1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải thiện cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

98 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua thị trường chứng khoán hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh

Trang 1

NGUYỄN NHƯ TRƯỜNG

CẢI THIỆN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008

Trang 2

NGUYỄN NHƯ TRƯỜNG

CẢI THIỆN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh Tế Tài Chính Ngân Hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS: PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008

Trang 3

Chương 1: Tổng quan về cân bằng tài chính

1.1 LÝ LUẬN VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Phân loại cân bằng tài chính 8

1.1.2.1 Cân bằng tài chính truyền thống 8

1.1.2.2 Cân bằng tài chính ngắn hạn 10

1.1.3 Các tình huống trong cân bằng tài chính 12

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính 13

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÂN BẰNG TÀI CHÍNH VỚI TTCK 15

1.2.1 Rủi ro trên TTCK 15

1.2.1.1 Rủi ro hệ thống 15

1.1.2.2 Rủi ro phi hệ thống 18

1.2.2 Tác động của cân bằng tài chính đối với rủi ro trên TTCK 21

1.3 NHẬN DẠNG RỦI RO TTCK VÀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH 22

1.3.1 Nhận dạng rủi ro từ cân bằng tài chính 22

1.3.2 Quan hệ cân bằng tài chính và an ninh tài chính 25

Chương 2: Thực trạng cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TTCK 33

Trang 4

trên TTCK 36

2.2.2 Các tình huống mất cân bằng tài chính 41

2.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CBTC VỚI RỦI RO 44

2.3.1 CBTC với hệ số Beta 44

2.3.2 CBTC với chỉ số P/E 46

2.3.3 CBTC với ROE 50

2.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56

Chương 3: Các giải pháp cải thiện tình hình cân bằng tài chính hiệu quả 3.1 GIẢI PHÁP CHO CẤP QUẢN LÝ 58

3.1.1 Mục tiêu 58

3.1.2 Xây dựng cơ chế giám sát rủi ro CBTC trên TTCK 59

3.2 GIẢI PHÁP CHO CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 64

3.2.1 Mục tiêu 64

3.2.2 Thực hiện trả cổ tức bằng cổ phiếu 65

3.2.3 Quản trị tiền mặt 70

3.2.4 Quản lý hàng tồn kho 73

3.2.5 Quản lý các khoản phải thu 76

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 1: Vốn luân chuyển tính theo phương pháp 1 9

Bảng 2: Vốn luân chuyển tính theo cách 2 10

Bảng 3: Xác định ngân quỹ ròng (cân bằng tài chính ngắn hạn) 11

Bảng 4: Quy mô niêm yết tại SGDCK TP.HCM 33

Bảng 5: CBTC truyền thống trên TTCK qua các năm 38

Bảng 6: CBTC ngắn hạn trên TTCK qua các năm 41

Bảng 7: Phân tích hồi quy giữa CBTC truyền thống với hệ số Beta 45

Bảng 8: Phân tích hồi quy giữa P/E với CBTC truyền thống 46

Bảng 9: Phân tích hồi quy giữa CBTC 2 với P/E 48

Bảng 10: Phân tích hồi quy giữa chỉ số P/E với biến giả CBTC 49

Bảng 11: Phân tích hồi quy giữa CBTC 1 với ROE năm 2007 51

Bảng 12: Phân tích hồi quy giữa CBTC 2 với ROE năm 2007 52

Bảng 13: Phân tích hồi quy giữa thay đổi CBTC 1 với thay đổi ROE 53

Bảng 14: Phân tích hồi quy giữa thay đổi CBTC 2 với thay đổi ROE 55

Trang 6

Biểu đồ 1: Tỉ trọng các chứng khoán niêm yết trên SGDCK TP.HCM 34

Biểu đồ 2: Số lượng cổ phiếu niêm yết trên SGDCK TP.HCM 35

Biểu đồ 3: Chỉ số VN-Index qua các năm 35

Biểu đồ 4: Tình hình CBTC truyền thống trên TTCK năm 2007 37

Biểu đồ 5: Tỷ trọng CBTC truyền thống trên TTCK năm 2007 39

Biểu đồ 6: Tình hình CBTC ngắn hạn trên TTCK năm 2007 39

Biểu đồ 7: Tinh hình CBTC ngắn hạn trên TTCK năm 2007 40

Biểu đồ 8: Tỷ trọng đảm bảo cbtc của các công ty niêm yết năm 2007 42

Trang 7

Hình 1: Tình hình mất cân bằng tài chính 7

Hình 2: Đảm bảo cân bằng tài chính và đa dạng hoá loại trừ rủi ro phi hệ thống 21

Hình 3: Giám sát trên thị trường chứng khoán Việt Nam 60

Hình 4: Mô hình giám sát cân bằng tài chính trên TTCK 61

Hình 5: Chính sách cổ tức và các giai đoạn tăng trưởng của công ty 68

Hình 6: Tình hình sử dụng tiền mặt trong công ty theo mô hình Miller-Orr 72

Hình 7: Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả (EOQ) 74

Hình 8: Sơ đồ quản lý các quản phải thu khách hàng 77

Hình 9: Sơ đồ phân tích chính sách bán chịu 80

Hình 10 : Quy trình đánh giá uy tín khách hàng 81

Trang 8

CK :Chứng khoán

HTK :Hàng tồn kho

SGDCK :Sở giao dịch chứng khoán

SXKD :Sản xuất kinh doanh

TKGD :Tài khoản giao dịch

TSCĐ :Tài sản cố định

TTCK :Thị trường chứng khoán

TTGDCK :Trung tâm giao dịch chứng khoán

UBCKNN :Uỷ ban chứng khoán nhà nước

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

Trong thời đại ngày nay, ở hầu hết các quốc gia sự phát triển cũng như những động thái của thị trường chứng khoán được coi như thước đo nhạy cảm nhất về tình hình kinh tế Thị trường chứng khoán thúc đẩy tích luỹ và tập trung vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Thị trường còn tạo điệu kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các hoạt động kinh tế, là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh

tế Thị trường chứng khoán cũng cung cấp cho công chúng môi trường đầu tư lành mạnh với nhiều lựa chọn phong phú, điều này không những giúp cho nhà đầu tư có một kênh để kiếm lời mà còn giúp gia tăng mức tiết kiệm quốc gia Thông qua thị trường chứng khoán hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp

và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng, thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường canh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Với sự phát triển ngày càng sâu rộng của các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay thì vai trò của thị trường chứng khoán đối với kinh tế mỗi quốc gia ngày càng được tăng cường Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và sự gia tăng giá mỗi chứng khoán trong thị trường nói riêng không những bị ảnh hưởng bởi các rủi ro hệ thống của nền kinh tế mà chịu ảnh hưởng lớn từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân các loại chứng khoán trên thị trường Chính điều này đã tạo ra những rủi ro riêng biệt của từng loại chứng khoán Những rủi ro riêng biệt của từng chứng khoán lại xuất phát từ phía bản thân các doanh nghiệp Như vậy tình hình hoạt động của doanh nghiệp cũng như các thông tin liên quan đến doanh nghiệp

đã tạo nên rủi ro cho bản thân chứng khoán đó Không những vậy rủi ro của từng

Trang 10

chứng khoán xuất phát từ kết quả hoạt động của bản thân doanh nghiệp cũng tạo ra các rủi ro cho toàn thị trường cũng như cho các nhà đầu tư

Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp tác động đến rủi ro của từng chứng khoán riêng biệt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với

cả bản thân các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, cơ quan quan lý thị trường cũng như nền kinh tế Trong các rủi ro riêng biệt đến từ hoạt động của các doanh nghiệp thì rủi ro xuất phát từ cân bằng tài chính hay khả năng thanh toán của doanh nghiệp là hết sức quan trọng

Nghiên cứu cân bằng tài chính trong bản thân các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong sự tương tác với các chỉ tiêu đánh giá rủi ro của các chứng khoán sẽ cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức thị trường… thấy được cái nhìn tổng quan về tình đảm bảo an toàn tài chính của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Nghiên cứu cân bằng tài chính cũng cho thấy được những tác động của hiệu quả cải thiện cân bằng tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp

2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ

Vấn đề nghiên cứu ở đề tài này đó là nghiên cứu sự cân bằng, các yếu tố tác động đến cân bằng tài chính của tài chính trong bản thân các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đề tài cũng đồng thời nghiên cứu sự tác động qua lại giữa cân bằng tài chính với các chỉ tiêu khác liên quan đến rủi ro của từng chứng khoán riêng biệt

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Câu hỏi nghiên cứu

Song song với việc xác định đúng vấn đề nghiên cứu thì đi kèm với nó là các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra Và khi trả lời được các câu hỏi nghiên cứu thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc vấn đề đã được giải quyết Với đề tài nghiên cứu về cân bằng

Trang 11

tài chính đồng thời đưa ra các giải pháp để tăng cường đảm bảo cân bằng tài chính trong quá trình hoạt động của các công ty niêm yết trên TTCK thì các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra ở đây là:

- Cân bằng tài chính có nghĩa là gì?

- Tình hình cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên TTCK như thế nào?

- Có mối quan hệ nào giữa cân bằng tài chính với rủi ro, kết quả kinh doanh?

- Giải pháp nào để doanh nghiệp có thể đảm bảo cân bằng tài chính?

Sau khi trả lời được các câu hỏi nghiên cứu là làm sáng tỏ được vấn đề, và vấn

đề được làm sáng tỏ phải phục vụ cho một số mục tiêu cụ thể mà đề tài nghiên cứu đặt

ra

Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài này có thể nêu ra một số mục tiêu nghiên cứu chủ chốt sau:

- Khái quát về lý luận cân bằng tài chính

- Đưa ra cái nhìn tổng quan về cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phân tích mối quan hệ giữa cân bằng tài chính với các chỉ tiêu đánh giá rủi

Trang 12

cứu Việc xác định đúng đắn phương pháp nghiên cứu sẽ giúp giải quyết vấn đề nhanh,

dễ dàng và khoa học hơn

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ở đề tài nghiên cứu này có sự kết hợp sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

Thứ nhất là phương pháp nghiên cứu khám phá; khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ tính chất của vấn đề hơn trước khi bắt đầu những cuộc điều tra lớn hơn Nghiên cứu khám phá (Exploratory Research) là nghiên cứu sơ khởi được tiến hành nhằm làm rõ và xác định tính chất của vấn đề cần nghiên cứu

Thứ hai phải kể đến là phương pháp nghiên cứu định tính Hiện nay phương pháp này trở lên rất phổ biến và thông dụng Do công trình nghiên cứu liên quan đến diễn giải, suy luận để đưa ra nhận xét phù hợp nên tất yếu đề tài phải sử dụng phương pháp này Ưu điểm của phương pháp này khi sử dụng là dễ dàng thực hiện, đồng thời

có thể phát huy những nhân tố chủ quan trong nhận xét vấn đề

Phương pháp tiếp theo là phương pháp mô tả, so sánh Sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu sẽ cho ta thấy được cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về các vấn đề cần xem xét Hiện nay phương pháp nghiên cứu này rất thường xuyên được sử dụng khi đánh giá cũng như phân tích số liệu mang tính chất tương đối, tuyệt đối cả về tổng thể, không gian và thời gian

Phương pháp nghiên cứu định lượng, thống kê và phân tích hồi quy cũng được

sử dụng trong công trình nghiên cứu này Do việc nghiên cứu tiến hành thu thập thống

kê nên phương pháp này sẽ được khai thác triệt để Có phương pháp này trong công trình nghiên cứu sẽ giúp các nhận xét đánh giá có cơ sở và khoa học hơn

Trang 13

Ngoài một số phương pháp nghiên cứu trên thì trong công trình nghiên cứu này còn sử dụng một số phương thức và hàm toán học để thấy được mối liên hệ cũng như ảnh hưởng của các nhân tố lên đối tượng nghiên cứu Một phần nữa sau khi xác định phương pháp nghiên cứu chính là việc xác định xem phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi nghiên cứu rộng hay hẹp tuỳ thuộc vào từng vấn đề nghiên cứu

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Để xác định đúng phương pháp nghiên cứu cho đề tài là rất khó khăn tuy nhiên việc xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài lại đơn giản hơn nhiều Đề tài này tập trung vào nghiên cứu tình hình cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, mà cụ thể là Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM (SGDCK TP.HCM) Thời gian nghiên cứu thông kê của đề tài là tứ 2003 đến nay

Có thể nhận thấy việc xác định phạm vi nghiên cứu cho một đề tài là không khó Nhưng vấn đề là làm sao để đề tài nghiên cứu sau khi hoàn thành phải mang lại ý nghĩa nào đó mới thực sự quan trọng Đây chính là điều mấu chốt về sự thành công của một công trình nghiên cứu, chính ý nghĩa mà nó đem lại mới đánh giá đúng giá trị của đề tài cả về thực tiễn lẫn lý luận

6 Ý NGHĨA

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn như đã phân tích tổng quan về thực trạng tình hình cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán; đề tài cũng đã đưa ra được các dạng mất cân bằng tài chính của các công ty từ đó đưa ra các giải pháp hết sức cụ thể để các công ty có thể cải thiện tình hình cân bằng tài chính

Ý nghĩa lý luận của đề tài: Đề tài đã phân tích dựa trên hồi quy để đưa ra các mối quan hệ giữa cân bằng tài chính và các chỉ tiểu đánh giá rủi ro cũng như khả năng

Trang 14

sinh lợi của doanh nghiệp, với ý nghĩa này những kết luận có thể được sử dụng làm cơ

sở cho các đề tài có liên quan

Có thể nói công trình nghiên cứu mang một ý nghĩa quan trọng cả về mặt thực tiễn lẫn lý luận Chính những ý nghĩa này sẽ là tiền đề để đánh giá sự thành công và hiệu quả của đề tài Tiếp theo phần ý nghĩa của công trình nghiên cứu là việc xem xét kết cấu nội dung chính của đề tài

7 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Với đề tài “Phân tích cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” thì kết cấu luận văn gồm có các phần chính sau:

Chương 1: Tổng quan về cân bằng tài chính

Chương 2: Thực trạng cân bằng tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp cải thiện tình hình cân bằng tài chính hiệu quả

Kết luận

Trang 15

1.1 LÝ LUẬN VỀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH

1.1.1 Khái niệm

Cân bằng tài chính (financial equilibrium) là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng chi ra trong tương lai Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn

Vì vậy các số liệu về ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ báo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính

Hình 1: Tình hình mất cân bằng tài chính

Như vậy khái niệm mất cân bằng tài chính sẽ được hiểu ngược lại với khái niệm cân bằng tài chính Mất cân bằng tài chính là sự không đảm bảo tài trợ dài hạn cho những tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên

Cân bằng tài chính có thể được xác định từ các luồng tài chính Mọi luồng tài chính đều làm tăng hay giảm số tiền trong quỹ Cân bằng tài chính đạt được tại thời

Tài sản lưu động không thường xuyên

Thời gian

Nguồn tài trợ dài hạn

Nguồn tài trợ ngắn hạn

Tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên

Trang 16

điểm tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản như tiền mặt vẫn “dương” sau khi đã

bù trả cho tất cả các khoản nợ đến hạn

Ba luồng tài chính chủ yếu quyết định cân bằng tài chính bao gồm:

- Chi phí đầu tư, chủ yếu là chi phí tạo vốn cho sản xuất,

- Số dư từ các hoạt động tài chính (vay, cho vay, hoàn trả),

- Thặng dư từ sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, phải tính thêm:

- Biến đổi tài sản có (tồn kho và các khoản phải thu) và các khoản phải trả,

- Chi phí phân bổ giá trị thặng dư cho nhà nước, cho người lao động và cho các

cổ đông

- Các khoản nợ ngắn hạn, chủ yếu là tín dụng ngân hàng khi giá trị quỹ không

đủ để duy trì cân bằng, tức là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi bắt buộc

1.1.2 Phân loại cân bằng tài chính

1.1.2.1 Cân bằng tài chính truyền thống

Xét về tổng thể, việc nắm giữ các tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn vốn lâu dài Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài chính là các tài sản cố định phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn) Theo nguyên tắc này, cân bằng tài chính được duy trì bằng sự bù đắp của các luồng tiền (tương ứng với khấu hao tài sản cố định) với các khoản nợ (vốn và lãi) hàng năm Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn Phần trội của tổng nguồn vốn dài hạn so với tổng tài sản cố định được gọi là vốn luân chuyển, tạo thành một biên độ an toàn cho cân bằng tài chính Trong

Trang 17

nghiên cứu đề tài để tiện cho phân tích số liệu ta gọi cân bằng truyền thống bằng cân bằng tài chính loại 1

Vốn luân chuyển, từ đó, được coi là một chỉ báo về khả năng thanh toán tại một thời điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai Vốn luân chuyển cũng là cầu nối giữa cân bằng tài chính dài hạn và ngắn hạn vì vậy việc tính toán xác định vốn luân chuyển cũng tuỳ thuộc vào quan điểm của từng doanh nghiệp

Có 2 cách xác định vốn luân chuyển:

Cách 1:

Vốn luân chuyển = Vốn dài hạn – Tài sản cố định và đầu tư dài hạn

Cách này nhấn mạnh về nguồn gốc của vốn luân chuyển và về những biến số quyết định đối với nó Đó là sự phân tích bên ngoài về vốn luân chuyển

Tổng số vốn luân chuyển được trình bầy bằng cách đối xứng như bảng dưới đây:

Bảng 1: Vốn luân chuyển tính theo phương pháp 1 1

Vốn chủ sở hữu

Tài sản cố định và đầu

tư dài hạn

Vốn luân chuyển

Trang 18

Cách 2:

Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Bảng 2: Vốn luân chuyển tính theo cách 2

Vốn luân chuyển

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Nguồn: Josette Peyrard, phân tích tài chính doanh nghiệp (2005)

Phương pháp thứ 2 này thể hiện rất rõ cách thức sử dụng vốn luân chuyển Nó nhấn mạnh về việc khéo sử dụng vốn luân chuyển là nguồn tài trợ cho tài sản ngắn hạn Chính vì thế mà ta gọi đó là phân tích nội bộ Từ phương pháp tính toán này mà ta dự đoán được những nhu cầu về vốn luân chuyển

Nếu tài sản ngắn hạn thấp hơn nợ ngắn hạn, vốn luân chuyển sẽ có giá trị âm Tình hình này là đáng lo ngại cho một doanh nghiệp công nghiệp, nhưng thường gặp ở doanh nghiệp thương mại, nơi có tốc độ quay vòng hàng hoá tồn kho rất nhanh (dưới một tháng) cùng với mức mua chịu của nhà cung cấp tăng

Tuy nhiên, hai cách tính đều cho kết quả như nhau và doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính khi có vốn luân chuyển lớn hơn không

1.1.2.2 Cân bằng tài chính ngắn hạn

Khả năng tài trợ (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính Các tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần nguồn vốn trở lên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu Chênh lệch của tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn luân chuyển, luôn thay

Trang 19

đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp chỉ có được cân bằng tài chính khi vốn luân chuyển đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này Hay nói cách khác doanh nghiệp chỉ đạt được cân bằng tài chính trong ngắn hạn khi chênh lệch giữa vốn luân chuyển với nhu cầu vốn luân chuyển dương (phần chênh lệch đó ta gọi là ngân quỹ ròng) Ngân quỹ ròng = Vốn luân chuyển – Nhu cầu vốn luân chuyển

Bảng 3: Xác định ngân quỹ ròng (cân bằng tài chính ngắn hạn)

Ngân quỹ ròng

Vốn luân chuyển

là doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn luân chuyển và tài trợ cho tài sản cố định; cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp Nếu ngân quỹ ròng dương thể hiện một cân bằng tài chính rất

an toàn vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn luân chuyển

Trang 20

1.1.3 Các tình huống trong cân bằng tài chính

Vốn luân chuyển thể hiện mức độ an toàn biên tế, đảm bảo cho doanh nghiệp chống lại các rủi ro làm mất giá trị tài sản Có, hoặc rủi ro làm giảm tốc độ luân chuyển vốn dự trữ (bán…) Vì vậy mọi biến động của nó phải được chú ý theo dõi Chúng ta

có thể lập bảng tập hợp những con số tổng hợp về vốn thường xuyên và tài sản cố định của 3 hoặc 5 năm quá khứ để theo dõi sự biến động này

Có ba tình huống có thể xẩy ra qua bảng tổng hợp:

Tình huống 1: Tăng vốn luân chuyển

Trong trường hợp này, an toàn của doanh nghiệp tăng vì phần lớn tài sản ngắn hạn được vốn thường xuyên (vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn) tài trợ Tuy nhiên, cần phải thấy rằng để đạt được sự an toàn đó, doanh nghiệp phải tăng nợ dài hạn Nếu khối lượng nợ dài hạn càng lớn sẽ dẫn tới chi phí tài chính càng cao, từ đó làm giảm kết quả kinh doanh Nếu tăng vốn lưu động bằng việc tăng vốn chủ sở hữu thì tình hình tài chínhh doanh nghiệp được cải thiện, nhưng doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn nợ vay và có thể phải chia xẻ quyền kiểm soát công ty

Mặt khác, nếu sử dụng vốn lưu động ròng tài trợ toàn bộ cho tồn kho không phải là quyết định quản trị tốt, vì có thể doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn dài hạn, tốn kém cho việc sử dụng ngắn hạn mà đáng lẽ việc sử dụng này phải do tín dụng ngắn hạn tài trợ (mà tín dụng ngắn hạn có chi phí thấp hơn)

Tình huống 2: Giảm vốn luân chuyển

Khi một doanh nghiệp giảm vốn luân chuyển sẽ làm cho mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp giảm xuống Tuy vậy, nếu việc giảm vốn này nhằm tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lợi mới, góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp thì cần chú

ý xem xét kỹ

Trang 21

Tình huống 3: Giữ ổn định vốn lưu động

Tình huống này thể hiện tình trạng giữ ổn định các hoạt động của doanh nghiệp,

để điều chỉnh cơ cấu đầu tư do lợi nhuận không tăng hoặc mức tăng trưởng giảm lâu dài, khi cần đánh giá thực trạng của tình huống này cần tiến hành nghiên cứu nguồn có khả năng tạo ra lợi nhuận để xem xét

Hơn nữa, dù quy mô vốn luân chuyển như thế nào thì cũng cần xác định rõ các

số liệu tổng hợp như dự trữ hàng tồn kho hoặc doanh thu của doanh nghiệp để biết những số liệu này có phù hợp hay không? Ta có thể so sánh các chỉ số này với các chỉ

số của doanh nghiệp cùng ngành để hiểu rõ hơn

Khi nghiên cứu một công ty chi nhánh của một tập đoàn, ta không chỉ quan tâm đến vốn luân chuyển của công ty mà còn tính toán và đánh giá vốn luân chuyển của tập đoàn

Tại một thời điểm nào đó, vốn luân chuyển chỉ rõ mức độ an toàn mà doanh nghiệp có được nhằm tài trợ cho các chu kỳ kinh doanh của nó Vì vậy, ta phải nghiên cứu đầy đủ bằng cách so sánh giữa vốn luân chuyển với nhu cầu tài trợ của chu kỳ

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính

Các nghiệp vụ làm giảm vốn luân chuyển:

1/Tăng tài sản Có là tài sản cố định

- Đầu tư: + TSCĐ hữu hình

+ TSCĐ vô hình + …

2/Giảm vốn thường xuyên

- Giảm vốn Chủ sở hữu

Trang 22

+ Phân bổ cho dự trữ + Chi lợi tức cổ phần + Trích lập các quỹ + Lỗ trong kinh doanh

- Hoàn trả tiền vay:

+ Trả tiền vay dài, trung hạn + Trả tài khoản thường xuyên (vãng lai) hội viên + Hoàn trả trái phiếu đáo hạn

Các nghiệp vụ làm tăng vốn luân chuyển:

1/Tăng vốn thường xuyên

- Tăng vốn chủ sở hữu, tăng dự trữ, hỗ trợ đầu tư

- Tăng nợ vay có kỳ hạn và vay dài hạn, đóng góp của các công ty vào tài khoản thường xuyên

- Phát hành trái phiếu có thời hạn trên 1 năm

2/Giảm tài sản Có

- Giảm đầu tư: nhượng, bán TSCĐ hữu hình, vô hình…

- Hoàn trả tiền vay giữa các doanh nghiệp Những thay đổi vị trí tài sản ngắn hạn hoặc nợ phải trả ngắn hạn không làm thay đổi vốn luân chuyển, bởi việc tăng một loại của tài sản ngắn hạn sẽ dẫn đến hoặc giảm một loại tài sản ngắn hạn khác, hoặc tăng một dòng tài sản Nợ ngắn hạn khác Chẳng

Trang 23

hạn khi bán sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm tồn kho và tăng tương ứng ở mức nợ phải thu (nếu bán chịu), hoặc tăng tiền mặt (nếu bán thu tiền ngay)

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÂN BẰNG TÀI CHÍNH VỚI TTCK

Mối quan hệ giữa cân bằng tài chính với TTCK ở đây được hiểu là mối quan hệ giữa sự đảm bảo cân bằng tài chính của các công ty niêm yết ảnh hưởng đến TTCK như thế nào Sự ảnh hưởng này sẽ làm thay đổi giá của bản thân các chứng khoán của công ty niêm yết trên TTCK Sự biến động của giá chứng khoán sẽ tạo ra sự không chắc chắn về lợi nhuận của nhà đầu tư, mỗi chứng khoán riêng biệt có sự biến động giá chứng khoán khác nhau Những sự biến động không chắc chắn về lợi nhuận được đánh giá bằng mức rủi ro tương ứng của từng chứng khoán riêng biệt, và tổng hợp biến động tất cả các chứng khoán trên thị trường sẽ tạo ra rủi ro chung của thị trường (rủi ro hệ thống) Như vậy phân tích mối quan hệ giữa cân bằng tài chính với TTCK là phân tích quan hệ giữa sự đảm bảo cân bằng tài chính của các công ty niêm yết đến rủi ro của chứng khoán trên TTCK

1.2.1.1 Rủi ro hệ thống

Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi

Trang 24

là rủi ro hệ thống Rủi ro hệt thống thường được gọi là rủi ro không thể đa dạng hóa được vì các nhà đầu tư không thể loại trừ nó bằng cách nắm giữ một tập hợp đa dạng các chứng khoán trong một danh mục đầu tư Rủi ro hệ thống bao gồm:

Rủi ro thị trường

Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoản thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng Những thay đổi trong mức sinh lợi đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu do sự đánh giá của các nhà đầu tư về chúng thay đổi và gọi là rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường xuất hiện do những phản ánh của các nhà đầu tư với những sự kiện hữu hình hay vô hình Sự đánh giá rằng lợi nhuận của các công ty nói chúng có xu hướng sụt giảm có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá Các nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực tế xẩy ra, hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội

Các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường Rủi

ro thị trường xuất phát từ những sự kiện hữu hình nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có những phản ứng vượt qua các sự kiện đó Những sụt giảm đầu tiên của giá cổ phiếu trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn bằng cách bán cổ phiếu Những phản ứng dây chuyền làm tăng vượt số lượng bán, giá cả cổ phiếu sẽ rơi xuống thấp so với giá trị nội tại của nó Tuy nhiên, vẫn có thể có hiện tượng mua vào rất nhiều khi có những sự kiện bất thường xẩy ra, lúc đó giá cổ phiếu sẽ tăng lên

Trang 25

Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là do dao động trong mức lãi suất chung

Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất chuẩn (có thể

là lãi suất trái phiếu Chính phủ), khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lợi kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty Nói cách khác, sự thay đổi về chi phí vay vốn đối với các loại trái phiếu Chính phủ sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại chứng khoán của công ty

Các nhà đầu tư thường coi tín phiếu kho bạc là không rủi ro Các loại trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài thì không có rủi ro thanh toán (nhưng vẫn có rủi ro về giá cả) Các mức lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn khác nhau được dùng làm chuẩn để xác định lãi suất trái phiếu công ty có thời gian đáo hạn tương tự Do vậy, những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất

Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường Khi ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát hành thêm trái phiếu để bù đắp, như vậy sẽ làm tăng mức cung chứng khoán trên thị trường Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ mua các trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại chứng khoán đang lưu hành Do lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở nên hấp dẫn hơn và các loại chứng khoán khác sẽ bị kém hấp dẫn đi Hệ quả là, những người này quyết định mua trái phiếu Chính phủ thay vì mua trái phiếu công ty, và do vậy lãi suất trái phiếu công ty cũng phải tăng lên Lãi suất trái phiếu công ty tăng sẽ dẫn đến giá của trái phiếu giảm và cũng làm cho giá của các loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi giảm suống như một phản ứng dây chuyền

Như vậy, ta thấy có sự ảnh hưởng của việc thay đổi lãi suất do các loại công cụ

có liên hệ với nhau Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ

Trang 26

thống Hệ quả trực tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống

Rủi ro sức mua

Rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất có thể được định nghĩa là các biến cố về số lượng tiền thu được hiện nay của nhà đầu tư Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được Rủi ro sức mua tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư

Nếu chúng ta xem khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó Nếu trong thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng, các nhà đầu tư bị mất một phần sức mua Giá cả hàng hóa dịch vụ tăng gọi là lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ giảm gọi là giảm phát Cả lạm phát và giảm phát đều liên quan đến khái niệm rủi ro sức mua Yếu tố lạm phát (giảm phát) sẽ làm thay đổi mức lãi suất danh nghĩa và từ đó sẽ gây tác động tới giá cá chứng khoán

1.1.2.2 Rủi ro phi hệ thống

Rủi ro phi hệ thống là một phần trong tổng rủi ro gắn liền với một công ty hay một ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó ngoài những rủi ro gắn liền với toàn bộ thị trường Những yếu tố này có thể là khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng, đình công, cạnh tranh nước ngoài, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh, qui định của Chính phủ và nhiều yếu tố khác là nguyên nhân gây ra sự thay đổi trong thu nhập từ cổ phiếu công ty Do những yếu tố này chỉ ảnh hưởng tới một ngành hay một công ty cụ thể nên chúng phải đựoc xem xét cho từng công ty

Sự không chắc chắn đối với khả năng thanh toán của công ty có thể là do môi trường của hoạt động kinh doanh và tình trạng tài chính của công ty Những rủi ro này

có thể gọi là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính

Trang 27

Rủi ro kinh doanh

Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay không chắc chắn về EBIT của doanh nghiệp Có nhiều yếu tố dẫn đến tính bất ổn trong EBIT của doanh nghiệp, bao gồm: tính khả biến của doanh thu, các chi phí hoạt động, tính biến đổi của giá bán, sự tồn tại sức mạnh thị trường, phạm vi đa dạng hóa sản phẩm,…

Rủi ro kinh doanh có thể chia làm 2 loại: rủi ro từ bên trong công ty (chính sách quản trị công ty) và rủi ro từ bên ngoài công tay (môi trường kinh doanh)

Rủi ro kinh doanh bên trong gắn liền với hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà công ty đang tiến hành Mỗi công ty có một hệ thống các rủi ro kinh doanh với các mức độ rủi ro khác nhau riêng của mình Một sự thay đổi lãnh đạo không đúng lúc và đúng người, chính sách marketing không hiệu quả, dự báo sai lầm về tính mùa vụ của sản phẩm dẫn dến tồn kho quá nhiều,…có thể làm giảm đáng kể lợi nhuận

Rủi ro kinh doanh bên ngoài là kết quả của những ảnh hưởng môi trường kinh doanh đến lợi nhuận của công ty Mỗi công ty phải đối mặt với một hệ thống các yếu tố rủi ro bên ngoài khá riêng biệt phụ thuộc vào môi trường hoạt động riêng biệt của chính họ Đó có thể là vụ tẩy chay của khách hàng khi phát hiện sản phẩm của công ty không đảm bảo chất lượng hoặc khi một nhà cung cấp hủy hợp đồng cung ứng nguyên vật liệu quan trọng làm nhà máy phải hoạt động cầm chừng và có thể đi đến ngưng hoạt động Đó cũng có thể là do xuất hiện một đối thủ cạnh tranh quốc tế trên thị trường làm công ty mất thị phần ở mức đáng kể, hoặc Chính phủ cấm hút thuốc nơi công cộng, nâng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe hơi và rượu,… Nhân tố bên ngoài quan trọng nhất có lẽ là chu kỳ kinh doanh Doanh thu của một số ngành công nghiệp (thép, ô tô) có xu hướng biến đổi theo chu kỳ, trong khi đó một só ngành khác lại không có tính chu kỳ (công nghiệp thực phẩm) Những yếu tố dân số học như tuổi thọ, giới tính,… cũng ảnh hưởng đến thu nhập Chính trị cũng là một trong những rủi ro bên ngoài của hoạt động kinh doanh Chính sách của Chính phủ, nhất là những chính

Trang 28

sách liên quan đến tiền tệ và thuế khóa có ảnh hưởng rất lớn đến thủ nhập của các công

ty cũng như mức độ sẵn sàng của các nguồn vốn

Rủi ro kinh doanh thường được tính bằng mức độ biến động của thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Sự biến động của thu nhập lại được

đo bằng độ lệch chuẩn của chuỗi thu nhập hoạt động trong quá khứ của doanh nghiệp

Rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính là sự biến động về lợi nhuận của các cổ đông khi công ty vay

nợ, phụ thuộc vào cấu trúc vốn (vốn cổ phần và vốn vay) Rủi ro tài chính gắn liền giữa hiệu quả kinh doanh và cấu trúc vốn Tùy thuộc vào tình hình và hiệu quả hoạt động của công ty để xác định nguồn vốn cần huy động hợp lý như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay vốn ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro tài chính

Khi một công ty huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu thì khoản thanh toán lãi suất phải được thực hiện trước khi tính toán thu nhập của cổ phiếu thường và các khoản thanh toán lãi suất này được gọi là khoản nợ cố định Giống như đòn bẩy hoạt động, trong thời gian công ty hoạt động tốt thì thu nhập của cổ phiếu thường sẽ tăng lên theo một tỷ lệ phần trăm lớn hơn thu nhập hoạt động, ngược lại trong thời kỳ kinh doanh thua lỗ, thu nhập của cổ đông sẽ giảm theo tỷ lệ lớn hơn thu nhập hoạt động do những chi phí tài chính cố định này Hơn nữa, công ty đã tăng nợ do những nghĩa vụ theo hợp đồng cố định, vì lẽ đó nên họ đã làm tăng rủi ro tài chính và nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng cao hơn

Để xác định rủi ro tài chính của một công ty, người ta thường sử dụng hai loại

hệ số Loại thứ nhất là các hệ số của bảng cân đối kế toán, những hệ số này cho biết tỷ

lệ nợ so với vốn cổ phần, nợ dài hạn so với tổng vốn Loại thứ hai là nhóm các hệ số về dòng thu nhập hoặc dòng tiền sẵn có để thanh toán các khoản chi phí tài chính cố định Việc tính toán và phân tích các hệ số này sẽ đem lại một đánh giá khái quát về hai vấn

Trang 29

đề cơ bản là: khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và cơ cấu vốn và khả năng thanh toán dài hạn

1.2.2 Tác động của cân bằng tài chính đối với rủi ro trên TTCK

Bản thân các chứng khoán niêm yết trên thị trường luôn tồn tại 2 loại rủi ro là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống (phần trên) Rủi ro hệ thống là rủi ro không thể nào tránh được, tuy nhiên với rủi ro phi hệ thống thì các nhà đầu tư cũng như bản thân các công ty niêm yết có thể giảm được

Hình 2: Đảm bảo cân bằng tài chính và đa dạng hoá loại trừ rủi ro phi hệ thống

Đối với các nhà đầu tư trên TTCK họ có thể loại trừ được rủi ro phi hệ thống bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư Số lượng chứng khoán đầu tư càng lớn trong danh mục thì rủi ro phi hệ thống càng được giảm bớt Tuy nhiên đối với các công ty niêm yết, nơi mà kết quả hoạt động của họ có tác động trực tiếp đến sự thay đổi giá cả trên thị trường, tạo ra những rủi ro riêng biệt (rủi ro phi hệ thống) của từng chứng khoán Việc đảm bảo cân bằng tài chính của các công ty niêm yết đã có tác động làm giảm bớt rủi ro phi hệ thống của chính chứng khoán đó

Rủi ro phi hệ thống

Độ lệch chuẩn của chứng

khoán/danh mục đầu tư

Trang 30

1.3 NHẬN DẠNG RỦI RO TTCK VÀ CÂN BẰNG TÀI CHÍNH

1.3.1 Nhận dạng rủi ro từ cân bằng tài chính

Đề nhận dạng rủi ro từ cần bằng tài chính chúng phải phải xét cân bằng tài chính trong mối liên hệ với các chỉ số đánh giá rủi ro của chứng khoán riêng biệt trên TTCK Điều này có nghĩa là ta xuất phát từ sự mất cân bằng tài chính là nguyên nhân làm gia tăng các chỉ số đánh giá rủi ro của chứng khoán Từ cách làm như vậy chúng ta sẽ thấy

rõ mức độ rủi ro do sự mất cân bằng tài chính trong hoạt động của công ty niêm yết tác động lên rủi ro của bản thân chứng khoán

Những chỉ số thể hiện rủi ro tài chính của chứng khoán riêng biệt đó là:

Hệ số Beta và mô hình CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là mô hình mô

tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận không rủi ro cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó

Mô hình CAPM do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và đã có nhiều ứng dụng từ đó đến nay Mặc dù còn có một số mô hình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn giản về mặt khái niệm và

có khả năng ứng dụng sát với thực tiễn Cũng như bất kỳ mô hình nào khác, mô hình này cũng chỉ là một sự đơn giản hoá hiện thực nhưng nó vẫn cho phép chúng ta rút ra những ứng dụng hữu ích

Mô hình định giá tài sản vốn cho rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ đông thường phụ thuộc vào:

- Lãi suất phi rủi ro (rf): có thể xem lãi suất trái phiếu chính phủ là phi rủi ro

- Lãi suất đền bù rủi ro thị trường (rm – rf)

- Rủi ro hệ thống của tài sản đầu tư (cổ phiếu) so với rủi ro bình quân của thị trường gọi là hệ số Beta

Trang 31

Lợi nhuận kỳ vọng của một thị trường chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng khoán đó, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao sẽ có lợi nhuận cao và ngược lại Hay nói khác đi, nhà đầu tư giữ chứng khoán có rủi ro cao chỉ khi nào lợi nhuận kỳ vọng đủ lớn để bù đắp rủi ro

Giả sử thị trường tài chính hiệu quả và nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đâu tư sao cho rủi ro không hệ thống không đáng kể Như vậy, chỉ còn rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu Cổ phiếu có Beta càng lớn thì rủi ro càng cao, do

đó, đòi hỏi lợi nhuận cao để bù đắp rủi ro Theo mô hình CAPM mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro được diễn tả bởi công thức sau:

r = rf + β x (rm – rf)

Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một chứng khoán = Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro + Beta chứng khoán x (chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận và lãi suất phi rủi ro)

Hay là: r – rf = β x (rm – rf)

Phần bù rủi ro chứng khoán = Beta x phần bù rủi ro thị trường

Beta (β): hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu cá biệt so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường (hệ số đo lường rủi ro của chứng khoán) Do đó, lợi nhuận kỳ vòng của một chứng khoán có quan hệ dương với

hệ số Beta của nó Trên thực tế các nhà kinh doanh chứng khoán dựa trên số liệu lịch

sử và sử dụng mô hình hồi qui để ước lượng Beta

Các trường hợp của Beta:

- Beta = 0, thì r = rf; nghĩa là tỷ suất sinh lợi chứng khoán bằng với lãi suất phi rủi ro Bởi vì một chứng khoán với Beta = 0 không có rủi ro tương ứng, tỷ suất sinh lợi của chúng khoán sẽ bằng với lãi suất phi rủi ro

Trang 32

- Beta = 1, thì r = rm; nghĩa là tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán bằng với tỷ suất lợi nhuận của thị trường Rủi ro của chứng khoán bằng với rủi ro của thị trường, chứng khoán này chỉ tồn tại rủi ro hệ thống

- Beta < 1, thì r < rm; tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận của thị trường Rủi ro của chứng khoán thấp hơn rủi ro của thị trường, Beta càng nhỏ thì rủi ro của chứng khoán càng thấp

- Beta > 1, thì r > rm; tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán lớn hơn tỷ suất lợi nhuận của thị trường Rủi ro của chứng khoán cao hơn rủi ro của thị trường, và Beta càng lớn thì rủi ro của chứng khoán càng cao

Chỉ số P/E: là hệ số giữa giá cổ phiếu (thị giá) và thu nhập hàng năm của một

cổ phiếu đem lại cho người nắm giữ Với một cổ phần đang có giá trị trên thị trường đồng nghĩa với việc nó “đang được bán với mức P/E cao” điều này có nghĩa các nhà đầu tư sẳn sang trả giá cao hơn trên cùng một đồng thu nhập EPS để mua được cổ phần

đó Tỷ số P/E cao cho thấy các nhà đầu tư nghĩ rằng công ty có các cơ hội tăng trưởng tốt, những thu nhập tiềm năng của công ty là tương đối an toàn Tuy nhiên phần lơn các công ty có P/E không phải vì giá thị trường hiện tại cao mà là do thu nhập EPS của công ty đang ở mức thấp

Chúng ta có thể tham khảo tỷ số P/E trên các bảng niêm yết giá cổ phần trong các tạp chí tài chính… Tuy nhiên, những thông tin này chỉ bao gồm tỷ số P/E ở hiện tại trong khi các nhà đầu tư lại quan tâm đến những thông tin về P/E trong tương lai Để giải quyết tình huống này tác giả đưa ra giả thiết là P/E hiện tại và P/E tương lai là như nhau Như vậy, với cùng một đồng vốn bỏ ra ở hiện tại (P), đầu tư vào những chứng khoán có P/E cao sẽ có thời gian thu hồi vốn (EPS hàng năm) chậm hơn so với đầu tư vào chứng khoán có P/E thấp Hơn nữa nghiên cứu thực tế trên thị trường cho thấy những chứng khoán có tỷ số P/E cao thường gắn liền với hệ số Beta cao hơn Beta của

Trang 33

thị trường nghĩa là có rủi ro cao hơn Từ các luận điểm trên chúng ta có thể đánh giá rủi ro từ chỉ số P/E như sau:

- P/E của các chứng khoán thấp (thấp hơn P/E trung bình của ngành, thị trường) thì sẽ có thời gian hoàn vốn mau hơn, do đó có độ rủi ro thấp hơn

- P/E của các chứng khoán cao (cao hơn P/E trung bình của ngành, thị trường) thì sẽ có độ rủi ro cao hơn

Các tỷ số về khả năng thanh toán:

- Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời là tỷ số giữa tổng tài sản lưu động so với tổn số nợ đến hạn Tỷ số này càng nhỏ thì đến rủi ro mất khả năng thanh toán càng cao

và ngược lại

- Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là quan hệ giữa tổng tài sản lưu động trừ đi giá trị hàng tồn kho so với tổng nợ đến hạn Tỷ số này càng cao thì rủi ro càng được cải thiện

- Tỷ số khả năng thanh toán bằng tiền là quan hệ giữ tỷ lệ giữa tổng vốn bằng tiền so với tổng số nợ đến hạn Tỷ số này càng được cải thiện thì đồng nghĩa với rủi ro cũng được cải thiện theo

Tỷ số nợ: Đó là quan hệ giữa tổng số nợ của doanh nghiệp so với tổng số vốn

của doanh nghiệp Tỷ số này nói lên kết cấu vay nợ của doanh nghiệp Nếu tỷ số này quá cao thì phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp thiếu lành mạnh, mức độ rủi

ro cao và khi có những cơ hội đầu tư hấp dẫn, doanh nghiệp khó có thể huy động được vốn bên ngoài

1.3.2 Quan hệ cân bằng tài chính và an ninh tài chính

Một số nhà kinh tế cho rằng, an ninh tài chính doanh nghiệp là sự ổn định của các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp, tức là sự duy trì một cách bình thường các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng

Trang 34

các quỹ tiền tệ tập trung của doanh nghiệp Quan niệm an ninh tài chính doanh nghiệp hiểu theo nghĩa ổn định mối quan hệ tài chính doanh nghiệp xuất phát từ bản chất của tài chính doanh nghiệp Nó mang tính chất khái quát cao và đề cập một cách chung nhất tính ổn định trong hoạt động tài chính của doanh nghhiệp Tuy nhiên, quan niệm này chưa phản ánh được nội dung biểu hiện cũng như những yếu tố quyết định đến an toàn của tài chính doanh nghiệp Nghĩa là, chưa đề cập được cụ thế trạng thái không bị nguy hiểm từ những tác động tiêu cực và các yếu tố quyết định tính an toàn của quá trình tạo lập phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

Ý kiến khác cho rằng, an ninh tài chính doanh nghiệp đồng nghĩa với cân bằng tài chính doanh nghiệp Cân bằng tài chính doanh nghiệp được hiểu là việc duy trì giữa luồng tiền ra và luồng tiền vào của doanh nghiệp bảo đảm doanh nghiệp luôn có số tồn

ở các quỹ dương Quan điểm an ninh tài chính doanh nghiệp hiểu theo nghĩa cân bằng tài chính xuất phát từ nhận thức tài chính doanh nghiệp dưới góc độ về sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp Do đó, quan điểm này cũng mới chỉ xem xét vấn đề

an ninh tài chính doanh nghiệp trên một khía cạnh của sự ổn định trong việc vận động các luồng tài chính doanh nghiệp mà chưa đề cập đến tính an toàn của những vận động này

Theo một cách hiểu khác, an ninh tài chính doanh nghiệp là trạng thái an toàn của tài chính doanh nghiệp trước những rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Quan niệm về an ninh tài chính doanh nghiệp này xuất phát từ nhận thức về vấn đề rủi ro đối với doanh nghiệp Tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trường rất nhạy cảm, mọi biến động bất lợi của nền kinh tế - xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động này, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và làm hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp giảm sút Do vậy, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn và có thể xẩy ra bất cứ lúc nào Rủi ro đối với doanh nghiệp có nhiều loại: rủi ro về giá cả, rủi ro về lãi suất, rủi ro về

Trang 35

tỷ giá hối đoái, rủi ro về công nghệ kỹ thuật,… Các rủi ro này tác động tiêu cực tới tài chính doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau, với những mức độ khác nhau, do những nguyên nhân khác nhau Mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến tài chính doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào mức độ tác động của các rủi ro mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tự bảo vệ của doanh nghiệp Nếu khả năng đề kháng của doanh nghiệp lớn hơn hoặc bẳng mức độ ảnh hưởng của các rủi ro thì tài chính doanh nghiệp giữ được an toàn Nghĩa là đã bảo đảm được an ninh tài chính doanh nghiệp Ngược lại, nếu khả năng đề kháng của doanh nghiệp nhỏ hơn mức độ ảnh hưởng của các rủi

ro thì tài chính doanh nghiệp không an toàn Quan niệm này đã đề cấp những tác động của các loại rủi ro đến sự an toàn của tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, nó chưa phản ánh đước nội dụng cũng như tính ổn định của tài chính doanh nghiệp

Các quan niệm về an ninh tài chính doanh nghiệp trên đã đề cấp sự ổn định và

an toàn đối với tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, vì đứng ở những góc độ khác nhau nên mỗi quan niệm chỉ nhìn nhận vấn đề này ở một khía cạnh Anh ninh tài chính doanh nghiệp có thể hiểu một cách tổng hợp sau: “An ninh tài chính doanh nghiệp là một khái niệm cơ bản để chỉ một trạng thái ổn định, an toàn của tài chính doanh nghiệp”

Ổn định được hiểu là duy trì hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, bất thường Nghĩa là, quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ cũng như các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được duy trì bình thường, không có biến động đột xuất Việc ổn định tài chính rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Một tình trạng tài chính không ổn định làm cho doanh nghiệp dễ bị tổn thương, rơi vào tình trạng không an toàn Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn định đặt trong

sự vận động và phát triển Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ nguyên mọi thứ như

cũ mà là giữ được ổn định quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, các mối

Trang 36

quan hệ kinh tế trong tiến trình đi lên, không ngừng hoàn thiện và cải tiến của doanh nghiệp

An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm từ phhía các tác động bên trong và bên ngoài Nói một cách khác, nó được hiểu là quá trình tạo lập, phân phối và

sử dụng các quỹ tiền tệ, các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp không bị tổn thương, không bị nguy hiểm từ những rủi ro trong quá trình sản xuất, kinh doanh Một tình trạng không an toàn của tài chính doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp dễ rơi vào khủng hoản, thậm chí dẫn tới phá sản Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình, đồng thời, ngăn chặn và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài Nếu ổn định tài chính doanh nghiệp là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn tài chính doanh nghiệp là cốt lõi chi phối toàn bộ quá trình vận động của tài chính doanh nghiệp

Nội dung của an ninh tài chính doanh nghiệp

Nội dung của an ninh tài chính doanh nghiệp bao gồm bốn vấn đề cơ bản sau: cân bằng tài chính, tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh bốn nội dung này tác động qua lại, ảnh hưởng đến tình hình và khả năng tài chính của doanh nghiệp Nghiên cứu vấn đề an ninh tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải xem xét đồng bộ và thống nhất cả bốn nội dung này

Cân bằng tài chính

Tài sản trong doanh nghiệp chia thành tài sản lưu động và tài sản cố định Các loại tài sản này được hình thành từ những nguồn vốn có thời hạn khác nhau: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn

Cân bằng tài chính như đã nêu là sự cân bằng giữa luồng tiền ra và luồng tiền vào Bản chất của nó là xem xét mối quan hệ giữa các nguồn vốn tài trợ cho tài sản doanh nghiệp có cùng thời hạn tồn tại Thời hạn nguồn tài trợ cho tài sản của doanh

Trang 37

nghiệp ít nhất cũng phải bằng thời gian sử dụng của tài sản được hình thành từ nguồn vốn đó Nghĩa là, mọi quá trình sử dụng vốn phải được tài trợ bằng nguồn vốn có cùng thời gian tồn tại; đối với mỗi quá trình sử dụng vốn ngắn hạn hay dài dại, cần phải tồn tại một mức chênh lệch an toàn giữa dòng tiền dùng cho việc thanh toán các khoản nợ, mua hàng hoá, tài sản,…và dòng tiền có được từ việc sử dụng số vốn đó vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, một doanh nghiệp sẽ ở tình trạng không cân bằng tài chính nếu như doanh nghiệp tài trợ cho việc đầu tư tài sản cố định, đầu tư dài hạn, liên doanh liên kết dài hạn,…bằng nguồn vốn vay ngắn hạn hoặc bằng vốn lưu động (không tính đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp) Ngược lại, một doanh nghiệp

sẽ vẫn ở tình trạng cân bằng nếu doanh nghiệp dùng nguồn vốn ở tình trạng cân bằng nếu doanh nghiệp dùng nguồn vốn tự có, vốn vay dài hạn,… để đầu tư tài sản cố định, đầu tư dài hạn hoặc mua các loại hàng hoá, đầu tư ngắn hạn…

Khả năng linh động về tài chính

Khả năng linh động về tài chính phản ánh mức độ độc lập, linh hoạt của doanh nghiệp trong việc đáp ứng cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Xét từ góc độ hình thành, tổng vốn trong doanh nghiệp được chia thành hai loại: vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp (chủ sổ hữu doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân là những người góp vốn…) Khi doanh nghiệp mới thành lập, vốn chủ

sở hữu hình thành vốn điều lệ Khi doanh nghiệp hoạt động, ngoài vốn chủ sở hữu như: lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính,… Các khoản nợ của doanh nghiệp bao gồm vốn chiếm dụng và các khoản nợ vay Vốn cung cấp, số nợ phải nộp ngân sách, số nợ phải thanh toán cho cán bộ công nhân viên,… Đặc điểm của loại vốn này là doanh nghiệp được sử dụng nhưng không phải trả lãi Các khoản nợ vay bao gồm toàn bộ vốn vay ngân hàng, nợ tín phiếu, nợ trái phiếu của doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng vốn hành thành từ hai nguồn vốn này Nếu doanh nghiệp hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn tự

Trang 38

có thì tính tự chủ cao, có được sự độc lập trong việc sử dụng vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình mà ít chịu tác động từ những ý kiến, quyết định của người cung cấp vốn cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu doanh nghiệp đi vay quá nhiều

so với vốn tự có, doanh nghiệp có thể bị chi phối bởi các điều kiện do người cho vay đạt ra

Ở đây, cũng cần đề cập mối quan hệ giữa cân bằng tài chính với tự chủ tài chính của doanh nghiệp Sự cân bằng tài chính là điều kiện cơ bản để duỳ trì tự chủ, linh hoạt tài chính Nếu tài chính doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp buộc phải sử dụng các biện pháp tài trợ bất thường như kéo dài thời hạn trả nợ, hoãn nợ hoặc vay mới để trả cũ việc này sẽ dẫn đến sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào những người cho vay Khi đó, doanh nghiệp sẽ mất tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình

Khả năng thanh toán

Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại: nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vạy Nguồn vốn đi vay bao gồm vay dài hạn và vay ngắn hạn Khả năng thanh toán được hiểu là khả năng của doanh nghiệp có thể trả các khoản nợ đến hạn (nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn trả) Nội dung này của an ninh tài chính doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất của tài sản dùng để thanh toán, nghĩa là, phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi thành tiên của các tài sản sử dụng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, khả năng thanh toán phụ thuộc rất lớn vào vòng quay của hàng tồn kho, các khoản phỉ thu của khách hàng, các khoản phải trả khách háng Đối với thời gian ngắn, khả năng thanh toán được đánh giá dự trên tỷ lệ giữa các khoản nợ ngắn hạn

và các khoản nợ dài hạn đến hạn trả với các loại tiền và tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền của doanh nghiệp Ngược lại, đối với thời gian dài, nội dung này chịu tác động của tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến động của vốn chủ

sở hữu…

Trang 39

Khả năng thanh toán là nội dung cơ bản đế đánh giá khả năng an ninh và bảo đảm tài chính doanh nghiệp Khi doanh nghiệp không có nguồn vốn cần thiết để trả các khoản nợ đến hạn trong khi tổng số các khoản nợ lớn hơn tổng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, an ninh tài chính của doanh nghiệp không được bảo đảm Và ngược lại, khi doanh nghiệp có đủ nguồn vốn cần thiết để trả các khoản nợ đến hạn, trong khi tổng tài sản của doanh nghiệp lớn hơn tổng các khoản

nợ thì an ninh tài chính được bảo đảm

Hiệu quả kinh doanh

Đây là nội dung phản ánh kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất

Kinh doanh có hiệu quả là nội dung quan trọng đối với an ninh tài chính doanh nghiệp Nó có ảnh hưởng đến các nội dung khác của an ninh tài chính doanh nghiệp Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho việc bổ sung vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Đây là tiền đề cơ bản cho việc tăng cường tính ổn định và tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc kinh doanh có hiệu quả cũng sẽ tạo

ra vốn để doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Ngược lại, việc kinh doanh kém hiệu quả không những không làm tăng thêm vốn chủ sổ hữu, việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài gặp khó khăn mà còn làm cho doanh nghiệp thiếu vốn để thanh toán nợ Do đó, doanh nghiệp sẽ không đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, phải trông chờ vào nhiều vào nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài

Kết luận: Cân bằng tài chính là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của

những tài sản xác định các luồng chi ra trong tương lai Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn

Trang 40

Có 2 loại cân bằng tài chính là cân bằng tài chính truyền thống và cân bằng tài chính ngắn hạn Cân bằng tài chính truyền thống được thiết lập khi doanh nghiệp đảm bảo trạng thái dương của vốn luân chuyển Cân bằng tài chính ngắn hạn được thiết lập khi doanh nghiệp đảm bảo trạng thái dương của ngân quỹ ròng

Sự mất cân bằng tài chính là một rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp cũng như tạo ra rủi ro đối với bản thân chứng khoán của doanh nghiệp Rủi ro về sự mất bằng tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp có thể được nhận dạng thông qua các chi tiêu như: hệ số beta và mô hình CAPM, tỷ số P/E, các chỉ số về khả năng thanh toán, tỷ số nợ

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm