Trong quá trình kiểm toán một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tác giả nhận thấy nhiều doanh nghiệp còn rất thờ ơ với việc chuẩn bị hồ sơ định giá chuyển nhượng và
Trang 1CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 3-
ĐỖ LỆ NGHI
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: THƯƠNG MẠI
Trang 4MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục bảng biểu v
Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Khái niệm và bản chất của định giá chuyển nhượng 5
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.1.1 Giá chuyển nhượng 5
1.1.1.2 Nguyên tắc giá thị trường 5
1.1.1.3 Quan hệ liên kết 6
1.1.1.4 Thỏa thuận xác định giá trước 7
1.1.2 Bản chất của việc định giá chuyển nhượng trong hoạt động đầu tư quốc tế 8
1.2 Các phương pháp xác định giá thị trường của giao dịch liên kết 9
1.2.1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (“comparable uncontrolled price method”) 9
1.2.2 Phương pháp giá bán lại (“resale price method”) 10
1.2.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi (“cost plus method”) 10
1.2.4 Phương pháp lợi nhuận giao dịch 10
1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động định giá chuyển nhượng 12
1.3.1 Biến động của tỷ giá 12
1.3.2 Chênh lệch mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia 12
1.3.3 Thuế nhập khẩu 13
1.3.4 Kiểm soát ngoại hối 13
1.3.5 Luật chống phá giá 13
1.3.6 Áp lực cạnh tranh 13
1.3.7 Bảo toàn giá trị vốn đầu tư 13
1.4 Vai trò và mặt trái của việc định giá chuyển nhượng 13
Trang 51.4.1 Vai trò đối với các doanh nghiệp thực hiện định giá chuyển nhượng 14 1.4.2 Mặt trái của việc định giá chuyển nhượng đối với quốc gia nhận đầu
tư 15
1.5 Cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng trong hoạt động đầu tư của Bộ Tài chính 16
1.6 Hướng dẫn của OECD về định giá chuyển nhượng 18
1.7 Kết luận chương 1 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 TỚI CUỐI NĂM 2007 21
2.1 Tình hình tuân thủ các quy định về xác định giá chuyển nhượng trên thế giới 21
2.1.1 Tổng quan về các quy định đã ban hành 21
2.1.1.1 Các quốc gia đã xây dựng và áp dụng các quy định về định giá chuyển nhượng 21
2.1.1.2 Phân nhóm các cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng trên thế giới 24
2.1.2 Thực trạng tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng trên thế giới 25
2.1.2.1 Kết quả khảo sát của Ernst & Young Singapore trên phạm vi toàn cầu 25
2.1.2.2 Phân tích của KPMG trên phạm vi Châu Á năm 2006 31
2.2 Thực trạng tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 32
2.2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2007 32
2.2.1.1 Tổng quan 32
2.2.1.2 Hình thức đầu tư 33
2.2.1.3 Ngành đầu tư 34
Trang 62.2.2 Thực trạng định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 36
2.2.2.1 Thực trạng khai báo lỗ 36
2.2.2.2 Định giá tài sản cố định góp vốn liên doanh 37
2.2.3 Tình hình tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 38
2.2.3.1 Phân tích kết quả khảo sát doanh nghiệp 38
2.2.3.2 Phân tích kết quả phỏng vấn chuyên gia 45
2.2.3.3 Kiểm chứng kết quả phỏng vấn 50
2.3 Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 54
3.1 Mục tiêu và cơ sở đề xuất giải pháp 54
3.1.1 Mục tiêu đề xuất giải pháp 54
3.1.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 54
3.1.2.1 Các quy định hiện hành về kiểm soát giá chuyển của Việt Nam 54
3.1.2.2 Những khó khăn và hạn chế mà doanh nghiệp đang gặp phải trong quá trình thực thi các quy định hiện hành 54
3.1.2.3 Những tồn tại của các quy định hiện hành 56
3.2 Giải pháp bảo đảm việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 56
3.2.1 Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng là tiền đề để xây dựng một chính sách đinh giá hiệu quả 57
3.2.2 Xác định, tìm hiểu sự khác biệt giữa việc định giá theo cơ sở thuế với việc định giá cho mục đích quản lý hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 57
Trang 73.2.3 Nắm rõ những khác biệt giữa các quy định về định giá chuyển nhượng
của Việt Nam với một số quy định hiện hành trên thế giới và giải pháp
giải quyết 58
3.2.3.1 So sánh với hướng dẫn của OECD 58
3.2.3.2 So sánh với một số nước ở Châu Á - Thái Bình Dương 64
3.2.4 Hiểu thấu đáo các mối quan hệ liên kết trong tập đoàn theo quy định hiện hành và xác định rõ cách thức ghi nhận và định giá của các giao dịch liên kết 65
3.2.5 Xác lập chính sách định giá cho mỗi giao dịch và kiểm tra tính nhất quán giữa mục đích thuế và mục đích kinh doanh 66
3.2.6 Ghi chép và lưu trữ hồ sơ định giá chuyển nhượng ở mức độ rủi ro có thể chấp nhận được 66
3.2.6.1 Nhận thức đúng vai trò của hồ sơ xác định giá thị trường 67
3.2.6.2 Xác định hồ sơ xác định giá thị trường cần lưu trữ ở mức độ rủi ro có thể chấp nhận được 68
3.2.7 Lập và lưu trữ hồ sơ về hợp đồng với bên liên kết một cách linh hoạt… 69
3.2.8 Thành lập đội kiểm tra liên phòng ban trong quá trình xây dựng và thực hiện 70
3.2.9 Xác định và giải quyết ngay những khó khăn trong quá trình triển khai với sự góp mặt của nhiều phòng ban liên quan ngay từ đầu 70
3.3 Kết luận chương 3 72
Kết luận 73
Danh mục tài liệu tham khảo 74
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các quốc gia áp dụng các quy định về xác định giá chuyển nhượng
trong giai đoạn từ 1994-2006 23
Bảng 2.2: Cơ quan thuế kiểm tra các chính sách về giá chuyển nhượng 26
Bảng 2.3: Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ 27
Bảng 2.4: Mục đích chính của việc chuẩn bị hồ sơ xác định giá chuyển nhượng 27 Bảng 2.5: Tầm quan trọng của hồ sơ so với hai năm trước 28
Bảng 2.6: Các trường hợp có nguy cơ cao bị kiểm soát về giá chuyển nhượng 29
Bảng 2.7: Những vấn đề quan trọng nhất đối với tập đoàn 29
Bảng 2.8: Ba vấn đề quan trọng nhất đối với tập đoàn 30
Bảng 2.9: Giai đoạn công ty mẹ can thiệp vào hoạt động định giá chuyển nhượng của công ty con năm 2005 và 5 năm trước 30
Bảng 2.10: Những căn cứ có thể dẫn tới thanh tra về giá chuyển nhượng ở một số nước Châu Á 31
Bảng 2.11: 20 quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007 32
Bảng 2.12: Hình thức đầu tư của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2007 33
Bảng 2.13: Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo ngành giai đoạn 1988-2007… 35
Bảng 2.14: Tình hình khai lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Thành phố Hồ Chí Minh 36
Bảng 2.15: Một số trường hợp vi phạm về định giá chuyển nhượng 38
Bảng 2.16: Mức độ can thiệp của Ban Giám đốc vào việc tuân thủ Thông tư 39
Bảng 2.17: Đơn vị đảm trách về giá chuyển tại Việt Nam 40
Bảng 2.18: Thời điểm doanh nghiệp quan tâm đến giá chuyển trong vòng đời của dự án 40
Bảng 2.19: Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về các nội dung của Thông tư 41
Trang 9Bảng 2.20: Những công việc mà doanh nghiệp đã thực hiện để tuân thủ theo Thông
tư 42 Bảng 2.21: Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ xác định giá thị trường 43 Bảng 2.22: Đánh giá về chính sách định giá chuyển nhượng 44 Bảng 2.23: Một số dịch vụ chính mà công ty tư vấn đã cung cấp từ năm 2006 tới
cuối năm 2007 48 Bảng 2.24: Quốc gia đầu tư của các dự án có thuê chuyên gia tư vấn về định giá
chuyển nhượng 49 Bảng 2.25: Tỷ trọng theo ngành đầu tư của các dự án có thuê chuyên gia tư vấn 50 Bảng 3.1: So sánh việc kiểm soát giá chuyển tại Châu Á - Thái Bình Dương 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng cao, các công ty đa quốc gia cũng xuất hiện ngày càng nhiều Các công ty này thường thực hiện các giao dịch xuyên biên giới có giá trị lớn giữa các công ty thành viên Việc hoạch định thuế và tuân thủ theo các quy định hiện hành tùy thuộc rất lớn vào mức độ chính xác của việc định giá các “giao dịch được kiểm soát” này Để đánh giá và quản trị các rủi ro
về thuế, các công ty phải xác định giá chuyển nhượng trong năm dựa trên những chính sách rõ ràng và thống nhất với những quy định hiện hành về định giá chuyển nhượng Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác lập và thực thi một chính sách định giá chuyển nhượng thỏa mãn cả hai mục tiêu thuế và kinh doanh là một điều hoàn toàn không dễ dàng
Hơn nữa, với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 7/11/2006, Bộ Tài chính đã xem việc hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp để điều tiết giá chuyển nhượng của các công ty, các tập đoàn đa quốc gia nhằm bảo vệ nguồn thu ngân sách là một trong những nhiệm vụ quan trọng Điều này mang đến cả những thuận lợi và thách thức cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Vào ngày 19/12/2005, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 117/2005/TT-BTC (“Thông tư”) hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết Đối tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh hoạt động tại Việt Nam có thực hiện giao dịch với bên liên kết Thông tư sử dụng bốn tiêu chuẩn phân tích để phân tích so sánh, chấp nhận năm phương pháp để định giá thị trường và nêu ra một số yêu cầu về lưu trữ hồ sơ
Mặc dù không có tham chiếu trực tiếp, các quy định trong Thông tư nhìn chung tương đồng với các hướng dẫn của OECD về định giá chuyển nhượng Tuy nhiên, việc Thông tư còn thiếu những hướng dẫn chi tiết và thiếu thông tin cho các phân tích so sánh tại Việt Nam đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hoạch định
và chuẩn bị hồ sơ về định giá chuyển nhượng
Trang 11Trong quá trình kiểm toán một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tác giả nhận thấy nhiều doanh nghiệp còn rất thờ ơ với việc chuẩn bị hồ sơ định giá chuyển nhượng và chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định về định giá các giao dịch liên kết Trong khi đó, việc kiểm tra tình hình tuân thủ các quy định trên của cơ quan Thuế còn rất rời rạc và thiếu tính
hệ thống
Do vậy, để có một cái nhìn khái quát và khách quan hơn về tình hình tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng nêu trong Thông tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cũng như mong muốn tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc phục, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp bảo đảm việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu hoạt động sản xuất - kinh doanh tại Việt Nam từ trước năm 2005 và Thông tư
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động tuân thủ các quy định của Thông tư từ năm 2006 (năm Thông tư có hiệu lực thi hành) cho tới cuối năm 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi: lập bảng câu hỏi và thực hiện phỏng vấn các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam về tình hình
tuân thủ các quy định của Thông tư
Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: lập bảng câu hỏi và phỏng vấn các chuyên gia, trưởng phòng và trưởng bộ phận tư vấn về định giá chuyển nhượng của một công ty kiểm toán lớn về tình hình tuân thủ các quy định về định giá chuyển
Trang 12nhượng, các khó khăn doanh nghiệp gặp phải trong quá trình áp dụng và những
hướng dẫn cập nhật nhất của Bộ Tài chính
Phương pháp phân tích và thống kê: dựa trên các dữ liệu thu thập được từ những nghiên cứu chuyên ngành của các công ty tư vấn lớn, các báo cáo, số liệu về đầu tư, kết quả khảo sát và phỏng vấn để tiến hành phân tích, so sánh, thống kê lại
theo mục đích nghiên cứu
Thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin thứ cấp từ những nguồn sau:
9 Các buổi hội thảo, tập huấn về định giá chuyển nhượng;
9 Internet;
9 Báo, tạp chí;
9 Sách chuyên ngành…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Bài viết đã nêu ra được nét tổng quan về tình hình tuân thủ các quy định về định
giá chuyển nhượng từ năm 2006 tới năm 2007 cùng những tồn tại và khó khăn doanh nghiệp gặp phải trong quá trình thực hiện Dựa trên kinh nghiệm thực hiện và
xu hướng phát triển mới trên thế giới được nêu trong bài, các doanh nghiệp có thể
dự đoán và chủ động trong việc tuân thủ theo luật nhằm tránh những rủi ro gặp phải
6 Những điểm nổi bật của đề tài
Các quy định về định giá chuyển nhượng theo nguyên tắc giá thị trường chỉ mới áp dụng từ đầu năm 2006 và đây là một vấn đề tương đối nhạy cảm đối với doanh nghiệp Do đó, việc khảo sát tình hình tuân thủ của các doanh nghiệp là điều không
dễ Vì vậy, bên cạnh việc phỏng vấn doanh nghiệp, đề tài này được thực hiện một phần dựa trên kinh nghiệm kiểm toán của tác giả và các trưởng nhóm, trưởng phòng kiểm toán khác nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về tình hình tuân thủ
Bài viết còn kết hợp việc phỏng vấn các chuyên gia tư vấn về định giá chuyển nhượng của một công ty tư vấn lớn và tài liệu của các hội thảo mới nhất trong và ngoài nước về giá chuyển nhượng để đưa ra những đánh giá về thực trạng thực thi
7 Kết cấu và tóm lược đề tài
Bài viết được chia thành ba chương với nội dung tóm tắt như sau:
Trang 13 Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 giới thiệu các khái niệm và bản chất của hoạt động định giá chuyển nhượng Các phương pháp xác định giá thị trường, các nhân tố tác động đến hoạt động định giá cũng như vai trò và mặt trái của hoạt động này cũng lần lượt được đề cập Ở phần cuối chương, cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng tại Việt Nam và các quy định được áp dụng tương đối phổ biến trên thế giới là hướng dẫn
định giá chuyển nhượng của OECD được trình bày
Chương 2: Thực trạng tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2006 tới cuối năm 2007
Ở chương này, bài viết phân tích thực trạng kiểm soát và thực thi các quy định về định giá chuyển nhượng trên thế giới thông qua khảo sát của một số công ty tư vấn lớn toàn cầu Tiếp đến, sơ nét về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 1988-2007 cùng khái quát thực trạng định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp trên được giới thiệu Nội dung chính của chương 2 là phần phân tích kết quả khảo sát tình hình tuân thủ các quy định của Thông tư thông qua bảng câu hỏi và tham khảo ý kiến chuyên gia Kết quả khảo sát được kiểm chứng lại bằng cách so sánh với khảo sát trên phạm vi thế giới của Ernst and Young, Singapore thực hiện vào cuối năm 2005
Chương 3: Giải pháp bảo đảm việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển
nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Mục tiêu của chương này là đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp bảo đảm việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng tại Việt Nam Căn cứ để đề xuất giải pháp là những quy định hiện hành về giá chuyển, những khó khăn và hạn chế mà doanh nghiệp đang gặp phải trong quá trình thực thi, và tồn tại của các quy định hiện hành Chín giải pháp đã được đề xuất và phân tích liên quan đến nhận thức về các quy định hiện hành, các chính sách và hồ sơ về giao dịch liên kết, cũng như hoạt động kiểm tra và giải quyết khó khăn trong quá trình xây dựng và thực hiện quy trình định giá
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
NHƯỢNG
1.1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Dưới đây, tác giả sẽ đưa ra một số khái niệm thường gặp của định giá chuyển nhượng
1.1.1.1 GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (“Organisation of Economic operation and Development”/“OECD”) trong hướng dẫn về việc xác định giá
Co-chuyển nhượng: “Giá Co-chuyển nhượng là giá áp dụng cho mục đích ghi sổ, dùng để định giá giao dịch giữa các công ty thành viên, được thống nhất quản lý với mức giá ảo cao hay thấp nhằm tác động vào các khoản phải trả cho thu nhập hoặc chuyển vốn giữa các công ty thành viên này”
Theo Wrappe, Steven C., Ken Milani, và Julie Joy, giá chuyển nhượng là “giá mà tại đó doanh nghiệp chuyển giao hàng hóa, tài sản vô hình hoặc cung cấp dịch vụ cho một bên liên kết như công ty mẹ hay một công ty con”
Theo Marshall, Jeffrey, và Ellen M Heffes, “Giá chuyển nhượng đề cập đến giá
mà ở đó giao dịch giữa các đơn vị của những công ty đa quốc gia được thực hiện, bao gồm việc chuyển giao nội bộ về hàng hóa, bất động sản, dịch vụ, các khoản vay
và thuê”
Tóm lại, giá chuyển nhượng (“transfer price”) là “giá hàng hóa, tài sản và dịch vụ chuyển giao nội bộ giữa các công ty cùng tập đoàn Mức giá này được xác định sao cho tối đa hóa lợi ích của tập đoàn thông qua việc tận dụng những khác biệt về thuế suất, các quy định về quản lý xuất nhập khẩu và đầu tư ở các quốc gia”
Trong vài thập niên gần đây, nhiều quốc gia cũng đã xác lập nhiều quy định nhằm kiểm soát hoạt động định giá chuyển nhượng này Hầu hết các quốc gia đều đặt ra
“nguyên tắc giá thị trường” cho việc định giá chuyển nhượng
1.1.1.2 NGUYÊN TẮC GIÁ THỊ TRƯỜNG
Nguyên tắc giá thị trường (“arm’s length principle”) được sử dụng khá phổ biến
Trang 15trong việc xác định tính hợp lý của các giao dịch liên kết ở nhiều quốc gia trên thế giới
Theo Điều 9 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (“DTA”) và Hướng dẫn của OECD
“[Khi] điều kiện được đưa ra hoặc áp dụng giữa …hai xí nghiệp [liên kết] trong mối quan hệ thương mại hoặc tài chính khác với những điều kiện được đưa ra giữa các
xí nghiệp độc lập, lúc đó mọi khoản lợi tức mà một xí nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay vì những điều kiện này mà xí nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn bị tính vào các khoản lợi tức của xí nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng”
Theo điều 136AA(3)(d) Luật thuế thu nhập của Úc “tham chiếu giá thị trường tự
do đối với việc nhận được tài sản là tham chiếu những kết quả hợp lý được mong đợi hay đã được thực hiện nếu tài sản này được trao đổi theo một thỏa thuận giữa các bên độc lập giao dịch với nhau trên cơ sở không quen biết”
Theo điều 13 Luật thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài của Trung Quốc: “Việc nhận hay trả các khoản tiền và phí trong các nghiệp
vụ giao dịch của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập hay cư trú tại Trung Quốc và các doanh nghiệp liên kết khác phải được thực hiện theo cách thức mà các doanh nghiệp độc lập khác thu hay chi trả Nếu việc thu hay chi trả các khoản tiền và phí này không được thực hiện theo đúng cách thức mà các doanh nghiệp độc lập thực hiện và dẫn đến kết quả là làm giảm thu nhập chịu thuế,
cơ quan thuế có quyền thực hiện các điều chỉnh hợp lý”
Nói một cách đơn giản, nguyên tắc giá thị trường là nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng tuân thủ theo điều kiện khách quan của thị trường cạnh tranh, như thể các giao dịch này được thực hiện giữa các đơn vị độc lập
1.1.1.3 QUAN HỆ LIÊN KẾT
Các quy định về định giá chuyển nhượng trên thế giới đều hướng đến việc kiểm soát giá giao dịch của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết với nhau Về nguyên tắc chung, hai công ty có quan hệ liên kết với nhau khi một công ty có thể kiểm soát hay có ảnh hưởng trọng yếu lên những quyết định kinh doanh, và việc điều hành
Trang 16hoạt động của công ty kia hoặc cả hai công ty đều dưới quyền kiểm soát của một công ty khác Trên nguyên tắc chung đó, mỗi quốc gia lại có tiêu chí khác nhau để xác định “quyền kiểm soát” hay “ảnh hưởng trọng yếu” Thông thường, hai công ty được coi là có quan hệ liên kết với nhau khi công ty này nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp tối thiểu 20% quyền biểu quyết của công ty kia
Theo thông tư 117/2005/TT-BTC, hai cơ sở kinh doanh được xem là có quan hệ liên kết với nhau khi một cơ sở kinh doanh:
Nắm giữ tối thiểu 20% vốn cổ phần trực tiếp hoặc gián tiếp của cơ sở kinh doanh kia;
Là cổ đông lớn nhất chiếm giữ hơn 10% cổ phần của cơ sở kinh doanh kia;
Cung cấp hơn 50% khoản vay hoặc bảo lãnh (vay trung và dài hạn);
Có hơn 50% số thành viên trong ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát;
Có một thành viên trong ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát có quyền quyết định về tài chính hoặc kinh doanh;
Có quan hệ trụ sở chính với cơ sở thường trú hoặc cơ sở thường trú với nhau;
Có hơn 50% giá vốn hoặc giá thành là chi phí về tài sản vô hình và/hoặc quyền sở hữu trí tuệ do một đối tác cung cấp;
Cung cấp hơn 50% giá trị đầu vào (trực tiếp hoặc gián tiếp) cho cơ sỏ kinh doanh kia;
Kiểm soát hơn 50% sản lượng tiêu thụ (trực tiếp hoặc gián tiếp) của cơ sở kinh doanh kia;
Có quan hệ gia đình với cơ sở kinh doanh kia;
Có mối quan hệ hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với cơ sở kinh doanh kia
1.1.1.4 THỎA THUẬN XÁC ĐỊNH GIÁ TRƯỚC
Trong một số trường hợp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc định giá chuyển nhượng do không thống nhất được với cơ quan thuế về giá chuyển nhượng phù hợp Một số những nguyên nhân khác có thể kể đến như doanh nghiệp không thể tìm ra giá thị trường để so sánh với giao dịch với bên liên kết hoặc do giao dịch mang tính đặc thù trên thị trường Vì vậy, cơ quan thuế và doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với
Trang 17nhau nhằm giải quyết những bất đồng nêu trên Sự thỏa thuận đó tạm dịch là “thỏa thuận xác định giá trước” (“Advance Pricing Arrangements”)
Theo định nghĩa của OECD về Hướng dẫn định giá chuyển nhượng, thỏa thuận xác định giá trước là một thỏa thuận giữa bên nộp thuế, gồm một hay một số doanh nghiệp liên kết, với một hay một số cơ quan thuế nhằm xác định trước một loạt những tiêu chuẩn như phương pháp định giá, các giả định kinh tế, các dự báo của các giao dịch về định giá chuyển nhượng trong một khoảng thời gian cố định
Thông qua thỏa thuận xác định giá trước, các tập đoàn có thể giảm bớt những khác biệt trong việc định giá chuyển nhượng với cơ quan thuế, nhờ đó mà việc kinh doanh giữa các đơn vị thành viên trong tập đoàn sẽ trở nên suôn sẻ và tốn ít thời gian hơn
1.1.2 BẢN CHẤT CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Theo phân tích trong sách giáo khoa chuyên ngành của BPP (năm 2006), môn 3.7 – Quản trị Chiến lược Tài chính (“BPP Professional Education (2006), Paper 3.7 Strategic Financial Management”), trang 501 – 506, khi một công ty con ở nước ngoài tạo ra lợi nhuận thì khoản lợi nhuận đó được tính vào tổng lợi nhuận của tập đoàn Vì vậy, công ty mẹ phải quyết định hai vấn đề chính:
+ Phân bổ tổng lợi nhuận đó của tập đoàn cho bản thân công ty mẹ và các công ty con như thế nào và;
+ Cách thức công ty mẹ nhận lại khoản lợi nhuận mà họ muốn nhận từ mỗi công ty con
Ví dụ, công ty mẹ ở Mỹ xuất một lô hàng có giá vốn là 40.000 USD sang công ty con ở Anh với giá bán là 50.000 bảng, tương đương với 75.000 USD Qua đó, tập đoàn đa quốc gia này của Mỹ đã thu được khoản lợi nhuận là 35.000 USD Như vậy, công ty mẹ ở Mỹ và công ty con ở Anh sẽ nhận được bao nhiêu từ khoản lợi nhuận 35.000 USD này?
Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào giá chuyển nhượng mà công ty mẹ ở Mỹ bán lại cho công ty con ở Anh Giá chuyển nhượng này do Ban Giám đốc quyết định và do đó,
Trang 18chia sẻ tổng lợi nhuận đó cho công ty mẹ và công ty con theo hướng có lợi nhất cho tập đoàn
+ Nếu giá chuyển nhượng là 45.000 USD, thì công ty mẹ thu được lợi nhuận là 5.000 USD và công ty con có được khoản lợi là 30.000 USD
+ Nếu giá chuyển nhượng là 70.000 USD, thì công ty mẹ sẽ đạt mức lợi nhuận 30.000 USD và công ty con lợi 5.000 USD
Như vậy, bản chất của hoạt động định giá chuyển nhượng có thể tóm tắt ở những ý chính sau:
Quản lý nguồn vốn đầu tư: thông qua việc tính toán mức lợi nhuận giữ lại;
Tối thiểu hóa thuế phải nộp bao gồm thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế trên tư bản tăng thêm (“capital gains”);
Tối đa hoá lợi nhuận của tập đoàn;
Giảm thiểu rủi ro: tối thiểu hóa việc chuyển ngoại hối giữa các công ty trong cùng tập đoàn;
Bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ
CỦA GIAO DỊCH LIÊN KẾT
Theo chương 2 trong Hướng dẫn của OECD, có ba phương pháp xác định giá thị trường của các giao dịch liên kết Các phương pháp đó bao gồm:
1.2.1 PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH GIÁ GIAO DỊCH ĐỘC LẬP (“comparable uncontrolled price method”)
Phương pháp này so sánh giá hàng hóa/dịch vụ/tài sản chuyển giao trong giao dịch liên kết với giá của giao dịch độc lập trong cùng những điều kiện so sánh Sự khác biệt trong hai mức giá trên có thể xuất phát từ mối quan hệ thương mại hay tài chính của hai bên liên quan trong giao dịch không phải là hoàn toàn độc lập với nhau Trong trường hợp này, giá của giao dịch độc lập sẽ được sử dụng để tính thuế Tuy nhiên, việc tìm ra được giao dịch độc lập có điều kiện hoàn toàn tương đồng với giao dịch liên kết là rất khó khăn Do vậy, trên thực tế, ta sẽ cần phải có một số điều chỉnh phù hợp để có được mức giá so sánh
Trang 191.2.2 PHƯƠNG PHÁP GIÁ BÁN LẠI (“resale price method”)
Phương pháp này lấy giá mà doanh nghiệp bán lại sản phẩm đã mua từ bên liên kết cho một doanh nghiệp độc lập, trừ lợi nhuận gộp hợp lý của việc bán lại (đây là mức lợi nhuận có được sau khi trừ đi các chi phí bán hàng và chi phí kinh doanh cần thiết khác), trừ cho những chi phí mua hàng liên quan như thuế nhập khẩu Nhược điểm của phương pháp này là việc xác định mức lợi nhuận gộp hợp lý hoàn toàn không dễ vì khó tìm ra doanh nghiệp độc lập có hoạt động hoàn toàn giống với doanh nghiệp có giao dịch liên kết Việc tính toán trên sẽ phức tạp hơn nếu doanh nghiệp bán hàng qua một trung gian và phải trả hoa hồng theo doanh thu bán hàng
1.2.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁ VỐN CỘNG LÃI (“cost plus method”)
Phương pháp này dùng chi phí phát sinh của bên liên kết cung cấp hàng hóa/dịch
vụ cho doanh nghiệp cộng với một mức lãi hợp lý trong điều kiện thị trường để có giá giao dịch độc lập Cách tính này hữu dụng đối với những giao dịch của bán thành phẩm Một lần nữa, việc xác định mức lãi hợp lý trong điều kiện thị trường là một phép tính phức tạp
Ngoài ra, chương 3 trong Hướng dẫn của OECD còn dẫn ra một số phương pháp khác tương đương với 3 phương pháp xác định giá thị trường trên được chấp nhận khi doanh nghiệp không thể áp dụng các phương pháp trên một cách đáng tin cậy
Đó là những phương pháp tính lợi nhuận giao dịch dưới đây:
1.2.4 PHƯƠNG PHÁP LỢI NHUẬN GIAO DỊCH
Phương pháp lợi nhuận giao dịch có 2 cách tính:
Phương pháp tách lợi nhuận
Khi các giao dịch liên kết có quan hệ tương hỗ với nhau, doanh nghiệp sẽ rất khó đánh giá mỗi giao dịch một cách độc lập Tương tự như vậy, các thành viên trong tập đoàn có thể quyết định thành lập một hình thức partnership và thống nhất chia
sẻ lợi nhuận Do đó, phương pháp tách lợi nhuận này nhằm hướng tới việc loại trừ tác động của những điều kiện đặc biệt lên lợi nhuận của giao dịch liên kết bằng cách xác định mức chia lợi nhuận mà các thành viên lẽ ra sẽ được nhận khi thực hiện những giao dịch trên
Trang 20Phương pháp tách lợi nhuận trước tiên nhận diện lợi nhuận sẽ được tách cho các bên liên kết trong giao dịch, sau đó, tách lợi nhuận đó cho các bên liên kết căn cứ trên các cơ sở kinh tế học mà bên liên kết dự tính sẽ đạt được trong một hợp đồng tương tự theo giá thị trường Tổng lợi nhuận được nhận diện ban đầu có thể là lợi nhuận tổng cộng của các giao dịch hoặc lợi nhuận còn lại sau khi loại trừ phần lợi nhuận không thể chia cho bất cứ bên liên kết nào như lợi nhuận xuất phát từ những giá trị vô hình Mức đóng góp của mỗi bên liên kết trong giao dịch được xác định dựa trên bảng phân tích chức năng hoạt động như đã trình bày trong phần 1.1.1.6
Ưu điểm của phương pháp này là không cần phải phụ thuộc nhiều vào các giao dịch so sánh cụ thể nên có thể áp dụng trong trường hợp không tìm ra các giao dịch tương tự trên thị trường Hơn nữa, phương pháp này đòi hỏi có sự đối chiếu giữa các bên liên kết nên có thể kiểm tra một cách toàn diện
Hạn chế của phương pháp này là tính chủ quan trong việc xác định mức đóng góp của các bên liên kết trong giao dịch Hơn nữa, cơ quan thuế sẽ gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin của bên liên kết ở nước ngoài và sẽ càng khó hơn nếu doanh nghiệp bị kiểm tra không quản lý giá chuyển theo phương pháp tách lợi nhuận
Phương pháp lợi nhuận thuần của giao dịch
Phương pháp lợi nhuận thuần của giao dịch kiểm tra mức lợi nhuận thuần của một
số cơ sở tính thuế như chi phí, doanh thu hoặc tài sản mà doanh nghiệp có được từ các giao dịch liên kết Vì vậy, phương pháp này gần giống với phương pháp giá vốn cộng lãi hay phương pháp giá bán lại Điều này có nghĩa là để áp dụng phương pháp này một các đáng tin cậy, ta cần áp dụng thống nhất các bước trong phương pháp giá vốn cộng lãi và giá bán lại Cụ thể, mức lợi nhuận thuần từ các giao dịch liên kết của doanh nghiệp phải được so sánh với mức lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp sẽ
có được trong các giao dịch độc lập Nếu doanh nghiệp không tìm ra những thông tin trên thì mức lợi nhuận thuần của một đơn vị độc lập có giao dịch tương tự sẽ được tham khảo Như vậy, một phân tích chức năng khác của doanh nghiệp và của đơn vị độc lập cần được thực hiện để xác định liệu những giao dịch đó có tương đương với nhau hay không và những điều chỉnh nào cần có
Trang 21Ưu điểm của phương pháp này là cách tính không phụ thuộc nhiều vào từng giao dịch đơn lẻ, không cần xác định chức năng và trách nhiệm của bên liên kết khác Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp này là mức lợi nhuận thuần có thể chịu tác động của một số yếu tố không liên quan, ít liên quan hoặc không liên quan trực tiếp lên giá và lãi gộp Điều này làm ảnh hưởng đến tính chính xác và độ tin cậy của phép tính Thêm vào đó, phương pháp này đòi hỏi phải có thông tin của giao dịch độc lập mà những thông tin này có thể không có sẵn tại thời điểm so sánh Đồng thời, phương pháp này chỉ xem xét bản thân doanh nghiệp và không kiểm tra bên liên kết Việc xác định điều chỉnh thuế trong phương pháp này sẽ khó khăn hơn nếu các bên liên kết vừa có quan hệ mua lẫn bán với nhau vì việc điều chỉnh giá giá mua sẽ ảnh hưởng đến giá thành và do đó, cũng ảnh hưởng đến giá bán
GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG
Theo sách giáo khoa chuyên ngành của BPP (năm 2006), môn 3.3 – Quản trị hiệu quả kinh doanh (“BPP Professional Education (2006), Paper 3.3 Performance Management”), trang 533 – 559, việc xác định mức giá chuyển nhượng là một điều hoàn toàn không đơn giản, đặc biệt đối với các tập đoàn hoạt động trên nhiều nước
Có thể kể đến một số nhân tố tác động sau đây:
1.3.1 BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ
Giá trị của lô hàng chuyển giữa các trung tâm lợi nhuận (“profit centers”) ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào biến động tỷ giá hối đoái của đồng tiền
1.3.2 CHÊNH LỆCH MỨC THUẾ SUẤT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP GIỮA CÁC QUỐC GIA
Nếu thuế thu nhập doanh nghiệp của quốc gia A là 20% và quốc gia B là 50% thì hiển nhiên các doanh nghiệp sẽ thao túng lợi nhuận bằng cách tăng/giảm giá chuyển nhượng hay công ty ở quốc gia A thu phí “dịch vụ” của công ty con hoạt động ở quốc gia B để tối đa hóa lợi nhuận của công ty ở quốc gia A và giảm lợi nhuận của quốc gia B
Trang 221.3.3 THUẾ NHẬP KHẨU
Giả sử quốc gia A đánh thuế nhập khẩu 20% trên giá trị hàng hóa Một công ty đa quốc gia có một công ty con hoạt động trên quốc gia này và cần nhập khẩu hàng từ công ty liên quan ở quốc gia B Trong trường hợp này, tập đoàn sẽ giảm thiểu chi phí bằng cách định một giá chuyển nhượng tối thiểu cho lô hàng
1.3.4 KIỂM SOÁT NGOẠI HỐI
Nếu một quốc gia có những quy định hạn chế việc chuyển lợi nhuận từ một công
ty con trong nước sang công ty mẹ ở nước ngoài, thì tập đoàn có thể vượt qua rào cản đó bằng cách công ty mẹ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho công ty con và tính một giá thật cao nhằm biến lợi nhuận của công ty con thành doanh thu của công
ty mẹ và chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác một cách hợp pháp Tuy nhiên, vấn đề đạo đức kinh doanh cần được xem xét đến
và đầu ra, các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn có thể xác định được một mức giá
“lý tưởng” trong tập đoàn nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
1.3.7 BẢO TOÀN GIÁ TRỊ VỐN ĐẦU TƯ
Bằng cách tính giá cao trên hàng hóa hay dịch vụ chuyển cho công ty con hoạt động ở quốc gia có lạm phát cao, lợi nhuận của công ty con sẽ giảm và vốn được bảo tồn, chuyển dần về nước
NHƯỢNG
Theo sách giáo khoa chuyên ngành của BPP (năm 2006), môn 3.3 – Quản trị hiệu
Trang 23quả kinh doanh (“BPP Professional Education (2006), Paper 3.3 Performance Management”), trang 533 – 559, vai trò và mặt trái của việc định giá chuyển nhượng như sau:
1.4.1 VAI TRÒ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG
Tối thiểu hóa mức thuế doanh thu hay thuế quan phải nộp do có sự chênh lệch về mức thuế suất giữa các quốc gia Một công ty đa quốc gia sẽ tối đa hóa chi phí tại một nước có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập ở nước có thuế suất thấp Cách định giá chuyển nhượng của công ty đa quốc gia tại một nước có thuế suất cao là định giá cao ở các đầu vào nhập khẩu và định giá thấp ở các đầu ra xuất khẩu
Hạn chế những rủi ro về biến động tỷ giá và chi phí cơ hội của việc đầu tư: Việc tồn tại nhiều loại tiền tệ và sự biến động của tỷ giá ngoại tệ tạo nên rủi ro đối với các giao dịch trong nội bộ một công ty đa quốc gia Để khắc phục điều này, các công ty đa quốc gia thường thay đổi thời gian thanh toán: thanh toán trước khi thực hiện giao dịch nếu như đồng tiền thanh toán có khuynh hướng giảm giá trị và ngược lại Ngoài ra, chi phí cơ hội cũng là một động cơ của việc định giá cao nếu như công
ty mẹ chỉ có thể nhận được lợi nhuận chuyển về từ công ty con sau một năm tài khoá và đã được sự kiểm tra của cơ quan thuế và cơ quan quản lý ngoại hối
Vượt qua những hạn chế về mặt pháp lý trong việc chuyển lợi nhuận về nước bằng cách áp dụng việc định giá cao các khoản thanh toán thương mại và phi thương mại, như tiền bản quyền, chi phí quản lý và tiền lãi cho số nợ từ công ty mẹ
Đối phó với việc Chính phủ nước nhận đầu tư buộc doanh nghiệp phải tham gia với các đối tác trong nước, công ty đa quốc gia sẽ định giá cao đối với hàng hóa nhập khẩu của công ty nhằm: (i) tăng giá trị vốn góp đầu tư ban đầu; (ii) tăng vốn góp trong liên doanh; và (iii) cấu kết với đối tác trong nước với mục đích đầu cơ hay để bán lại trên thị trường chợ đen
Hạn chế ảnh hưởng của môi trường kinh doanh và các áp lực chính trị - xã hội: định giá chuyển nhượng được sử dụng để chuyển lợi nhuận ra khỏi một quốc gia để nhằm tránh những chi phí giao dịch và những rủi ro mang tính chính trị Tương tự,
Trang 24định giá chuyển nhượng cũng được sử dụng để tránh các áp lực đòi tăng lương khi lợi nhuận đạt được ở mức tương đối cao
Hạn chế những đe dọa trực tiếp đến lợi nhuận: mức lợi nhuận của một công ty con đạt được cao có thể dẫn đến các áp lực cho công ty đa quốc gia từ Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc tăng thuế hay yêu cầu công ty đa quốc gia tham gia với nhiều đối tác trong nước hơn nhằm giữ lại lợi tức thu được đó ở lại trong nước
Các công ty đa quốc gia có thể thực hiện chuyển giá để bù đắp cho những lỗ lã ở chính quốc do phải đầu tư nhiều cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm ngăn chặn sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh ngay trên “sân nhà”
Có những công ty đa quốc gia tổ chức những công ty con như là một trung tâm lợi nhuận Để đạt được mục tiêu lợi nhuận cộng với mục tiêu chiến lược của công ty đa quốc gia thì các công ty con này sẽ được công ty mẹ độc quyền ra quyết định về chiến lược và cung cấp các đầu vào của sản xuất phục vụ cho chiến lược đó Mức
độ thống nhất và kiểm soát trong tập đoàn càng lớn thì hành vi định giá chuyển nhượng càng dễ xảy ra
Định giá chuyển nhượng cũng được thực hiện khi các sản phẩm được chuyển giao
có tính chuyên biệt cao nhằm tránh rủi ro có thể xảy ra khi giao dịch ngoài thị trường tự do
Định giá chuyển nhượng cũng có khi được sử dụng nhằm mục đích thâm nhập thị trường: bằng cách định giá thấp các sản phẩm đầu ra bán trong thị trường nước nhận đầu tư, các công ty đa quốc gia - với tiềm lực tài chính khổng lồ sẽ dần chiếm lĩnh thị trường từ các đối thủ cạnh tranh trong nước có tiềm lực nhỏ hơn Với công
ty đa quốc gia, trong thời điểm ban đầu khi mới xâm nhập vào thị trường thì việc chinh phục thị phần có phần quan trọng hơn là thu được lợi nhuận vì lỗ trong giai đoạn này có thể được bù đắp trong giai đoạn khác của quá trình sản xuất
1.4.2 MẶT TRÁI CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG ĐỐI VỚI QUỐC GIA NHẬN ĐẦU TƯ
Vốn nước ngoài có thể bị chuyển dần ra khỏi nước tiếp nhận đầu tư
Các nước tiếp nhận đầu tư và nước chủ nhà sẽ thất thu thuế nghiêm trọng do cơ sở
Trang 25NHƯỢNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH
Cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng trong hoạt động đầu tư của Bộ Tài chính được thể hiện trong Thông tư số 117/2005/TT-BTC (“Thông tư”) ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 1 năm 2006, Thông tư số 37/QD-BTC ban hành ngày 4 tháng 1 năm 2006, Thông tư 115/2005/TT-BTC (16/12/2005) và Thông tư 119/2003/TT-BTC (12/12/2003)
Đề tài này chủ yếu đi vào giới thiệu đôi nét về Thông tư số 117/2005/TT-BTC, một thông tư tương đối đầy đủ, toàn diện và cập nhật nhất về kiểm soát giá chuyển nhượng tại Việt Nam
Đối tượng áp dụng của Thông tư là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây được gọi chung là các cơ sở kinh doanh) thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam có giao dịch kinh doanh với các bên có quan hệ liên kết có nghĩa vụ kê khai, xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
Phạm vi áp dụng là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, chuyển giao hoặc chuyển nhượng hàng hóa, dịch vụ trong quá trình kinh doanh (được gọi chung
là giao dịch kinh doanh) giữa các bên có quan hệ liên kết
Bên có quan hệ liên kết được định nghĩa trong Thông tư được áp dụng luật 20% quyền sở hữu, nghĩa là một cơ sở kinh doanh nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất
Trang 2620% vốn cổ phần hoặc tổng tài sản của cơ sở kinh doanh kia
Yêu cầu chung của các thông tư này là các giao dịch liên kết phải được so sánh với giá thị trường Việc này thực hiện thông qua so sánh giá, hoặc gián tiếp thông qua
so sánh lợi nhuận Doanh nghiệp có trách nhiệm chứng minh các giao dịch liên kết của mình được thực hiện theo giá thị trường Để đáp ứng yêu cầu này, doanh nghiệp phải lập lưu trữ hồ sơ xác định giá tại thời điểm giao dịch Hồ sơ này khác với hồ sơ tạo lập trong giao dịch thông thường, được sử dụng nhằm xác định giá của giao dịch như hóa đơn, hợp đồng,…Trường hợp doanh nghiệp không cung cấp hồ sơ xác định giá, cơ quan thuế có quyền ấn định giá và việc này có thể gây ra những hậu quả xấu ngoài dự kiến liên quan đến nghĩa vụ thuế và lợi nhuận của doanh nghiệp
Mặc dù không có các dẫn chiếu đến Hướng dẫn của OECD, nhưng Thông tư về định giá chuyển nhượng của Việt Nam về cơ bản, thống nhất với các hướng dẫn về định giá chuyển nhượng của OECD và các cơ quan thuế Việt Nam có vẻ chuẩn bị
áp dụng các thông lệ quốc tế trong cơ chế định giá chuyển nhượng
Nhìn chung, phương pháp được sử dụng để xác định giá giao dịch độc lập trong Thông tư bao gồm:
+ Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập
+ Phương pháp giá bán lại
+ Phương pháp giá vốn cộng lãi
+ Phương pháp so sánh lợi nhuận
+ Phương pháp tách lợi nhuận
Bắt đầu từ năm 2006, doanh nghiệp phải kê khai các giao dịch với bên liên quan
và phương pháp tính giá trong bảng quy định và nộp cho cơ quan thuế trong vòng
90 ngày sau ngày kết thúc niên độ Thêm vào đó, doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy
đủ hồ sơ trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thuế Nếu
có lý do chính đáng, doanh nghiệp được gia hạn thêm 30 ngày
Tuy nhiên, Thông tư không nêu ra những yêu cầu đối với doanh nghiệp trong thời gian quá độ, cũng như không chỉ rõ chi cục thuế địa phương hay một đội điều tra đặc biệt của Tổng cục thuế sẽ thực hiện kiểm tra việc định giá chuyển nhượng Nếu
Trang 27việc điều tra được thực hiện bởi chi cục thuế địa phương thì việc tồn tại những bất nhất trong cách thức điều tra giữa các chi cục là điều không tránh khỏi
Thỏa thuận giá trước cũng không được đề cập trong Thông tư Và ta có thể giả định luật cho phép điều đó Các công ty đa quốc gia cần thỏa thuận giá trước để hoạch định chiến lược định giá chuyển nhượng của họ Do vậy, thỏa thuận giá trước cần được sử dụng như một công cụ để doanh nghiệp thống nhất trước chính sách định giá chuyển nhượng, phương pháp tính giá trong các giao dịch liên kết với cơ quan thuế nằm tránh những tranh cãi, đánh thuế hai lần hay phạt thuế sau này
NHƯỢNG
Các cơ quan thuế đều nhận ra việc các công ty dùng giá chuyển nội bộ để tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế nhập khẩu Do đó, mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau để kiểm soát vấn đề trên Về nguyên tắc chung, hầu hết các quy định này đều căn cứ theo Hướng dẫn của OECD năm 1995 và các văn bản cập nhật sau này Các quy định này hướng tới việc chuẩn hóa các cách tiếp cận về giá chuyển của các nước và hướng dẫn áp dụng nguyên tắc giá thị trường Theo hướng dẫn này, giá thị trường có thể xác định theo hai phương pháp:
+ Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập và;
+ Phương pháp lợi nhuận giao dịch
Hiện nay, trong xu hướng quốc tế hóa và hợp tác hóa cao độ, việc xác nhập, mua lại, hợp tác kinh doanh, thay đổi hình thức sở hữu, v.v trở nên ngày càng phổ biến
Vì vậy, bên cạnh việc tận dụng việc xác định giá chuyển nhượng trong các giao dịch thường nhật như mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thu phí bản quyền,…, các công ty đa quốc gia còn sử dụng công cụ định giá chuyển nhượng để kiểm soát giá trị doanh nghiệp và giá trị đầu tư Vì vậy, để hướng dẫn về giá chuyển nhượng sát với thực tế, OECD đang tập trung vào những giao dịch mang tính phức tạp này, đặc biệt là hoạt động tái cơ cấu lại doanh nghiệp Một số vấn đề hiện được OECD nghiên cứu là:
Các giao dịch về thanh lý giả định và chi phí rời khỏi thị trường;
Trang 28 Việc chuyển nhượng của bí quyết công nghệ;
Các quy định về giao dịch giả định khi tái cơ cấu lại doanh nghiệp;
Các vấn đề về định giá
Bên cạnh đó, OECD cũng đang trong quá trình hoàn thiện những hướng dẫn đã ban hành trước đó bằng cách soát xét lại phương pháp lợi nhuận, các cơ sở dùng để
so sánh, cụ thể bao gồm những vấn đề sau:
Tiêu chuẩn hóa việc sử dụng phương pháp lợi nhuận;
Cải thiện quá trình định giá chuẩn (“benchmarking”);
Thống nhất cách tốt nhất để tìm kiếm dữ liệu so sánh giá
Những mối quan tâm này của OECD chắc chắn là những vấn đề mà cơ quan thuế của nhiều quốc gia đang gặp phải Điều này hứa hẹn trong tương lai không xa quy định về xác định giá chuyển nhượng sẽ có thêm những bước hoàn thiện mới Điều này đồng nghĩa với việc các công ty đa quốc gia cũng sẽ khó khăn hơn trong quá trình xác định một giá trị giao dịch với bên liên kết hợp lý
Trang 291.7 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, ở chương 1 này, bài viết đã đi vào giới thiệu các cơ sở lý luận của việc định giá chuyển nhượng Định giá chuyển nhượng là việc xác định giá hàng hóa hay dịch vụ chuyển giao giữa các bên liên kết sao cho đạt được lợi ích cao nhất với mức thuế thấp nhất cho tập đoàn Bản chất của việc định giá chuyển nhượng là nhằm phân bổ lợi nhuận trong tập đoàn cho các công ty con sao cho tối ưu hóa lợi ích của
cả tập đoàn và là cách thức để chuyển khoản lợi nhuận từ công ty con về công ty
mẹ Việc định giá này có thể thực hiện trên cơ sở giá vốn cộng lãi, giá thị trường hay giá thỏa thuận Giá chuyển nhượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như biến động của tỷ giá, chênh lệch mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các nước, thuế nhập khẩu, kiểm soát ngoại hối, luật chống phá giá, áp lực cạnh tranh,…
Việc định giá chuyển nhượng cho phép các tập đoàn điều tiết lợi nhuận ở các công
ty con theo hướng có lợi nhất cho tập đoàn và giúp tập đoàn vượt qua một số rào cản về ngoại hối, cạnh tranh, …Tuy nhiên, giá chuyển nhượng không hợp lý sẽ gây thất thu thuế ở những quốc gia có thuế suất cao, chuyển dần nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài, tạo ra môi trường đầu tư không lành mạnh, dẫn đến thua lỗ trong các liên doanh, và làm thay đổi đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc gia
Nhiều quốc gia đã đưa ra một số quy định nhằm kiểm soát việc định giá chuyển nhượng Các quy định này hầu hết dựa trên hướng dẫn của OECD năm 1995 quy định giá chuyển nhượng phải được xác định theo nguyên tắc giá thị trường Ở Việt Nam, Thông tư ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2005 có hiệu lực từ ngày 26 tháng
1 năm 2006 là văn bản chính quy định việc định giá chuyển nhượng
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH
VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 TỚI CUỐI NĂM 2007
GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC QUY ĐỊNH ĐÃ BAN HÀNH
2.1.1.1 CÁC QUỐC GIA ĐÃ XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH
VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG
Cho đến nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều đã ít nhiều nhận ra được vai trò và mặt trái của việc xác định giá chuyển nhượng trong giao dịch giữa các bên liên kết Trong đó, tác động lớn nhất lên quốc gia nhận đầu tư chính là việc thất thu thuế
Sau khi hướng dẫn của OECD về định giá chuyển nhượng được ban hành vào năm
1995, ngày càng có nhiều quốc gia áp dụng nguyên tắc giá thị trường, các phương pháp tính giá thị trường nêu trong hướng dẫn của OECD để xây dựng những thông
tư và những quy định riêng về định giá chuyển nhượng cho quốc gia của mình
Ở Châu Âu, liên minh Châu Âu đã ban hành hướng dẫn của EU về định giá chuyển nhượng (“the EU Code of Conduct on transfer pricing”) với một số yêu cầu
về định giá chuyển nhượng được đơn giản hóa nhằm trở thành công cụ hữu ích cho các quốc gia thành viên
Châu Mỹ Latin cũng không ngoại lệ Những quốc gia như Mexico, Argentina, Brazil, Venezuela, Chile, Colombia, Peru và Ecuador đã thi hành những quy định
và luật về định giá chuyển nhượng theo nguyên tắc giá thị trường, trừ Brazil
Việc định giá chuyển nhượng cũng trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của các cơ quan thuế Châu Á và ngày càng có nhiều nước ban hành các quy định liên quan Ở Trung Quốc, cơ quan thuế có quy định mới về lập hồ sơ định giá chuyển nhượng ngay khi giao dịch diễn ra Quy định này yêu cầu các doanh nghiệp
Trang 31có vốn đầu tư nước ngoài thuyết minh và lưu hồ sơ các giao dịch với bên liên kết để chứng minh giao dịch đó đã tuân thủ theo nguyên tắc giá thị trường
Hướng dẫn về định giá chuyển nhuợng tại Việt Nam áp dụng nguyên tắc giá thị trường và một số nguyên tắc chính của Hướng dẫn OECD như các yếu tố so sánh và việc định giá dựa trên các giao dịch đơn lẻ
Ở Hồng Kông, việc định giá chuyển nhượng không phải là một chủ đề “nóng” trước đây Tuy nhiên, khi các giao dịch xuyên quốc gia tăng lên nhanh chóng và thuế suất của nhiều quốc gia khác thấp hơn ở Hồng Kông, thì cục thuế doanh thu (“the Hong Kong’s Inland Revenue Department”) trở nên quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này Cho đến nay, chưa có quy định cụ thể nào của cơ quan thuế Hồng Kông tương đồng với hướng dẫn của OECD
Mỹ là quốc gia đầu tiên áp dụng các luật lệ để kiểm soát việc xác định giá chuyển nhượng vào năm 1994 Một năm sau đó là Úc và Nam Phi Số lượng các quốc gia
áp dụng luật để kiểm soát việc định giá chuyển nhượng gia tăng một cách nhanh chóng sau đó Cho đến năm 2006, cả thế giới có hơn 33 quốc gia có luật về xác định giá chuyển nhượng, trong đó có Việt Nam Bảng 2.1 dưới đây cho thấy, không những các cường quốc kinh tế, các quốc gia phát triển, mà cả những nền kinh tế đang phát triển cũng đã nhận ra tầm quan trọng của việc kiểm soát việc xác định giá chuyển nhượng trong các giao dịch liên kết
Trang 32Bảng 2.1: Các quốc gia áp dụng các quy định về xác định giá chuyển nhượng trong giai đoạn từ 1994-2006
Trang 332.1.1.2 PHÂN NHÓM CÁC CƠ CHẾ KIỂM SOÁT VIỆC ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI
Theo nguyên cứu của Jesper Solgaard, trưởng phòng dịch vụ thuế quốc tế của Ernst & Young, Singapore, có thể chia các quốc gia đã áp dụng quy định để kiểm soát giá chuyển nhượng trong các giao dịch liên kết thành 3 nhóm chính
Nhóm 1: Nhóm đã xây dựng được hệ thống kiểm soát giá chuyển nhượng Đặc điểm của nhóm này là các quốc gia đã xây dựng được một bộ điều lệ hoàn chỉnh để kiểm soát việc định giá chuyển nhượng Các cơ quan thuế đã và đang thi hành các quy định này một cách toàn diện trong một thời gian
Đại diện của nhóm này có thể kể đến như Mỹ, Đức, Italia, Anh, Pháp, Hà Lan,
Úc, Nhật, NewZealand, …
Nhóm 2: Nhóm đã quan tâm đến việc kiểm soát định giá chuyển nhượng
được một thời gian
Điểm nổi bật của nhóm này là các luật lệ đã được ban hành và có hiệu lực Các cơ quan thuế rất tích cực trong việc thi hành các luật lệ Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn
đề nhìn chung vẫn chưa nhất quán (ở Châu Á) hoặc đã được áp dụng nhuần nhuyễn (ở Châu Âu)
Một số đại diện của nhóm này bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hungary, …
Nhóm 3: Nhóm vừa mới quan tâm đến việc kiểm soát định giá chuyển
nhượng
Đặc điểm của nhóm này là cách tiếp cận việc xác định giá chuyển nhượng của các
cơ quan thuế vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi
Một số quốc gia trong nhóm này bao gồm Hồng Kông, Việt Nam, Indonesia, Singapore,…
Nhìn chung, đa số các quốc gia đang chuyển dần sang nhóm hai bằng việc văn bản hóa tất cả các luật lệ liên quan Việc quy định một số hồ sơ bắt buộc (ở Ấn Độ và Đài Loan) được xem như là bước phát triển chính
Trang 34Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi muốn nắm bắt một mô hình chung nhất của cơ chế kiểm soát việc định giá chuyển nhượng Điều đó là do sau một thời gian dài kiểm tra và giám sát, các cơ quan thuế có xu hướng chuyển đối tượng nghiên cứu từ những giao dịch đơn thuần sang các giao dịch phức tạp như quá trình tái cấu trúc tập đoàn, hay việc sử dụng các thỏa thuận về nợ giữa các bên liên kết, v.v…
2.1.2 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI
2.1.2.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA ERNST & YOUNG SINGAPORE TRÊN PHẠM VI TOÀN CẦU
Để hiểu rõ hơn về tình hình áp dụng các quy định về định giá chuyển nhượng trên thế giới, Ernst & Young, Singapore, một trong bốn tập đoàn kiểm toán lớn nhất thế giới, đã thực hiện một khảo sát từ cuối năm 2005 Khảo sát được thực hiện trên 348 công ty mẹ và 128 công ty con ở 22 quốc gia thuộc Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á – Thái Bình Dương Kết quả khảo sát được Jesper Solgaard trình bày trong hội thảo Đỉnh cao Định giá Chuyển nhượng toàn cầu (“Global Transfer Pricing Summit”) do Fortress Intelligence tổ chức vào cuối tháng 4 năm 2007 tại Singapore
Kiểm tra chính sách xác định giá chuyển nhượng của tập đoàn
Khảo sát ở bảng 2.2 dưới đây cho thấy, hơn 2/3 các doanh nghiệp bị kiểm tra về chính sách xác định giá chuyển nhượng, và có gần 50% mẫu kiểm tra dẫn đến những điều chỉnh về giá Điều này cho thấy, vai trò của chính sách xác định giá trong giao dịch liên kết là hết sức quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp tránh được những điều chỉnh thuế sau này Từ những điều chỉnh thuế của cơ quan kiểm tra, có đến 19% doanh nghiệp phải gánh chịu việc đánh thuế hai lần
Nói xét trên khía cạnh từng châu lục, chúng ta thấy rằng những con số khảo sát ở châu Mỹ thì cao hơn số trung bình của thế giới Ngược lại, các chỉ số của Châu Á – Thái Bình Dương lại thấp hơn đáng kể Điều này thể hiện rõ một điều rằng ở những nơi mà các quy định về xác định giá chuyển nhượng đã thực sự đi vào đời sống, đã được hệ thống hóa cao độ thì mức độ soát xét của cơ quan thuế càng khắc khe
Trang 35Thực tế này cho thấy, rủi ro về phạt thuế do xác định giá chuyển nhượng không hợp
lý ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai sẽ rất cao một khi trình độ
kiểm tra của cán bộ thuế được ngày một nâng cao trong khi doanh nghiệp chưa chú
trọng đúng mức đến việc xây dựng chính sách định giá phù hợp
Bảng 2.2: Cơ quan thuế kiểm tra các chính sách về giá chuyển nhượng
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Kiểm tra dẫn đến điều chỉnh giá 44% 55% 21% 42%
Những điều chỉnh giá dẫn đến
đánh thuế hai lần 19% 22% 26% 17%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Một số cách tiếp cận với việc tuân thủ quy định về giá chuyển
Có thể nói, hồ sơ định giá chuyển nhượng trong giao dịch với bên liên kết là bằng
chứng quan trọng chứng minh sự tuân thủ các quy định hiện hành Hồ sơ này được
chuẩn bị như thế nào phản ánh cách nhìn nhận về tầm quan trọng của việc tuân thủ
luật định và trình độ của doanh nghiệp về định giá chuyển nhượng Bởi vì mỗi quốc
gia sẽ có những quy định khác nhau về kiểm soát giá chuyển nhượng, các tập đoàn
đa quốc gia cũng sẽ có những các tiếp cận khác nhau để có được hiệu quả cao nhất
Vậy, đâu là cách tiếp cận chính? Xét trên bình diện thế giới, có đến 33% các tập
đoàn chuẩn bị hồ sơ trên phạm vi toàn cầu Nghĩa là họ sẽ có một bộ phận chuyên
trách kiểm soát giá chuyển nhượng sao cho mang lại hiệu quả cao nhất cho tập
đoàn Tuy nhiên, do luật định rất khác nhau giữa các quốc gia, vì vậy, có 30% tập
đoàn lựa chọn cách chuẩn bị hồ sơ riêng lẻ theo từng quốc gia nhằm tuân thủ tối đa
các yêu cầu của địa phương Đáng nói hơn cả là trên thế giới có đến 33% các doanh
nghiệp chỉ chuẩn bị hồ sơ khi được yêu cầu trên từng quốc gia riêng lẻ Điều này
đặt doanh nghiệp trong một rủi ro rất lớn bởi vì thời hạn bổ sung hồ sơ thường rất
ngắn và việc tìm kiếm những thông tin cần thiết cho hồ sơ là việc làm hoàn toàn
không dễ dàng
Nhìn lại Châu Á, ta thấy gần một nửa doanh nghiệp chỉ chuẩn bị hồ sơ khi cần
thiết Nguyên nhân có thể kể đến là do các quy định về giá chuyển còn quá mới mẻ
Trang 36đối với doanh nghiệp lẫn cơ quan thuế Vì vậy, doanh nghiệp tỏ ra bị động và chưa nhận thức rõ được vai trò của hồ sơ định giá trong giao dịch với bên liên kết
Bảng 2.3: Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á – TBD Châu Âu
Chuẩn bị đồng thời, trên phạm
vi toàn cầu 33% 28% 26% 39% Chuẩn bị riêng lẻ cho từng
quốc gia và điều chỉnh theo luật
địa phương
30% 33% 12% 32% Chỉ chuẩn bị khi cần thiết,
riêng lẻ theo từng quốc gia 33% 35% 47% 27% Không chuẩn bị hồ sơ 4% 4% 16% 2%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Mặc dù hồ sơ về định giá chuyển nhượng là một thủ tục bắt buộc theo luật định nhưng việc nhìn nhận đúng đắn mục đích của việc chuẩn bị hồ sơ sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hồ sơ Trên bình diện toàn cầu, 3 mục đích chính được các doanh nghiệp lựa chọn là cho tính nhất quán, giảm thiểu các rủi ro phạt thuế có thể có và
để đối phó với cơ quan thuế Khả năng thông qua việc chuẩn bị hồ sơ để hoạch định thuế lại không được đánh giá cao Xét trên khu vực châu Á, các doanh nghiệp lại dành 47% cho mục đích giảm thiểu rủi ro Điều đó là do những quy định về định giá chuyển nhượng chưa thực rõ ràng, minh bạch, nên hồ sơ là công cụ chính để các doanh nghiệp tự bảo vệ mình
Bảng 2.4: Mục đích chính của việc chuẩn bị hồ sơ xác định giá chuyển nhượng
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á – TBD Châu Âu
Tính nhất quán 28% 24% 25% 32%
Giảm thiểu rủi ro 24% 20% 47% 22%
Đối phó với cơ chế kiểm soát 18% 26% 11% 14%
Giảm tối đa chi phí tuân thủ 11% 15% 6% 8% Khả năng nhận diện cơ hội hoạch
định thuế 9% 10% 6% 10% Tùy theo trường hợp/quyết định
chiến lược hay đối phó 6% 2% 3% 10% Theo thông lệ/chính sách công ty 3% 2% 3% 3%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Trang 37Khi đánh giá về tầm quan trọng của hồ sơ xác định giá chuyển nhượng so với hai năm trước, thì đa số ý kiến đều cho rằng hiện nay hồ sơ có vai trò quan trọng hơn Điều này phù hợp với xu thế phát triển của các quy định về định giá chuyển nhượng Bởi vì, các cơ quan thuế đang dần chuyển sang giai đoạn văn bản hóa mọi thủ tục và xây dựng hoàn thiện hệ thống kiểm soát Tuy nhiên, ở Châu Á, có đến 40% ý kiến cho rằng vai trò của hồ sơ là như nhau so với hai năm trước Đây là con
số cao nhất so với các khu vực khác Một trong những nguyên nhân chính là do hầu hết các quốc gia châu Á đều trong giai đoạn tìm hiểu và cố gắng hoàn thiện các quy định liên quan
Bảng 2.5: Tầm quan trọng của hồ sơ so với hai năm trước
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Quan trọng hơn 71% 68% 58% 76% Kém quan trọng hơn 2% 2% 2% 2% Quan trọng như nhau 27% 30% 40% 22%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Do có những khác biệt về các quy định định giá chuyển, các giai đoạn phát triển kinh tế, điều kiện kinh tế, v.v…, cách nhìn nhận về những dấu hiệu dẫn đến việc định giá chuyển nhượng không hợp lý cũng khác nhau Theo số liệu khảo sát ở bảng 2.6 ta thấy, trên thế giới, một khi doanh nghiệp bị kiểm tra, các cơ quan Tài chính tăng cường kiểm tra giám sát thì có đến 71% nguy cơ doanh nghiệp bị kiểm tra về việc định giá chuyển nhượng Tiếp đến là việc thay đổi giá chuyển nhượng qua các năm cũng sẽ dẫn đến 60% nguy cơ bị cơ quan thuế kiểm tra về giá chuyển nhượng Bên cạnh đó, những giao dịch có giá trị lớn, những thay đổi trọng yếu về thu nhập chịu thuế, hay những doanh nghiệp khai báo lỗ liên tục trong một số năm cũng là những đối tượng mà các cơ quan thuế nghi vấn Đối với Châu Á, ngoài những dấu hiệu trên, các cơ quan thuế dường như quan tâm nhiều đến những giao dịch phức tạp Điều đó một phần là do tập quán của các doanh nghiệp khu vực này thường sử dụng những giao dịch chồng chéo để che dấu bản chất thực sự của giao dịch
Trang 38Bảng 2.6: Các trường hợp có nguy cơ cao bị kiểm soát về giá chuyển nhượng
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Các cơ quan tài chính gia tăng
việc kiểm tra và đối tượng thi
hành
71% 81% 67% 64%
Thay đổi giá chuyển nhượng 60% 55% 67% 63%
Các giao dịch giá trị lớn 58% 54% 58% 61%
Thay đổi về thu nhập chịu thuế
của doanh nghiệp 56% 50% 42% 64%
Khai báo lỗ 56% 55% 60% 56% Luật lệ mới ban hành 51% 50% 37% 55%
Doanh nghiệp tái cơ cấu lại 50% 45% 35% 59%
Tính phức tạp của giao dịch 48% 47% 60% 47%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Để đánh giá về tầm quan trọng của việc định giá chuyển nhượng đối với doanh
nghiệp, Ernst & Young đã khảo sát bằng cách đưa ra một số hoạt động của doanh
nghiệp để các đối tượng khảo sát lựa chọn hoạt động quan trọng nhất Kết quả cho
thấy, trên bình diện thế giới, định giá chuyển nhượng chiếm vai trò tương đối quan
trọng (38%) và hơi cao hơn công tác hoạch định Tuy nhiên, định giá chuyển
nhượng được đánh giá rất cao (49%) ở châu Á Như vậy, có thể suy luận rằng, nguy
cơ gặp vấn đề về kiểm soát giá chuyển nhượng ở các doanh nghiệp Châu Á là rất
cao, xuất phát bản chất hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.7: Những vấn đề quan trọng nhất đối với tập đoàn
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Định giá chuyển nhượng 38% 27% 49% 43%
Hoạch định 31% 42% 19% 27%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Khi đánh giá mức độ quan trọng của định giá chuyển nhượng trong tương quan với
các vấn đề khác, kết quả cho thấy, định giá chuyển nhượng được đánh giá ở mức
78%, tiếp đến là hoạch định (65%), đánh thuế hai lần đứng ở vị trí thứ 3 với (46%)
Ở Châu Á, việc định giá chuyển nhượng được đánh giá cao hơn 1% so với mức
trung bình của thế giới
Trang 39Bảng 2.8: Ba vấn đề quan trọng nhất đối với tập đoàn (sắp xếp từ 1-3)
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Định giá chuyển nhượng 78% 70% 79% 82% Hoạch định 65% 73% 44% 65%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Như đã phân tích ở trên, việc tuân thủ theo các quy định về định giá chuyển
nhượng có tầm quan trọng đặc biệt trong hầu hết các công ty đa quốc gia Tuy
nhiên, mỗi tập đoàn lại có cách tiếp cận khác nhau, hồ sơ có thể được chuẩn bị trên
phạm vi tập đoàn hay chuẩn bị riêng lẻ theo quốc gia, hoặc chỉ chuẩn bị khi cần
thiết, …Bảng 2.9 dưới đây thể hiện giai đoạn mà công ty mẹ sẽ can thiệp vào hoạt
động định giá chuyển nhượng của công ty con trong giai đoạn hiện nay và 5 năm
trước Kết quả cho thấy, ngày càng có nhiều công ty mẹ can thiệp sớm vào hoạt
động định giá của công ty con từ giai đoạn đưa ra khái niện hay bắt đầu dự án Ở
những quốc gia mà quy định về xác định giá chuyển nhượng đã đi vào hệ thống, thì
công ty mẹ có xu hướng can thiệp càng sớm Ở các nước Châu Á, mặc dù rủi ro vi
phạm các quy định về định giá chuyển nhượng là cao, nhưng hầu hết công ty mẹ chỉ
can thiệp vào giai đoạn bắt đầu dự án hay giai đoạn thực hiện dự án Điều này càng
làm gia tăng thêm rủi ro trong định giá chuyển nhượng
Bảng 2.9: Giai đoạn công ty mẹ can thiệp vào hoạt động
định giá chuyển nhượng của công ty con năm 2005 và 5 năm trước
Toàn cầu Châu Mỹ Châu Á - TBD Châu Âu
Giai đoạn đưa ra khái niệm 41% 24% 47% 28% 22% 22% 38% 22%
Bắt đầu dự án 27% 19% 32% 18% 33% 28% 22% 19%
Giai đoạn giữa/thực hiện 18% 26% 15% 29% 33% 17% 18% 25%
Phần kết luận 6% 15% 3% 18% 6% 22% 9% 12%
Nguồn: Jesper Solgaard, Định giá chuyển nhượng ở Châu Á – Thái Bình Dương
và Châu Âu, Ernst & Young, Singapore [20]
Trang 402.1.2.2 PHÂN TÍCH CỦA KPMG TRÊN PHẠM VI CHÂU Á NĂM 2006
Một số dấu hiệu có thể dẫn đến việc kiểm soát giá chuyển nhượng ở Trung
Quốc, Ấn độ và Nhật Bản
Bộ phận chuyên trách về định giá chuyển nhượng của KPMG, bằng kinh nghiệm
tư vấn của mình ở các nước Châu Á, đã đưa ra một loạt những dấu hiệu thường gặp
nhất, và dễ dẫn đến việc thanh tra về giá chuyển ở một số nước Châu Á, như Trung
Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản Đây là những quốc gia phát triển các quy định về giá
chuyển tương đối sớm so với các quốc gia trong khu vực Nghiên cứu này đi sâu
hơn vào từng dấu hiệu nhưng cũng cho kết quả gần giống với khảo sát của Ernst &
Young Nhìn chung, các giao dịch có giá trị lớn và báo lỗ thường xuyên sẽ là những
đối tượng chính của thanh tra định giá chuyển nhượng Nguyên cứu này còn đưa ra
thêm một dấu hiệu – “giao dịch với các công ty tại vùng có ưu đãi về thuế” Dấu
hiệu này được chú ý đặc biệt ở Trung Quốc và Nhật Bản Điều này xuất phát từ một
thực trạng là các doanh nghiệp khu vực Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan,
thường có xu hướng tạo lập doanh nghiệp ảo tại các vùng có ưu đãi hoặc miễn thuế
như quần đảo Cayman, Bermuda, British Virgin,…và tạo ra các giao dịch ảo,
thường dưới hình thức tư vấn chuyên môn, hỗ trợ kỹ thuật,…để chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài và làm gia tăng chi phí hoạt động, giảm thuế thu nhập
Bảng 2.10: Những căn cứ có thể dẫn tới thanh tra về giá chuyển nhượng ở
một số nước Châu Á (1: cao nhất, 9: thấp nhất)
Căn cứ dẫn đến thanh tra về giá chuyển Trung Quốc Ấn Độ Nhật Bản
Xác định hoặc xác định lại chức năng doanh nghiệp 5 6 2
Thay đổi lớn về lợi nhuận/lỗ từ hoạt động sản xuất
Có giao dịch lớn với bên liên kết 4 1 1
Lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh (lỗ một năm
Tham gia vào các thỏa thuận chia sẻ chi phí 8 4 4
Tham gia vào các giao dịch tài sản vô hình với bên
Tham gia vào các giao dịch dịch vụ với bên liên kết 6 3
Là công ty con của công ty mẹ ở nước ngoài 9
Giao dịch với các công ty tại vùng có ưu đãi đặc
Nguồn: Nghiên cứu của KPMG, năm 2006 [21]