1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại cổ phần thành phố hồ chí minh

96 285 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH ---o0o--- ĐẶNG THỊ NHƯ HOA MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ P

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-o0o -

ĐẶNG THỊ NHƯ HOA

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN -

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ XUÂN LIỄU

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 2

MỤC LỤC Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các biểu đồ

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 7 U 1 Lý do chọn đề tài: 7

2 Mục tiêu nghiên cứu: 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 8

4 Phương pháp nghiên cứu: 8

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu: 9

6 Kết cấu luận văn: 9

CHƯƠNG 1: 11

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại: 11

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại 11

1.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại 11

1.1.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại 12

1.2 Lý luận chung về quản trị rủi ro 13

1.2.1 Khái niệm về rủi ro: 13

1.2.2 Quản trị rủi ro là gì? 14

1.2.3 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 15

1.2.4 Một số rủi ro chủ yếu trong hoạt động ngân hàng 17

1.2.5 Một số chỉ tiêu phổ biến dùng để đo lường rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng: 27

1.3 Kinh nghiệm về quản trị rủi ro từ ngân hàng ACB: 29

1.3.1 Rủi ro về lãi suất 29

1.3.2 Rủi ro về tín dụng 30

1.3.3 Rủi ro về ngoại hối 30

Trang 3

1.3.4 Rủi ro về thanh khoản 31

1.3.5 Rủi ro về hoạt động ngoại bảng 32

1.3.6 Rủi ro luật pháp 33

1.3.7 Rủi ro khác 33

CHƯƠNG 2: 36

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36

2.1 Đặc điểm kinh tế và diễn biến tình hình hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua: 36

2.2 Thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua: 41

2.2.1 Tình hình hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua: 41

2.2.2 Nguy cơ rủi ro trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh: 43

2.3 Thực trạng về quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua: 46

2.3.1 Tình hình huy động của các Ngân hàng thương mại Thành phố Hồ Chí Minh: 46

2.3.2 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng thương mại 52

2.4 Thực trạng về quản trị rủi ro thị trường trong các ngân hàng thương mại trong thời gian qua: 55

2.5 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro trong các Ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh: 60

2.5.1 Nhiều ngân hàng vẫn còn vi phạm quy trình, quy chế: 61

2.5.2 Các ngân hàng chưa tính toán được chi phí vốn: 63

2.5.3 Hầu hết các ngân hàng hiện nay đều chưa xây dựng cho mình một chính sách tín dụng khoa học và phù hợp: 64

2.5.4 Hầu hết các ngân hàng đều không có chiến lược phát triển rõ nét 65

Trang 4

2.5.5 Chưa có sự độc lập giữa chức năng bán hàng, tác nghiệp và quản trị rủi

ro trong mô hình tổ chức tín dụng ở hầu hết các Ngân hàng 66

2.5.6 Quản trị danh mục cho vay của ngân hàng chưa chú trọng đa dạng hoá 66

2.5.7 Các ngân hàng thương mại Việt Nam hầu như chưa xây dựng được mô hình lượng hoá rủi ro và xác định mức cho vay tối đa, tối ưu đối với khách hàng 67

2.5.8 Công tác phòng ngừa và quản lý rủi ro tỷ giá còn nhiều bất cập: 67

2.5.9 Nguyên nhân khác: 70

CHƯƠNG 3 73

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG .73

3.1 Đối với các ngân hàng: 73

3.1.1 Tiếp tục thử nghiệm các mô hình quản trị rủi ro mới phù hợp với sự thay đổi của thị trường tài chính: 73

3.1.2 Mỗi ngân hàng cần xây dựng văn hóa rủi ro: 74

3.1.3 Các ngân hàng cần nhanh chóng quy định và thực hiện chế độ nghỉ phép liên tục nhiều ngày và bắt buộc đối với nhân viên tín dụng và kiểm soát viên phụ trách tín dụng: 75

3.1.4 Các ngân hàng cần đặt máy scan tại các đơn vị để yêu cầu các đơn vị scan chứng từ bản gốc về Hội sở để kiểm tra và để việc kiểm tra hồ sơ chứng từ được nghiêm ngặt trước khi thực hiện giải ngân 76

3.1.5 Các ngân hàng thường đưa ra chỉ tiêu và các mục tiêu để phấn đấu chung mà không đưa ra giới hạn chấp nhận rủi ro trên từng mục tiêu cụ thể. 77

3.1.6 Các ngân hàng thương mại cần quản lý và kiểm soát rủi ro theo hướng: phân chia các cấp độ để quản trị và kiểm soát rủi ro và đưa ra các hình thức để quản trị rủi ro 78

3.1.7 Các ngân hàng nên sử dụng mục tiêu thu lợi nhuận từ lãi để đánh giá một cách đầy đủ rủi ro của các sản phẩm tín dụng. 83

Trang 5

3.1.8 Các ngân hàng nên sử dụng mục tiêu độ nhạy lãi suất và mục tiêu độ

lệch kì hạn để quản trị rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. 84

3.1.9 Các giải pháp khác: 85

3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 86

3.3 Đối với các tổ chức kiểm toán 88

3.4 Về phía Chính phủ 88

KẾT LUẬN CHUNG 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 Phụ lục: Cơ cấu thu nhập trong một số NHTM

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ALCO: Ban quản lý tài sản nợ, tài sản có

ATM: máy rút tiền tự động

NH: Ngân hàng

TMCP: Thương mại cổ phần

TP HCM: thành phố Hồ Chí Minh

ABB: Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

EAB: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

EIB: Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam

FCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất

HDB: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà TP Hồ Chí Minh

GDB: Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định

OCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông

PNB: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam

NAB: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á

NVB: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

SCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

SGB: Ngân hàng thương mại cồ phần Sài Gòn Công Thương

STB: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín

TBB: Ngân hàng thương mại cổ phần Thái Bình Dương

VAB: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tình hình dư nợ của các Ngân hàng TMCP đến 30/06/2008

Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí

Minh qua các năm

Bảng 2.3: Tình hình hoạt động của các Ngân hàng TMCP TP HCM

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng của Việt Nam so với Châu Á và thế giới

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ lạm phát ở Việt Nam năm 2008

Biểu đồ 2.3: Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2008

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu dư nợ Ngân hàng/ Tổng dư nợ của các Ngân hàng tính đến cuối

năm 2007

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ đến 30/06/2008 của các NH TMCP Biểu đồ 2.6: Một số ngân hàng TMCP TP Hồ Chí Minh có tổng tài sản lớn

Biểu đồ 2.7: Tổng tài sản của các Ngân hàng TMCP TP HCM

Biểu đồ 2.8: Biểu đồ cơ cấu huy động vốn của các Ngân hàng TMCP TP HCM Biểu đồ 2.9: Đồ thị lãi suất huy động USD, vàng và VNĐ kì hạn 3 tháng trong 6

tháng đầu năm 2008

Biểu đồ 2.10: Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ trong 5 năm qua cho đến ngày 3/10/2008

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động của các công ty xuyên quốc gia tạo nên xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế như một tất yếu của thời đại Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài tác động của tiến trình này Đặc biệt đối với ngành ngân hàng là một ngành có độ nhạy cảm rất cao Hoạt động của nó là loại hình hoạt động dịch vụ có hàm lượng chất xám cao sẽ đặc biệt chịu tác động Ảnh hưởng của quá trình hội nhập mang đến cho ngành ngân hàng những lợi ích nhưng cũng đầy thách thức Rõ thấy nhất đó là cạnh tranh trên thị trường của ngành ngân hàng Việt Nam ngày càng cao, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt với các ngân hàng nước ngoài Trên bình diện rộng hơn, sâu hơn, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, sự hiểu biết ngày càng được mở rộng, do đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng càng phổ biến Và trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để phục vụ tốt khách hàng, các ngân hàng còn phải không ngừng tung ra những sản phẩm mới mang tính đặc thù riêng cho ngân hàng mình Bên cạnh việc phát hiện ra nhu cầu khách hàng để có những sản phẩm phù hợp, các ngân hàng còn phải hiểu rõ những sản phẩm do mình cung cấp, vừa đảm bảo phục vụ tốt khách hàng, vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động

Đảm bảo an toàn trong hoạt động là nhân tố quyết định sự sống còn của một ngân hàng Vì ngân hàng là ngành kinh doanh có độ nhạy cảm rủi ro cao nhất trên thị trường, chỉ cần một biến động nhỏ trong nền kinh tế đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động như hiện nay, lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm ngân hàng nhà nước áp dụng chính sách thắt chặc tiền tệ và hàng loạt các ngân hàng lớn trên thế giới bị

Trang 9

thua lỗ, bị phá sản, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước diễn ra gay gắt, hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên khó khăn hơn, nhiều rủi ro hơn Để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và bền vững, các ngân hàng cần nhận biết được những loại rủi ro có thể tác động đến hoạt động của ngân hàng, để từ đó,

có những biện pháp phòng ngừa, tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển bền vững

Từ những đặc điểm nêu trên và với kiến thức đã học được tại trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cùng với thực tiễn công tác, nghiên cứu, tôi quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Từ những vấn đề nghiên cứu trong phần lý thuyết, luận văn đi sâu vào phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó làm cơ sở đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế các rủi ro nói trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài này là đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố

Hồ Chí Minh, sự cần thiết phải có một phương pháp quản lý rủi ro đúng đắn nhằm hạn chế, ngăn chặn những tổn thất có thể xảy ra cho chính ngân hàng và cho nền kinh tế Và thông qua đó, đưa ra một số tồn tại trong quá trình quản trị rủi ro ở các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động của các ngân hàng này

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp chung được thực hiện xuyên suốt luận văn là xem xét và giải quyết các vấn đề có liên quan trong mối liên hệ, trong trạng thái vận động và phát triển Thực trạng hoạt động cũng như những mặt hạn chế trong việc quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh được phân tích, đánh giá, có gắn với việc nghiên cứu hoàn cảnh và điều kiện của nền kinh tế nước

Trang 10

ta Bên cạnh đó, một số phương pháp khác cũng được sử dụng trong luận văn như phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro Dữ liệu được thu thập chủ yếu từ sách báo, từ các

tổ chức, thông tin thương mại, được dùng làm căn cứ đánh giá hoạt động của các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp ở phần sau

Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp nhằm thu thập và phân tích các thông tin liên quan đến thực trạng hoạt động và quản trị rủi ro trong các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua các báo cáo thống kê, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các Ngân hàng này

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Đề tài nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro trong hệ thống các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay Kinh doanh tiền tệ là một hoạt động đầy rủi ro và không thể tránh khỏi rủi ro

Vì vậy, việc quản trị rủi ro là nhu cầu tất yếu cho hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hiện tại

Kết quả phân tích các mặt hoạt động cũng như cách thức quản trị rủi ro đang diễn ra tại các Ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh được nêu lên trong luận văn phản ánh đúng thực tế đang diễn ra Các giải pháp được đưa ra cũng dựa trên sự phân tích này, vì vậy, có thể nghiên cứu áp dụng cho từng chủ thể trong nền kinh tế, giúp cho các Ngân hàng này, đặc biệt là các Ngân hàng có qui mô tương đối nhỏ có thể nhận ra các rủi ro đang tồn tại và khắc phục để hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng an toàn, lành mạnh, tạo được lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế hội nhập

6 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu, mục lục, doanh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 11

¾ Chương I: Lý luận chung về quản trị rủi ro và các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng

¾ Chương II: Nêu ra thực trạng việc nhìn nhận và quản trị các loại rủi ro trong các ngân hàng thương mại cổ phần thành phố Hồ Chí Minh

¾ Chương III: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại cổ phần – Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại:

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Theo từ điển Wikipedia,

“Ngân hàng” là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

“Ngân hàng thương mại cổ phần” là các ngân hàng hoạt động kinh doanh, thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi hoạt động Gọi là ngân hàng thương mại cổ phần để phân biệt với các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

tại Việt Nam

1.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại được phân loại theo các tiêu chí sau:

- Theo hình thức sở hữu: ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

- Theo tính chất kinh doanh: ngân hàng bán lẽ, ngân hàng bán buôn

- Theo quan hệ trong tổ chức: ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh cấp 1, cấp 2, phòng giao dịch

- Theo không gian địa lý: ngân hàng thương mại đô thị, ngân hàng thương mại nông thôn

Trang 13

1.1.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại

Chính vì Ngân hàng thương mại là những trung gian tài chính, do đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Nhìn chung, các hoạt động chủ yếu trong một ngân hàng thương mại gồm có:

- Hoạt động huy động vốn: nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ

có giá khác để huy động vốn, vay vốn, và các hình thức huy động vốn khác

- Chiết khấu: chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá, thương phiếu,

- Cho thuê tài chính: ngân hàng thương mại được phép hoạt động cho thuê tài chính thông qua công ty cho thuê tài chính cho mình lập ra

- Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: ngân hàng thương mại được phép mở tài khoản cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu thanh toán, từ đó, ngân hàng thực hiện các dịch vụ như cung cấp các phương tiện thanh toán, thanh toán trong và ngoài nước, thu hộ, chi hộ cho khách hàng, …

- Các hoạt động khác: góp vốn mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận ủy thác (như quản lý tài sản), tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, …

Trang 14

1.2 Lý luận chung về quản trị rủi ro

Bất kỳ ngành kinh doanh nào mang lại siêu lợi nhuận đều phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro trong đó ngành ngân hàng không là ngoại lệ: rủi ro ở góc độ vĩ mô như lạm phát tăng, nền kinh tế suy thoái, … hay rủi ro ở góc độ vi mô như sự cạnh tranh ngày càng tăng, hệ thống công nghệ thông tin, rủi ro trong giao dịch thương mại, rủi ro chính trị, thiên tai hay bất kì rủi ro nào vẫn còn đang tiềm ẩn Rủi ro và lợi nhuận luôn tỷ lệ nghịch với nhau: rủi ro cao, lợi nhuận cao và ngược lại (“high risk, high return”) Ông Walter Wriston, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng CitiGroup 1970 – 1984 đã từng nói: “Các ngân hàng kinh doanh bằng chính việc quản lý rủi ro Thuần nhất và đơn giản, đó chính là nghề ngân hàng”

Thật vậy, hoạt động ngân hàng hàm chứa những rủi ro rất lớn, không có rủi ro thì không có lợi nhuận “No risk – No Return” Đôi khi sự thành công mang đến những khoản lợi nhuận khổng lồ và niềm lạc quan vô bờ bến cho nhà lãnh đạo, và cũng chính điều này đôi khi các nhà lãnh đạo lại không nhìn thấy nhiều mối nguy hiểm đang dần dần xâm nhập vào hoạt động của họ Vấn đề là làm thế nào để ngân hàng nhận diện được rủi ro, chấp nhận nó và tìm cách kiểm soát nó Người hiểu rõ rủi ro luôn nắm phần thắng trong tay Do đó, trong cuộc sống hay trên thương trường, ai hiểu biết về rủi ro nhiều hơn thì đó là người chiến thắng

Vậy rủi ro là gì? Và tại sao việc quản trị rủi ro trong ngân hàng lại là cần thiết?

1.2.1 Khái niệm về rủi ro:

Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay một vài sự kiện Ngoài ra, theo Webster, rủi ro là khả năng bị thua lỗ hoặc tổn thất Nói cách khác khi đầu tư mà không thể chắc chắn về lợi nhuận thu được đó chính là rủi

ro

Theo nhiều nhà phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn

về mất mát sẽ xảy ra (uncertainty about the occurrence of a loss) Với khái niệm về

rủi ro này, nếu có chuyện mất mát mà đã có chủ định từ trước thì không phải là rủi

ro, nếu những tổn thất xảy ra mà không được mong đợi thì đó mới là rủi ro

Trang 15

Ví dụ như trong đầu tư chứng khoán, rủi ro chính là sự thay đổi liên tục của giá

cả chứng khoán Nói cách khác khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, không ai có thể chắc chắn về lợi nhuận thu được Nhưng cho dù quyết định đầu tư hay gửi tiết kiệm, chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro Bạn có thể cất tiền trong nhà nhưng bạn vẫn phải chấp nhận rủi ro mất trắng nếu nhà bạn cháy Bạn có thể gửi tiền vào ngân hàng nhưng sức mua của đồng tiền có thể giảm do ảnh hưởng của lạm phát khiến giá trị thực tế của đồng tiền bạn nhận được sau đó còn thấp hơn cả khi gửi tiền vào

Hoặc để có được lợi nhuận càng lớn từ danh mục đầu tư, rủi ro phải chấp nhận càng lớn Gửi tiền tiết kiệm tuy ít có rủi ro nhưng ngược lại tiền lãi nhận được cũng không đáng kể

Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “rủi ro là những biến cố không mong đợi

xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động”

.Rủi ro là không thể tránh khỏi nhưng có thể kiểm soát được Kiểm soát rủi ro tức là việc người ta có thể tăng tối đa lợi nhuận trong khi đó giảm thiểu rủi ro Làm được như vậy có nghĩa là đã có một lợi nhuận hợp lý với một mức rủi ro chấp nhận được Vậy như thế nào là rủi ro chấp nhận được? Mỗi nhà đầu tư có một quan điểm khác nhau Tuy nhiên, một quan niệm chung được nhiều nhà đầu tư thống nhất đó là khi chúng ta không phải tỉnh giấc lúc nửa đêm và lo lắng về quyết định đầu tư của mình Để làm được điều này cần phải quản trị tốt rủi ro

Trang 16

ro một cách dễ hiểu và nhất quán, lựa chọn rủi ro nào để giảm thiểu, rủi ro nào nên tảng, và cũng từ đó, xây dựng các quy trình quy chế để kiểm soát hậu quả của rủi ro Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng còn là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn của ngân hàng Nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát các loại rủi ro phát sinh cũng như đưa ra các giải pháp xử lý rủi ro hiệu quả nhất

Hay nói cách khác, quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa

học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, phân tích, kiểm soát, phòng ngừa

và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

1.2.3 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng:

Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu Do hoạt động ngân hàng

có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế - xã hội Nếu có tin đồn về một ngân hàng nào đó đang gặp rủi ro, lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự đi đến phá sản, điều này dễ gây tâm lý hoảng loạn, khiến mọi người đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh để tránh bị tổn thất,

và chính điều này lại mang đến nguy cơ gây đổ vỡ, những tổn thất về tài sản không những cho chính ngân hàng đó mà còn ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia

Rủi ro xảy ra khiến cho ngân hàng bị thua lỗ, và thậm chí có thể dẫn đến phá sản, ảnh hưởng đến tất cả những người gửi tiền vào ngân hàng, các doanh nghiệp không được đáp ứng đủ nhu cầu vốn, … từ đó dẫn đến nền kinh tế bị suy thoái, giá

cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, … gây rối loạn trật tự xã hội, kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng khác trong nước và trong khu vực

Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới và hiện tại đã chứng kiến không ít các ngân hàng lớn bị phá sản, mà hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tại châu Á năm 1997 đã làm cho nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính của các nước trong khu vực bị phá sản Nhiều ngân hàng nhỏ

Trang 17

ở Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia, Philippin đã phải sáp nhập hoặc bị các ngân hàng lớn mua lại, nhiều công ty tài chính, môi giới chứng khoán đã bị phá sản

Ở Việt Nam, vào những năm 1989- 1990, cũng đã xảy ra tình trạng người dân

đổ xô đi rút tiền gửi tại các quỹ tín dụng, gây ra sự đổ vỡ hàng loạt các quỹ tín dụng Đây là lần đổ vỡ đầu tiên có tính dây chuyền của các tổ chức tín dụng Việt Nam khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổ vỡ đã gây tổn thất lớn cho các quỹ tín dụng

và hệ thống ngân hàng, người gửi tiền và nền kinh tế nói chung, đặc biệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của người gửi tiền, mà chúng ta đã phải mất một thời gian dài mới lấy lại được

Gần đây nhất là hàng loạt các ngân hàng lớn và các công ty tài chính lớn ở Mỹ, Châu Âu liên tục tuyên bố phá sản, bị mua lại, bị sáp nhập Thị trường tài chính thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước nguy cơ lâm vào khủng hoảng

Trong vài năm gần đây, không ít lần Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải can thiệp để cứu vãn tình thế và khôi phục hoạt động cho một số ngân hàng thương mại

cổ phần, vì những lý do khác nhau, có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đặc biệt là trong giai đoạn hiện tại, nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái, hàng loạt các ngân hàng lớn trên thế giới bị thua lỗ, tuyên bố phá sản, bị sáp nhập

Từ đầu năm 2008, các ngân hàng thương mại Việt Nam gặp khó khăn không nhỏ trong vấn đề thanh khoản Ngân hàng nhà nước áp dụng hàng loạt các chính sách thắc chặt tiền tệ, tình hình huy động khó khăn, thị trường chứng khoán trầm lắng, các Ngân hàng thương mại đứng trước nguy cơ rủi ro rất cao

Nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của các tổ chức tín dụng Nhưng khi tổn thất lớn, vượt quá khả năng xử lý của mình thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho chính tổ chức tín dụng đó, mà còn cho cả những tổ chức tín dụng và doanh

Trang 18

nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, và là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính Với vai trò trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thực hiện chức năng

“đi vay để cho vay” Vì thế, ngân hàng gánh chịu rủi ro từ cả hai phía: Người đi vay

và người cho vay Đứng trên giác độ là người đi vay, rủi ro tín dụng xảy ra khi người gửi tiền rút trước hạn; còn đứng trên giác độ là người cho vay, rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay hoàn trả tiền vay không đúng với hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng Và bên cạnh đó, ngân hàng còn gặp không ít nhưng rủi ro khác

Từ thực tế có những thảm họa tài chính đã xảy ra trong các định chế tài chính

và phi tài chính đã cho thấy sự cần thiết ngân hàng phải quản trị nhiều loại rủi ro khác nhau Các rủi ro tài chính hầu như không còn là hiện tượng gì mới mẻ, nó nhanh chóng gây ra các vấn đề cho chính ngân hàng cũng như các bên liên quan Các ngân hàng cần thiết phải quản trị đồng bộ các rủi ro Các ngân hàng và các định chế tài chính khác cần đáp ứng các điều kiện về đo lường rủi ro Tuy nhiên, cũng sẽ rất sai lầm khi cho rằng các thủ tục này là lý do duy nhất và quan trọng nhất để tạo nên một hệ thống quản trị rủi ro mang tính khoa học cao Các lãnh đạo cần một phương pháp đo lường rủi ro đáng tin cậy để có thể hoạt động với mức rủi ro tốt nhất Trên cơ sở đó, tính toán mức độ giới hạn lỗ có thể xảy ra sao cho việc thanh khoản trở nên nhanh chóng Một cơ chế để kiểm soát và giám sát rủi ro là cần thiết,

từ đó, tạo nên động cơ chấp nhận rủi ro một cách thận trọng và khôn ngoan

1.2.4 Một số rủi ro chủ yếu trong hoạt động ngân hàng

Các rủi ro trong ngành ngân hàng luôn tương tác lẫn nhau, từ rủi ro này có thể dẫn đến rủi ro kia và ngược lại Sau đây là các rủi ro thường gặp trong hoạt động ngân hàng:

1.2.4.1 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro do ngân hàng mất khả năng thanh toán các khoản

nợ đến hạn Đối với một ngân hàng đang hoạt động bình thường, ngân hàng đó có

đủ khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn Khi ngân hàng lâm vào tình trạng thanh khoản kém, ngân hàng này sẽ bắt đầu đối mặt với những rắc rối, đầu

Trang 19

tiên là họ không thể huy động được vốn cả trên thị trường bán lẽ lẫn bán buôn Rủi

ro này thường thấy ở các ngân hàng không có khả năng tài trợ cho hoạt động tại đơn

vị mình từ ngày này qua ngày khác

Trong ngân hàng, vấn đề thanh khoản là một vấn đề cực kì quan trọng, và chính điều này là yếu tố để phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính khác Khách hàng khi gửi tiền ở ngân hàng, họ luôn tin rằng họ có thể rút tiền ra vào bất

kì thời điểm nào họ muốn, bất kể món tiền đó đến hạn hay chưa đến hạn Do đó, nếu có bất kì một tin đồn nào gây bất lợi về khả năng thanh toán của ngân hàng, hầu như bất kì ai có tiền gửi ở ngân hàng đều muốn đến rút, và chính điều này lại gây ra việc mất khả năng thanh khoản của ngân hàng Nếu không có sự hỗ trợ của các ngân hàng khác và đặc biệt là Ngân hàng Trung Ương bơm một lượng tiền lớn cho ngân hàng, ngân hàng sẽ nhanh chóng mất khả năng chi trả vì trong một thời gian ngắn như vậy, không ngân hàng nào tự xoay sở kịp

Để giảm thiểu rủi ro này, hầu hết các ngân hàng phải giữ nhiều những loại tài sản mang tính thanh khoản cao để dễ dàng chuyển thành tiền mặt, ví dụ như: tiền mặt, trái phiếu chính phủ, các khoản đầu tư ngắn hạn, … Các ngân hàng đều biết rằng giữ nhiều loại tài sản thanh khoản cao thì lợi nhuận cũng thấp Chính vì vậy, các ngân hàng khi hoạt động luôn duy trì một sự chênh lệch nhất định trong kì hạn: lấy một phần tiền gửi huy động kì hạn ngắn để tài trợ cho các khoản vay có kì hạn dài hơn Hầu như các ngân hàng làm được đều này vì họ luôn có một khoản dự trữ nhất định Nếu loại bỏ chênh lệch kì hạn sẽ đảm bảo được tính thanh khoản và thậm chí loại bỏ được rủi ro thanh khoản, bởi vì các khoản tiền gửi được đầu tư vào những tài sản có kì hạn tương đương thì đó là những tài sản có mức độ rủi ro thấp

và lợi nhuận cũng thấp Tuy nhiên, các ngân hàng lại luôn tìm cách đạt được mức lợi nhuận tối ưu Họ đóng vai trò như một tổ chức tài chính trung gian, và chưa bao giờ tuân thủ đúng như vậy Họ luôn dàn xếp sao cho lợi nhuận đạt được là tối ưu nhất

Trong kinh tế vĩ mô có nói rằng, miễn là không có sự thay đổi trong vấn đề thanh khoản trong nền kinh tế, một khách hàng chỉ rút tiền khi đến hạn Nếu ngân hàng cứ khăng khăng làm sao cho các kì hạn này khớp đúng với nhau, sự cạnh tranh

Trang 20

giữa các ngân hàng trên thị trường sẽ chứng minh rằng, ngân hàng nào mang tiền đầu tư tiếp sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn ngân hàng cứ khăng khăng giữ cho nguồn tiền huy động được nhàn rỗi

Ở mức độ kinh tế vi mô, hồ sơ đến hạn của các khoản nợ ngân hàng được cho là trên thực tế có khả năng trả được, bởi vì một vài khoản tiền gửi cho xu hướng dài hơn kì hạn ban đầu, chỉ có một phần trên tổng tiền gửi là được rút đúng ngày thỏa thuận Mục tiêu của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao giá trị của cổ đông, hầu như tất cả các ngân hàng luôn chấp nhận một mức

Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại sau:

Trang 21

Rủi ro tín dụng

Rủi ro giao dịch

Rủi ro danh mục

Rủi ro

lựa chọn

Rủi ro đảm bảo

Rủi ro nghiệp vụ

Rủi ro nội tại

Rủi ro tập trung

- Rủi ro giao dịch (Transaction risk):

Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay

+ Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro

và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục (Portfolio risk):

Trang 22

Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng

và được chia thành hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)

+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay, hoặc ngành, lĩnh vực kinh

tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay

+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung quá nhiều vốn để cho vay đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

1.2.4.3 Rủi ro thị trường:

Rủi ro thị trường là rủi ro lỗ do giá cả trên thị trường thay đổi Rủi to thị trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro giá cổ phiếu, rủi ro giá trái phiếu

Rủi ro thị trường (rủi ro giá cả) thông thường có liên quan tới các công cụ được giao dịch trên thị trường xác định, và có các kỹ thuật được sử dụng để đánh giá rủi ro Giá trị của mỗi công cụ sẽ là một chức năng của giá cả, trái phiếu, thời gian, lãi suất và các nhân tố khác Nếu một ngân hàng đang nắm giữ các công cụ tài chính, như vốn chủ sở hữu, trái phiếu, những điều này nằm trong rủi ro thị trường hay rủi ro giá cả, và rủi ro xảy ra khi giá của các công cụ tài chính này thay đổi đột ngột

Trang 23

đang thiếu hụt nghiêm trọng có thể làm cho chỉ số giá cổ phần rớt xuống và gây ra

sự sụt giảm chung trong tất cả các chỉ số

Đối với một ngân hàng có thể gặp các rủi ro thị trường liên quan tới:

ƒ Vốn chủ sở hữu

ƒ Hàng hóa

ƒ Tiền tệ

ƒ Các chứng khoán nợ

ƒ Các công cụ nợ phái sinh (Hợp đồng tỷ giá kì hạn, giao sau, quyền chọn)

Vì vậy, rủi ro thị trường bao gồm một tập hợp rất lớn các rủi ro khác Hai loại rủi ro thị trường thường thấy là rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá hối đoái Nếu tỷ giá hối đoái biến động, việc thừa hay thiếu ngoại hối cũng đưa ngân hàng vào rủi ro hối đoái Trong trường hợp này, trên thị trường ngọai hối, giá của các đồng tiền liên quan được gọi là tỷ giá hối đoái Một ngân hàng hoạt động trên toàn cầu sẽ có nhiều đồng tiền giao dịch khác nhau Rủi ro hối đoái phát sinh từ việc các đồng tiền biến động theo chiều hướng bất lợi ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối cho chính ngân hàng hay thay mặt cho khách hàng của mình thực hiện Ví dụ như khi một ngân hàng thừa đồng USD mà giá trị đồng USD lại giảm so với các đồng tiền khác, ngân hàng này sẽ bị lỗ Các ngân hàng cam kết trong các giao dịch giao ngay,

kì hạn hay hoán đổi với một số lượng lớn có thể chịu một sự thay đổi lớn trong từng phút một Sự chênh lệch giữa tiền tệ và kì hạn là yếu tố cần thiết của việc kinh doanh – nếu phán đoán tốt về sự chênh lệch này, ngân hàng có thể kiếm được lợi nhuận lớn và quản trị được rủi ro

Nếu tỷ giá của 2 loại ngoại tệ là cố định, sẽ không có rủi ro hối đoái Từ sau chiến tranh thế giới thứ II cho đến cuối thập niên 70, các nước đều áp dụng chế độ

tỷ giá cố định Một vài quốc gia như Hồng Kông hay Argentia cố định đồng tiền của quốc gia theo đồng USD Nhưng không may thay, Argentia không thành công,

họ tuyên bố không thể thanh toán các khoản nợ nước ngoài vào năm 2001 Với xu hướng tiến tới một đồng tiền chung, các quốc gia trên thế giới hướng đến chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Trang 24

Mặc dù khi áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì không xảy ra rủi ro tỷ giá, các nhà đầu tư và ngân hàng có thể bất ngờ gặp những rủi ro rất lớn nếu một trong những đồng tiền ấy bị giảm giá

Nhìn chung, chỉ có một cách để loại trừ rủi ro hối đoái là thông qua một đồng tiền chung, tiêu biểu có đồng tiền chung Châu Âu

Rủi ro lãi suất: rủi ro lãi suất là một dạng giống với rủi ro giá cả, bởi vì lãi suất chính là “giá cả” của đồng tiền, hay nói cách khác, đó là chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tiền Rủi ro phát sinh khi lãi suất có sự chênh lệch nhau Các ngân hàng thường thu xếp sự chuyển đổi cho tài sản, nghĩa là giữ tài sản có và tài sản nợ có sự khác biệt nhau về số tiền và kì hạn Mục tiêu truyền thống của ban quan lý tài sản

nợ - tài sản có trong một ngân hàng là quản trị về rủi ro lãi suất

1.2.4.4 Rủi ro vận hành:

Rủi ro vận hành được định nghĩa như sau: “Đó là những rủi ro gây ra thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp do sự không cân xứng, sự không tuân thủ các quy trình trong nội bộ, do hành động của con người, hệ thống kỹ thuật hoặc bởi các tác động bên ngoài có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng”

Có nhiều định nghĩa về rủi ro vận hành, nhưng quan trọng hơn là phải tìm ra được phương pháp đo lường loại rủi ro này Có một số dạng rủi ro vận hành chủ yếu như sau:

Vốn vật chất (Physical Capital): bao gồm sự tổn thất tài sản, sự sụp đổ trong

các ngành thương mại, lỗi hệ thống, việc quản trị hệ thống quy quy chế không đồng

bộ Lỗi kỹ thuật cũng gây ra rủi ro này, ở đây nói đến hệ thống máy tính ở ngân hàng Hệ thống máy tính bị hỏng có thể phá hủy cả ngân hàng Hầu hết các ngân hàng trên thế giới đều có hai hệ thống song song với nhau để lưu trữ dữ liệu trong cùng thời gian, và hệ thống dự phòng được đặt ở một nơi bí mật để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra

Sự kiện 9/11 làm cả hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính khác ở Mỹ

bị phá hủy hoàn toàn, nếu không có hệ thống dự phòng thì các ngân hàng không thể hoạt động trở lại ngay được Nhìn chung, mất mát các tài sản vật chất, ví dụ như trụ

Trang 25

sở làm việc sẽ gây ra rủi ro vận hành Về vấn đề này các ngân hàng có thể mua bảo hiểm đề phòng hỏa hoạn hay các thảm họa khác có thể xảy ra mà không cần để dành một khoản tiền đáng kể để khôi phục lại

Con người (Human Capital): đây là loại rủi ro phát sinh do lỗi của con người

gây ra, đó là việc tuân thủ quy trình quy chế, sức khỏe của người lao động, sự an toàn đối với người lao động hay sự gian lận bên trong ngân hàng do con người gây

ra Ví dụ như một nhân viên nhằm lẫn trong việc ghi thêm nhiều số 0 trên lệnh chuyển tiền hay ủy nhiệm thu Hoặc một ngân hàng bị phạt trong việc vi phạm các nguyên tắc, hoặc nhân viên trong ngân hàng có hành vi gian lận

Luật pháp: rủi ro luật pháp phát sinh chủ yếu khi ngân hàng bị kiện Hành

động này có thể do chính nhân viên trong ngân hàng gây ra Có vô số trường hợp ngân hàng bị kiện tụng chỉ vì sự bực tức của các khách hàng doanh nghiệp, họ yêu cầu bồi thường vì đã cho họ lời tư vấn sai khi kí kết hợp đồng hoặc tư vấn về bán sản phẩm

Gian lận: rủi ro gian lận có thể xảy ra bên trong hoặc bên ngoài ngân hàng

Một cá nhân có được một khoản tiền phi pháp (tiền ăn cắp) cũng ảnh hưởng đến ngân hàng Nhân viên trong ngân hàng gian lận để làm lợi cho bản thân

Việc phân loại rủi ro vận hành như trên, có thể thấy các nhân tố cấu thành rủi

ro vận hành không độc lập với nhau Việc gian lận bên trong nội bộ ngân hàng có thể do con người gây ra Nếu một nhân viên bị kiện ra tòa vì vi phạm pháp luật thì

đó vừa là rủi ro con người và rủi ro luật pháp Rủi ro thanh toán cũng có thể do rủi

ro vận hành gây ra Rủi ro vận hành sẽ kéo theo rủi ro thanh khoản Nếu việc không tuân thủ chặt chẽ trong quy trình cấp tín dụng sẽ kéo theo rủi ro tín dụng Do đó, việc định lượng rủi ro vận hành là điều hết sức khó khăn

Trang 26

Rủi ro vốn có liên quan với hệ số vốn chủ sở hữu và thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Khi ngân hàng chọn rủi ro vốn cao hơn, hệ số vốn chủ sở hữu và ROE cao hơn, khi ngân hàng chọn làm giảm rủi ro vốn, hệ số vốn chủ sở hữu và ROE thấp hơn Tóm lại, rủi ro vốn càng cao thì ROE càng cao

Bởi vì ROA của một ngân hàng rất nhỏ, ROE có thể tăng do đòn cân nợ cao hơn hoặc do tăng tỷ lệ tài sản/ vốn chủ sở hữu Nhưng đòn cân nợ càng lớn thì rủi ro càng lớn, bởi vì sẽ có nhiều tài sản hơn trên bảng cân đối kế toán Thiếu vốn cũng gây cho các ngân hàng khó khăn trong việc huy động

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được cho là 8% Nếu một ngân hàng thỏa mãn điều kiện này, nghĩa là vốn chủ sở hữu là 8%, nợ là 92%, tỷ lệ đòn cân nợ là 92/8

Rủi ro vốn là hậu quả của những rủi ro khác gây ra cho ngân hàng, như là rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường Cho vay không thu hồi được làm lợi nhuận kiếm được thấp, rủi ro lừa đảo cũng khiến nguồn vốn của ngân hàng gặp rủi

ro Hai rủi ro thường được kiểm soát trong ngân hàng:

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu – Vốn/ Tài sản rủi ro cao

- Tỷ lệ đòn cân nợ - Nợ/ Vốn chủ sở hữu

1.2.4.6 Các rủi ro khác

Rủi ro quốc gia – rủi ro chính trị

Thông thường, rủi ro quốc gia xảy ra khi một chính phủ mất khả năng thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng Trong trường hợp này, đây là một hình thức đặc biệt của rủi ro tín dụng, nhưng ngân hàng lại thiếu các công cụ thông thường để sẵn sàng thu hồi lại khoản nợ này Nếu một cá nhân nào đó mất khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ lấy quyền sở hữu tài sản đã được thế chấp như tài sản đảm bảo Tuy nhiên, việc mất khả năng trả nợ đối với chính phủ của một nước, ngân hàng không thể thu hồi lại khoản nợ bằng cách lấy tài sản của quốc gia này Vấn đề này còn liên quan đến hợp đồng vay Rủi ro quốc gia có thể liên quan đến các khoản nợ không có khả năng trả hay tái cấu trúc các khoản nợ Từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có Trung Quốc, Cuba, thật sự khước từ trách nhiệm trả nợ Một số quốc gia quá nghèo đã được xóa nợ sau khi có một hợp đồng năm 1996 được sự đồng ý của các

Trang 27

quốc gia phương Tây và các ngân hàng ở đây như là Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân hàng thế giới

Một vài quốc gia khác như Argentina, Nga,… có nguy cơ không trả được nợ, nhưng cuối cùng, họ cũng thuyết phục được Ngân hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc tế cho tái cấu trúc nợ Nhiều quốc gia khác thông báo họ không thể đồng ý với

kì hạn trả nợ và yêu cầu thỏa thuận lại kì hạn mới, bình thường thì Quỹ tiền tệ quốc

tế đứng ra giàn xếp với tư cách là một tổ chức trung gian Các ngân hàng đều đồng

ý tái cơ cấu lại kì hạn thanh toán và cho vay khoản vay khác Để làm điều này thì Quỹ tiền tệ quốc tế cũng đóng vai trò là trung gian Hợp đồng tái cơ cấu lại các khoản nợ cho một quốc gia phải đáp ứng mục tiêu kinh tế vĩ mô của họ, ví dụ như: giảm bớt lạm phát, giảm bao cấp, và tăng thuế Ngân hàng thế giới cũng tham gia vào các thỏa thuận tái cơ cấu này

Rủi ro chính trị được xem là một nhà nước can thiệp vào hoạt động của các công ty cả trong nước lẫn ngoài nước Các ngân hàng có thể bị ảnh hưởng do việc tăng thuế bất ngờ, tăng lãi suất và bất ngờ bị ảnh hưởng bởi các chính sách quản lý ngoại hối, hoặc bị quốc hữu hóa Một ví dụ cho thấy, ở Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ nước này đã phân vân trong sự lựa chọn giữa quốc hữu hóa hay tư nhân hóa trong lĩnh vực ngân hàng Tất cả các ngành thương mại đều bị đặt dưới rủi ro chính trị, nhưng riêng lĩnh vực ngân hàng lại dễ bị ảnh hưởng hơn cả bởi

vì nó có một vị trí then chốt trong hệ thống tài chính

Ngoài ra, trong hoạt động ngân hàng còn có rủi ro mất chủ quyền, rủi ro xuyên quốc gia, rủi ro chuyển đổi tiền tệ Đây là chỉ rủi ro khách quan gây ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng

Rủi ro pháp lý và tuân thủ các quy định:

Đây là rủi ro xảy ra trong ngân hàng do không tuân thủ các yêu cầu pháp lý và yêu cầu về quản lý của nhà nước

Rủi ro uy tín

Trang 28

Rủi ro uy tín là rủi ro không đạt được các tiêu chuẩn về kết quả công việc, hoặc hành vi do những người đầu tư yêu cầu hay mong đợi trong các hoạt động thương mại

Rủi ro môi trường và xã hội:

Rủi ro môi trường có nghĩa là rủi ro gây ra ô nhiễm hoặc phá hủy môi trường

tự nhiên như: đất đai, nguồn nước, không khí, chim thú hay các loại cây cỏ … do các hành vi vô tình hay cố ý

Nếu một ngân hàng đầu tư vào các lĩnh vực có ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, điều này cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro xã hội nghĩa là rủi ro của một khách hàng không đáp ứng các tiêu chuẩn về thuê nhân công hay đạo đức kinh doanh

1.2.5 Một số chỉ tiêu phổ biến dùng để đo lường rủi ro trong hoạt động kinh

doanh ngân hàng:

Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, căn cứ vào đó, các chỉ tiêu sau được dùng để do lường rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng:

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: phải duy trì tối thiểu là 8% giữa vốn tự có so với Tổng tài sản có rủi ro

- Giới hạn tín dụng đối với khách hàng:

Giới hạn cho vay, bảo lãnh:

+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng

+ Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng

+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng

có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó mức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng

Trang 29

+ Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng

Giới hạn cho thuê tài chính:

+ Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính

+ Tổng mức cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 80% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính

- Tỷ lệ về khả năng cho trả:

+ Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản "Có" có thể thanh toán ngay

và các tài sản "Nợ" sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo

+ Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản "Có" có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản Nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo

+ Ngoài ra, các ngân hàng phải tự xây dựng bảng phân tích các tài sản

"Có" có thể thanh toán ngay và các tài sản "Nợ" phải thanh toán đối với từng loại đồng tiền, trong những khoảng thời gian sau:

• Trong ngày hôm sau

Trang 30

+ Mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại của tổ chức tín dụng tối đa không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư hoặc 11% giá trị dự án đầu tư

+ Tổng mức đầu tư trong tất cả các khoản đầu tư thương mại của tổ chức tín dụng không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng

+ Tổ chức tín dụng đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại vượt quá tỷ lệ quy định trên phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản với điều kiện khoản đầu tư đó là hợp lý và tổ chức tín dụng đã chấp hành các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL)

từ 3% tổng dư nợ trở xuống

Ngoài ra, khi đo lường rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các chỉ tiêu sau đây được dùng để đánh giá:

- Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

- Tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng doanh thu của ngân hàng

- ROE= Lợi nhuận ròng sau thuế/ Tổng giá trị vốn chủ sở hữu * 100%

- ROA (tỷ suất sinh lời của tài sản)=Lợi nhuận/ Tổng tài sản * 100%

- …

1.3 Kinh nghiệm về quản trị rủi ro từ ngân hàng ACB:

1.3.1 Rủi ro về lãi suất

Rủi ro lãi suất phát sinh khi có sự chênh lệch về kì hạn tái định giá giữ tài sản

nợ và tài sản có của ngân hàng ACB quản lý rủi ro lãi suất theo nguyên tắc cẩn trọng Hội đồng ALCO sử dụng nhiều công cụ để giám sát và quản lý rủi ro lãi suất gồm: biểu đồ lệch kì hạn tái định giá, thời lượng tài sản nợ và tài sản có, hệ số nhạy cảm Các báo cáo này do Phòng Quản lý rủi ro lập định kì hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng cho từng loại tiền và vàng Dựa trên báo cáo, những nhận định về diễn biến, xu hướng của lãi suất trên thị trường trong các cuộc họp hàng tháng của Hội đồng ALCO Ban điều hành ngân quỹ hàng ngày sẽ quyết định duy trì các mức chênh lệch thích hợp để định hướng cho các hoạt động của ngân hàng

Trang 31

Để thực hiện xét duyệt và quyết định cấp các khoản tín dụng, bảo lãnh, ACB

tổ chức thành ba cấp: Ban tín dụng tại chi nhánh, Ban tín dụng tại hội sở, Ban tín dụng phía Bắc và cấp cao nhất là Hội đồng tín dụng Hội đồng tín dụng tại ACB gồm 11 thành viên, trong đó có 2 thành viên Hội đồng quản trị và 9 thành viên của Ban điều hành Bên cạnh việc cấp tín dụng hoặc bảo lãnh, Hội đồng tín dụng còn quyết định các vấn đề về chính sách tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng, hạn mức phán quyết của các ban tín dụng Nguyên tắc cấp tín dụng là sự nhất trí của 100% các thành viện xét duyệt Các khách hàng vay cá nhân và doanh nghiệp đều được xếp hạn trong quá tr2inh thẩm định Sau khi thẩm định, phân tích và định lượng rủi ro, các hạn mức tín dụng hoặc các khoản vay độc lập sẽ được cấp cho từng khách hàng Ngoài ra, ACB luôn nghiêm túc trong việc thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước với mức trích lập đủ các khoản

nợ quá hạn theo quyết định của Hội đồng tín dụng Việc thành lập Ban chính sách

và Quản lý tín dụng là nhằm chuyên nghiệp hóa công tác quản lý rủi ro tín dụng

1.3.3 Rủi ro về ngoại hối

Hoạt động ngoại hối của ACB chủ yếu phục vụ trong hoạt động thanh toán quốc tế cho khách hàng doanh nghiệp Các hoạt động mua bán trên thị trường quốc

tế không nhiều Quản lý rủi ro ngoại hối tập trung vào quản lý trạng thái ngoại hối ròng và các trạng thái kinh doanh vàng (không được dương hoặc âm quá 30% vốn

tự có của Ngân hàng), tuân thủ đúng các quy định hiện hành của Ngân hàng nhà nước Hội đồng ALCO quyết định và định kỳ xét duyệt lại hạn mức về trạng thái

mở và hạn mức ngăn lỗ cho các nhân viên giao dịch ngoại hối Hội đồng tín dụng xem xét, quyết định và định kì xét duyệt lại hạn mức giao dịch với các đôố tác Bên

Trang 32

cạnh đó, trạng thái cũng như rủi ro ngoại hối còn được Ban điều hành ngân quỹ xem xét và điêề chỉnh hàng ngày nhằm tôố ưu hoá thu nhập cho ngân hàng,

1.3.4 Rủi ro về thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là một trong các rủi ro rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng, do đó, rủi ro thanh khoản được ngân hàng ACB đặc biệt quan tâm Quản

lý rủi ro thanh khoản tại ACB được thực hiện trong một kế hoạch tổng thể về quản

lý rủi ro thanh khoản và ứng phó với các sự cố rủi ro thanh khoản Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động, ACB luôn đảm bảo duy trì khả năng thanh khoản tốt và luôn tuân thủ các quy định về thanh khoản của ngân hàng nhà nuớc Hội đồng ALCO, Ban điều hành ngân quỹ, Phòng quản lý rủi ro tuỳ theo phân cấp có trách nhiệm đưa ra những đánh giá định tính, định lượng thanh khoản, xây dựng khung quản lý rủi ro thanh khoản và giám sát rủi ro thanh khoản Quản lý rủi ro thanh khoản tại ACB đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cụ thể sau:

- Tuân thủ nghiêm các quy định của Ngân hàng nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và thanh khoản trong hoạt động ngân hàng

- Duy trì tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản có có thể thanh toán ngay và các tài sản nợ sẽ đến hạn thanh toán trogn thời gian 1 tháng tiếp theo

- Duy trì tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữ tổng tài sản có có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo

- Tuân thũ các hạn mức thanh khoản quy định trong chính sách quản lý rủi

ro thanh khoản do Hội đồng ALCO quy định

- Tổng hợp và phân tích động thái của khách hàng gửi tiền, xây dựng kế hoạch sử dụng vốn cho hoạt động tín dụng và các hoạt động có rủi ro vốn

ACB cũng thiết lập các định mức thanh khoản như một công cụ dự phòng tài chính để ứng phó với các đột biến về thanh khoản Căn cứ khả năng thanh toán

Trang 33

ngay và khả năng chuyển đổi thành thanh toán ngay, định mức thanh khoản chia thành 4 cấp độ từ thấp đến cao Trong mỗi cấp độ sẽ quy định rõ các loại thanh khoản Kế hoạch thanh khoản dự phòng được thể hiện bằng văn bản và được Hội đồng ALCO xét cập nhật hàng tháng

Ngoài ra, ACB cũng xây dựng kế hoạch ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản nhằm cung cấp cho lãnh đạo, trưởng các đơn vị, bộ phận và các nhân viên phương cách quản lý và ứng phó khi xảy ra sự cố thanh khoản Các bước có quan hệ mật thíet với nhau trong quá trình ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản, bao gồm:

- Xây dựng kế hoạch: định nghĩa phân loại sự cố, mô phỏng các tình huống của

sự cố và các hành động cụ thể để ứng phó Kế hoạch phải thể hiện bằng văn bản được thiếtlập trên công việc hàng ngày kể cả ngoài giờ làm việc Kế hoạch được xem xét và cập nhật ít nhất 6 tháng 1 lần

sơ đồ thông tin liên lạc đa chiều từ nhân viên đến lãnh đạo và ra bên ngoài cũng như phương tiện thông tin liên lạc và mức độ duy trì liên lạc

Ngân hàng đã và đang triển khai tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật của cổ động nước ngoài về quản trị rủi ro, trong đó bao gồm cả nâng cao trình độ quản trị rủi ro về thanh khoản

1.3.5 Rủi ro về hoạt động ngoại bảng

Các hoạt động ngoại bảng của ACB bao gồm chủ yếu: các khoản cam kết cho vay và các hình thức bảo lãnh Tỷ trọng các cam kết giao dịch ngoại hối như cam

Trang 34

kết mua/ bán ngoại tệ có kì hạn và quyền chọn mua/ bán ngoại tệ có tỷ lệ rất nhỏ ACB cũng thực hiện chính sách bảo lãnh thận trọng, phần lớn các khoản bảo lãnh đều có tài sản thế chấp Hội đồng tín dụng quyết định các hạn mức bảo lãnh cấp cho các cá nhân và doanh nghiệp trên cơ sở được thẩm định chặt chẽ, được xem xét như khoản vay

1.3.6 Rủi ro luật pháp

Rủi ro luật pháp liên quan những sự cố hoặc sai sót trong quá trình hoạt động kinh doanh làm thiệt hại cho khách hàng và đối tác dẫn đến việc ngân hàng bị khởi kiện Nguyên nhân dẫn đến rủi ro này là do con người hoặc hệ thống công nghệ thông tin

Để phòng chống rủi ro này, ngân hàng chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ chính theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Đến tháng 9 năm 2006, các quy trình nghiệp

vụ chính đã được chuẩn hoá bao gồm: nghiệp vụ tiền gửi, chuyển tiền, tín dụng, bao thanh toán, nghiệp vụ quyền chọn, kinh doanh vàng và ngoại hối Bên cạnh đó, các quy trình trong quản lý bao gồm: tuyển dụng, đào tạo, đánh giá nội bộ, thiết kế và phát triển sản phẩm, quản lý tài sản khách hàng v…v… đã được tiêu chuẩn hóa

Hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng thường được cải tiến để nâng cao tính

ổn định, an toàn và bảo mật Ban pháp chế thuộc khối Giám sát điều hành của ngân hàng có nhiệm vụ chính trong việc đảm bảo các quyền lợi hợp lý và hợp pháp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.3.7 Rủi ro khác

Rủi ro khác liên quan đến các trường hợp bất khả kháng như: thiên tai, lụt lội, cháy nổ, v v Tại ACB, trên toàn hệ thống từ hội sở đến các chi nhánh, phòng giao dịch, công ty trực thuộc, tất cả các tài sản bao gồm nhà và thiết bị làm việc (hệ thống máy tính, các thiết bị văn phòng, v v ) đều được mua bảo hiểm chống rủi ro cháy nổ Ngoài ra, do đặc trưng của hoạt động ngân hàng, tiền và các tài sản giữ hộ của khách hàng trong kho và tiền được vận chuyển trên đường đi đều được mua bảo hiểm

Trang 35

Một loại rủi ro khác mà ACB rất quan tâm và có nhiều biện pháp phòng ngừa

là rủi ro trong vận hành Rủi ro trong vận hành là những tổn thất phát sinh do cơ chế vận hành của ngân hàng không thích hợp, không tuân thủ đúng các quy trình, quy định nội bộ, nhầm lẫn của con người, các hành động ngoại vi như lừa đảo, tin tặc, v…v…

Để có thể quản lý rủi ro này, ACB áp dụng các biện pháp:

- Áp dụng hệ thống chất lượng ISO 9001:2000 vào các quy trình huy động vốn, tín dụng, thanh toán quốc tế và cung ứng các nguồn lực

- Quy định phân công, phân quyền, hạn mức kinh doanh cho từng bộ phận

- Đào tạo và đào tạo lại để không ngừng nâng cao trình độ nhân viên

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ

- Hiện đại hóa công nghệ thông tin Nâng cao tính bảo mật và an toàn dữ liệu, xây dựng hệ thống lưu trữ dự phòng dữ liệu liên tục

- Trích lập kịp thời quỹ dự phòng rủi ro

- Mua bảo hiểm cho tài sản và nhân viên của ACB

- Tổng hợp và phân tích về các loại rủi ro trong vận hành để rút ra các bài học phòng ngừa

- Xây dựng hệ thống các dữ liệu rủi ro trong vận hành để phục vụ cho công tác quản lý rủi ro

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kinh doanh ngân hàng – kinh doanh tiền tệ là một hoạt động đầy rủi ro và rủi

ro cao nhất trong tất cả các ngành kinh doanh Trong hoạt động ngân hàng luôn tồn tại nhiều loại rủi ro khác nhau, đang xen nhau, rủi ro này xảy ra có nhiều khả năng dẫn đến rủi ro khác Rủi ro xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến chính ngân hàng đó, ảnh hưởng đến chính khách hàng của ngân hàng đó, mà nó còn có khả năng lan rộng sang các ngân hàng khác, ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước và thế giới Qua phân tích những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro và các loại rủi ro có khả năng xảy ra trong quá trình hoạt động cho thấy, các rủi ro xảy ra có thể do yếu tố khách quan, cũng có thể xảy ra do yếu tố chủ quan Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro cũng như nhận dạng rõ ràng hơn các loại rủi ro là yếu tố cần thiết của nhà quản trị ngân hàng, từ đó, đưa ra một số chỉ tiêu quản trị rủi ro cần thiết trong quá trình hoạt động ngân hàng, cũng như đưa ra bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro khá thành công ở ngân hàng ACB

Bởi vì lợi nhuận và rủi ro luôn tỷ lệ nghịch với nhau, “rủi ro cao – lợi nhuận cao”, điều này khiến các nhà quản trị đắn đo, cân nhắc trước mỗi quyết định đầu tư, quyết định cho vay… và cũng chính vì thế, hoạt động ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro Vì vậy, việc nắm bắt rõ hơn thực tiễn quản trị rủi ro ở các ngân hàng thương mại trong thời gian qua cũng như làm thế nào để hạn chế rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng sẽ được nêu trong phần nghiên cứu ở Chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Đặc điểm kinh tế và diễn biến tình hình hoạt động của hệ thống các tổ

chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua:

Mỹ, việc giá dầu và giá lương thực tăng cao và đồng USD xuống giá

Tình hình thị trường nhà đất Mỹ hiện nay vẫn hết sức căng thẳng Hàng trăm nghìn người Mỹ đang gặp rắc rối khi họ mất khả năng trả nợ đối với những khoản vay thế chấp Số lượng nhà cửa bị thu hồi tại Mỹ trong tháng 4 và tháng 6 năm nay tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước Những vấn đề trong thị trường nhà đất Mỹ bắt nguồn từ những khoản vay thế chấp dưới chuẩn cho những người có tiền sử tín dụng xấu Điều này đã tác động dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới có đầu tư vào thị trường cho vay thế chấp, hàng loạt các ngân hàng lớn tại Mỹ đều lần lượt tuyên bố phá sản hoặc bị sáp nhập, mua lại từ các ngân hàng khác Lạm phát tiếp tục là mối đe doạ lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế thế giới, nhất là đối với khu vực Châu Á Tỷ lệ lạm phát của khu vực Châu Á đã vượt quá mức dự đoán ban đầu là 5,1% Lạm phát thế giới gia tăng bắt nguồn chủ yếu từ sự tăng giá của lương thực, dầu mỏ và nhiều mặt hàng khác Giá lúa mì và các loại lương thực đã tăng gấp đôi trong chưa đầy một năm, giá gạo tháng 5.2008 đã vượt USD1000/tấn Đến tháng 6, giá dầu tiếp tục gia tăng và có lúc đã vượt mức USD140/thùng, tăng gần USD40 so với mức đầu năm 2008 (tuy nhiên đến nay đã giảm chút ít, có lúc còn 113USD/thùng) Sự biến đổi của khí hậu thế giới và thiên

Trang 38

tai khiến cho sản lượng lương thực tăng chậm hơn nhu cầu tiêu thụ đã đẩy mặt bằng giá lên cao và là nguyên nhân của lạm phát tại nhiều quốc gia Trước tình hình lạm phát gia tăng, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại thì sự suy giảm của thị trường chứng khoán chỉ là hệ quả Các chỉ số chứng khoán tại các thị trường lớn của thế giới như Nasdaq (Mỹ); Nikkei (Nhật Bản); FTSE (Anh); Cac (Pháp); Daxx (Đức)…

đã giảm điểm theo những biến động của nền kinh tế thế giới Trong số các lĩnh vực

có giá chứng khoán suy giảm nhiều nhất phải kể đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng, dầu mỏ và công nghệ

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy giảm, Việt Nam phải tập trung nguồn lực ưu tiên cho mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thì trong 6 tháng đầu năm 2008, Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng kinh tế vào khoảng 6,6 - 6,7%

Biểu đồ 2.1: tăng trưởng của Việt Nam so với Châu Á và thế giới

Nguồn: Economist Intelligence Unit

Mặc dù CPI tháng 6/2008 tăng 2,14% và là mức tăng thấp nhất trong nửa đầu

2008 nhưng so với tháng 6/2007, CPI đã tăng 26,8% và là mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây Tuy nhiên, có những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong tháng 7 và 8/2008, khi các chính sách tiền tệ của Chính phủ bắt đầu phát huy tác dụng Dự báo chung là lạm phát sẽ tăng chậm trong nửa cuối năm 2008, đầu 2009

và tiến tới giảm dần khoảng từ giữa 2009 trở đi

Biểu đồ 2.2: Lạm phát ở Việt Nam năm 2008

Trang 39

là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố dẫn đầu cả nước về

số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Năm 2007, các hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh Nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt 487.026 tỷ đồng (tương đương 28 tỷ USD), tăng 70,6% so với cuối năm 2006 Dư nợ tín dụng năm

2007 đạt 406.353 tỷ đồng, tăng 76,9% so với năm trước; trong đó, dư nợ tín dụng trung và dài hạn chiếm 39,7% cho thấy nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển kinh tế tăng Nhiều dịch vụ tín dụng hiện đại được đưa vào ứng dụng, mạng lưới

thanh toán thông qua thẻ ATM được mở rộng (Nguồn: website Uỷ ban nhân dân

thành phố Hồ Chí Minh và website Hiệp hội ngân hàng Việt Nam)

Trong 6 tháng đầu năm 2008, mặc dù diễn biến của nền kinh tế không thuận lợi nhưng nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh vẫn có sự tăng trưởng nhất định Tuy nhiên, trong bối cảnh cả nước phải tập trung mọi nguồn lực để chống lạm phát, ổn định kinh tế, hoạt động của ngành ngân hàng cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn đang đứng trước nguy cơ tìm ẩn nhiều rủi ro

Về hoạt động ngân hàng:

Trang 40

Tính đến tháng 6/2008, cả nước có 6 Ngân hàng thương mại quốc doanh, 36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 42 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh, 54 văn phòng đại diện của Ngân hàng nước ngoài, 12 công ty tài chính,

13 công ty cho thuê tài chính Cũng tính đến cuối tháng 6/2008, có 53 bộ hồ sơ xin

thành lập ngân hàng, trong đó 23 bộ hồ sơ trong nước (Nguồn: Website Ngân hàng

nhà nước Việt Nam”)

Biểu đồ 2.3: Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2008

CN NH nước ngoài VPĐD NH nước ngoài Các định chế tài chính khác

Hiện tại cả nước có hơn 1.900 điểm giao dịch của các Ngân hàng Thương mại

cổ phần trải dài từ Nam chí Bắc, trong giai đoạn nhạy cảm về lãi suất từ đầu năm

2008 đến nay các Ngân hàng này đã không ngừng thúc đẩy và phát triển nhanh tiến

độ gia tăng mạng lưới trên mọi địa bàn nhằm thu hút thêm tiền gửi và đưa sản phẩm đến tận tay người dùng Mặc dù Ngân hàng nhà nước đã dùng các biện pháp, quy định chặt chẽ để phòng ngừa và kìm hãm tốc độ mở rộng mạng lưới của các Ngân hàng thương mại (mới nhất là Quyết định13 của Ngân hàng nhà nước về phát triển

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm