gia nên không phải chịu thuế) từ đó giảm thu nhập chịu thuế của một
công ty con cụ thể và do đó cũng giảm đi phần thu nhập chuyển ra nước ngoài trong
khi trên thực tế, thu nhập này vẫn tồn tại nhưng được chuyển ra nước ngoài dưới
Trang 29hình thức khác Nói ngắn gọn lại thì “bằng việc định giá cao, thu nhập được chuyển
ra nước ngoài dưới dạng các khoản thanh toán và do đó, không phải chịu thuế suất
thuế chuyển lợi nhuận và thu nhập ra nước ngoài cũng như thuế thu nhập bổ sung”
• Chính sách buộc phải thừa nhận sự tham gia của đối tác trong nước
Trong nhiều trường hợp, MNC khi muốn cung cấp vốn FDI để thành lập một công
ty con thì hình thức bắt buộc phải là hình thức liên doanh, nghĩa là họ buộc phải
ật định giá chuyển giao và một số thủ thuật khác, một MNC
sẽ có khả năng chuyển vốn và các quỹ ra khỏi một nước khi có sự giảm giá tiền tệ
đáng kể xảy ra Bằng cách đó, MNC sẽ giảm được rủi ro về tỷ giá hối đoái Điều
này biểu hiện rõ nét nhất là trong ngắn hạn, đối với các khoản thanh toán Trong dài
hận sự tham gia của các đối tác trong nước Sự tham gia này có thể không chỉ
đơn thuần với ý nghĩa kinh tế mà còn liên quan đến chính trị Sự hiện diện của đối
tác trong nước tạo nên một động cơ rất lớn để MNC thực hiện các thủ thuật định giá
chuyển giao nhằm định giá cao đối với các tài sản đem góp vốn khi thành lập liên
doanh và định giá cao đối với việc cung cấp các đầu vào trong quá trình sản xuất
cũng như định giá thấp đối với các đầu ra của liên doanh với mục đích nhằm:
- Gia tăng tỷ lệ vốn góp của MNC ban đầu nhằm giành quyền chủ động
trong quá trình điều hành sản xuất và hoạch định chiến lược theo các mục tiêu
chung của công ty mẹ
- Tạo ra tình trạng “lỗ giả” trong liên doanh và sau đó tăng vốn nhằm
gạt bỏ đối tác trong nước (nếu yêu cầu tăng vốn không được đáp ứng)
ốc gia (nếu yêu cầu tăng vốn được đáp ứng)
tr nước yếu thế về vốn cũng như thiếu hiểu biết hay thiếu sự quan tâm vì
lợi ích của quốc gia
.2.1.3 Giảm thiểu rủi ro tiền tệ và tỷ giá
Bằng các thủ thu
Trang 30hạn h ệ tại một quốc gia thì phần vốn
ơn, một khi vì lý do gì đó, có sự phá giá tiền t
các quỹ khác – được khai báo bằng đồng nội tệ tại quốc gia này sẽ bị sụt
giảm nghiêm trọng và như vậy, các MNC sẽ phải tính trước điều này và sử dụng các
thủ thuật định giá chuyển giao – tất nhiên, đây không phải là biện pháp duy nhất –
để chuyển chúng ra nước ngoài trước khi sự phá giá tiền tệ xảy ra nhằm bảo toàn
vốn của cả MNC
1.2.1.4 Phục vụ chiến lược kinh doanh của cả MNC
Với động cơ xuất phát trực tiếp từ chiến lược kinh doanh của cả tập đoàn, các
MNC sẽ sử dụng thủ thuật định giá chuyển giao không theo nguyên tắc thị trường
nhằm:
thường được sử dụng như là một giải pháp để MNC t
mới Sử dụng vũ khí tiềm tàng là giá bán thấp, các công ty con của MNC,
trong giai đoạn đầu khai thác thị trường mới sẽ loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh
khác nh
độ quyền trong những giai đoạn sau, khi đã chiếm lĩnh được thị trường
Nhưng đổi lại, trong nội bộ MNC cần có chiến lược để các công ty con này tồn tại
và một trong những công cụ để thực hiện điều này chính là các thủ thuật định giá
chuyển giao, do đó trong nội bộ MNC, hiển nhiên sẽ tồn tại tình trạng có sự phân
biệt trong giá bán sản phẩm và dịch vụ từ công ty mẹ cho các công ty con ở những
thị trường khác nhau hay việc định giá thấp giữa hàng hóa và dịch vụ được chuyển
giao từ một công ty con ở các thị trường đã ổn định sang một công ty con khác ở thị
trường mới
Ngoài ra, các MNC còn sử dụng định giá chuyển giao nhằm các mục đích
khác mà đề tài không đi sâu vào phân tích như: bù đắp các chi phí phát sinh của
công ty mẹ, bù đắp lợi nhuận cho một công ty con và đảm bảo sự ổn định lợi nhuận
chung cho cả tập đoàn
Trang 312 Định giá chuyển giao không theo nguyên tắc giá thị trường– phân tích
trên quan điểm quốc gia nhận đầu tư
Đối với một quốc gia, đặc biệt là các nước tiếp nhận vốn FDI và không phải
là một “nơi trú ẩn an toà
thị trường được thực hiện bởi các MNC - ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp gây tổn
húc lợi kinh tế của đất nước Nói một cá
ợc từ việc định giá chuyển giao khác với với giá thị trường tự do sẽ là những
thiệt hại đứng về phía quốc gia Cụ thể như sau:
• Gây thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN) Điều này có thể thấy rất rõ
trong các phân tích về động cơ “tối thiểu hóa số thuế phải nộp” Đây là tác động trực
tiếp nhất và đáng quan tâm nhất đối với các nước đang phát triển Do bởi tính chất
tương đối nhỏ bé và nguồn thu tương đối hạn hẹ
h iá chuyển giao không theo giá thị trường đến nguồn thu NSNN là rất lớn,
như các nhà nghiên cứu kinh tế Mĩ đã nhấn mạnh: “thất thu thuế từ các thủ thuật
định giá chuyển giao không theo nguyên tắc thị trường có thể là rất nhỏ so với tổng
số thuế thu được của Cục dự trữ Liên bang Mĩ nhưng có thể chiếm một phần đáng
kể trong tổng nguồn thu của chính phủ ở các nước nghèo hơn”
Đối với các nước đang phát triển, nguồn thu của NSNN không những là một
nguồn lực để duy trì bộ máy nhà nước, mà còn là một trong những nguồn quan trọng
góp phần duy trì hệ thống phúc lợi công cộng và phục vụ cho các chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội của quốc gia Do vậy, tác động từ việc
phải là tất cả – do các hành vi định giá chuyển giao không theo giá thị trường
của MNC là một vấn đề rất tiêu cực
Tác động tiêu cực của các hoạt động định giá chuyển giao không theo giá thị
trường đến nguồn thu NSNN không chỉ xảy ra đối với nước nhận đầu tư mà còn ảnh
hưởng đến cả nước đầu tư (chính quốc) thông qua việc làm “xói mòn căn bản chịu
thuế ở nước này” bằng việc lợi dụng
Trang 32• Làm suy yếu quyền tối cao của chính phủ Không chỉ dừng ở tác động
về kinh tế, chính sách định giá chuyển giao không theo giá thị trường của các MNC
cũng góp phần làm suy yếu quyền lực của chính phủ thông qua việc làm giảm đi tác
động của các chính sách và từ đó làm cho khả năng của một nhà nước trong việc
theo đuổi các chính sách đã lựa chọn suy giảm Trong dài hạn, MNC còn làm tăng
th ộc của một nền kinh tế vào hoạt động của chúng và như thế, vai trò điều
tiết của chính phủ - không còn nghi ngờ gì nữa - sẽ suy giảm
• Phân bổ lại thu nhập giữa các quốc gia Bằng các thủ thuật định giá
chuyển giao không theo giá thị trường, các MNC làm méo mó đi lợi ích đạt được
của một quốc gia từ thương mại quốc tế Giá chuyển giao không đồng nhất với giá
thị trường làm giúp cho MNC có thể chuyển vốn và các quỹ ra khỏi một đất nước
nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho công ty mẹ bất chấp lợi ích củ
t thực thể kinh tế và hoạt động thực sự có hiệu quả Do đó, nếu xét trên
bình diện quốc tế, đã có một sự phân bổ thu nhập giữa ít nhất hai quốc gia và kết
quả của vấn đề này là nước giàu (nước chủ đầu tư, quốc gia mà công ty mẹ thường
trú) càng giàu hơn, nước nghèo (nước nhận đầu tư, quốc gia mà công ty con thường
trú) càng nghèo đi
• Chiếm dụng vốn của đối tác trong nước ở liên doanh Một trong những
cách thâm nhập thị trường của MNC là loại trừ sự tham gia của đối tác trong nước
tại liên doanh
Với sự hiện điện của đối tác trong nước, bằng các thủ thuật định giá chuyển
giao không theo giá
ạng thua lỗ kéo dài sẽ dẫn đến việc giảm vốn ban đầu của cả công ty Rồi yêu
cầu tăng vốn được đặt ra Trong trường dù trong trường hợp nào đi nữa thì phía đối
tác trong nước c
- Trường hợp đối tác trong nước đồng ý gia tăng vốn góp để giữ tỷ
trọng không đổi thì nguồn vốn góp ban đầu vẫn được coi là bị chiếm dụng do tình
Trang 33trạng giảm nguồn vốn ban đầu không phải xuất phát từ rủi ro kinh doanh mà đã
được chuyển về công ty mẹ
- Trường hợp đối tác trong nước không thể chịu đựng được sự lỗ lã này
thì MNC sẽ mua lại số vốn góp ban đầu - tất nhiên là với giá thấp hơn so với giá trị
ban đầu do tình hình hoạt động thua lỗ của liên doanh – và chuyển hình thức đầu tư
từ liên doanh sang 100% vốn FDI
• ảm phúc lợi của người lao động và các cổ đông trong các FIE Điều
này cũng có thể được suy ra một cách khá dễ dàng Chính sách định giá chuyển giao
không theo giá thị trường của MNC gây ra tình trạng lỗ của công ty con và như thế:
- Lợi tức chia cho cổ đ
- Tiền lương của công nhân – phụ thuộc một phần vào kết quả hoạt
động của công ty - sẽ thấp hơn và công ty sẽ loại trừ được ác áp lực từ phía công
ới các biện pháp đòi tăng lương
ượ iếm lĩnh thị trường một ngành cạnh tranh nào đó – do được sự hỗ trợ
của công ty mẹ nên dù các thủ thuật định giá chuyển giao không theo giá thị trường
có làm cho chúng lỗ trong một thời gian
ng và thực hiện chiến lược giá cả: bán cho người tiêu dùng với giá thấp thậm
chí dưới mức chi phí sản xuất Điều này gây ra tác động:
- Chèn ép các nhà sản xuất nội địa – vốn có tiềm lực nhỏ hơn - trong
cùng ngành Đẩy các đối thủ này vào thế điêu đứng buộc phải chuyển ngành sản
xuất hay ngừng sản xuất do không thể cạnh tranh được
- Ngăn cản sự gia nhập của các nhà đầu tư nộ
lợ uận thấp trong một thời gian dài sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư muốn
gia nhập vào ngành sản xuất mà MNC đang hoạt động
Trang 34Kế ả của điều này tất yếu sẽ làm suy giảm mức độ cạnh tranh của một
ngành và không ai dám đảm bảo rằng giá cả của sản phẩm sẽ tiếp tục được duy trì ở
mức thấp một khi MNC đã loại được phần lớn các đối th
t qu
ủ cạnh tranh chính và tạo cho mì
ừ chính phủ, các nhà lập chính sách và các nhà ng
nh một thế độc quyền tương đối
Các tác động tiêu cực của vấn đề định giá chuyển giao của các MNC đã phân
tích ở trên, nói tóm lại, là làm giảm phúc lợi kinh tế của quốc gia Chính điều này
gây ra mối quan tâm rất lớn không chỉ t
hiên cứu mà còn là vấn đề được bàn cãi ở nhiều hội nghị trong các khối liên
kết kinh tế và kết quả là yêu cầu: “Mọi giao dịch nội bộ đều phải được xác định giá
cả theo nguyên tắc thị trường và cần phải có một sự đền bù nếu như có sự chênh
lệch giữa hai loại giá cả” Điều này có thể hiểu một cách cụ thể là: nếu tồn tại một
nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ của MNC thì nghiệp vụ đó phải được đánh giá
theo tiêu chuẩn nó được thực hiện với những đơn vị khác không có liên kết trên thị
trường trở thành tiêu chí chung của nhiều quốc gia Để thực hiện được các yêu cầu
này, một số nước đã xây dựng một hệ thống các phương pháp nhằm điều chỉnh đối
với các giao dịch nội bộ của các công ty có quan hệ liên kết trên cơ sở tham khảo
theo các hướng dẫn của OECD hoặc/và các quy định của Mỹ
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Các công ty đa quốc gia, với tầm vóc quốc tế và địa bàn hoạt động trải rộng
trên nhiều quốc gia khắp các châu lục, đã và đang vận dụng định giá chuyển giao
phục vụ cho mục đích quản lý cũng như các thực hiện chiến lược của mình Do đó,
việc tìm hiểu lý luận căn bản liên quan đến định giá chuyển giao là thiết thực Phần
lớn các lý luận chung và nhận thức cơ bản về định giá chuyển giao đã được trình
bày trong chương 1
Các khái niệm liên quan đến định giá chuyển giao được trình bày gồm khái
niệm về công ty đa quốc gia, định giá chuyển giao, nguyên tắc giá thị trường,
phương pháp định giá chuyển giao, cơ chế thỏa thuận định giá trước, các nghiệp vụ
chuyển giao nội bộ trong MNC nhằm xác định, đánh giá bản chất kinh tế của
ĐGCG Từ đó, phân tích tác động của định giá chuyển giao không theo nguyên tắc
giá thị trường đến các MNC và các nước nhận đầu tư nhằm nhận thức đầy đủ ảnh
hưởng của định giá chuyển giao đến các bên đầu tư và nhận đầu tư
Trang 36CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
GIÁ THỊ TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 Các quy định về định giá chuyển tại một số nước trên thế giới
Tại Canada, các quy định về định giá chuyển giao yêu cầu phương pháp được
áp dụng phải tuân thủ nguyên tắc thị trường phù hợp với các hướng dẫn của OECD
Cơ quan thuế của Canada cũng ưu tiên áp dụng các phương pháp dựa trên cơ sở nghiệp vụ chuyển giao, sau đó mới là các phương pháp dựa trên cơ sở lợi nhuận, ví
dụ như là phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao và phương pháp chiết tách lợi nhuận nhưng không bao gồm phương pháp lợi nhuận so sánh Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp giá tự do có thể so sánh được (CUP), cần thiết phải làm một phân tích chứng năng để xác định ra một phương pháp định giá chuyển giao thích hợp
Tại Nhật Bản, các quy định cũng dựa vào các hướng dẫn của OECD và được
áp dụng linh động để xoá bỏ vấn đề chuyển lợi nhuận, tránh đánh thuế hai lần đồng thời giảm bớt gánh nặng về thu nhập chứng cứ và báo cáo cho các MNC Các quy định cũng bảo vệ các MNC quốc tịch Nhật Bản khỏi bị kiểm toán và phạt theo tiêu chuẩn đánh giá của cơ quan thuế Hoa Kỳ như là kết quả của việc áp dụng điều luật
482
Tại Anh, các quy định được dựa theo các hướng dẫn của OECD và cho phép một sự diễn dịch linh động của nguyên tắc giá thị trường cho các chuyển giao tài sản hữu hình và tài sản vô hình Các thay đổi mới nhất của các quy định này bao gồm sự chuyển dịch của gánh nặng chứng cứ phù hợp với nguyên tắc giá thị trường từ cơ
Trang 37quan thuế sang các MNC và áp dụng các đòi hỏi về chứng từ tương tự như hướng dẫn của OECD
Một số nước đang phát triển cũng dựa vào các hướng dẫn của OECD để xây dựng các quy định cho nước mình Điển hình là Hàn Quốc và Mexico đã xây dựng tương đối tốt các cơ chế về định giá chuyển giao Tại Hàn Quốc, nguyên tắc giá thị trường cũng được tuân thủ với các phương pháp giá tự do có thể so sánh được (CUP), phương pháp giá bán lại và phương pháp cộng thêm phí được ưu tiên sử dụng Nếu những phương pháp này không áp dụng được thì mới áp dụng đến những phương pháp được coi là phù hợp khác Có thể yêu cầu các MNC đệ trình các chứng
từ để kiểm tra sự đúng đắn của phương pháp định giá chuyển giao mà họ lựa chọn
và áp dụng Cơ quan thuế có thể tiến hành kiểm toán các MNC nếu các MNC không thể cung cấp các chứng từ theo yêu cầu; những yêu cầu về chứng từ tạo thêm nhiều gánh nặng cho MNC hơn là những gì OECD đề xuất Các cơ quan thuế cũng có thể tính lại lợi nhuận bằng cách sử dụng phương pháp theo nguyên tắc thị trường mà họ chọn và thật sự đang tích cực theo dõi các MNC trong việc dịch chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và trốn thuế
Tại Mexico, có thể tiến hành điều chỉnh lợi tức nếu các MNC không cung cấp đầy đủ các chứng từ liên quan đến việc định giá Để có thể lựa chọn theo các hướng dẫn của OECD, các điều luật hiện hành về “nơi ẩn náu an toàn” cũng đang dần được xoá bỏ
Các quy định về định giá chuyển giao của Trung Quốc đặt căn bản trên các quy tắc của nước ngoài và trên cơ sở các hướng dẫn của OECD Các quy định về định giá chuyển giao của Trung Quốc dựa trên quan hệ “không quen biết”, trên cơ
sở các phương pháp thiết lập và xác minh giá cả theo nguyên tắc giá thị trường Phương pháp được ưa thích nhất là theo phương pháp giá tự do có thể so sánh được, vốn là một phương pháp yêu cầu giá thị trường là giá được tính toán, chi trả trong việc bán hàng có thể so sánh được cho một bên thứ ba độc lập Phương pháp được
ưa thích thứ hai là phương pháp giá bán lại Phương pháp ưa thích thứ ba là phương
Trang 38pháp cộng thêm phí Nếu không có phương pháp nào như đã nêu trên có thể áp dụng được để xác định mức giá theo quan hệ thị trường thì cơ quan thuế Trung Quốc có thể sử dụng “các phương pháp khác” Cuối cùng, nếu như cơ quan thuế không thể xác định được “các phương pháp khác” thì cơ quan thuế có thể sẽ sử dụng một hỗn hợp các phương pháp
Ở Đông Nam Á, hiện nay tồn tại hai quan điểm về việc lựa chọn phương pháp luận về định giá chuyển giao, đó là phương pháp dựa trên quan điểm “truyền thống” của OECD và quan điểm dựa trên cơ sở lợi nhuận Một số cơ quan thuế trong khu vực đã bắt đầu có kinh nghiệm về sử dụng các nghiệp vụ chuyển giao truyền thống và trong thực tế cũng có quốc gia chấp nhận việc sử dụng các phương pháp dựa trên cơ sở lợi nhuận thực tế
2.1.2 Kinh nghiệm về định giá chuyển giao tại một số nước trên thế giới 2.1.2.1 Tại Mỹ
Giải quyết định giá chuyển giao, Mỹ nhằm vào hai vấn đề chính: Thứ nhất là công tác luật hóa quy định quản lý định giá chuyển giao Thứ hai là hoàn thiện thủ tục nhằm thực hiện tiến trình áp dụng thỏa thuận định giá trước - APA
Để giải quyết vấn đề thứ nhất, Mỹ đã sửa đổi Luật thuế nội địa cho phù hợp với các tiêu chuẩn về thu nhập và ban hành các quy tắc điều chỉnh nghiệp vụ của các bên liên kết theo hướng chặt chẽ hơn nhằm tăng cường hiệu quả quản lý định giá chuyển giao Các quy tắc này quy định việc xuất trình các tài liệu chứng minh hoạt động định giá chuyển giao Khi phát hiện doanh nghiệp có hành vi định giá chuyển giao không theo giá thị trường và phải có sự điều chỉnh sau kiểm tra thì doanh nghiệp bị điều chỉnh phải chịu một khoản phạt nhất định bao gồm Phạt định giá chuyển giao không theo giá thị trường trong giao dịch và Phạt bổ sung
Cần lưu ý rằng, trong môi trường nước Mỹ, các thông tin phải được lưu giữ
và phân tích, phân loại sao cho vừa có thể nắm bắt được những thỏa thuận về giá trong quá khứ và ngay cả thời điểm hiện tại Các tài liệu chứng minh cũng cần được duy trì một cách liên tục bởi vì các doanh nghiệp phải thực hiện các điều chỉnh đối
Trang 39với giá đã được thiết lập để phản ảnh chính xác thị trường đối với các nghiệp vụ đã xảy ra Đây là một điều đặc biệt khó khăn đối với các tổ chức hoạt động trong các thị trường mà hàng hóa hay giá cả của chúng chịu ảnh hưởng một cách đáng kể của thị trường chung
Ở Mỹ, phương pháp lợi nhuận có thể so sánh đã chứng minh được là một phương pháp ít tốn kém nhất, các kết quả của nó cho phép công tác thẩm tra có thể được tiến hành một cách dễ dàng Tuy nhiên, OECD thì cho rằng chỉ nên áp dụng phương pháp này khi các phương pháp khác không thích hợp
Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy nếu liên quan đến các tài sản vô hình thì phương pháp CUP sẽ gặp một số giới hạn khi sử dụng Đặc biệt, các giới hạn này sẽ trở nên đáng kể đối với việc định giá các ngành dịch vụ, bảo hiểm, du lịch quốc tế, ngân hàng, tài chính… do mỗi nghiệp vụ có một đặc thù riêng biệt, khó có thể tìm thấy các nghiệp vụ mang tích chất vô hình có khả năng so sánh Phương pháp lợi nhuận có thể so sánh lúc này sẽ được áp dụng
Trong khi đó, một số nước đã phê bình về sự tin cậy của Mỹ vào phương pháp lợi nhuận có thể so sánh bởi vì họ tin rằng lợi nhuận có thể chịu ảnh hưởng của quá nhiều các yếu tố bên ngoài và việc sử dụng phương pháp này cho phép các nhà quản lý thuế đạt được khả năng lợi nhuận toàn cầu
2.1.2.2 Tại Trung Quốc
Sự phát triển của hệ thống thuế định giá chuyển giao Trung Quốc được chia thành 4 giai đoạn: trước năm 1991, 1991, 1992-1993, và từ năm 1998 về sau
• Trước năm 1991, sự điều chỉnh định giá chuyển giao chưa được quan tâm
và chưa có luật hướng dẫn về định giá chuyển giao cho các cán bộ thuế Nhưng kinh nghiệm thực tiễn của hơn một thập kỷ đã từng bước được tập hợp lại đủ để cho ra đời một hệ thống thuế định giá chuyển giao
• Đến năm 1991, các quy định trong Luật Thuế Thu Nhập dành cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các nguyên tắc cụ thể được ban hành đã kết
Trang 40thúc giai đoạn thai nghén và đánh dấu sự ra đời của hệ thống thuế định giá chuyển giao Trung Quốc
• Ban hành thông tư về các quy định quản lý thuế đối với các giao dịch kinh doanh giữa các doanh nghiệp liên kết năm 1992 góp phần hoàn thiện hệ thống thuế
• Các điều khoản liên quan đến định giá chuyển giao trong Luật của CHND Trung Quốc về quản lý và thu thuế và Các quy tắc bổ sung ban hành năm
1993 thêm một bước nữa đã hoàn thiện hệ thống và mở rộng các nguyên tắc thuế định giá chuyển giao đối với các doanh nghiệp trong nước bên cạnh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài
• Các Quy định và thủ tục quản lý thuế đối với các giao dịch kinh doanh giữa các doanh nghiệp liên kết (còn được gọi là Các hướng dẫn về định giá chuyển giao của Trung Quốc) ban hành năm 1998 đã chuẩn hoá các nguyên tắc, quy định và thủ tục của hoạt động chống định giá chuyển giao không theo giá thị trường và tạo điều kiện cho sự “cất cánh” của hệ thống
• Quy định thực hiện Thoả thuận định giá trước (APA) đối với các giao dịch kinh doanh giữa các doanh nghiệp liên kết năm 2001 Thông tư này đã đánh dấu sự phát triển cùa hệ thống thuế định giá chuyển giao tại Trung Quốc
• Thông tư 70 về thực hiện quy định giá chuyển nhượng ngày 07/06/2004 Nhìn chung, hệ thống thuế đã đóng vai trò chủ động trong việc tạo điều kiện cho chính sách mở cửa của Trung Quốc, quảng bá cho hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài, hoàn thiện hệ thống thuế, bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia
Tuy nhiên, là một quốc gia đang phát triển, hệ thống thuế định giá chuyển giao chỉ đang ở giai đoạn đầu và tồn tại một số vấn đề:
• Thiếu các giao dịch có thể so sánh được Bên cạnh đó là những khó khăn trong việc áp dụng một số các phương pháp định giá chuyển giao như phương pháp