1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng thương mại góp phần vào sự phát triển của thị trường chứng khoán việt nam

103 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các giải pháp đó là hệ thống NHTM phải nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, xây dựng và phát triển hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại và đánh giá chính xác

Trang 1

NGUYỄN TIẾN THÀNH

CHO VAY ĐẦU TƯ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GÓP PHẦN

VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh, năm 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân Các số liệu sử dụng phân tích và đánh giá kết qủa là quá trình thu thập số liệu và tính toán các số liệu từ các báo cáo của Ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán và các tạp chí tài chính – chứng khoán chuyên ngành Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Quy mô niêm yết và giao dịch cổ phiếu và CCQ tại HOSE và HaSTC Bảng 2.2: Dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán của khối NHTMNN

Bảng 2.3: Dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán của khối NHTMCP

Biểu đồ 2.1: Vốn hóa thị trường so với GDP giai đoạn 2005 - 2007

Biểu đồ 2.2: Vốn huy động qua TTCK giai đoạn 2005 - 2007

Biểu đồ 2.3: Dư nợ cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán của NHTM giai

đoạn 2006-2007 Biểu đồ 2.4: Dư nợ cho vay của NHTM giai đoạn 2006 – 2007

Biểu đồ 2.5: Dư nợ cho vay chứng khoán và dư nợ tín dụng theo khối NHTMNN và

khối NHTMCP năm 2007

Sơ đồ 2.1: Chu chuyển vốn của nhà đầu tư vào TTCK

Bảng 3.1: Điềm xếp hạng tín dụng nội bộ của khách hàng

Sơ đồ 3.1: Quy trình chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp bất động sản

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 CĂN BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 10

1.1.1 Thị trường chứng khoán 11

1.1.2 Các chủ thể tham gia trên TTCK 11

1.1.2.1 Nhà phát hành 11

1.1.2.2 Nhà đầu tư 12

1.1.2.3 Các tổ chức đầu tư, kinh doanh trên TTCK 12

1.2 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12

1.2.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán 12

1.2.2 Lợi nhuận và rủi ro trong đầu tư chứng khoán 15

1.2.2.1 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu 15

1.2.2.2 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu 20

1.2.2.3 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào chứng chỉ quỹ 23

1.3 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 25

1.3.1 NHNN với hoạt động của TTCK 25

1.3.1.1 Chính sách tiền tệ của NHNN có tác động đến sự phát triển của TTCK và ngược lại 25

1.3.1.2 NHNN tham gia tích cực trong việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động của TTCK 26

Trang 6

1.3.2 NHTM với hoạt động của TTCK 27

1.3.2.1 NHTM cung cấp hàng hóa cho TTCK 27

1.3.2.2 NHTM là cầu nối quan trọng giữa nhà đầu tư với TTCK 28

1.3.2.3 NHTM góp phần điều hòa cung cầu và ổn định TTCK 30

1.3.2.4 NHTM góp phần đảm bảo các nguyên tắc hoạt động của TTCK 31

1.4 SẢN PHẨM CHO VAY ĐẦU TƯ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 31

1.4.1 NHTM cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với công ty chứng khoán 32

1.4.2 NHTM cho vay dưới hình thức cầm cố chứng khoán để đầu tư kinh doanh chứng khoán 33

1.4.3 NHTM cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán 36

1.4.4 Thực hiện nghiệp vụ mua bán chứng khoán kỳ hạn 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 40

2.1.1 Nhận định chung về TTCK 40

2.1.2 Thực trạng cho vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán của các NHTM 44

2.2 NHỮNG TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ, KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 57

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 3.1 ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 63

Trang 7

3.1.1 Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng 63

3.1.2 Nâng cao năng lực tài chính 74

3.1.3 Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ liên quan đến TTCK 76

3.1.3.1 Triển khai thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp bất động sản 77

3.1.3.2 Triển khai thực hiện nghiệp vụ giao dịch ký quỹ 81

3.1.4 Tuân thủ các quy định của NHNN về hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán 84

3.1.5 Khuyến khích cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán thông qua CTQLQ 85

3.2 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 88

3.2.1 Nâng cao năng lực xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ 88

3.2.2 Tăng cường năng lực thanh tra, giám sát của NHNN 90

3.2.3 Đẩy mạnh cơ cấu lại các NHTM 91

3.2.4 Tạo sự gắn kết giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán 92

3.3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI BỘ TÀI CHÍNH VÀ UBCKNN 96

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam Tuy nhiên, sự phát triển TTCK sẽ thực sự kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Qua 8 năm hoạt động, TTCK và

hệ thống NHTM đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, kết hợp và tác động lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển Điều này được thể hiện ở chỗ hệ thống NHTM góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa và hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Sự phát triển của TTCK lại tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng cho các ngân hàng thương mại

về việc đáp ứng vốn trung dài hạn cho nền kinh tế, tạo thêm cơ hội cho các NHTM

mở rộng các sản phẩm dịch vụ của mình Trong đó có sản phẩm dịch vụ cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán

hiện từ cuối năm 2005 và phát triền mạnh mẽ trong năm 2006-2007 Song đây là lĩnh vực đuợc các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đánh giá là có mức độ rủi

ro cao khi TTCK biến động mạnh Vì thế, hệ thống NHTM phải có các biện pháp quản trị rủi ro thích hợp để đảm bảo nguồn vốn cho vay của mình được trả nợ (gốc, lãi) đúng hạn

gắn kết giữa TTCK và hệ thống NHTM còn rời rạc; hệ thống NHTM chưa đóng vai trò là chất xúc tác và tạo tính thanh khoản cho TTCK; sản phẩm cho vay, sản phẩm dịch vụ của hệ thống NHTM cung ứng cho TTCK chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư; năng lực và chất lượng cung ứng dịch vụ cho TTCK còn mang tính tự

Trang 9

phát, chộp giựt, thiếu ổn định; năng lực thu thập thông tin thị trường để đánh giá, quản trị rủi ro còn nhiều bất cập; công tác kiểm tra, kiểm soát, các biện pháp phòng ngừa rủi ro chất lượng tín dụng cung cấp cho nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán còn yếu và thiếu Do đó, để TTCK và hệ thống NHTM phát triển ổn định, bền vững và thực sự gắn kết với nhau trong sự luân chuyển vốn thì nhất thiết phải đưa ra nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết Một trong các giải pháp đó là hệ thống NHTM phải nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, xây dựng và phát triển hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại và đánh giá chính xác khách hàng vay vốn nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán; nâng cao năng lực tài chính; đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng liên quan đến TTCK và tuân thủ đúng các quy định của NHNN trong hoạt động cho vay chứng khoán

Xuất phát từ những lý do đó, để TTCK và hệ thống NHTM phát triển ổn định, bền vững trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, kết hợp và tác động lẫn

nhau, tôi mạnh dạn chọn cho mình đề tài: “ Cho vay đầu tư, kinh doanh chứng

khoán của các NHTM góp phần vào sự phát triển của TTCK Việt Nam” làm

luận văn tốt nghiệp của mình

Mục tiêu nghiên cứu

với sự phát triển của TTCK; phân tích thực trạng hoạt động cho vay để đầu tư, kinh doanh khoán Từ đó đánh giá những khó khăn, thuận lợi, những tồn tại, nguyên nhân của việc cho vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán Theo đó, đề tài tập trung nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích sau:

ƒ Cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán góp phần làm tăng tính thanh khoản cho TTCK để TTCK phát triển trong ổn định, bền vững, lâu dài

Trang 10

ƒ Cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán làm đa dạng hóa các sản phẩm cho vay của hệ thống NHTM trong danh mục tín dụng của mình Trên cơ sở

đó, áp dụng các sản phẩm, dịch vụ mới liên quan đến TTCK góp phần làm tăng lợi ích cho ngân hàng, nhà đầu tư và ổn định thị trường

ƒ Đề xuất các giải pháp để hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán của hệ thống NHTM đạt hiệu qủa, bền vững Trong đó, đặt trọng tâm vào giải pháp xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán; nâng cao năng lực tài chính; thực hiện tuân thủ các quy định của NHNN về hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán; một số kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ Tài Chính và NHNN về hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán trên TTCK

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung mang tính lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán của hệ thống NHTM, chủ yếu tập trung vào các khoản cho vay để dầu tư kinh doanh chứng khoán của NHTM năm 2006 - 2007 không bao gồm các NHTM nước ngoài, các tổ chức tài chính trung gian khác Từ đó, đi sâu phân tích, đánh giá khách quan về sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng bằng việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán của NHTM được an toàn, giảm thiểu rủi ro tín dụng phát sinh; sự cần thiết trong việc nâng cao năng lực tài chính; đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ liên quan đến TTCK và sự cần thiết trong việc sửa đổi, hoàn thiện, tuân thủ các văn bản pháp luật liên quan mật thiết tới hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán

Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Trong đề tài nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê kết hợp với phương pháp tư duy để

đi từ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng để đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn hiện hiện nay Ngoài ra, trong đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia – thông qua các cuộc hội thảo chuyên đề tiếp thu ý kiến, đóng góp của chuyên gia để bổ sung, hoàn thiện các giải pháp được đề cập Đồng thời, kế thừa có chọn lọc các tài liệu về hoạt động cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán như bài viết, bài tham luận, trao đổi… để làm rõ những nội dung nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG I

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 CĂN BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Thị trường chứng khoán

Khái niệm: Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua,

bán chứng khoán trung và dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, các công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng quyền Việc mua bán này được thực hiện ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ nhà phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp

Chức năng: Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau:

ƒ Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

ƒ Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

ƒ Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

ƒ Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

ƒ Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

1.1.2 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán

Các chủ thể tham gia trên TTCK gồm có các tổ chức và cá nhân, có thể được chia thành các nhóm sau: Nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến TTCK

1.1.2.1 Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn trên thị trường sơ cấp gồm chính quyền các cấp, các công ty và các tổ chức tài chính Trên thị trường sơ cấp, Chính phủ và các công ty lần đầu tiên bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu

tư để huy động vốn nhằm các mục tiêu đầu tư cho phát triển kinh tế quốc dân, phúc

Trang 13

lợi xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, hiện đại hóa công nghệ sản xuất vv… Việc phát hành thường được các tổ chức bảo lãnh đảm nhiệm Thông qua đó, các chứng khoán sẽ được phân phối đến tay các nhà đầu tư,

và như vậy, song song với việc huy động vốn, các chủ thể phát hành là người cung cấp chứng khoán - là hàng hóa của thị trường chứng khoán

và trái phiếu địa phương

Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư phục vụ cho hoạt động của họ

1.1.2.2 Nhà đầu tư

chứng khoán Nhà đầu tư có thể chia thành hai loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu

tư có tổ chức

Nhà đầu tư cá nhân:

trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, trong đầu

tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình

Nhà đầu tư có tổ chức:

bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này thường có các

bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty

Trang 14

cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm và tổ chức kinh doanh chứng khoán Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên

gia có kinh nghiệm

1.1.2.3 Các tổ chức đầu tư, kinh doanh trên thị trường chứng khoán

Là các tổ chức có quan hệ và tác động đến việc tổ chức hoạt động của TTCK, bao gồm: Cơ quan quản lý Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán, công ty đánh giá hệ

số tín nhiệm…

1.2 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng tiền để thực hiện các giao dịch mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích sinh lợi hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác

Đặc điểm của hoạt động đầu tư chứng khoán:

ƒ Đầu tư chứng khoán là nhằm mục đích lợi nhuận;

ƒ Phải có hành vi bỏ vốn của nhà đầu tư, vốn được bỏ vào dưới các hình thức khác nhau;

ƒ Mang tính trung, dài hạn

Phân loại đầu tư chứng khoán:

thể chia thành đầu tư chứng khoán trực tiếp và đầu tư chứng khoán gián tiếp

Trang 15

Đầu tư chứng khoán trực tiếp: Đây là quá trình nhà đầu tư mua chứng khoán của

một hay một số công ty đơn lẻ trên thị trường chứng khoán, tự tạo danh mục đầu tư chứng khoán cho mình Đầu tư chứng khoán trực tiếp là nhà đầu tư tự nắm lấy số phận trong tay mình, tự lựa chọn và đưa ra quyết định cho riêng mình Để làm được điều này, nhà đầu tư phải có thời gian và kinh nghiệm

Đầu tư chứng khoán gián tiếp: Đây là trường hợp nhà đầu tư mua một hay nhiều

gói hàng hỗn hợp của một hay nhiều quỹ đầu tư Tùy theo mức độ rủi ro của các gói hàng hỗn hợp có thể bao gồm cổ phiếu của các công ty, trái phiếu các loại, chứng chỉ quỹ, tiền mặt vv theo những tỷ lệ linh hoạt vào từng thời kỳ Thông thường, ở đầu tư chứng khoán gián tiếp, nhà đầu tư gián tiếp đầu tư thông qua việc mua chứng chỉ quỹ Việc mua chứng chỉ quỹ có nghĩa là nhà đầu tư đã ủy thác cho công ty quản lý quỹ thay mặt nhà đầu tư thực hiện quản lý và đầu tư số tiền bằng với số tiền nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ Đầu tư chứng khoán gián tiếp giúp nhà đầu tư giảm bớt rủi ro do sự quản lý, nghiên cứu, theo dõi tình hình thị trường của các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp thực hiện

đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

ngắn hạn; chu kỳ đầu tư chứng khoán có thời gian đầu tư trên 1 năm tới dưới 5 năm được gọi là đầu tư trung hạn và chu kỳ đầu tư chứng khoán có thời gian trên 5 năm

là đầu tư dài dạn Giữa đầu tư chứng khoán trung hạn, dài hạn và đầu tư ngắn hạn

có thể chuyển đổi lẫn nhau Ví dụ, mua cổ phiếu của công ty phát hành lần đầu ra công chúng là một loại hình đầu tư dài hạn, nhưng người nắm giữ cổ phiếu vì một

lý do nào đó (chẳng hạn như mục tiêu lợi nhuận trước mắt) có thể tiến hành mua bán trên thị trường thứ cấp, từ đó cổ phiếu trở thành đầu tư ngắn hạn

Trang 16

+ Căn cứ vào cách thức thu được lợi nhuận khác nhau của việc đầu tư chứng khoán có thể chia thành đầu tư chứng khoán thu lợi nhuận cố định và đầu tư chứng khoán thu lợi nhuận không cố định

Một số chứng khoán đầu tư thu lợi nhuận cố định thì việc thu lợi nhuận và phương thức chi trả được quy định từ trước, trong khoảng thời gian cất giữ chứng khoán được duy trì không thay đổi, ví dụ như trái phiếu công ty Đặc điểm của loại đầu tư này là rủi ro thấp và lợi nhuận thu được cũng thấp Một số chứng khoán đầu

tư thu lợi nhuận không cố định thì số lợi nhuận thu được và phương thức chi trả không được quy định trước mà hoàn toàn do thị trường và nhà đầu tư chứng khoán quyết định Loại đầu tư này rủi ro cao hơn so với đầu tư thu lợi nhuận cố định nhưng lợi nhuận thu được có thể lớn hơn

Phân biệt đầu tư chứng khoán và kinh doanh chứng khoán

Nguồn gốc lợi

nhuận

Chênh lệch giữa giá thị trường, là cái họ phải trả để mua chứng khoán với giá trị nội tại, là giá trị nhận được từ chứng khoán trong tương lai, gồm cổ tức và tiền lời từ chênh lệch giữa giá bán chứng khoán và giá mua ban đầu, nếu họ bán lại chứng khoán sau khi đã nắm giữ trong thời gian dài

Chênh lệch giữa mua thấp, bán cao hoặc mượn - bán cao rồi mua - trả thấp, hay còn gọi là bán khống chứng khoán

Cơ sở ra quyết

định đầu tư

Quan tâm đến giá trị nội tại của chứng khoán Dựa vào phân tích cơ bản để tính giá trị nội tại của chứng khoán Quan tâm đến tư vấn,

Dựa vào xu hướng giá, thông tin, tin đồn Quan tâm đến phân tích kỹ thuật nhằm xác định giá vào thời

Trang 17

nghiên cứu kỹ các chỉ số tài chính, tình hình kinh doanh, quản lý, tiềm năng phát triển, năng lực nhân sự của công ty

điểm mua vào hoặc bán ra

đầu tư đầu tư hoạt động kinh doanh không hiệu qủa Nếu phá sản, nhà đầu tư là những người cuối cùng được nhận phần còn lại của doanh nghiệp sau các chủ nợ

Đối diện nhiều rủi ro như rủi ro về giá, rủi ro thanh khoản vv

1.2.2 Lợi nhuận và rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Đầu tư vào chứng khoán, nhà đầu tư không thể chắc chắn về lợi nhuận thu được Đầu tư vào chứng khoán có đạt được mục tiêu lợi nhuận như ý muốn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư Đối với các nhà đầu tư, rủi

ro là nhân tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống chế của họ Do đó, đầu tư chứng khoán phải là hành động có cân nhắc, có phân tích khoa học trong đầu

tư, cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong thời gian đầu tư chứng khoán Dưới đây

là các loại lợi nhuận và rủi ro căn bản khi nhà đầu tư đầu tư vào chứng khoán tiêu biểu trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ

1.2.2.1 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu

Lợi nhuận của cổ phiếu:

ƒ Được chia cổ tức hàng năm Cổ tức được lấy ra từ lợi nhuận sau thuế sau khi trả cổ tức ưu đãi và thu nhập giữ lại để trích quỹ Cổ tức có thể được trả bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu Cổ tức thường không được xác định trước và

Trang 18

phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và chính sách chia cổ tức của từng công ty

ƒ Được hưởng giá trị cổ phần gia tăng do công ty hoạt động tốt có lợi nhuận

và có tích lũy nội bộ, đến một lúc nào đó, công ty nhập quỹ tích lũy vào vốn điều lệ thì người đầu tư được tăng thêm số lượng cổ phần

ƒ Hưởng lợi do chênh lệch giá mua bán cổ phiếu Các nhà đầu tư sẽ mua khi

có dấu hiệu giá lên, sẽ bán khi có dấu hiệu giá giảm Để thực hiện được điều này, nhà đầu tư phải tích cực thực hiện việc mua đi bán lại cổ phiếu của mình và việc mua bán đó phải đúng lúc

Rủi ro của cổ phiếu:

Rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu có thể được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận mong đợi Chính vì vậy, để đạt được lợi nhuận cao khi đầu tư vào cổ phiếu, nhà đầu tu phải nhận diện và kiểm soát cho được các rủi ro sau:

+ Rủi ro hệ thống: Đây là rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm

soát được và có ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán Trong rủi ro hệ thống, có các loại rủi ro như rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro sức mua

Rủi ro thị trường: Rủi ro này xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu

tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình Sự đánh giá rằng lợi nhuận của các công ty nói chung có xu hướng sụt giảm có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá Các nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ

sở các sự kiện thực tế xảy ra, hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội Các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phải ứng vượt quá các sự kiện đó Những sụt giảm đầu tiên của giá cổ phiếu trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn bằng cách bán cổ phiếu Những

Trang 19

phản ứng dây chuyền làm tăng số lượng bán làm giá của cổ phiếu càng giảm so với giá trị nội tại của nó

Rủi ro lãi suất: Rủi ro này nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và

số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là do dao động trong mức lãi suất chung Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất trái phiếu Chính phủ Sự lên xuống này làm thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của cổ phiếu

và các loại chứng khoán khác Các mức lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn khác nhau được dùng làm chuẩn để xác định lãi suất trái phiếu công ty có thời gian đáo hạn tương tự Do vậy, những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất Lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở lên hấp hẫn hơn và các loại chứng khoán khác sẽ kém hấp dẫn đi Hệ qủa là, những người mua trái phiếu sẽ mua trái phiếu Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, giá của trái phiếu giảm cũng làm cho giá các loại cổ phiếu giảm xuống như một phản ứng dây chuyền Như vậy,

ta thấy một cơ cấu hợp lý về lãi suất do các loại công cụ có liên hệ với nhau Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống, giá cả của các loại chứng khoán giảm và ngược lại, khi lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của các loại chứng khoán tăng

Đối với cổ phiếu, quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu có mối liên hệ không trực tiếp và không hoàn toàn diễn ra theo một chiều Bởi vì, dòng tiền thu nhập của cổ phiếu không cố định, chúng có thể thay đổi cùng với lãi suất và mức thay đổi này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức thay đổi của lãi suất

ƒ Trường hợp lãi suất tăng – giá cổ phiếu ổn định hoặc tăng: Xảy ra khi giá hàng hóa bán ra của công ty có thể tăng, dẫn đến thu nhập của công ty tăng lên cùng với lạm phát do chi phí đầu vào tăng Do vậy, giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì lãi suất chiết khấu tăng và dòng thu nhập tăng bù đắp được cho nhau

Trang 20

ƒ Lãi suất tăng – giá cổ phiếu giảm: Xảy ra khi các dòng thu nhập tương lai của công ty tăng không nhiều hoặc giảm, vì trước đó công ty phải huy động vốn với lãi suất cao, đến khi hàng hóa được sản xuất và bán ra thì lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, trong khi sức mua lại có hạn, thu nhập của công

ty giảm sút, công ty không có khả năng tăng giá hàng hóa để bù lại mức lạm phát Tương tự như vậy, khi lãi suất giảm thì cũng có thể xảy ra các khả năng tương tự

Nếu chỉ xét trong mối tương quan giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu thì trên thực tế, quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngược chiều Điều này

có thể được lý giải như sau: Khi dự đoán lãi suất thị trường tăng, tức là giá trái phiếu sẽ giảm, thì người đầu tư chuyển hướng từ đầu tư vào cổ phiếu sang đầu tư vào trái phiếu và làm cho giá cổ phiếu giảm Hay nói một cách đơn giản là nếu lãi suất tăng ít hơn thu nhập của cổ phiếu, giá cổ phiếu tăng Ngược lại, lãi suất tăng nhiều hơn thu nhập của cổ phiếu, giá cổ phiếu giảm

Rủi ro sức mua: Đây là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được Rủi ro sức

mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư Khi nhà đầu tư mua cổ phiếu,

họ đã bỏ mất cơ hội mua hàng hóa hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó Nếu trong khoảng thời gian đó, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng, nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua Yếu tố lạm phát hoặc giảm phát sẽ làm thay đổi mức lãi suất danh nghĩa và từ đó sẽ gây tác động tới giá cả của cổ phiếu

+ Rủi ro không hệ thống: Đây là rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra, nó có thể

kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay một công ty, hoặc một loại chứng khoán nào đó Rủi ro không hệ thống là một phần trong tổng rủi ro gắn liền với một công ty hay một ngành cụ thể Những yếu tố này có thể là khả năng quản

lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công và nhiều yếu tố khác là nguyên nhân gây ra sự thay đổi trong thu nhập từ cổ phiếu của công ty Sự không chắc chắn trong khả năng thanh toán của công ty có thể là do môi trường của hoạt động kinh doanh và tình

Trang 21

trạng tài chính của công ty Những rủi ro này có thể gọi là rủi ro kinh doanh và rủi

ro tài chính

Rủi ro kinh doanh:

Rủi ro kinh doanh là do tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể sút giảm lợi nhuận và cổ tức Mức độ thay đổi so với xu hướng dự kiến được gọi là rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh có thể được chia làm hai loại cơ bản: Rủi ro bên ngoài và rủi ro nội tại

Rủi ro nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể hiện qua hiệu qủa hoạt động Một số rủi ro nội tại có thể phát sinh trong mỗi công ty như: Những sai sót trong chính sách hạng mục đầu tư Các hạng mục đầu tư của công ty hiện đại thông thường có định mức tương đối lớn, nếu như chưa nghiên cứu, phân tích đầy đủ về tính khả thi của hạng mục đầu tư thì một ngày nào đó hậu qủa của những sai sót đó sẽ rất quan trọng; những rủi ro trong chu kỳ sản phẩm Nếu công ty không tích cực phát triển nghiên cứu sản phẩm mới thì khi trên thị trường xuất hiện một loại sản phẩm mới thực dụng hơn, khoa học hơn sẽ làm cho sản phẩm của công ty bị lỗi thời do đó dẫn đến tổn thất; rủi ro trong đổi mới kỹ thuật Khoa học kỹ thuật là năng lực để công ty phát triển, chỉ có tiến bộ của khoa học kỹ thuật mới có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh và những rủi ro trên thị trường, do sự dự định về thị trường tiêu thụ sản phẩm không chính xác hoặc làm cho sản phẩm bị ứ đọng hoặc sản phẩm đã được bán hết sạch Tình trạng sản phẩm bị ứ đọng sẽ tạo thành sự lãng phí tiền vốn Tình trạng sản phẩm bán hết sạch làm cho lợi nhuận bị giảm đi tương đối

Rủi ro kinh doanh bên ngoài là những trường hợp xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của công ty và làm ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động của công ty Mỗi công ty có một kiểu rủi ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu tố môi trường kinh doanh cụ

Trang 22

thể của công ty Các yếu tố bên ngoài tác động đến công ty thường là các khoản mục chi phí tiền vay, sự cắt giảm ngân sách, chính sách thuế, chính sách tiền tệ

có thể làm ảnh hưởng đến lợi nhuận thông qua tác động về chi phí và nguồn vốn của công ty

Rủi ro tài chính:

Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi Vì nghĩa vụ trả lãi này phải được thanh toán trước khi trả cổ tức cho cổ phiếu thường nên nó có tác động đến cổ tức Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay Một công ty không có khoản nợ vay sẽ không có rủi ro tài chính

1.2.2.2 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu

Lợi nhuận của trái phiếu

chính sau đây:

ƒ Tiền lãi định kỳ: Tiền lãi này thường được trả một năm/lần hay nửa năm/lần Số tiền lãi định kỳ được tính trên cơ sở lãi suất ghi trên trái phiếu nhân với mệnh giá trái phiếu

ƒ Chênh lệch giá: Đây là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua trái phiếu Với loại trái phiếu có tính thanh khoản cao, nhà đầu tư sẽ bán trái phiếu khi giá trái phiếu tăng lên để được hưởng chênh lệch giá

ƒ Lãi của lãi: Trong trường hợp nhà đầu tư lãnh tiền lãi định kỳ và tái đầu tư ngay, tiền lãi này sẽ sinh ra lãi gọi là lãi tái đầu tư Như vậy, sau một số năm nắm giữ trái phiếu, số tiền lãi ghi trên trái phiếu được tái đầu tư sẽ mang lại

Trang 23

cho trái chủ một khoản lợi tức tiềm năng bao gồm lãi ghi trên trái phiếu và lãi tái đầu tư

Rủi ro của trái phiếu

khoán Tuy nhiên, khi đầu tư, kinh doanh trái phiếu vẫn có rủi ro, mặc dù mức độ là

ít hơn so với rủi ro cổ phiếu Một số loại rủi ro điển hình khi đầu tư, kinh doanh trái phiếu là:

Rủi ro lãi suất

suất: Khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm; khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu

sẽ tăng Nếu người đầu tư phải bán trái phiếu trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãi suất tăng lên, thì người đầu tư đó sẽ lỗ vốn, tức là bán trái phiếu dưới mức giá mua Tất cả các loại trái phiếu, trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi, đều phải chịu rủi ro lãi suất

Mức độ nhạy cảm của giá trái phiếu trước những thay đổi trong lãi suất thị trường phụ thuộc vào những đặc tính khác nhau và những lựa chọn kèm theo đợt phát hành

Rủi ro thanh toán

Rủi ro thanh toán còn được gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi

và gốc của đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán Trái phiếu công ty khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau

Rủi ro thanh toán được xác định bằng mức xếp hạng chất lượng do các công ty xếp hạng tín nhiệm ấn định Thông thường, họ căn cứ vào những điều khoản trong khế ước vay, khả năng thu nhập và hệ số trang trải nợ, khả năng thanh khoản và

Trang 24

trình độ quản lý của công ty phát hành Tuy nhiên, mức xếp hạng có thể thay đổi sau khi công ty phát hành, hay nói khác đi là rủi ro thanh toán có thể thay đổi nhanh hơn sự đánh giá của các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp

Rủi ro tái đầu tư

thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó phụ thuộc vào mức lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu tư Khả năng thay đổi của lãi suất tái đầu tư của một chiến lược xác định do sự thay đổi của lãi suất thị trường Từ đó dẫn tới tính không chắc chắn của lợi tức dự kiến nhận được từ trái phiếu Đó là rủi

ro khi lãi suất để tái đầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống Rủi ro này sẽ lớn hơn đối với những thời kỳ nắm giữ dài hơn Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có những hiệu ứng triệt tiêu nhau Rủi ro lãi suất là rủi ro lãi suất tăng làm giảm giá trái phiếu còn rủi ro tái đầu tư là rủi ro lãi suất giảm

Rủi ro lạm phát

Rủi ro lạm phát phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền mà một trái phiếu đem lại, do lạm phát được đo lường bằng sức mua Đối với trái phiếu có lãi suất cố định, nhà đầu tư có nguy cơ phải chịu rủi ro lạm phát bởi lãi suất mà nhà phát hành hứa trả là cố định trong suốt thời hạn của đợt phát hành Đối với trái phiếu có lãi suất thả nổi thì có rủi ro lạm phát ở mức thấp hơn, trong chừng mực lãi suất phản ánh được tỷ lệ lạm phát dự đoán

Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản tùy thuộc vào việc trái phiếu có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không Thước đo chủ yếu đối với tính thanh khoản là độ lớn khoảng cách giữa giá hỏi mua và giá chào bán trái phiếu mà nhà giao dịch yết lên Nếu nhà đầu tư dự định nắm giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn thì rủi ro này không quan trọng lắm

Trang 25

Rủi ro tỷ giá hối đoái

Khi tỷ giá hối đoái thay đổi theo chiều hướng đồng tiền thanh toán trái phiếu bị giảm giá thì nhà đầu tư nắm giữ loại trái phiếu này sẽ gặp phải rủi ro

1.2.2.3 Lợi nhuận và rủi ro khi đầu tư vào chứng chỉ quỹ

Lợi nhuận của chứng chỉ quỹ

là giá trị tài sản ròng của quỹ đầu tư đạt được Giá trị tài sản ròng là tổng giá trị các tài sản và các khoản đầu tư do quỹ đầu tư sở hữu trừ đi các nghĩa vụ nợ có liên quan Tổng giá trị tài sản của quỹ đầu tư bao gồm: giá trị các khoản đầu tư của quỹ;

cổ tức, lợi tức và lợi nhuận của các khoản đầu tư khác; tiền lãi gửi ngân hàng và các khoản tiền chưa đầu tư tính đến thời điểm định giá Dựa trên tổng giá trị tài sản ròng của quỹ và căn cứ vào tình hình hoạt động kinh doanh hàng năm của quỹ đầu tư, việc phân chia lợi nhuận sẽ được Đại hội nhà đầu tư thông qua

Rủi ro của chứng chĩ quỹ

Rủi ro thanh khoản

Khả năng thanh khoản thấp trong hoạt động đầu tư và giao dịch chứng chỉ quỹ

có thể ảnh hưởng đến quỹ đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn quỹ đầu tư mới được thành lập và có một khối lượng vốn lớn cần giải ngân Do đó, quỹ đầu tư có thể sẽ không đạt được tỷ lệ phân bổ tài sản mục tiêu trong ngắn hạn Ngoài ra, khả năng thanh khoản thấp của thị trường có thể sẽ dẫn đến hiện tượng bán rẻ, mua đắt khi quỹ đầu tư đầu tư Tuy nhiên rủi ro này sẽ được hạn chế do mục tiêu đầu tư dài hạn của quỹ đầu tư

năng niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành

đó Để hạn chế rủi ro về khả năng thanh khoản này, quỹ đầu tư thường ưu tiên đầu

Trang 26

tư vào các chứng khoán niêm yết, hoặc có kế hoạch niêm yết, thường xuyên giao dịch, có tình hình tài chính lành mạnh và có hệ thống quản trị công ty tốt

Rủi ro thị trường

Đầu tư vào thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro về giá cả biến động đó là giá thị trường hay giá trong vài lĩnh vực nào đó tăng hoặc giảm Rủi ro thị trường phát sinh khi các thị trường tài sản mà quỹ đầu tư đầu tư có sự suy giảm toàn bộ trong một khoảng thời gian, dẫn tới sự suy giảm của toàn bộ thị trường Tuy nhiên, thông qua quy trình đầu tư đa dạng và quản lý đầu tư chặt chẽ, công ty quản lý quỹ sẽ hạn chế được rủi ro này

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng có thể xảy ra với các khoản đầu tư vào trái phiếu, các công cụ nợ hoặc các khoản cho vay Thu nhập từ các khoản đầu tư này phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của tổ chức phát hành, và có thể không được bảo đảm bằng tài sản Rủi ro này phát sinh khi bên vay của quỹ đầu tư bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán tiền gốc và lãi

Rủi ro do xung đột lợi ích

bởi công ty quản lý quỹ có thể nảy sinh Để giảm được rủi ro này, các công ty quản

lý quỹ thường cơ cấu tổ chức, quản lý và hoạt động của mỗi quỹ hoặc sản phẩm tài chính; chính sách đầu tư, mục tiêu đầu tư và tách biệt quỹ, vốn và trách nhiệm giữa các quỹ hoặc sản phẩm tài chính

Rủi ro pháp lý

Một thị trường mới nổi với thị trường chứng khoán mới được thành lập, hệ thống pháp lý chưa được hoàn thiện Chính điều này làm giá trị tài sản của quỹ đầu

Trang 27

tư có thể bị ảnh hưởng bởi các thay đổi của các quy định pháp luật liên quan đến

đầu tư, thuế, chính sách kinh tế - chính trị, luật pháp vv

1.3 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU

TƯ CHỨNG KHOÁN

đại Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển sẽ cùng với thị trường tiền tệ tạo ra một thị trường tài chính vận hành có hiệu qủa hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế Sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng Từ hoạt động thực tiễn và kinh nghiệm của các nước phát triển đã cho thấy rằng, hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp và tác động với nhau để cùng tồn tại và phát triển Chính điều này đã cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng trong sự phát triển của thị trường chứng khoán Những vai trò chủ yếu của hệ thống ngân hàng đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán được thể hiện ở chỗ:

1.3.1 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với hoạt động của TTCK

1.3.1.1 Chính sách tiền tệ của NHNN có tác động đến sự phát triển của

TTCK và ngược lại

Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán được ví như hai bình thông nhau trong sự luân chuyển vốn, lãi suất ngân hàng tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán giảm hoặc tăng, cũng như ảnh hưởng đến dòng luân chuyển vốn – vốn được chuyển từ thị trường chứng khoán sang thị trường tiền tệ và ngược lại Sự biến động của lãi suất trên thị trường tiền tệ chịu tác động nhiều bởi các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Do đó, nếu chính sách tiền tệ duy trì được lãi suất thị trường tiền tệ ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Ngược lại, khi thị trường chứng khoán phát triển chính là kênh

Trang 28

thông tin nhạy bén, hữu hiệu, phản ánh chính xác hoạt động kinh tế cho NHNN, qua

đó, giúp NHNN đưa ra các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, hiệu qủa, nâng cao năng lực điều tiết tiền tệ của NHNN, giúp nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững

mới, tạo điều kiện cho các NHTM có thể mở rộng khả năng tham gia vào các nghiệp vụ của thị trường tiền tệ Điều này thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, đồng thời hỗ trợ NHNN thực hiện tốt vai trò điều tiết tiền tệ thông qua các công cụ của CSTT, nhất là thông qua nghiệp vụ thị trường mở Việc mua, bán chứng khoán của NHNN với các NHTM sẽ có tác dụng mở rộng hay thu hẹp khối lượng tiền tệ trong lưu thông, qua đó mà khối lượng tiền tệ được điều tiết theo mục tiêu đã định

Hiện nay, thực tế tại Việt Nam, theo Luật NHNN (2003) về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN (1997) thì bên cạnh các giấy tờ có giá ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép sử dụng cả các giấy tờ có giá dài hạn như các trái phiếu Chính phủ trong các giao dịch ngắn hạn trên thị trường tiền tệ Với việc

mở rộng chủng loại giấy tờ có giá sử dụng trong các giao dịch trên thị trường tiền tệ nhất là nghiệp vụ thị trường mở giữa NHNN và các NHTM, lượng giấy tờ có giá do các NHTM nắm giữ có thể sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở tăng lên đáng kể, qua đó tạo điều kiện cho NHNN nâng cao khả năng điều tiết tiền tệ

1.3.1.2 NHNN tham gia tích cực trong việc xây dựng khung pháp lý cho

hoạt động của thị trường chứng khoán

Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, NHNN có vai trò tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán; tham gia các ý kiến xây dựng giải pháp ổn định thị trường chứng khoán; các giải pháp tài chính thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển; các vấn đề về thuế đối với hoạt động kinh

Trang 29

doanh chứng khoán; các vấn đề liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư

NHNN ban hành và hoàn thiện các quy định, hướng dẫn nghiệp vụ trong hệ thống, tạo điều kiện để các cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán, chẳng hạn như quy định về việc góp vốn, mua cổ phần của các NHTM nhằm tạo điều kiện cho các NHTM tham gia thị trường chứng khoán; quy định về việc quản lý ngoại hối đối với hoạt động chứng khoán; các vấn đề có liên quan đến việc góp vốn để thành lập Quỹ đầu tư chứng khoán của các NHTM vv

1.3.2 Ngân hàng thương mại với hoạt động của TTCK

khoán từ rất lâu và có vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán NHTM là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa và hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự phát triển của thị trường chứng khoán

Sự phát triển của thị trường chứng khoán lại tạo điều kiện giảm bới gánh nặng cho các ngân hàng thương mại về việc đáp ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế, tạo thêm cơ hội cho các NHTM mở rộng danh mục đầu tư của mình Ngày nay, vai trò đó đang được phát huy mạnh mẽ Những vai trò chủ yếu của NHTM đối với hoạt động đầu

tư, kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán như sau:

1.3.2.1 Ngân hàng thương mại cung cấp hàng hóa cho TTCK

cả, phương thức giao dịch, người mua, người bán và cung cấp dịch vụ nên NHTM

đã thể hiện vai trò là người tham gia các yếu tố cấu thành cho thị trường chứng khoán Vai trò cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán được thể hiện: phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tăng và bổ sung vốn cho hoạt động; bảo lãnh phát hành

cổ phiếu và trái phiếu công ty; phát hành chứng khoán Nhà nước, NHTM bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp Tại Việt Nam, vai trò này được thể hiện ở chỗ:

Trang 30

cổ phiếu và trái phiếu của các NHTM được phép phát hành và được bán cho các đối tác nước ngoài, bán nội bộ và giao dịch trên thị trường chứng khoán

1.3.2.2 Ngân hàng thương mại là cầu nối quan trọng giữa nhà đầu tư với thị

trường chứng khoán

Ngân hàng thương mại không chỉ là khách hàng của thị trường chứng khoán, mà còn là tác nhân thu hút khách hàng cho thị trường chứng khoán, là cầu nối giữa nhà đầu tư và thị trường chứng khoán Cụ thể là:

ƒ Với vai trò là người môi giới chứng khoán, NHTM mua hộ hoặc bán hộ một lượng chứng khoán cho nhà đầu tư;

ƒ Với vai trò là nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, NHTM thực hiện các nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, phát hành, đầu tư nhằm tạo ra sự gắn kết giữa các chủ thể trên thị trường chứng khoán;

ƒ Các nhà đầu tư thường sử dụng các dịch vụ mà NHTM cung cấp để đảm bảo

an toàn như: tư vấn bảo lãnh, quản lý tài khoản, thanh toán chứng khoán, thu lợi tức chứng khoán, trả lợi tức và tiền gốc chứng khoán cho các đơn vị phát hành, quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư vv

ƒ Các ngân hàng thương mại cho các nhà đầu tư vay vốn để đầu tư, kinh doanh chứng khoán dưới hình thức cầm cố chứng khoán, chiết khấu chứng khoán và các loại tài sản cầm cố khác;

ƒ Ngân hàng thương mại kinh doanh trên cơ sở niềm tin, vì vậy được sự tin tưởng của khách hàng – nhà đầu tư, họ ngày càng thu hút nhiều đối tượng khách hàng, góp phần đảm bảo an toàn, tăng lợi ích cho nhà đầu tư và mở rộng hơn nữa thị trường chứng khoán về chiều rộng và chiều sâu

Tại Việt Nam, việc thực hiện các vai trò trên phần lớn được thông qua các công

ty chứng khoán trực thuộc ngân hàng và các công ty chứng khoán khoán không trực thuộc ngân hàng Số lượng mở tài khoản để đầu tư, kinh doanh chứng khoán của

Trang 31

nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán ngày càng tăng, tạo điều kiện cho các công

ty chứng khoán thực hiện tốt các nghiệp vụ chứng khoán như môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh và làm đại lý phát hành chứng khoán, tư vấn tài chính và các dịch vụ tư vấn tài chính khác

Ngoài ra, bên cạnh việc có mặt của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán, các NHTM còn thực hiện các nghiệp vụ lưu ký chứng khoán, ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng giám sát và mở rộng việc cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán Ngân hàng giám sát có nghĩa vụ rất quan trọng đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, nhờ có ngân hàng giám sát mà hoạt động của thị trường chứng khoán phát triển ổn định và hiệu qủa Những nghĩa vụ chính của ngân hàng giám sát được thể hiện:

ƒ Bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động đăng ký, lưu

ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán;

ƒ Xây dựng quy trình hoạt động và quản lý rủi ro cho từng nghiệp vụ;

ƒ Quản lý tách biệt tài sản của khách hàng;

ƒ Bồi thường thiệt hại cho khách hàng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của khách hàng, trừ trường hợp bất khả kháng;

ƒ Hoạt động vì lợi ích của người gửi chứng khoán hoặc người sở hữu chứng khoán;

ƒ Có biện pháp bảo vệ cơ sở dữ liệu và lưu giữ các chứng từ gốc về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê;

ƒ Cung cấp các thông tin liên quan đến việc sở hữu chứng khoán của khách hàng theo yêu cầu của công ty đại chúng, tổ chức phát hành;

ƒ Chịu trách nhiệm về hoạt động lưu ký, thanh toán tại trụ sở chính, chi nhánh

đã đăng ký hoạt động lưu ký;

Trang 32

ƒ Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán; quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán và các tài sản khác của ngân hàng giám sát;

ƒ Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên quan đến hoạt động của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán theo yêu cầu hợp pháp của công ty quản lý quỹ hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty đầu tư chứng khoán;

ƒ Một số nghĩa vụ khác theo quy định của luật chứng khoán, điều lệ của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán

1.3.2.3 NHTM góp phần điều hòa cung cầu và ổn định TTCK

tích cực thông qua các hoạt động:

Điều hòa quan hệ cung cầu chứng khoán: Ngân hàng thương mại là chủ thể quan trọng cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán, là người tạo thị trường có thể làm tăng nhu cầu hoặc giảm nhu cầu chứng khoán khi cần thiết Với cơ chế giao dịch đó, NHTM tham gia điều hòa quan hệ cung cầu chứng khoán một cách nhanh nhạy

Trợ giúp cho các công ty niêm yết, ổn định tâm lý cho nhà đầu tư chứng khoán

Sự ổn định và phát triển của thị trường chứng khoán phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động kinh doanh của các công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết và tâm lý của công chúng – những người nắm giữ chứng khoán Các NHTM còn thực hiện ổn định thị trường chứng khoán thông qua việc tài trợ cho các công ty niêm yết khi họ gặp khó khăn về tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán, quyền tự chủ của họ trên thị trường

Hoạt động của NHTM góp phần nâng cao chất lượng giao dịch chứng khoán cả

về thời gian, độ chính xác và an toàn cần thiết NHTM luôn hoàn thiện các nghiệp

Trang 33

vụ giao dịch chứng khoán, điều này không chỉ giúp tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, mà còn hạn chế rủi ro, bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư, góp phần làm thị trường chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả

1.3.2.4 Ngân hàng thương mại góp phần đảm bảo các nguyên tắc hoạt động

của thị trường chứng khoán

Mỗi ngân hàng thương mại có thể tổ chức các bộ phận hoặc công ty chứng khoán độc lập Từ đó sẽ đi sâu vào nghiệp vụ giao dịch chứng khoán

Khách hàng có quan hệ tiền gửi và vay vốn của NHTM có thể mua bán chứng khoán qua công ty chứng khoán của ngân hàng Đây là lợi thế cho các khách hàng,

vì ngân hàng có thể thực hiện toàn bộ giao dịch chứng khoán Song điều quan trọng hơn là các NHTM luôn đảm bảo nguyên tắc trung gian trong hoạt động kinh doanh chứng khoán

đảo trong giao dịch, đầu tư, kinh doanh chứng khoán

thông qua chức năng kiểm soát Các hành vi buôn bán tay trong, đầu cơ sẽ được phát hiện và hạn chế khi có sự tham gia của NHTM vào hoạt động của thị trường

Trang 34

dạng, tuy nhiên các NHTM thường tập trung vào các sản phẩm cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán chủ yếu dưới đây:

1.4.1 NHTM cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với công ty chứng

khoán

Đây là sản phẩm tín dụng của các NHTM dành cho các công ty chứng khoán được thành lập và hoạt động theo luật chứng khoán Khi có nhu cầu về vốn vay để phục vụ cho hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán của mình, các công ty chứng khoán có thể liên hệ với các NHTM để được cho vay vốn và chiết khấu giấy

tờ có giá Trên cơ sở phân tích, đánh giá về mục đích sử dụng vốn vay, khả năng trả

nợ, tài sản đảm bảo và các điều kiện cho vay khác phù hợp với quy định của pháp luật, nếu đủ điều kiện các NHTM sẽ cấp tín dụng cho công ty chứng khoán

Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định giới hạn số vốn đi vay của các công ty chứng khoán, cho nên một số công ty chứng khoán vay vốn ở các NHTM gấp nhiều lần vốn tự có Hơn nữa, các công ty chứng khoán sử dụng số vốn vay được từ NHTM để hoạt động tự doanh như mua cổ phiếu của các NHTM, mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu doanh nghiệp… với trị giá lớn gấp vài lần giá trị vốn vay; liên kết với các NHTM trong việc cung cấp vốn cho nhà đầu tư bằng hình thức cầm cố chứng khoán, repo chứng khoán và các hình thức cấp tín dụng khác Chính điều này làm tiềm ẩn nguy cơ rủi ro tín dụng cho hệ thống

Trang 35

NHTM và thị trường chứng khoán khi thị trường chứng khoán điều chỉnh theo hướng giảm Vì vậy, việc NHTM cho vay vốn, chiết khấu giấy tờ có giá đối với công ty chứng khoán phải được kiểm soát chặt chẽ theo quy định qủa pháp luật về ngân hàng và chứng khoán

1.4.2 NHTM cho vay dưới hình thức cầm cố chứng khoán để đầu tư, kinh

doanh chứng khoán

Cho vay dưới hình thức cầm cố chứng khoán là việc NHTM cho nhà đầu tư vay vốn để đầu tư, kinh doanh chứng khoán trong một thời hạn nhất định với tài sản được bảo đảm bằng chứng khoán do nhà đầu tư sở hữu Chứng khoán mà các NHTM nhận cầm cố gồm:

ƒ Cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung và trên thị trường chứng khoán phi tập trung

ƒ Trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi của công ty cổ phần (bao gồm các NHTMCP, công ty nhà nước cổ phần hóa và các công ty cổ phần khác)

đánh giá toàn diện về nhà đầu tư vay vốn để đầu tư kinh doanh chứng khoán và tài sản đảm bảo của họ, nếu đủ điều kiện, NHTM sẽ cho vay Tuy nhiên, do tài sản đảm bảo là chứng khoán nên việc định giá, xử lý tài sản cầm cố là rất quan trọng Thông thường, các NHTM Việt Nam thường chú trọng định giá dựa vào những yếu

tố sau đây:

Về định giá chứng khoán cầm cố, các NHTM thường lựa chọn:

ƒ Mục tiêu chung là lựa chọn các loại chứng khoán của các công ty lớn, có uy tín và có tính thanh khoản cao để nhận cầm cố

Trang 36

ƒ Đối với chứng khoán nêm yết trên thị trường tập trung, các NHTM thường định giá dựa trên thị giá chứng khoán Thị giá chứng khoán được định giá theo mức đóng cửa bình quân của các phiên giao dịch gần nhất (trung bình khoảng 10 phiên giao dịch) Trong trường hợp giá bình quân vừa định giá cao hơn giá đóng cửa của phiên giao dịch cuối cùng, thì thị giá được tính theo mức giá đóng cửa của phiên giao dịch cuối cùng

ƒ Đối với chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC, các NHTM định giá dựa trên kinh nghiệm kết hợp với các yếu tố thị trường của chứng khoán đó để hình thành thị giá chứng khoán nhận cầm cố

Về cổ tức và các tài sản phát sinh, các NHTM thường đưa ra các quy định:

ƒ Trong thời gian cầm cố chứng khoán, các tài sản phát sinh như quyền mua cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, quyền nhận cố phiếu thưởng… cũng thuộc tài sản cầm cố

ƒ Nếu trong thời gian cầm cố chứng khoán có phát sinh quyền mua chứng khoán mới hoặc quyền nhận chứng khoán thưởng thỉ sẽ xử lý như sau:

Đối với quyền mua chứng khoán mới: Nhà đầu tư sở hữu chứng khoán cầm

cố có quyền sử dụng quyền mua để mua chứng khoán, nhưng toàn bộ chứng khoán mới mua phải được làm chứng khoán bổ sung tại NHTM Trong trường hợp này, nếu nhà đầu tư (bên cầm cố) có nhu cầu vay thêm để mua chứng khoán đó thì NHTM có thể xét cho vay thêm theo một tỷ lệ nhất định Nếu nhà đầu tư (bên cầm cố) bán quyền mua chứng khoán liên quan đến chứng khoán cầm cố thì số tiền thu được phải dùng để trả nợ cho ngân hàng

Đối với chứng khoán thưởng: Toàn bộ chứng khoán thưởng phát sinh từ

chứng khoán cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố và sẽ được sử dụng để cầm

cố bổ sung cho khoản vay tại NHTM

Trang 37

ƒ Cổ tức, trái tức và các quyền lợi khác phát sinh từ chứng khoán cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố

Về bổ sung, xử lý tài sản cầm cố:

Các NHTM thường định giá lại các chứng khoán cầm cố theo định kỳ hoặc khi

có phát sinh các tình huống biến động từ thị trường hoặc từ doanh nghiệp phát hành chứng khoán có thể làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán

nhưng trong thời gian cầm cố chứng khoán đó được phép niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung, bên bảo lãnh và NHTM phối hợp để làm thủ tục lưu ký chứng khoán đang cầm cố tại công ty chứng khoán, đồng thời thực hiện phong tỏa chứng khoán tại công ty lưu ký chứng khoán đó

chứng khoán cầm cố giảm, dẫn đến tỷ lệ dư nợ vay trên giá trị tài sản cầm cố cao hơn mức tỷ lệ cho vay tối đa của ngân hàng quy định thì NHTM yêu cầu bên vay trong thời gian nhất định phải bổ sung tài sản cầm cố, thế chấp tương ứng với số dư

nợ bị vượt so với tỷ lệ cầm cố tối đa, hoặc trả nợ trước một phần để đảm bảo tỷ lệ cho vay theo quy định Nếu quá thời gian thông báo mà bên vay không thể bổ sung tài sản cầm cố và không trả nợ, các NHTM có quyền thu hồi nợ trước hạn, chuyển

số dư nợ còn lại sang nợ quá hạn, xử lý tài sản cầm cố và áp dụng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ Trong trường hợp khoản nợ bị chuyển sang nợ quá hạn, các NHTM thường xử lý tài sản cầm cố theo cách sau:

ƒ Yêu cầu chủ sở hữu chứng khoán tự bán chứng khoán để trả nợ;

ƒ Nếu chủ sở hữu chứng khoán không bán được chứng khoán trong thời hạn cho phép, NHTM có quyền chủ động lựa chọn các biện pháp xử lý chứng

Trang 38

khoán cầm cố đã quy định trong hợp đổng cầm cố đã quy định Cụ thể như sau:

9 Đối với chứng khoán niêm yết: NHTM tự động đặt lệnh chào bán chứng khoán theo mức giá sàn khi mở cửa liên tục trong các phiên giao dịch gần nhất cho đến khi bán được chứng khoán

9 Đối với chứng khoán chưa niêm yết: NHTM chủ động tìm người mua, và yêu cầu bên cầm cố làm thủ tục chuyển nhượng cho người mua hoặc cho chính NHTM nhận cầm cố chứng khoán để trả nợ

9 Xử lý bằng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật

ƒ NHTM đề nghị ngân hàng phát hành hoặc công ty lưu ký chứng khoán niêm yết chuyển giao toàn bộ các khoản thu nhập và quyền lợi khác phát sinh từ chứng khoán trong thời gian chưa bán được tài sản cầm cố cho ngân hàng để thu hồi nợ

1.4.3 NHTM cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán

nhà đầu tư khi giao dịch bán chứng khoán thành công, tiền chỉ về đến tài khoản nhà đầu tư là 3 ngày sau khi thực hiện giao dịch (gọi là ngày T+3) Nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn nhanh chóng cho nhà đầu tư chứng khoán sau khi giao dịch bán thành công mà không phải đợi đến 3 ngày sau mới nhận được tiền, NHTM sẽ cho nhà đầu tư vay ứng trước tiền bán chứng khoán nếu nhà đầu tư có nhu cầu

NHTM cho vay tối đa được xác định theo công thức:

Số tiền cho vay tối đa = Giá trị chứng khoán đã khớp lệnh – Phí phải trả cho công ty chứng khoán – lãi vay và phí phải trả cho NHTM

Trang 39

Đặc điểm của sản phẩm cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán:

ƒ Nhà đầu tư thế chấp số tiền bán chứng khoán thành công có xác nhận của công ty chứng khoán

ƒ Thời hạn cho vay tối đa là 3 ngày làm việc

ƒ Khi công ty chứng khoán trả tiền bán chứng khoán cho nhà đầu tư vào ngày T+3, NHTM sẽ tự động thu nợ gốc và lãi vay theo quy định

Tiện ích của sản phẩm cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán:

ƒ Đáp ứng vốn nhanh chóng cho nhà đầu tư;

ƒ Giúp nhà đầu tư tăng vòng quay của vốn, nhanh chóng đưa tiền vào kinh doanh chứng khoán;

ƒ Giúp tăng khả năng thanh khoản của chứng khoán trên thị trường chứng khoán

ƒ Ít rủi ro cho ngân hàng

Ngoài các sản phẩm cho vay đang được các NHTM áp dụng phổ biến nêu trên, trên TTCK Việt Nam khách hàng có thể tiếp cận vốn vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán tại các công ty chứng khoán bằng hình thức “mua bán chứng khoán kỳ hạn” (repo)

1.4.4 Thực hiện nghiệp vụ mua bán chứng khoán kỳ hạn (repo)

Mua bán chứng khoán kỳ hạn (repo) là việc người sở hữu chứng khoán bán chứng khoán của mình cho công ty chứng khoán và cam kết mua lại chứng khoán

đó với mức giá thỏa thuận vào thời điểm xác định trong tương lai

Trang 40

Giá mua lại được xác định theo công thức:

Giá mua lại = giá bán * (1+lãi suất repo/365* số ngày bán chứng khoán)

Mua bán chứng khoán kỳ hạn là nghiệp vụ phái sinh từ các nghiệp vụ cho vay

có đảm bảo (nghiệp vụ cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay có bảo đảm bằng chứng khoán) Về bản chất, nghiệp vụ mua bán chứng khoán kỳ hạn là giao dịch đi vay và cho vay có kỳ hạn và được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ Sở dĩ nghiệp vụ này được phổ biến là vì nó có những đặc điểm giống nhưng thuận lợi hơn

so với các thỏa thuận vay mượn thông thường:

ƒ Repo chứng khoán thể hiện một khoản vay có đảm bảo;

ƒ Lãi trả cho người cho vay chính là chênh lệch giữa giá bán ban đầu với giá mua lại chứng khoán đó;

ƒ Giá trị thực tế của khoản vay thường thấp hơn giá trị thị trường của chứng khoán làm tài sản cầm cố Phần chênh lệch này cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ an toàn của chứng khoán nhận cầm cố;

ƒ Repo chứng khoán thể hiện một giao dịch mua và bán hẳn do trong hợp đồng giao dịch repo có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản cầm cố Người mua trong giao dịch repo (công ty chứng khoán) có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng repo Đặc điểm này không

có trong hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố

Ưu điểm của repo chứng khoán được thể hiện ở chỗ:

ƒ Nghiệp vụ repo chứng khoán góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng hiệu qủa đồng vốn kinh doanh cho nhà đầu tư;

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w