1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần á châu sau khi việt nam gia nhập WTO

121 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng hội nhập của hệ thống NHTM Việt Nam về thực chất là rất hạn chế bởi năng lực tài chính nhỏ bé, khả năng cạnh tranh yếu, thể chế hoạt động kém hiệu quả và đặc biệt là cơ chế hoạt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



PHẠM VĂN HÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP

WTO

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ : 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN THỊ MINH CHÂU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: HỘI NHẬP WTO VÀ VẤN ĐỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM VIỆT NAM 1

1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 1

1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM 1

• Khái niệm cạnh tranh 1

• Lợi thế cạnh tranh 1

• Năng lực lõi 2

• Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM 2

1.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM 3

1.1.2.1 Ngưồn nhân lực 4

1.1.2.2 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 4

1.1.2.3 Tiềm lực tài chính 5

1.1.2.4 Năng lực công nghệ 6

1.1.2.5 Mạng lưới hoạt động 6

1.1.2.6 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm và chất lượng phục vụ khách hàng 7

Trang 3

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM 7

• Yếu tố kinh tế 7

• Yếu tố chính phủ và chính trị 7

• Yếu tố Xã hội 8

• Yếu tố công nghệ và kỹ thuật 8

• Đối thủ cạnh tranh 8

• Khách hàng 9

• Nhà cung cấp 9

• Sản phẩm thay thế 9

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP WTO ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NHVN 10

1.2.1 Tác động của hội nhập WTO đối với hệ thống NHVN 10

1.2.2 Cơ hội của các NHTM Việt Nam 10

1.2.3 Những khó khăn, thách thức đối với hệ thống NHTM ở Việt Nam 11

1.2.4 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam khi gia nhập WTO 13

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NHTM KHI GIA NHẬP WTO 15

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 15

1.3.2 Kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc 17

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ cải cách NHTM của các nước sau khi gia nhập WTO 19

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 20

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTMCP Á

CHÂU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 21

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ACB 21

2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 24

2.3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTMCP Á CHÂU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 26

2.3.1 Nguồn nhân lực 27

2.3.1.1 Đội ngũ nhân lực 27

2.3.1.2 Khả năng thu hút và giữ chân các nhân tài 29

2.3.2 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 32

2.3.3 Tiềm lực tài chính 36

2.3.3.1 Quy mô và mức độ an toàn vốn 36

2.3.3.2 Tính thanh khoản của ngân hàng 38

2.3.3.3 Khả năng sinh lời 41

2.3.3.4 Chất lượng tài sản có 43

2.3.4 Năng lực công nghệ 45

2.3.5 Mạng lưới hoạt động 48

2.3.6 Tính đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng 49

2.4 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ VỊ THẾ CỦA NHTMCP Á CHÂU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 50

2.4.1 Phân tích các đối thủ cạnh tranh của NHTMCP Á Châu 50

2.4.1.1 Các đối thủ trong nước 50

2.4.1.2 Ngân hàng nước ngoài .56

2.4.1.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của ACB với các đối thủ 57

2.4.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh và vị thế của NHTMCP Á Châu 58

Trang 5

2.4.2.1 Điểm mạnh và năng lực lõi của NHTMCP Á Châu 58

2.4.2.2 Điểm yếu của NHTMCP Á Châu 60

2.4.2.3 Vị thế của ACB trong hệ thống NHTM Việt Nam .61

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTMCP Á CHÂU SAU KHI VN GIA NHẬP WTO 64

3.1 CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP 64

3.1.1 Quan điểm và chính sách của Chính Phủ về phát triển hệ thống NHTM 64

3.1.2 Định hướng phát triển của ACB 67

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTMCP Á CHÂU 69

3.2.1 Tăng cường tiềm lực tài chính 69

3.2.1.1 Tăng vốn điều lệ 69

3.2.1.2 Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng 72

3.2.2 Nâng cao năng lực công nghệ 72

3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 73

3.2.3.1 Thiết kế hệ thống đánh giá nhân viên 74

3.2.3.2 Xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý 77

3.2.3.3 Đổi mới hình thức và nội dung tuyển dụng 77

3.2.3.4 Đào tạo và đào tạo lại nhân viên .79

3.2.4 Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và đa dạng hóa sản phẩm 80

3.2.4.1 Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng 80

3.2.4.2 Đa dạng hóa sản phẩm 82

3.2.5 Nâng cao năng lực quản lý và điều hành 84

3.2.5.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự quản lý 84

Trang 6

3.2.5.2 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động điều hành 85

3.2.6 Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu và mở rộng mạng lưới kênh phân phối 86

3.2.6.1 Đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu 86

3.2.6.2 Mở rộng mạng lưới kênh phân phối 88

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 89

3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và cơ quan chức năng 89

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) 90

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 92 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ARGIBANK : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt

Nam

Basel I, II : Hiệp ước Basel về hoạt động ngân hàng

EXIMBANK/Exim : Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 8

NHTM : Ngân hàng thương mại

SACOMBANK/Scom : Ngân hàng Sài gòn thương tín

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng so sánh hoạt động của ACB năm 2006 và 2007 27

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu hoạt động của ACB từ 2002-2007 27

Bảng 2.3: Tình hình nhân sự của ACB năm 2006-2007 29

Bảng 2.4: Tiền lương và chi phí liên quan của ACB năm 2005-2007 33

Bảng 2.5: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ACB 37

Bảng 2.6: Vốn chủ sở hữu của ACB giai đoạn 2003-2007 38

Bảng 2.7: Quy mô vốn điều lệ của các NHTM 41

Bảng 2.8A: Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ACB 43

Bảng 2.8B: Khả năng thanh toán của ACB 43

Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu tài chính của ACB giai đoạn 2002-2007 45

Bảng 2.10: Phân loại nợ của ACB năm 2006-2007 47

Bảng 2.11: Phân loại nợ cho vay theo thành phần kinh tế 48

Bảng 2.12: Một số chỉ tiêu so sánh giữa các ngân hàng năm 2007 55

Bảng 2.13: Ma trận hình ảnh cạnh tranh của ACB với các đối thủ 60

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tài chính của ACB giai đoạn 2008-2012 70

Bảng 3.2: Bốn mảng hiệu quả công việc 77

Bảng 3.3: Năng lực hành vi và kiến thức tổng quát 78

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Năm 2006 đánh dấu những sự kiện quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế của đất nước và quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đã khép lại Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam đã có hiệu lực từ ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và bắt đầu được hưởng các quyền lợi và có nghĩa vụ thực hiện các trách nhiệm của một nước thành viên WTO

Đối với ngành Ngân Hàng, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Đề án Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010

và định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006 và đang trong giai đoạn triển khai thực hiện với mục tiêu quan trọng là xây dựng một hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đại, phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam được xếp vào diện các ngành chủ chốt, cần được tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Khả năng hội nhập của hệ thống NHTM Việt Nam về thực chất là rất hạn chế bởi năng lực tài chính nhỏ bé, khả năng cạnh tranh yếu, thể chế hoạt động kém hiệu quả và đặc biệt là cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập so với các thông lệ quốc tế Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, đủ khả năng cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả cao, an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu

tư Việc này đòi hỏi sự nổ lực nhiều mặt từ phía Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, và chính nội tại các ngân hàng thương mại

Là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam, Ngân hàng Á Châu cũng cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững trong xu thế hiện nay

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu đó, việc đưa ra: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu sau khi Viêt Nam gia nhập WTO” là vô cùng cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh và các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM

- Tác động của hội nhập WTO đối với hệ thống ngân hàng tại Việt Nam và kinh nghiệm một số nước về nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM khi gia nhập WTO

- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh, điểm mạnh, điểm yếu, vị thế của ACB khi VN gia nhập WTO

- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ACB trong xu thế hội nhập

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam

- Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của ACB sau khi gia nhập WTO Trên cơ sở đó hình thành giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp so sánh kết hợp với những lý luận khoa học của các môn học như: quản trị kinh doanh quốc tế, lý thuyết tài chính tiền tệ, quản trị nhân sự, quản trị tài chính, quản trị chiến lược, quản trị marketing; dựa vào các số liệu thống kê, các số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và của các Ngân hàng thương mại để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu của luận văn

5 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Trang 12

Chương 1: Hội nhập WTO và vấn đề năng lực cạnh tranh của NHTMVN Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Á Châu sau khi

Việt Nam gia nhập WTO

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Á Châu

sau khi Việt Nam gia nhập WTO

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu:

Nhằm đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế Từ đó góp phần vào sự phát triển hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng như sự phát triển đất nước

Trang 13

CHƯƠNG 1 HỘI NHẬP WTO VÀ VẤN ĐẾ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM

VIỆT NAM

1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM

1.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM

• Khái niệm cạnh tranh

Vào thế kỷ XX có nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời như lý thuyết của Micheal Porter, J.B.Barney, P Krugman… Dựa vào những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh này, nếu tiếp cận cạnh tranh ở giác độ kinh tế thì cạnh tranh có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là vai trò tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp Vậy

cạnh tranh là đấu tranh giành lấy thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ bằng những

biện pháp ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị, tâm lý… để tạo

ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra nhiều sản phẩm mới với năng suất và hiệu quả cao nhất

Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì các chủ thể cạnh tranh cần phải có khả năng cạnh tranh mà khả năng cạnh tranh chính là sức cạnh tranh hay năng lực cạnh

tranh

• Lợi thế cạnh tranh

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, trước hết cần phải xác định những lợi thế cạnh tranh của tổ chức Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh

Theo giáo sư Michael Porter, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện

ở hai khía cạnh sau:

- Chi phí: tức là theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được

Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực lượng cạnh tranh mạnh mẽ

Trang 14

- Sự khác biệt hóa: tức là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh

sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường Những khác biệt này

có thể thể hiện dưới nhiều hình thức như: sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng lưới bán hàng

• Năng lực lõi

Năng lực lõi (core competence) và tay nghề (skilll, professional experience) là tất cả những kiến thức, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm có được bởi doanh nghiệp trong lĩnh vực chuyên môn mà doanh nghiệp chọn làm bệ phóng để xây dựng hướng phát triển cho chính bản thân doanh nghiệp Nói cách khác, chính vì biết dựa vào việc định vị và triển khai năng lực lõi và tay nghề chuyên môn mà doanh nghiệp mới phát triển bền vững được (Th ị trường chiến lược, cơ cấu của Tôn Thất Nguyễn Thiêm)

• Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM:

Có rất nhiều học thuyết đã được xây dựng để phân tích về năng lực cạnh tranh của các quốc gia cũng như của các doanh nghiệp:

- Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF 1997 nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt, duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”

- Tại báo cáo về sức cạnh tranh quốc tế của Hoa Kỳ: “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một công ty, một nước trong việc sản xuất ra của cải trên thị trường thế giới nhiều hơn đối thủ cạnh tranh của nó.”

- Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCED) với cách tiếp cận về khả năng tạo ra việc làm, thu nhập, diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp nêu ra rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”

- Nổi bật nhất trong các học thuyết về năng lực cạnh tranh gần đây là học thuyết của

Michael Porter Ở cấp độ vi mô, trong tác phẩm của mình, theo Michael Porter “Để

c ạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất

th ấp hơn hay có sự khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn mức bình

Trang 15

tranh ngày càng tinh vi h ơn thơng qua việc cung cấp những hàng hĩa và dịch vụ cĩ

ch ất lượng cao hơn hay sản xuất với năng suất hiệu quả hơn”

Như vậy, theo Michael Porter, cốt lõi của vấn đề cạnh tranh là xác định, xây dựng

và phát triển lợi thế cạnh tranh Trong đĩ chủ yếu là:

- Lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất

- Lợi thế cạnh tranh về đa dạng hĩa sản phẩm

- Lợi thế cạnh tranh về chất lượng của dịch vụ cung cấp

Từ đĩ cĩ thể rút ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của các NHTM như sau: Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là những lợi thế mà ngân hàng đĩ tạo ra, duy trì

và phát triển nhằm giữ vững và phát triển thị phần của mình thơng qua việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ chất lượng cao nhằm đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức bình quân của ngành đồng thời đảm bảo sự hoạt động an tồn, lành mạnh cĩ khả năng chống đỡ rủi ro và vượt qua những biến động bất lợi của mơi trường kinh doanh

1.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM

Hoạt động của các NHTM có ổn định và phát triển hay không, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác hay không phụ thuộc không chỉ vào bản thân các nguồn lực nội tại và hiện có của các ngân hàng như : tiềm lực tài chính, công nghệ, chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: những đối thủ cạnh tranh của chính các ngân hàng đó là ai (các sản phẩm, dịch vụ thay thế), khả năng thâm nhập của các đối thủ như thế nào, mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại sẽ ra sao, các nguồn lực mà ngân hàng có để thích ứng với những thay đổi thế nào, chiến lược mà các ngân hàng sử dụng có phù hợp không, ngân hàng có khả năng thay đổi chiến lược cạnh tranh của mình không, có điều kiện của môi trường vĩ mô sẽ tác động như thế nào đến khả năng đó của các ngân hàng trước những thách thức và cơ hội mới

Sau đây là một số tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các ngân hàng thương mại:

Trang 16

1.1.2.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng và không thể thiếu của bất kỳ ngân hàng nào Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến và đổi mới Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực được thể hiện qua một số tiêu chí như : trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng

Trình độ hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng và cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng duy trì đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân hàng Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó của nhân viên ngân hàng cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không

1.1.2.2 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức

Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của ban lãnh đạo của một ngân hàng Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc; mục tiêu, động cơ, mức độ cam kết của ban lãnh đạo đối với việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với ban giám đốc; số lượng, chất lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nội bộ trong ngân hàng

Năng lực quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng cũng bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức của NHTM Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ chế phân bố các nguồn lực của một ngân hàng Nó cho biết cơ chế phân bổ nguồn lực của một

Trang 17

ngân hàng có phù hợp với quy mô, trình độ quản lý của ngân hàng; phù hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không

Cơ cấu tổ chức thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phản ánh

ở số lượng phòng ban, sự phân công phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của

cơ cấu trước những biến động của ngành hay của môi trường vĩ mô,

- Chất lượng tài sản có : Đây là chỉ tiêu phản ánh “sức khoẻ” của ngân hàng, nó được thể hiện thông qua chỉ tiêu như : tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn,

- Mức sinh lời: Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng Nó có thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu lợi nhuận; tỷ suất lợi nhuận trên vốn

Trang 18

chủ sở hữu (ROE); tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA); các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí,

- Khả năng thanh khoản: Nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán ngay, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM

1.1.2.4 Năng lực cơng nghệ

Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM,… mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý (MIS – Management Informatics System), hệ thống báo cáo rủi ro, trong nội bộ ngân hàng Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của ngân hàng Như vậy, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng đổi mới của công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế

1.1.2.5 Mạng lưới hoạt động

Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các NHTM Hệ thống kênh phân phối của các NHTM thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác nhau và sự phân bố các chi nhánh theo lãnh thổ địa lý Việc triển khai công nghệ ngân hàng hiện đại đã rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, vai trò của mạng lưới chi nhánh rộng khắp vẫn rất quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện sản phẩm, dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn còn phát triển

Trang 19

1.1.2.6 Mức độ đa dạng hĩa sản phẩm, dịch vụ và chất lượng dịch vụ

Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu của thị trường sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô Tuy nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng Nếu không, việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực Nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ thúc đẩy các dịch vụ khác cùng phát triển Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ có lợi thế cạnh tranh

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM

Từ sự khác biệt cơ bản về đối tượng kinh doanh và tính chất hoạt động, các yếu

tố tạo nên năng lực cạnh tranh trong hệ thống NHTM cũng sẽ cĩ những điểm khác biệt

so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác

• Yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế cĩ ảnh hưởng vơ cùng lớn và trực tiếp đến tình hình kinh doanh của các ngân hàng Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng như: lãi suất, tỉ lệ lạm phát, chính sách tiền tệ, cán cân thanh tốn, giai đoạn của chu kỳ kinh tế… cũng như việc Việt Nam trở thành một thành viên kinh tế của WTO, của nền kinh tế khu vực,.v.v Mỗi nội dung của yếu tố kinh tế cĩ thể là một cơ hội hoặc bất trắc đối với ngành ngân hàng Việt Nam

• Yếu tố chính phủ và chính trị

Các yếu tố chính phủ và chính trị cĩ ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các NHTM Ngân hàng phải tuân theo các qui định về cho vay, an tồn, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, tài trợ xuất nhập khẩu, các cam kết đa phương cĩ liên quan đến sự hoạt động của ngành Đồng thời hoạt động của chính phủ

Trang 20

cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN về khống chế dư nợ

vốn cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng của TCTD tạo ra nguy cơ cho các ngân hàng buộc phải thu hồi vốn đã cho vay vượt quy định làm ảnh hưởng đến lợi nhuận Ngược lại, tạo ra cơ hội cho một số TCTD khác tiếp tục khai thác cho vay vốn thông qua loại hình cho vay trên

• Những yếu tố xã hội

Trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các lĩnh vực khác, những yếu tố xã hội cũng cần phải phân tích đến, có thể nhận biết những nguy cơ đe dọa tiềm tàng Một số yếu tố thay đổi có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng như: những xu hướng doanh

số, khuôn mẫu hành vi xã hội, thái độ đối với chất lượng đời sống, lối sống, nghề nghiệp, những biến đổi về dân số có tác động đến yếu tố con người thông qua việc tác động đến nhu cầu về nguồn nhân lực, trình độ nhận thức sự hiểu biết của người dân và thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân trong xã hội

• Yếu tố công nghệ và kỹ thuật

Trong thời đại hiện nay, sự phụ thuộc vào yếu tố công nghệ thông tin và kỹ thuật là rất quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Môi trường hội nhập tạo cơ hội cho các ngân hàng tiếp cận được công nghệ hiện đại, chuyển giao kỹ thuật mới, tiên tiến từ nước ngoài, học hỏi và rút kinh nghiệm cho việc xây dựng các hành lang pháp lý liên quan đến công tác bảo mật, quyền sở hữu và các giao dịch điện tử

• Đối thủ cạnh tranh

Trong lĩnh vực ngân hàng sự hiểu biết về nhau giữa các đối thủ cạnh tranh là điều quan trọng cho một ngân hàng do có nhiều lý do khác nhau Sự hiện diện của yếu tố này có khuynh hướng gia tăng trong thời điểm hội nhập hiện tại; các ngân hàng đều muốn tạo vị thế, chiếm thêm thị phần qua tăng cường sự cạnh tranh Bên cạnh đó sự cạnh tranh sẽ đem lại sự cải tiến về qui trình, công nghệ và kỹ thuật cho ngành

Ngoài ra còn phải kể đến các đối thủ tiềm ẩn mới Đối thủ mới tham gia kinh

doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào

Trang 21

khai thác các năng lực cung ứng mới với mong muốn nhanh chóng giành được thị phần

và các nguồn lực cần thiết

Trong bối cảnh hiện nay, từ khi Việt Nam hội nhập WTO, sự xuất hiện các đối thủ tiềm ẩn mới, nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành dịch vụ tài chính ở Việt Nam là rất lớn Mỗi ngân hàng phải tự trang bị cho mình những rào cản hợp pháp dựa trên các lợi thế về qui mô, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống, nguồn tài chính vững mạnh, độ an toàn cao, công nghệ hiện đại,… mới có đủ điều kiện đứng vững trong xu thế hội nhập ngày nay

• Khách hàng

Khách hàng là một phần của ngân hàng, khách hàng trung thành là một lợi thế lớn của ngân hàng Sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng và mong muốn làm tốt hơn

Hiện nay, các ngân hàng đã bắt đầu quan tâm đến việc thành lập “lý lịch” khách hàng nhằm thu thập và xây dựng dữ liệu thông tin khách hàng, định hướng theo nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ thể về các sản phẩm, dịch vụ của ngành

• Nhà cung cấp

Các ngân hàng cũng có những mối liên kết với những nhà cung cấp để nhận được nguồn cung cấp như: vật tư, trang thiết bị, công nghệ, tài chính, nguồn lao động Nguồn lao động cũng là một thành phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh của NHTM Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là tiền đề để đảm bảo sự thành công cho ngân hàng

Các nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Cho nên việc nghiên cứu để hiểu biết về nhà cung cấp các nguồn lực cho ngân hàng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu môi trường

• Sản phẩm thay thế

Dưới sự thay đổi về nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sự thay đổi môi trường kinh doanh và sự bùng nổ về công nghệ dẫn đến nhu cầu về sản phẩm bị thay đổi Để năng cao năng lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đến việc phát

Trang 22

triển các sản phẩm mới, đổi mới và chuẩn hĩa các sản phẩm dịch vụ của mình theo định hướng tiêu dùng của khách hàng và nguồn lực sẵn cĩ của ngân hàng

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP WTO ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

VIỆT NAM

1.2.1 Tác động của hội nhập WTO đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hội nhập quốc tế là một xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất cứ quốc gia nào trong bối cảnh tồn cầu hĩa kinh tế hiện nay Hội nhập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đặt ra nhiều thách thức nhưng cũng đem lại những lợi ích hết sức to lớn như sau:

- Hội nhập WTO trong hoạt động ngân hàng tạo động lực thúc đẩy cơng cuộc đổi mới và cải cách ngành ngân hàng

- Thơng qua gia nhập WTO, Việt Nam cĩ cơ hội để tăng cường sức mạnh, phát triển hệ thống ngân hàng trên các lĩnh vực như: vốn, kinh nghiệm quản lý, điều hành, hiện đại hĩa cơng nghệ và tăng cường các dịch vụ ngân hàng mới; qua đĩ gĩp phần nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng hiện đại cho một nền kinh tế mở

- Mở cửa, hội nhập quốc tế về ngân hàng là cơ sở, tiền đề quan trọng cho việc mở cửa hội nhập quốc tế về thương mại, dịch vụ, đầu tư và các loại hình dịch vụ khác Nĩ cũng tạo điều kiện khơi thơng các kênh luân chuyển vốn từ bên ngồi vào thị trường Việt Nam, gĩp phần khơi dậy các nguồn vốn tiềm năng trong nước Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các NHTM, các tập đoàn kinh tế Việt Nam đầu tư ra nước ngoài

- Mở cửa, hội nhập quốc tế về ngân hàng với những bước đi thích hợp cùng với việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng sẽ nâng cao được tính minh bạch và hiệu quả của tồn hệ thống; qua đĩ gĩp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mơ.

1.2.2 Cơ hội của các NHTM Việt Nam

- Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả việc phân phối các nguồn lực và tăng cường khả năng thanh toán, thúc đẩy thị trường tài chính trong nước phát triển ổn định; tăng cường chất lượng hoạt động của hệ thống

Trang 23

ngân hàng và các trung gian tài chính khác, đồng thời nó thúc đẩy và duy trì hệ thống chính sách lành mạnh… góp phần phát triển kinh tế

- Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, ngành ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các nước có trình độ phát triển cao, tạo

ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng

- Toàn cầu hoá, tự do hoá và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng mở ra

cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế về các vấn đề tài chính tiền tệ, các diễn biến kinh tế, các chiến lược vĩ mô và qua đó nâng cao được uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế

- Việc tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có thêm điều kiện đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới

1.2.3 Những khĩ khăn, thách thức đối với hệ thống NHTM Viêt Nam

- Mở cửa hội nhập quốc tế về ngân hàng là chấp nhận cơ chế cạnh tranh khốc liệt, chấp nhận quy luật “mạnh thắng, yếu thua” Các ngân hàng trong nước ngay lúc đầu sẽ mất đi thị trường và khách hàng do phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngồi của các quốc gia phát triển cĩ sức mạnh về tài chính, kinh nghiệm, trình độ quản lý, cơng nghệ hiện đại

- Hội nhập quốc tế sẽ làm cho mức độ rủi ro cao hơn, nhất là rủi ro quốc tế Nền kinh tế và hệ thống ngân hàng sẽ dễ bị tổn thương từ bên ngồi như dưới tác động của khủng hoảng tài chính, tiền tệ nếu như bản thân nền kinh tế khơng đủ mạnh (về hệ thống doanh nghiệp, hệ thống tài chính ngân hàng, khuơn khổ pháp luật, ) Bên cạnh

đĩ, việc mở cửa và tiến tới tự do hĩa trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng cùng với sự phát triển các hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngồi đặt ra những thách thức về mặt điều hành, quản lý và giám sát của Ngân hàng trung ương

Hệ thống chính sách, pháp luật ngân hàng hiện nay cịn cĩ một số hạn chế đã tạo ra

sự phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng, gây ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Điều đĩ đặt ra thách thức phải sửa đổi tạo mơi trường kinh doanh bình đẳng, thơng thống theo nguyên tắc khơng phân biệt đối xử của WTO

Trang 24

Việc mở cửa thị trường tài chính nội địa sẽ làm tăng rủi ro thị trường do các tác động từ bên ngoài, từ thị trường tài chính khu vực và thế giới

Năng lực điều hành chính sách tiền tệ cũng như năng lực giám sát hoạt động ngân hàng của NHNN vẫn còn hạn chế so với yêu cầu cạnh tranh

Ngân hàng nước ngoài đặt các NHTM trong nước trướcnhững áp lực cạnh tranh với năng lực tài chính tốt hơn, công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng

có chất lượng cao hơn

Việc loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành Ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn, đầu

tư kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh

- Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý, áp lực cạnh tranh cũng tăng dần theo lộ trình nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về mở chi nhánh

và các điểm giao dịch, phạm vi hoạt động, hạn chế về đối tượng khách hàng và tiền gửi được phép huy động, khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng, trong khi các tổ chức tài chính Việt Nam còn nhiều yếu kém như sau:

+ Trình độ chuyên môn và trình độ quản lý còn bất cập, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh thấp, nợ quá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro còn kém, vốn nhỏ, năng lực tài chính thấp, chất lượng tài sản chưa cao;

+ Hoạt động tín dụng được mở rộng nhanh chóng nhưng rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát và đánh giá một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và yêu cầu hội nhập;

+ Sản phẩm và dịch vụ còn đơn điệu, tính tiện ích chưa cao, chất lượng dịch vụ thấp Qui trình quản trị trong các TCTD Việt Nam chưa phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch thấp, chưa hình thành môi trường làm việc và văn hóa kinh doanh lành mạnh do vai trò và trách nhiệm của các vị trí công tác chưa rõ ràng, hệ thống thông tin quản lý và quản lý rủi ro chưa hiệu quả;

+ Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán lạc hậu và có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực nên chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển và

Trang 25

nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực quản lý điều hành của NHNN và khả năng chống

đỡ rủi ro của các NHTM còn nhiều hạn chế;

+Thể chế của hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật về ngân hàng thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách và lộ trình hội nhập

Vì thế, các NHTM Việt Nam sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô, khách hàng

và hệ thống kênh phân phối, nhất là sau năm 2010, khi những hạn chế nêu trên và sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản Sau thời gian đó, qui mô hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường, các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nước ngoài cung cấp sẽ tăng lên Điều đáng chú ý là rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tăng lên do các ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài chính trong nước thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh

Do đó một số tổ chức tài chính trong nước sẽ gặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản

do sức cạnh tranh kém và không có khả năng kiểm soát rủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc tế

- Mở cửa thị trường tài chính trong nước làm tăng rủi ro do những tác động từ bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế giảm dần Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế, tài chính quốc tế và nguy cơ khủng hoảng Trong trường hợp đó, thị trường vốn chưa phát triển sẽ khiến Hệ thống Ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây nên

1.2.4 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam khi gia nhập WTO

Ngày 11/01/2007 Việt Nam trở thành Thành viên thứ 150 của WTO trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi đan xen với những thách thức khó lường Đây

là thách thức không nhỏ đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, đòi hỏi phải quyết tâm và nỗ lực rất lớn, nhất là từ phía Chính phủ và các ngành kinh tế chủ chốt Trong lĩnh vực ngân hàng, ngành ngân hàng đã chủ động thực hiện các chủ trương chính sách của Chính phủ về đổi mới kinh tế và đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã xây dựng được những cơ sở quan trọng cho một nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng phù hợp dần với cơ chế thị trường, hiện đại hóa công nghệ và tự do hóa hoạt động kinh

Trang 26

doanh tiền tệ, góp phần củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng Trong đó, thể chế hoạt động ngân hàng đã được hoàn thiện đáng kể, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ được đổi mới căn bản, các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về hoạt động của các ngân hàng thương mại đang từng bước được áp dụng, chất lượng tín dụng vì thế đã được cải thiện đáng kể

Theo lộ trình mở cửa và các cam kết về mở cửa thị trường, dịch vụ ngân hàng là một trong những phân ngành dịch vụ tài chính theo phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới, thì Việt Nam đã đạt được cam kết hợp lý, cân bằng và phù hợp với chủ trương của Chính phủ, cụ thể là:

- Về cơ bản, Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ trợ

- Không hạn chế tiêu dùng ở nước ngoài

- Chỉ các ngân hàng nước ngoài có tổng tài sản lớn hơn 10 tỷ USD mới được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài (từ tháng 4/2007); trên 20 tỷ USD mới được thành lập chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được phép phát hành thẻ tín dụng Chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép huy động tiền đồng tăng dần theo thời gian (từ 1-1-

2011 sẽ được phép như ngân hàng trong nước), nhưng không được mở ATM và các điểm giao dịch ngoài trụ sở Bên nước ngoài được phép mua tối đa 30% cổ phần của ngân hàng trong nước

Cam kết trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng của Việt Nam chặt chẽ do vậy mức độ ảnh hưởng đối với ngành ngân hàng của Việt Nam sẽ không quá lớn Có một số tác động như:

- Các cam kết mở cửa thị trường ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho sự tham gia ngày càng nhiều của các đối tác nước ngoài sẽ góp phần tăng cường thị trường tài chính của Việt Nam

- Sức ép cạnh tranh buộc các ngân hàng trong nước phải chủ động điều chỉnh mô hình và chính sách quản lý, đào tạo nhân viên, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo được lợi thế với các ngân hàng nước ngoài

Tuy nhiên, với điểm yếu là các ngân hàng trong nước có qui mô nhỏ, nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế còn cao, đặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước; các sản phẩm dịch vụ còn chưa đa dạng và chất lượng dịch vụ chưa cao nên việc tham gia ngày

Trang 27

càng nhiều của các ngân hàng nước ngoài có qui mô vốn lớn, năng lực cạnh tranh cao

và nắm giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia sẽ chứa đựng rủi ro tiềm tàng tới sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống tài chính; tính liêm chính của hệ thống trước các hiện tượng rửa tiền và tài trợ khủng bố Vì vậy, để chủ động trong quá trình hội nhập ngành ngân hàng cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA HỆ THỐNG NHTM KHI GIA NHẬP WTO

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Cách đây 5 năm khi Trung Quốc gia nhập WTO thì không khí nặng nề bao trùm toàn ngành ngân hàng Trung Quốc, nhất là 10 ngân hàng thương mại lớn khi lĩnh vực ngân hàng – tài chính sắp phải mở cửa và cạnh tranh với các đối thủ sừng sỏ mạnh về tài chính, kinh nghiệm, trình độ quản lý ngay trên địa bàn của mình Tính đến cuối năm 2004, tổng tài sản của hệ thống Ngân hàng Trung Quốc là 26.000 tỷ USD, trong đó các NHTM quốc doanh chiếm khoảng 60% tổng tài sản và khoảng 80% thị phần cho vay Hệ thống NHTM Trung Quốc tồn tại những yếu kém nổi bật như sau :

- Số vốn điều lệ nhỏ bé, tỷ lệ an toàn vốn thấp Cuối năm 2004, chỉ có 7 NHTM đạt tỷ lệ an toàn vốn 8%

- Đến hết tháng 9/2002, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Trung Quốc là 18.7% nhưng 4 NHTM Nhà Nước tỷ lệ này 21.4%, các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ này chỉ có 2.7%

- Trình độ quản lý yếu kém, nhiều NHTM thua lỗ

- Cơ cấu tổ chức nặng nề, sự can thiệp của Nhà nước vào cơ cấu tổ chức, công tác

tổ chức của các ngân hàng rất lớn

Sau 5 năm cải cách, ngành ngân hàng Trung Quốc đã có thể tự tin vào khả năng cạnh tranh của mình khi mở cửa toàn diện cho ngân hàng nước ngoài vào đầu tư kể từ 11/12/2006 Tổng kết quá trình cải cách 5 năm qua, ngành ngân hàng Trung Quốc đã thực hiện các giải pháp để có thể nâng cao năng lực hoạt động của mình trong tiến trình hội nhập quốc tế :

Trang 28

Kiên quyết xử lý và thanh toán các nợ xấu tồn đọng

Tháng 8/1998 tỷ lệ nợ xấu của 4 NHTM quốc doanh của Trung Quốc chiếm 25.5% tổng dư nợ cho vay của 4 NHTM này, đến hết năm 2004 là khoảng 13-14% nhưng theo nghiên cứu của các giáo sư Học viện Tài Chính Thượng Hải thì tỷ lệ này là trên 18% Giải pháp cơ bản để xử lý nợ xấu của 4 NHTM quốc doanh đều giao cho 4 công ty này khai thác xử lý và thanh toán tài khoản xấu tới 1.400 tỷ Nhân dân tệ (NDT) tồn đọng trong các ngân hàng quốc doanh Tiếp đến là tiến hành bán đấu giá nợ xấu cho

các ngân hàng nước ngoài

Việc thanh toán và xử lý tài khoản xấu tồn đọng này đã đạt kết quả khả quan Từ năm 2003 tới năm 2005, nâng ngân hàng có tỷ lệ đủ vốn 8% trở lên từ 8 ngân hàng lên

53 ngân hàng Tỷ lệ tài khoản xấu của các ngân hàng thương mại từ 17.23% giảm xuống còn 8.9%, tỉ lệ rủi ro giảm xuống còn 60% Trong một thập kỷ qua, 4 ngân hàng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc đã nhận hàng tỷ USD tiền hỗ trợ từ Chính phủ để cân đối tình hình tài chính Kể từ năm 1998, Chính phủ Trung Quốc đã bơm hơn 260 tỷ USD vào các ngân hàng trong nước để giúp giảm tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng này từ 17.9% năm 2003 xuống còn 8.9% cuối tháng 4/2006

Thu hút các đối tác chiến lược vào Trung Quốc

Yêu cầu các NHTM Nhà Nước tự hoạch định ra kế hoạch tăng vốn điều lệ để đạt

tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của hiệp nghị Basel là 8% Các ngân hàng phải thông qua các khâu công tác như tính toán tỷ lệ vốn theo quy định, thực hiện kiểm tra giám sát và công khai thông tin để đưa rủi ro thị trường vào khung giám sát và quản lý vốn Với những quy định rõ ràng và minh bạch hơn, các ngân hàng Trung Quốc đã có sức thu hút các đối tác chiến lược vào Trung Quốc cùng tiến hành hợp tác đầu tư Vào tháng 8/2006 Ngân hàng Hong Kong (HSBC) đã đầu tư tới 14.5 tỉ NDT, chiếm 19.9%

cổ phần vào ngân hàng giao thông Trung Quốc, tiếp đó là ngân hàng Mỹ, ngân hàng Singapore cũng lần lượt đầu tư vào ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc Tới nay các ngân hàng thương mại lớn khác của Trung Quốc như Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Công Thương đều thu hút được đầu tư từ các ngân hàng lớn của nước ngoài tiến hành kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, nhất là phát hành thẻ tín dụng, dịch vụ tài chính cá

nhân

Trang 29

1.3.2 Kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc

Hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc một thời là hệ thống ngân hàng chịu sự quản lý

và điều tiết quá lớn của Nhà nước và có mối quan hệ chặt chẽ với các tập đoàn kinh tế Hàn Quốc (cheabol) Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã cho thấy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc có tính cạnh tranh yếu, hệ thống kiểm toán và cơ cấu quản lý không rõ ràng Đây cũng là những vấn đề mà Việt Nam đang gặp phải, do đó việc nghiên cứu chương trình cải cách của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc sẽ là bài học quý báu cho Việt Nam

Theo quy định các NHTM Hàn Quốc cho các cheabol vay với lãi suất thấp Hơn thế nữa, Chính phủ Hàn Quốc sẵn sàng đứng ra bảo lãnh cho những khoản vay này trong trường hợp doanh nghiệp phá sản hay thua lỗ Vì vậy, các khoản vay của cheabol chiếm phần lớn trong dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM Hàn Quốc

Việc Chính phủ áp đặt mức lãi suất cho vay cũng như việc ỷ lại vào sự bảo lãnh của Chính phủ trong các dự án cho vay đã làm giảm sự cạnh tranh giữa các ngân hàng

và hạn chế khả năng của ngân hàng trong việc tính toán chi phí hoạt động và xây dựng cho mình chính sách tín dụng hợp lý Ngoài ra, các NHTM Hàn Quốc thường bị hạn chế trong việc xem xét tính hiệu quả của các dự án cho vay; kết quả là các dự án cho vay về sau này càng gặp nhiều rủi ro nên khả năng phát sinh nợ xấu là điều tất yếu phải xảy ra

Khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra và kéo Hàn Quốc vào vòng xoáy thì hệ thống ngân hàng Hàn Quốc đã bộc lộ tất cả những yếu kém của mình Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, chính phủ Hàn Quốc đã thực thi chính sách cải tổ toàn diện hệ thống ngân hàng

Trang 30

Các giải pháp cải cách ngành ngân hàng Hàn Quốc:

Về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng :

Đầu tháng 3-1998, Ủy ban giám sát tài chính (Financial Supervisory Commission – FSC) được thành lập Theo báo cáo điều tra của FSC, tính đến cuối năm

1997, 12 trong tổng số 24 ngân hàng ở Hàn Quốc không đủ khả năng tồn tại vì các ngân hàng này không đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về tiêu chuẩn vốn Kết quả là 5 ngân hàng bị đình chỉ giấy phép hoạt động và 7 ngân hàng còn lại chỉ được chấp nhận hoạt động trên cơ sở có điều kiện Năm ngân hàng bị ngừng hoạt động sau đó được các ngân hàng có khả năng hoạt động mua lại Những khoản nợ khó đòi sẽ được cơ quan quản lý tài sản Hàn Quốc đứng ra mua Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc còn hỗ trợ cho các ngân hàng được cơ cấu lại bằng việc cấp thêm vốn thông qua trái phiếu chính phủ và được chính phủ bảo lãnh

Để nhận được sự trợ giúp từ Chính phủ, 7 ngân hàng được phép hoạt động phải giảm 45-50% nhân viên, sắp xếp lại hoạt động của bộ máy lãnh đạo, củng cố hệ thống mạng lưới chi nhánh, đảm bảo tìm kiếm được đối tác để hợp nhất hay đối tác hợp tác nước ngoài và thay thế bộ máy điều hành cũ bằng đội ngũ các chuyên gia ngân hàng trong nước và quốc tế theo mô hình của Hoa Kỳ hoặc Anh

Ngoài ra, một số ngân hàng nhỏ của Hàn Quốc cũng đã được các ngân hàng lớn mua lại với sự hỗ trợ của Chính phủ Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu được khuyến khích đầu tư vào hệ thống ngân hàng Hàn Quốc Đến hết năm 2001, 40% cổ phần ngân hàng Koram do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ, 11% ở ngân hàng Kookmin, 51% ở ngân hàng Korea First

Về giải quyết các khoản nợ khó đòi và tái cấp vốn :

Để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu NHTM, Cơ quan Quản lý tài sản Hàn Quốc đã mua lại một lượng lớn những khoản nợ không sinh lời Vào cuối tháng 9/1998, Chính phủ Hàn Quốc đã chi 16 nghìn tỷ Won để mua các khoản nợ khó đòi trị giá khoảng 36 nghìn tỷ Won Trong năm 1998, Cơ quan Quản lý tài sản Hàn Quốc đã mua tới 60% tổng số nợ khó đòi của toàn hệ thống ngân hàng Hàn Quốc Vì vậy, tổng số nợ khó đòi của 22 NHTM Hàn Quốc chỉ còn chiếm 7.1% tổng số các khoản nợ của các ngân hàng này vào năm 1998 Tính đến tháng 6-2003, nợ khó đòi chỉ còn chiếm 3.2%, đặc biệt năm 2002, tỷ lệ này chỉ còn 2.3%

Trang 31

Để tái cơ cấu nguồn vốn của các NHTM, chính phủ Hàn Quốc yêu cầu các ngân hàng duy trì hệ số an toàn vốn từ 10-13% Tỷ lệ này cao hơn hệ số an toàn tối thiểu Basel (8%) vì Chính phủ Hàn Quốc cho rằng thị trường Hàn Quốc tại thời điểm đó có nhiều bất ổn liên quan đến chất lượng tài sản, quản lý rủi ro và những điều kiện bất lợi khác Việc nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Chính phủ Hàn Quốc có ý nghĩa quan trọng trong việc phục hồi uy tín cũng như niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài

Để hạn chế bớt rủi ro cho những khoản cho vay và để giảm nợ xấu, các ngân hàng Hàn Quốc có xu hướng thay đổi đối tượng cho vay Trước đây, các tập đoàn kinh

tế là những khách hàng được vay nhiều nhất thì nay các NHTM Hàn Quốc cho rằng việc mở rộng các khoản cho vay mới có thể làm giảm gánh nặng của các khoản nợ xấu

Vì thế dẫn đến sự bùng nổ các khoản cho vay tiêu dùng Kết quả là các khoản cho vay các tập đoàn kinh tế chỉ còn chiếm 12% tổng các khoản vay của 6 ngân hàng lớn nhất Hàn Quốc năm 2003, so với 23% năm 2000 So với năm 1997, cho vay hộ gia đình chỉ chiếm 47% GDP thì năm 2003 con số này lên tới 70% Tiêu dùng tăng mạnh lại là động lực thúc đẩy nền kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh, nhất là giai đoạn sau khủng hoảng

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ cải cách NHTM của các nước sau khi gia nhập WTO

M ột là, phải chú trọng nâng cao chất lượng khoản vay ngân hàng Đây là bài học quan trọng đầu tiên để thúc đẩy sự chuyển biến các NHTM của nền kinh tế chuyển đổi sau khi gia nhập WTO, phải xóa bỏ mô thức phân phối khoản vay kiểu “Ngân hàng quốc doanh – xí nghiệp quốc doanh” trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung

trước đây

tranh của các NHTM là chính sách cổ phần hóa và thị trường chứng khoán

B ốn là, p h ải có tiến trình xây dựng các tập đoàn tài chính ngân hàng đủ năng lực

c ạnh tranh với các tập đoàn tài chính trên thế giới Đây chính là tiến trình tái cơ cấu hệ

thống ngân hàng

Trang 32

N ăm là, phải chú ý phát triển nội lực của các NHTM Dựa vào kinh nghiệm của

các nước, cần tập trung vào phát triển nguồn nhân lực, chú trọng văn hóa kinh doanh ngân hàng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng dựa trên công nghệ cao

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương này, luận văn đã tập trung nghiên cứu những vấn đề năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM trong điều kiện hội nhập Đồng thời đưa ra được các tiêu thức đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM Trên

cơ sở nghiên cứu những tác động, những cơ hội, những thách thức của WTO (đối với

hệ thống NHTM Việt Nam) và những kinh nghiệm của một số nước về nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM khi gia nhập WTO, luận văn đã rút ra một số bài học kinh nghiệm tạo tiền đề cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu chương 2 và đề ra các giải pháp sẽ được trình bày trong chương 3

CHƯƠNG 2

Trang 33

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG

TMCP Á CHÂU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ACB

Tên giao dịch quốc tế : ASIA COMMERCIAL BANK

Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q 3, TP Hồ Chí Minh

• Kinh doanh ngoại tệ và vàng

• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ

• Hoạt động bao thanh toán

* Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của ACB

Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo dựng một khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam Trong bối cảnh đó, NHTMCP Á Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do NHNNVN cấp ngày 24/04/1993,

Trang 34

Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993

và ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động

 Tầm nhìn

Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đã xác định tầm nhìn là trở thành NHTMCP bán

lẻ hàng đầu Việt Nam Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt vào thời điểm đó “Ngân hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ” là một định hướng rất mới ở Việt Nam, nhất là một ngân hàng mới thành lập như ACB

 Chiến lược

Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:

• Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu khách hàng và hướng tới khách hàng;

• Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm bảo cho sự tăng trưởng được bền vững;

• Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính vững mạnh có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam;

• Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên nghiệp đảm bảo quá trình vận hành hệ thống liên tục, thông suốt và hiệu quả;

• Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một cách xuyên suốt

Phát triển-Các cột mốc ghi nhớ:

Tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược nêu trên được cổ đông và nhân viên ACB đồng tâm bám sát trong suốt 15 năm hoạt động của mình và những kết quả đạt được đã chứng minh rằng đó là các định hướng đúng đối với ACB Đó cũng chính là tiền đề giúp Ngân hàng ACB khẳng định vị trí dẫn đầu của mình trong hệ thống NHTM tại Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ Dưới đây là một số cột mốc đáng nhớ của ACB:

04/6/1993: ACB chính thức hoạt động

• 27/4/1996: ACB là NHTMCP đầu tiên của Việt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc

tế ACB-MasterCard

• 15/10/1997: ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Visa

Năm 1997 – Tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại

01/12/1999: Khai trương Trung tâm giao dịch địa ốc ACB Sài Gòn

Trang 35

Năm 2000 - Tái cấu trúc cơ cấu tổ chức theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ

• 29/06/200: Thành lập công ty chứng khoán ACBR

02/01/2002: Vận hành TCBS tại Hội sở

06/01/2003: Đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trong các lĩnh vực: huy động vốn, cho

vay ngắn hạn và trung dài hạn, thanh toán quốc tế và cung ứng nguồn lực tại Hội

Sở

10/12/2004: Giới thiệu sản phẩm quyền chọn vàng (Gold option)

17/06/2005: Lễ ký kết hỗ trợ kỹ thuật giữa Standard Chartered và ACB

21/11/2006: Cổ phiếu ACB chính thức giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Năm 2007: Thành lập Công ty cho thuê tài chính ACB, hợp tác với các đối tác như

Open Solution – Thiên Nam để nâng cấp hệ ngân hàng cốt lõi, hợp tác với Microsoft về việc áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý, hợp tác

với ngân hàng Standard Chartered về việc phát hành trái phiếu Ngày 25/05/2007: Khai trương sàn giao dịch vàng Sài Gòn

Ngày 25/06/2008: Tăng vốn điều lệ từ 2.630.059.960.000 đồng lên

 Nhìn nhận và đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kể từ khi NHNN ban hành Quy chế xếp hạng các tổ chức tín dụng cổ phần (năm 1998), một quy chế áp dụng theo chuẩn mực quốc tế CAMEL để đánh giá tính vững mạnh của một ngân hàng, thì liên tục tám năm qua ACB luôn luôn xếp hạng A Hơn nữa, ACB luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 8% Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% được quy định trong Thỏa ước Basel I của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS - Bank for International Settlements) mà NHNN áp dụng Đặc biệt tỷ lệ nợ quá hạn những năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả của ACB

Trang 36

2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Với tầm nhìn và chiến lược đúng đắn, chính xác trong đầu tư công nghệ và nguồn nhân lực, nhạy bén trong điều hành và tinh thần đoàn kết nội bộ, trong điều kiện ngành ngân hàng có những bước phát triển mạnh mẽ và môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện cùng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, ACB đã có những bước phát triển nhanh, ổn định, an toàn và hiệu quả

ACB với hơn 200 sản phẩm dịch vụ được khách hàng đánh giá là một trong các ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất, dựa trên nền công nghệ thông tin hiện đại ACB vừa tăng trưởng nhanh vừa thực hiện quản lý rủi ro hiệu quả Trong môi trường kinh doanh nhiều khó khăn thử thách, ACB luôn giữ vững vị thế của một ngân hàng bán lẻ hàng đầu

Kết quả hoạt động tính đến 31/12/2007, lợi nhuận trước thuế của Tập đoàn ACB đạt 2.127 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với 687 tỷ đồng của năm 2006 Huy động tiền gửi khách hàng đạt 55.283 tỷ đồng, tăng hơn 107% so với kế hoạch; dư nợ tín dụng đạt 31.974 tỷ đồng, tăng hơn 127% so với kế hoạch Tổng tài sản của Tập đoàn do đó cũng tăng trưởng mạnh ở mức 91,2% so với năm 2006, đạt 85.392 tỷ đồng (xem b ảng 2.1)

nhưng lợi nhuận trước thuế năm 2007 đạt 2.127 tỷ đồng (đạt mức tăng trưởng lợi nhưận cao nhất trong 12 năm qua) tăng gấp 3 lần so với năm 2006 đã cho phép chỉ số ROA

bình quân tăng 1,3% so với 2006, đạt 3,3% Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân nhờ vậy đạt 53,8%, mức cao nhất kể từ ngày thành lập ACB đến nay

Vốn chủ sở hữu tính đến 31/12/2007 là 6.258 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng kỷ lục về vốn chủ sở hữu Việc quản lý rủi ro thực hiện tốt hơn nhiều so với các năm trước, nhất

là rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ xấu chỉ ở mức 0,08% tổng dư nợ xấu, thấp xa so với tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành là 2% Trong năm 2007, ACB liên tục nâng vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảo chỉ tiêu an toàn vốn và đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh, tăng trưởng tài sản có Vốn điều lệ của ACB tăng thêm 1.530 tỷ đồng từ các nguồn: trái phiếu chuyển đổi (1.100 tỷ đồng), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (330 tỷ đồng) và phát hành cổ phiếu phổ thông (100 tỷ đồng) Nhờ vậy, hệ số an toàn vốn của ACB tính đến ngày 31/12/2007 là 16,19%, tăng 5,3% so với cuối năm 2006 Tính đến thời điểm 31/12/2007, ACB có tổng cộng 263.005.996 cổ phiếu đang lưu hành (100%

là cổ phiếu phổ thông) Song song với kết quả tăng trưởng toàn diện của hoạt động kinh

Trang 37

doanh, ACB còn tiến hành cơ cấu tổ chức và quản lý, phát triển rộng khắp mạng lưới hoạt động với 158 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc đa dạng hoá và chất lượng hoá các sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng hiện đại

Hầu hết các chỉ tiêu hoạt động năm 2007 đều vượt mức kế hoạch đặt ra từ đầu năm Theo đó, ACB vẫn đang duy trì vị thế ngân hàng đứng đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần về lợi nhuận, tổng tài sản, dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng Đặc biệt, lợi nhuận tăng gấp 3 lần so với năm 2006, góp phần mang lại nguồn lợi nhuận tích lũy đáng kể, nâng cao sức mạnh tài chính của Tập đoàn ACB

Bảng 2.1: Bảng so sánh hoạt động của ACB năm 2006 và 2007

(Đơn vị: tỷ đồng)

Chỉ tiêu hoạch Kế

2007

Thực hiện

2007

% so

Kế hoạch

Năm

2006

% tăng trưởng so với 2006

Suất lợi nhuận/vốn

(Nguồn: Báo cáo thường niên từ năm 2002-2007 của ACB)

Trang 38

Sự hoàn hảo là điều ACB luôn nhắm đến: ACB hướng tới là nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính hoàn hảo cho khách hàng, danh mục đầu tư hoàn hảo của cổ đông, nơi tạo dựng nghề nghiệp hoàn hảo cho nhân viên, là một thành viên hoàn hảo của cộng đồng xã hội “Sự hoàn hảo” là ước muốn mà mọi hoạt động của ACB luôn nhằm thực hiện

2.3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTMCP Á CHÂU SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Năm 2007 Kinh tế thế giới có nhiều biến động lớn Ngân hàng Dự trữ liên bang

Mỹ liên tục cắt giảm lãi suất, đồng USD mất giá mạnh, giá dầu và giá vàng tăng cao Nền kinh tế Việt Nam vượt qua những biến động ấy, đã đạt được một số kết quả tích cực GDP tăng trưởng 8,48%, đầu tư phát triển và xuất khẩu tiếp tục tăng Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đạt mức kỷ lục, viện trợ phát triển cấp nhà nước (ODA) lớn nhất từ trước tới nay Dự trữ ngoại tệ tăng lên gần 20 tuần nhập khẩu vào cuối năm

2007, thị trường ngoại hối lần đầu tiên được bình ổn, tiền đồng Việt Nam không chịu

áp lực giảm giá mà chịu áp lực tăng giá Thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển, khẳng định vị thế là một kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế Tuy vậy, môi trường kinh doanh năm 2007, nhất là lĩnh vực ngân hàng, có những yếu tố không thuận lợi Nhập siêu quá lớn và lạm phát cao nhất trong vòng 12 năm trở lại đây Thị trường bất động sản biến động bất thường và thị trường liên ngân hàng diễn biến phức tạp Ngân hàng Nhà nước đưa ra một số quyết định ảnh hưởng không nhỏ đến kinh doanh

ngân hàng, chẳng hạn như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp đôi trong quý 2; khống

chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán Khi Việt Nam gia nhập WTO và việc

mở cửa thị trường tài chính, loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài làm gia tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình

độ quản lý Do đó sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành Ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn, đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh

Trong bối cảnh đó, nhờ có định hướng phát triển đúng, kịp thời tận dụng cơ hội

và với sự nỗ lực rất cao của Hội đồng quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên,

Trang 39

ACB đã hồn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh năm 2007, cụ thể như sau:

2.3.1 Nguồn nhân lực

Các nghiệp vụ của một NHTM thường rất đa dạng và phong phú, do đó những yêu cầu về kỹ năng, trình độ, kiến thức đối với đội ngũ nhân viên làm việc cho các ngân hàng cũng rất đa dạng Tùùy thuộc vào loại hình nghiệp vụ chuyên môn cũng như cấp độ công việc mà nhân viên ngân hàng phải có những kỹ năng, kiến thức, phẩm chất nhất định

2.3.1.1 Đội ngũ nhân lực

ACB rất quan tâm đến nhân tố con người Một hệ thống hoạt động hoàn hảo là

do những con người vận hành giỏi Nguồn nhân lực là yếu tố sống còn cho sự thành công của ACB Công tác đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống Cụ thể sau khi gia nhập WTO số lượng nhân sự của ACB đã thay đổi như sau:

BẢNG 2.3 : TÌNH HÌNH NHÂN SỰ CỦA ACB NĂM 2006-2007

ĐVT : Người

Theo trình độ học vấn

Trang 40

biệt là tỷ lệ về cán bộ quản quản lý tăng 2,4% (so với năm 2006) cho thấy ACB đang chú trọng nhiều đến nhân lực quản lý, là yếu tố đảm bảo khả năng cạnh tranh mạnh của ACB Đội ngũ nhân sự của ACB được đào tạo căn bản, có tính chuyên nghiệp cao và nhiều kinh nghiệm Đồng thời hàng năm được bổ sung chủ yếu từ các trường đại học kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh ngân hàng trong và ngoài nước

Công tác đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như nghiệp vụ đến từng nhân viên trong toàn hệ thống là ưu tiên hàng đầu của ACB Mục tiêu của ACB là xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên thành thạo về nghiệp vụ, chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh, chuyên nghiệp trong phong cách làm việc và nhiệt tình phục vụ khách hàng Do đó, ACB đã xây dựng Trung tâm đào tạo của riêng mình với hệ thống giáo trình bao gồm tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, các kiến thức pháp luật, tổ chức quản lý và hoạt động theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Ngoài ra, với sự hỗ trợ của các cổ đơng nước ngồi, ACB cĩ chế độ cử cán bộ tham gia các khĩa đào tạo và thực tập nước ngồi Bên cạnh đó, đội ngũ quản lý và điều hành của ACB cũng được chú trọng đào tạo chuyên sâu về quản trị chiến lược, quản trị marketing, quản trị rủi

ro, quản trị chất lượng Ngân hàng cũng khuyến khích và thúc đẩy sự chia sẻ kỹ năng, tri thức giữa các thành viên trong ngân hàng trên tinh thần một tổ chức không ngừng học tập để chuẩn bị nền tảng cho quá trình hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và thế giới trong thời gian tới

Trong năm 2005, trung tâm đào tạo của ACB đã tổ chức được 137 khoá học với tổng số lượt nhân viên tham gia là 4.171 lượt Năm 2006 tổ chức 196 khoá học cho 6.178 lượt cán bộ và nhân viên và đến năm 2007 đã tổ chức được 274 khoá cho 9.391lượt cán bộ và nhân viên, tăng 39% so với năm 2006

Biên bản ghi nhớ cam kết về hỗ trợ kỹ thuật và hợp pháp hĩa phần mềm từ nay đến năm 2009, đã được Tập đồn Microsoft và Ngân hàng TMCP Á Châu ký ngày

28/9/2007 tại Tp.Hồ Chí Minh Theo đĩ, Microsoft hỗ trợ đào tạo, cập nhật kiến thức

cơng nghệ, xây dựng kế hoạch đào tạo trung và dài hạn cho cán bộ CNTT của ACB về

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm