Một trong những công cụ hữu hiệu để đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay đó là Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.. Với hệ thống xếp hạng này các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÂM THANH PHI QUỲNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 21.2 Các rủi ro trong hoạt động tín dụng Trang 9 1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trang 9 1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng Trang10 1.3 Các phương pháp để quản lý rủi ro tín dụng Trang 11
1.4 Đảm bảo tín dụng Trang 13 1.4.1 Khái niệm và đặc trưng của đảm bảo tín dụng Trang 13 1.4.2 Các hình thức đảm bảo tín dụng Trang 14 1.4.2.1 Thế chấp Trang 14 1.4.2.3 Cầm cố tài sản Trang 15 1.4.2.4 Bảo lãnh Trang 16
1.5 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Trang 18 1.5.1 Khái niệm Trang 18 1.5.2 Các yếu tố cơ bản của một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Trang 19 1.5.2.1 Số lượng các thứ hạng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Trang 19 1.5.2.2 Các chỉ tiêu phi tài chính Trang 19 1.5.2.3 Các chỉ tiêu tài chính Trang 20 1.5.2.4 Thang điểm của các chỉ tiêu Trang 22 1.5.3 Ý nghĩa của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Trang 22
Trang 3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN
THIẾT XÂY DỰNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á
2.1 Sơ lược về Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á Trang 24 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Trang 24 2.1.2 Quy mô họat động và cơ cấu tổ chức Trang 24 2.1.2.1 Quy mô họat động Trang 24 2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức Trang 27 2.1.2.3 Một số kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP
Đông Á qua các năm gần đây Trang 29
2.2 Thực trạng họat động tín dụng tại Ngân hàng Đông Á Trang 34 2.2.1 Đối tượng khách hàng tín dụng Trang 34 2.2.2 Các sản phẩm tín dụng Trang 34 2.2.2.1 Các sản phẩm tín dụng doanh nghiệp Trang 34 2.2.2.2 Các sản phẩm tín dụng cá nhân Trang 35 2.2.3 Quy trình xét duyệt tín dụng hiện nay tại Ngân hàng TMCP
Đông Á Trang 36 2.2.3.1 Quy trình xét duyệt tín dụng Trang 36 2.2.3.2 Thẩm quyền xét duyệt tín dụng Trang 37 2.2.4 Một số kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP
Đông Á Trang 39 2.2.4.1 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng Trang 39 2.2.4.2 Dư nợ cho vay theo thời hạn và mục đích vay vốn Trang 41 2.2.4.3 Tỷ lệ nợ xấu Trang 42 2.2.5 Những thành quả đạt được và một số hạn chế trong họat động tín dụng của Ngân hàng Đông Á Trang 42 2.2.4.1 Những thành quả đạt được Trang 42 2.2.4.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân Trang 43 2.3 Sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại
Ngân hàng TMCP Đông Á Trang 46
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG
TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á
3.1 Các cơ sở để xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Trang 50
3.2 Trình tự thực hiện việc xếp hạng tín dụng đối với 1 doanh nghiệp Trang 52 3.2.1 Xác định lĩnh vực họat động của doanh nghiệp Trang 52 3.2.2 Xác định quy mô doanh nghiệp Trang 53 3.2.3 Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp.Trang 56 3.2.3.1 Mô tả hệ thống chấm điểm Trang 56 3.2.3.2 Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp Trang 57 3.2.3.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản Trang 57
Trang 43.2.3.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động Trang 58 3.2.3.2.3 Các tỷ số nợ Trang 60 3.2.3.2.4 Các tỷ số lợi nhuận Trang 61 3.2.3.2.5 Các chỉ số về lưu chuyển tiền tệ Trang 62 3.2.3.3 Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính của doanh nghiệp Trang 63 3.2.3.3.1 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp Trang 63 3.2.3.3.2 Trình độ và khả năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp Trang 65 3.2.3.3.3 Đánh giá nguồn nhân lực của Công ty Trang 67 3.2.3.3.4 Đánh giá công tác kế toán tài chính tại doanh nghiệp Trang 68 3.2.3.3.5 Đánh giá uy tín của đơn vị trong quan hệ với Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Trang 69 3.3 Kiểm tra kết quả của mô hình xếp hạng tín dụng Trang 71
3.4 Ứng dụng của mô hình xếp hạng tín dụng trong thực tế hoạt động tín dụng của Ngân hàng Trang 72 3.4.1 Xếp hạng tài sản đảm bảo của khách hàng Trang 73 3.4.2 Kết hợp mô hình xếp hạng tín dụng và xếp hạng tài sản đảm bảo của khách hàng trong việc ra quyết định tín dụng Trang 74
LỜI KẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục các bảng số liệu
Bảng 2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản Ngân hàng TMCP Đông Á Bảng 2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng số dư huy động bình quân Ngân hàng TMCP Đông Á
Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng bình quân và tốc độ tăng trưởng dư nợ vay bình quân của Ngân hàng Đông Á
Bảng 2.4 Doanh số thanh tóan quốc tế của Ngân hàng Đông Á
Bảng 2.5 Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Đông Á
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ vay theo thời hạn
Bảng 2.8 Cơ cấu dư nợ theo mục đích kinh doanh
Bảng 2.9 Tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng Đông Á
Bảng 2.10: Dư nợ tín dụng các Ngân hàng TMCP trong nước giai đọan 2002- 2007)
Bảng 3.1 Chấm điểm các chỉ tiêu phản ánh quy mô doanh nghiệp
Bảng 3.2 Thống kế quy mô vốn của các doanh nghiệp năm 2006
Bảng 3.3: Ước lượng quy mô vốn doanh nghiệp
Bảng 3.4:Thống kê quy mô lao động của doanh nghiệp năm 2006
Bảng 3.5: Ước lượng quy mô lao động doanh nghiệp
Bảng 3.6: Xác định quy mô doanh nghiệp
Bảng 3.7: Tỷ trọng điểm số theo tính chất báo cáo tài chính và hình thức sở hữu của doanh nghiệp
Bảng 3.8 Đánh giá tổng hợp các yếu tố môi trường
Bảng 3.9:Bảng chấm điểm năng lực của nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Bảng 3.10: Bảng đề xuất đánh giá nguồn nhân lực công ty
Bảng 3.11 :Bảng đề xuất đánh giá công tác kế toán tài chính tại doanh nghiệp Bảng 3.12: Bảng đề xuất đánh giá uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với các TCTD
Trang 7Bảng 3.13: Bảng đánh giá tính chất an toàn của tài sản đảm bảo
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ: 2.1 Vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Đông Á
Biểu đồ 2.2 Quy mô tổng tài sản Ngân hàng TMCP Đông Á Biểu đồ 2.3 Số dư huy động bình quân ngân hàng TMCP Đông Á Biểu đồ 2.4 Dư nợ cho vay bình quân của Ngân hàng Đông Á Biểu đồ 2.5 Doanh số thanh toán quốc tế của Ngân hàng Đông Á Biểu đồ 2.6 Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Đông Á
Biểu đồ: 2.7Dư nợ vay theo đối tượng khách hàng
Biểu đồ 2.8 Cơ cấu dư nợ theo mục đích kinh doanh
Trang 81 Lý do chọn đề tài
Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro thường xuyên xảy ra trong hoạt động ngân hàng thương mại Đây là một loại rủi ro gây ảnh hưởng rất lớn, mức thiệt hại rất nặng nề Nó không chỉ ảnh hưởng bản thân ngân hàng mà còn có thể gây tác động tiêu cực cho toàn bộ nền kinh tế Rủi ro trong hoạt động tín dụng cho vay bất động sản của một số ngân hàng thương mại Mỹ trong thời gian qua là một minh chứng
cụ thể nhất Rủi ro này đã làm cho nền kinh tế lớn nhất thế giới lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng và có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu
Có thể nói năm 2007 là một năm tăng trưởng mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại Việt Nam Dư nợ tín dụng của tất cả các ngân hàng thương mại đều tăng trưởng rất cao so với năm 2006, đặc biệt khối ngân hàng thương mại cổ phần đều có dư nợ tín dụng tăng trưởng từ 50%-100% so với năm trước Tuy nhiên trước
sự tăng trưởng quá “nóng” như trên, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các chuyên gia ngân hàng đã đưa ra rất nhiều khuyến cáo về mức độ rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay Có thể nói đã đến lúc các ngân hàng thương mại cần phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát hơn nữa đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của đơn vị mình
Một trong những công cụ hữu hiệu để đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay đó là Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ Với hệ thống xếp hạng này các nhà lãnh đạo ngân hàng sẽ có cái nhìn chính xác hơn, bao quát hơn các rủi ro tín dụng của đơn vị mình cũng như có thể đánh giá một cách nhanh chóng và chính xác mức độ tín nhiệm đối với một khách hàng để
có các chính sách thích hợp
Hệ thống xếp hạng tín dụng đã được xây dựng và áp dụng khá phổ biến ở một số ngân hàng thương mại của Việt Nam ta hiện nay như: Ngân hàng Đầu tư và
Trang 9phát triển Việt Nam (VIDB), Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu(ACB),…
Với thời gian công tác tín dụng trên 4 năm tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á, tác giả mong muốn xây dựng được một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho riêng cho Ngân hàng mình nhằm đáp ứng được nhu cầu quản lý rủi ro của đơn vị mình và phù hợp với đặc điểm các khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Đông Á
2 Mục đích nghiên cứu
Một là, xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đông Á
Hai là, một số đề xuất để ứng dụng hệ thống xếp hạng tín dụng này vào hoạt
động tín dụng thực tiễn của Ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ hiện có của các ngân hàng thương mại Việt Nam, ý nghĩa, mức độ tác động của các chỉ tiêu trong bảng đánh giá xếp hạng đến mức độ tín nhiệm của khách hàng trong hoạt động thực tế
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ về cơ bản được xây dựng dựa trên các thống kê về đặc điểm, mức độ của các chỉ tiêu phản ánh tình trạng “sức khỏe” của các doanh nghiệp hoạt động trong một thời kỳ nhất định Cùng với sự thay đổi của các yếu tố như điều kiện kinh tế vĩ mô, giai đoạn phát triển của nền kinh tế, tốc độ phát triển khoa học công nghệ,… các tiêu chuẩn để đánh giá này cũng cần được thay đổi, cập nhật cho phù hợp với tình hình thực tế Tác giả mong muốn đề tài này của mình có thể đóng góp một phần nào nhằm xây dựng các chỉ tiêu đánh giá mức
độ tín nhiệm doanh nghiệp phù hợp hơn với đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 10Với hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ này, tác giả hy vọng đĩng gĩp một phần cơng sức nhằm tăng cường hơn nữa chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Đơng Á cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong hoạt động tín dụng trong điều kiện hoạt động kinh doanh ngân hàng cạnh tranh gay gắt như ngày nay
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương :
Chương 1 : tổng quan về tín dụng ngân hàng và hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ
Chương 2 : thực trạng hoạt động tín dụng và sự cần thiết xây dựng hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng TMCP Đơng Á
Chương 3 : giải pháp xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân
hàng TMCP Đơng Á
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ 1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng ngân hàng còn được hiểu là sự vận động của vốn tín dụng lần lượt qua 3 giai đoạn như sau:
-Giai đoạn 1: cho vay Trong giai đoạn này, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn tín dụng cho người đi vay
-Giai đoạn 2: sử dụng vốn tín dụng Trong giai đoạn này, người đi vay toàn quyền sử dụng vốn tín dụng theo những mục đích đã cam kết, thỏa thuận với người cho vay
-Giai đoạn 3: hoàn trả tín dụng Người đi vay sau một thời gian sử vốn tín dụng phải hoàn trả đầy đủ giá trị ban đầu của vốn tín dụng và kèm theo một phần giá trị tăng thêm (lãi vay) cho người cho vay
Có thể tóm tắt quá trình vận động của vốn tín dụng qua sơ đồ sau:
Người cho vay Người đi vay
Giai đoạn 2: sử dụng vốn tín dụng
Trang 12Trong thực tế, việc chuyển giao các khoản tín dụng từ tổ chức tín dụng sang khách hàng vay được gọi là cấp tín dụng
Theo luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX của Việt Nam định nghĩa
hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng như sau:“Cấp tín dụng là việc các
tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc
có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ khác”
1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng
Các nguyên tắc tín dụng đã được khoa học kinh tế nghiên cứu, thực tiễn kiểm nghiệm từ lâu và đã có những khẳng định, kết luận đầy đủ Cùng với sự ra đời
và phát triển của hệ thống tín dụng thế giới, các nguyên tắc cơ bản của tín dụng vẫn
là đề tài luôn được quan tâm nghiên cứu, thảo luận, bổ sung nhằm hoàn thiện về mặt lý luận, củng cố vai trò dẫn đường của lý luận đối với hoạt động thực tiễn; giúp cho kinh doanh tiền tệ bảo toàn được vốn trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tín dụng
Xuất phát từ khái niệm về tín dụng ngân hàng đã trình bày trên ta thấy bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các nguyên tắc cơ bản sau:
-Nguyên tắc thứ nhất đó là việc cấp tín dụng phải có mục đích, và đảm bảo tính hiệu quả Các ngân hàng thương mại khi tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng phải đặc biệt quan tâm đến mục đích, kế hoạch sử dụng vốn vay của khách hàng Bởi vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có kế hoạch và hiệu quả là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự an toàn vốn tín dụng mà ngân hàng cho vay Trong hoạt động tín dụng thực tế, một số cán bộ tín dụng vì áp lực của doanh số cho vay, kế hoạch lợi nhuận thường bỏ qua nguyên tắc quan trọng này, họ chỉ chú ý đến tài sản đảm bảo cho khỏan vay Điều này hết sức nguy hiểm bởi vì nguồn trả nợ vay trực tiếp cho khỏan tín dụng chính là từ hiệu quả của việc sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo chỉ là một yếu tố nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng trong trường hợp nguồn thu trực tiếp trên không xảy ra Vì việc xử lý các tài sản thế chấp, cầm cố
Trang 13thông thường tốn rất nhiều thời gian, liên quan đến nhiều thủ tục pháp lý phức tạp
và tốn rất nhiều chi phí liên quan
-Nguyên tắc thứ hai: Có vật tư, hàng hóa tương đương Nguyên tắc này được đặt ra theo yêu cầu tất yếu khách quan của quy luật lưu thông tiền tệ Lưu thông hàng hóa
là cơ sở của lưu thông tiền tệ và cũng quyết định lưu thông tiền tệ Khối lượng tiền
tệ đưa vào lưu thông qua kênh tín dụng đương nhiên phải phù hợp với lưu thông hàng hóa (giá cả hàng hóa và tốc độ lưu thông)
Nền kinh tế Việt Nam ta trong giai đoạn năm 2007 đã có những biểu hiện vi phạm nguyên tắc cơ bản này của tín dụng Tốc độ tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế nước ta chỉ đạt khoản 8%/năm trong khi đó tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống các ngân hàng thương mại lại vượt quá cao so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, khối ngân hàng thương mại cổ phần có mức tăng trưởng tín dụng năm 2007 đều từ 50%-100% Chính điều này đã góp phần làm nền kinh tế Việt Nam ta đang đứng trước nguy cơ lạm phát nghiêm trọng Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát nhưng hiệu quả của các biện pháp này đến nay vẫn chưa phát huy được nhiều tác dụng
-Nguyên tắc thứ ba: Hoàn trả vốn và lãi đúng thời hạn Người đi vay khi đến hạn thanh toán có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện tài sản lại cho bên cho vay Trong thực tế hoạt động tín dụng ngân hàng, cam kết hoàn trả vô điều kiện này được thể hiện trên các văn bản xác định quan hệ tín dụng như: hợp đồng tín dụng, khế ước vay,…Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị cho vay, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi vay ngoài vốn gốc Phần lãi vay này nhằm bù đắp việc bên cho vay đã cho bên đi vay sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình trong thời gian cho vay Lãi vay có thể xem như giá của khoản tín dụng mà người
đi phải trả cho bên cho vay để có thể sử dụng tài sản vay trong một thời gian nhất định
Trang 141.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều căn cứ khác nhau để thực hiện phân loại tín dụng ngân hàng Sau đây là một số căn cứ phổ biến thường được sử dụng để phân loại tín dụng ngân hàng
1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Nếu căn cứ vào thời gian cho vay ta có 3 loại cho vay sau đây:
-Cho vay ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm trở xuống Mục đích
chủ yếu của hình thức vay này bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân Đối với các ngân hàng thương mại, thông thường tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất
-Cho vay trung hạn: theo quy định của Việt Nam ta hiện nay, cho vay trung hạn có
thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến dưới 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được
sử dụng để đầu tư mua sắm thêm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh Nói cách khác, tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để đầu
tư chiều sâu, cải tiến, hiện đại hóa quy trình công nghệ
-Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm Tín dụng dài hạn là loại
tín dụng được cung cấp chủ yếu nhằm đáp ứng các nhu cầu về dài hạn như: mua sắm bất động sản, đầu tư xây dựng nhà xưởng, các công trình, dự án sản xuất kinh doanh có quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu Nói cách khác, tín dụng dài hạn được sử dụng để đầu tư mới, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích vay
Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia ra các loại sau:
-Cho vay sản xuất kinh doanh: là khoản cho vay nhằm bù đắp các khoản thiếu hụt
về vốn lưu động của doanh nghiệp trong ngắn hạn
-Cho vay đầu tư xây dựng cơ bản: là khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về
đầu tư máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua sắm bất động sản, xây dựng văn phòng, nhà ở
-Cho vay tiêu dùng: là khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá
nhân, mua sắm các vật đắt tiền
-Cho vay dưới hình thức thuê mua tài chính và các loại khác
Trang 151.1.3.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này, cho vay được chia ra làm 2 loại:
-Cho vay không đảm bảo là khoản cho vay được ngân hàng cung cấp mà
không cần yêu cầu người đi vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3 để đảm bảo cho việc hoàn trả nợ vay Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa trên bản thân uy tín của khách hàng Hình thức cho vay này còn được gọi là cho vay tín chấp
Thông thường khi cho vay tín chấp, ngân hàng thường căn cứ vào tính khả thi, hiệu quả của phương án kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng Đây là một loại hình cho vay nên được nhân rộng để giảm bớt những thủ tục và chi phí trung gian không cần thiết Thông thường các khách hàng được xếp hạng tín nhiệm tốt đều được ngân hàng xem xét cho vay tín chấp
-Cho vay có đảm bảo là khoản cho vay được ngân hàng cung ứng cho người
đi vay trên cơ sở phải có tài sản thế chấp hay cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ 3
Đối với các khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hòi phải có đảm bảo Sự đảm bảo này là cơ sở để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ trong trường hợp khách hàng vay vốn không thể trả nợ
1.1.3.4 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 2 loại:
-Cho vay bằng tiền là khoản cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền Đây là dạng cho vay chủ yếu của các ngân hàng
-Cho vay bằng tài sản là khoản cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng
được cung cấp bằng tài sản Cho vay bằng tài sản được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất đó là thuê tài chính
Cho thuê tài chính (Leasing) là loại hình nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn
mới hình thành và phát triển từ những thập niên 60 thế kỷ XX Đây là loại hình tài trợ dưới hình thức cho thuê máy móc, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và được thực hiện qua các công ty con của Ngân hàng thương mại(Công ty cho thuê tài chính)
Trang 16Các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế có nhu cầu sử dụng thiết bị tài sản để sản xuất, kinh doanh nhưng không có đủ vốn để mua, hay không đủ điều kiện để ngân hàng cho vay trung dài hạn, thì có thể xin tài trợ bằng hình thức cho thuê tài chính Nếu phương án sử dụng tài sản có hiệu quả, Công ty cho thuê tài chính sẳn sàng tài trợ cho doanh nghiệp bằng cách bỏ vốn của mình ra mua sắm các tài sản, thiết bị theo danh mục và số lượng người đi thuê yêu cầu Sau khi Công ty cho thuê tài chính hoàn thành các thủ tục pháp lý về tài sản, thiết bị đó thì sẽ cho người đi thuê thực hiện việc thuê để sử dụng trong một khoản thời gian nhất định(thông thường thời hạn đi thuê thường chiếm 2/3 thời gian khấu hao của tài sản, hay thiết
bị đó) Người đi thuê phải có nghĩa vụ sử dụng và bảo quản tài sản đó đúng mục đích và thanh toán tiền thuê đầy đủ đúng hạn theo các điều khoản của hợp đồng cho thuê tài chính Khi hết hạn cho thuê, người đi thuê có quyền lựa chọn phương án mua lại tài sản đó, kéo dài thêm thời hạn thuê hay trả lại tài sản thiết bị thuê Đây là loại hình tín dụng có nhiều ưu điểm phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cho thuê tài chính được thể hiện qua sơ đồ sau:
1.1.3.5 Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng
Dựa vào căn cứ này cho vay chia ra làm 2 loại:
-Cho vay trực tiếp: trong hình thức tín dụng này, ngân hàng cấp vốn trực
tiếp cho người có nhu cầu vay vốn và người đi vay này trực tiếp thực hiện hoàn trả
nợ vay cho ngân hàng
Cho vay trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:
CÔNG TY THUÊ MUA
TS (3) Giao tài sản
(1) Tìm hiểu TS
Trang 17(1)Cấp vốn
(2) Thanh toán nợ
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay mà ngân hàng cấp tín dụng cho chủ
thể này nhưng thực hiện thu nợ từ chủ thể khác Các khoản cho vay này được thực hiện chủ yếu thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh
và chưa đến hạn thanh toán
Cho vay gián tiếp được chia ra làm 2 loại hình phổ biến như sau:
a/ Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá
Nghiệp vụ ngân hàng mua lại thương phiếu và các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh thanh toán gọi là chiết khấu(discount) Nếu khách hàng là người chủ sở hữu các thương phiếu, giấy tờ có giá và chưa đến hạn thanh toán, cần phải có tiền ngay thì có thể đến ngân hàng để thực hiện chiết khấu Khách hàng sẽ nhận được tiền trước thời hạn theo cách khấu trừ tiền lãi và chuyển quyền sở hữu chứng từ lại cho ngân hàng Khi chứng từ đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ xuất trình chứng từ cho người trả tiền và được người trả tiền thanh toán toàn bộ số tiền theo như chứng
từ cho ngân hàng chiết khấu
Nghiệp vụ chiết khấu chứng từ có giá của ngân hàng được thể hiện qua sơ đồ sau:
KHÁCH HÀNG NGÂN HÀNG
Trang 18Nghiệp vụ chiết khấu giúp các chủ sở hữu chứng từ khôi phục năng lực thanh toán, đây là nghiệp vụ được ưa chuộng không những đối với khách hàng, mà còn cả đối với ngân hàng, vì đây là nghiệp vụ cho vay có đảm bảo bằng chứng từ
có giá, rủi ro tín dụng ở mức độ thấp
b/ Bao thanh toán(Factoring)
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại sẽ đứng ra mua các khoản phải thu trên cơ sở hoá đơn, chứng từ của người bán hàng (giá mua bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị thực tế của khoản nợ) Thông qua nghiệp vụ này, chủ nợ có được tiền ngay để đáp ứng nhu cầu vốn của mình Khi đến hạn thanh toán, người mua hàng hóa, dịch vụ (khách nợ) phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền trên hóa đơn chứng từ cho ngân hàng (người mua nợ và là chủ nợ mới)
Nghiệp vụ Factoring ở một mức độ nào đó gần giống với nghiệp vụ chiết khấu chứng từ nhưng khác ở chổ nghiệp vụ chiết khấu chứng từ chủ yếu áp dụng với các chứng từ có giá ít rủi ro như: trái phiếu chính phủ, các giấy tờ có giá do các
tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại phát hành, hoặc hối phiếu phát sinh trong hoạt động xuất khẩu; còn nghiệp vụ Factoring chủ yếu áp dụng với các chứng từ ghi nợ phát sinh chủ yếu trong nghiệp vụ thương mại trong và ngoài nước Mức độ rủi ro của nghiệp vụ Factoring cao hơn trong nghiệp vụ chiết khấu chứng từ, do vậy mức tiền khấu trừ của ngân hàng trong nghiệp vụ này cũng cao hơn
Ngoài các loại cho vay như đã nêu trên, ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho các khách hàng của mình.Thực chất, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là hình thức tín dụng bằng chữ ký Nhờ các chứng thư bảo lãnh của ngân hàng mà các
NGƯỜI TRẢ TIỀN
CT(KHÁCH NỢ)
NGƯỜI XIN CK (CHỦ NỢ)
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
(2)Bán chịu, cho vay
(3)Chiết
khấu
Trang 19doanh nghiệp có thể ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế thương mại, hợp đồng tài chính một cách thuận lợi
Tuy nghiệp vụ bảo lãnh là nghiệp vụ tín dụng không xuất vốn, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì ngân hàng bảo lãnh buộc phải thực hiện các cam kết bảo lãnh, khi người bảo lãnh vì các lý do nào đó đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình, nghĩa là ngân hàng phải đứng ra trả tiền thay cho người được bảo lãnh Trong hoạt động kinh tế, thương mại và tài chính, các chứng thư bảo lãnh của các ngân hàng hàng đầu, có uy tín, được tin tưởng không những trong phạm vi một nước mà còn cả trên phạm vi quốc tế
1.2 Các rủi ro trong hoạt động tín dụng
Trong thực tế hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn lợi chủ yếu cho các ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn những rủi ro và có thể gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng Vì vậy ta cần nhận thức rõ về rủi ro tín dụng để có các biện phòng phòng tránh thích hợp
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường cung cấp tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động ngân hàng Khi một ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng thì nguyên nhân chủ yếu thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng nợ không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Rủi ro này phát sinh trong nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng
Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn, là một loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 201.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng được phân chia ra thành các loại sau:
Theo sơ đồ trên rủi ro tín dụng được chia ra thành rủi ro giao dịch(Transaction risk)
và rủi ro danh mục (Porfolio risk)
-Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt tín dụng, đánh giá khách hàng.Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ
+Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích
tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá tài sản đảm bảo
+Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro bảo đảm nghiệp vụ Rủi ro
Rủi ro
tập trung Rủi ro
nội tại
Trang 21-Rủi ro danh mục:là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro này được chia ra làm 2 loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung(Concentration risk)
+Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính
riêng biệt của chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều
đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực kinh tế, hay trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại cho vay có tính chất rủi ro cao
1.3 Các phương pháp để quản lý rủi ro tín dụng
1.3.1 Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay và bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay; xem xét và quyết định việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc không có đảm bảo tài sản, cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, tránh các vướng mắc khi cần xử lý tài sản để thu hồi nợ vay Đặc biệt chú trọng đến các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng, không để nợ xấu gia tăng
1.3.2 Phải tăng cường kiểm tra giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục cho vay và cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố thất thoát tài sản; sắp xếp lại tổ chức
bộ máy, tăng cường công tác đào tạo cán bộ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.3.3 Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của các khoản nợ tại tổ chức tín dụng 1.3.4 Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả Trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài sản đảm bảo, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng
1.3.5 Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín dụng
Trang 22a) Xây dựng và thực hiện đồng bộ một hệ thống quy chế, quy trình nội bộ về quản
lý rủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn,
sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá và xếp hạng khách hàng, đánh giá chất lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu
b) Mở rộng tín dụng trung dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối giữa thời hạn cho vay với thời hạn nguồn vốn huy động
c) Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán đối với khách hàng và các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh
1.3.6 Đối với các trường hợp khách hàng chây ỳ trong việc trả nợ vay, các tổ chức tín dụng cần áp dụng các biện pháp kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay,
kể cả việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án 1.3.7 Phân tán rủi ro trong hoạt động cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao
1.3.8 Thực hiện tốt việc thẩm định tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng Tổ chức tín dụng cần tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng vốn và tình hình sản xuất kinh doanh của các khách hàng vay vốn nhằm phát hiện kịp thời việc sử dụng vốn sai mục đích, cũng như các khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng để có các biện pháp ứng phó kịp thời
1.3.9Thực hiện bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chủ động chuyển một phần hay toàn bộ rủi ro tín dụng cho các cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp để giảm bớt mức độ thiệt hại cho ngân hàng nếu có rủi ro tín dụng phát sinh
1.3.10 Phải có một chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro
1.3.11 Thực hiện quản lý rủi ro tín dụng thông qua công cụ tín dụng phái Credit Derivatives (dẫn xuất tín dụng)
Công cụ tín dụng phái sinh là các hợp đồng tài chính được ký kết bởi các bên tham gia giao dịch tín dụng (ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm ,nhà đầu tư,…) nhằm đưa ra các khoản đảm bảo chống lại sự dịch chuyển bất lợi về
Trang 23chất lượng tín dụng của các khoản đầu tư hoặc những tổn thất liên quan đến tín dụng Đây là công cụ hữu hiệu giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất
Những hợp đồng này mang lại cho các nhà đầu tư, người nhận nợ và ngân hàng những kỹ thuật, công cụ mới bổ sung cho các biện pháp bán nợ, phân tán rủi
ro và bảo hiểm nhằm quản lý hiệu quả rủi ro tín dụng Vì trên thực tế, khi người đi vay bị phá sản, ngân hàng và nhà đầu tư sẽ phải gánh chịu các thiệt hại từ khoản đầu tư Tuy nhiên, khoản thiệt hại này vẫn có thể bù đắp được bằng các công cụ tín dụng phái sinh Vì vậy, nếu được sử dụng linh hoạt, các công cụ tín dụng phái sinh
sẽ làm giảm các rủi ro nói chung cho các ngân hàng và các nhà đầu tư
Như ta đã biết rủi ro tín dụng luôn luôn tồn tại trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Trong điều kiện thị trường tài chính ở Việt Nam hiện nay, một biện pháp được hầu hết các ngân hàng sử dụng để tăng cường độ an toàn cho hoạt động tín dụng đó là đảm bảo tín dụng
1.4 Đảm bảo tín dụng
1.4.1 Khái niệm và đặc trưng của đảm bảo tín dụng
Đảm bảo tín dụng hay còn gọi là đảm bảo tiền vay là việc thiết lập cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba nhằm đảm bảo quyền lợi của người cho vay khi nguồn thu nợ thứ nhất không xảy ra Nguồn thu nợ thứ nhất ở đây được hiểu là nguồn tiền thu được từ việc sử dụng vốn tín dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với cho vay sản xuất kinh doanh, đầu tư máy móc, xây dựng nhà xưởng Còn đối với cho vay tiêu dùng thì nguồn thu thứ nhất là các khỏan thu nhập của cá nhân như: tiền lương, cổ tức, lợi tức trái phiếu, lãi tiền gởi,…
Nói chung bất cứ tài sản hoặc quyền về tài sản nào được phép giao dịch mà
có khả năng chuyển hóa thành tiền để trả nợ đều có thể dùng để đảm bảo Tuy nhiên từ góc độ của người cho vay, tài sản đảm bảo phải có được 3 đặc trưng cơ bản sau:
-Giá trị của tài sản đảm bảo phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo Bởi vì bảo
đảm tín dụng không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc dục
Trang 24người đi vay trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản Nếu giá trị của tài sản đảm bảo nhỏ hơn nghĩa vụ được đảm bảo thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ
Ta phải hiểu nghĩa vụ được đảm bảo ở đây là bao gồm cả vốn gốc và lãi vay (kể cả lãi vay quá hạn) và các chi phí khác, trừ trường hợp các bên thỏa thuận lãi vay và các chi phí khác không thuộc phạm vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ
-Tài sản đảm bảo phải có tính thanh khỏan trên thị trường Nghĩa là tài sản
được dùng để đảm bảo phải có khả năng bán được trên thị trường với giá cả hợp lý Mức độ thanh khỏan của tài sản đảm bảo thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp nhận
-Có đầy đủ các cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản để thu
hồi nợ vay Đặc trưng này được thể hiện cụ thể như sau: tài sản đảm bảo phải
thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch mua bán, đồng thời phải có đầy đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng - chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ đúng hạn
Các tài sản được dùng để thế chấp bao gồm:
-Bất động sản: bất động sản là các tài sản không di dời được như nhà ở, các cơ sở sản xuất-kinh doanh như nhà máy, khách sạn, cửa hàng, nhà kho,… các tài sản khác gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng Ngoài ra còn bao gồm cả hoa lợi, lợi tức, các khoản tiền bảo hiểm và các quyền phát sinh từ bất động sản thế chấp
Trang 25-Giá trị quyền sử dụng đất: theo quy định của phát luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước thực hiện giao đất hay cho thuê đất đối với các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân,
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội sử dụng ổn định lâu dài Trong các chủ thể được giao đất ở trên chỉ có cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế mới được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất để vay vốn Và các chủ thể này cũng chỉ được thế chấp giá trị quyền sử dụng của một số loại đất theo quy định cụ thể của pháp
luật (Xem phụ lục 5)
Thế chấp có thể được thực hiện qua các hình thức sau đây
*Thế chấp thứ nhất và thế chấp thứ hai
-Thế chấp thứ nhất: là việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho món nợ thứ nhất Cần
lưu ý rằng thế chấp thứ nhất không có nghĩa rằng lần đầu tiên đem tài sản đi thế chấp để đảm bảo cho khoản vay, mà thế chấp thứ nhất được xác định trong mối tương quan giữa các khỏan vay được đảm bảo bằng tài sản đó Tức là việc sử dụng một tài sản đảm bảo cho nhiều khỏan vay và thế chấp để đảm bảo cho khỏan vay đầu tiên gọi là thế chấp thứ nhất
-Thế chấp thứ hai: thế chấp thứ hai là hình thức thế chấp trong đó người sở hữu tài
sản sử dụng phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản thế chấp và khỏan nợ thứ nhất được đảm bảo bằng tài sản đó để đảm bảo cho một khỏan nợ thứ hai
*Thế chấp trực tiếp và thế chấp gián tiếp
-Thế chấp trực tiếp hay còn gọi là thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay là hình
thức thế chấp mà tài sản thế chấp do vốn vay tạo nên Ví dụ: ngân hàng cho vay đối với một cá nhân để mua nhà, và cá nhân đó dùng chính căn nhà để thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của mình cho khoản vay mua nhà
-Thế chấp gián tiếp là hình thức thế chấp mà trong đó tài sản thế chấp và tài sản
dùng vốn vay để mua là hai tài sản khác nhau
1.4.2.3 Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là động sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên cho vay-ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ
Tài sản cầm cố là động sản bao gồm:
Trang 26• Tài sản thực(vật có thực) như xe cộ, máy móc, hàng hóa, vàng, tàu biển, máy bay, các loại khác
• Tiền gồm tiền mặt và tiền trên tài khoản
• Giấy tờ có giá như: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu,…
• Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác
• Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố
Nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận cho bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố hay giao cho bên thứ ba giữ Nếu tài sản cầm cố không có đăng ký quyền sở hũu thì tài sản cầm cố phải được chuyển giao cho bên cho vay bảo quản hay bên thứ ba bảo quản theo sự chỉ định của bên cho vay
Cầm cố tài sản cũng bao gồm cầm cố thứ nhất và cầm cố thứ hai, cầm cố trực tiếp và cầm cố gián tiếp Nội dung các loại cầm cố này cũng tương tự như thế chấp
1.4.2.4 Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh)
sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn trả nợ mà người được bảo lãnh không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
Người bảo lãnh: là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay đối với người cho vay (ngân hàng) Người bảo lãnh có thể là cá nhân hay pháp nhân Một bảo lãnh có thể có nhiều người tham gia cùng bảo lãnh
Người nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người thụ hưởng bảo lãnh Trong quan hệ tín dụng đó là các ngân hàng cho vay
Người được bảo lãnh là người đi vay (người mắc nợ), người có nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay
Bảo lãnh được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
*Bảo lãnh có tài sản đảm bảo hoặc bằng uy tín
Trang 27-Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản là bên bảo lãnh phải có tài sản để thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh Việc bảo lãnh bằng tài sản có thể kèm theo biện pháp thế chấp hoặc cầm cố để đảm bảo nghĩa vụ
-Bảo lãnh bằng uy tín là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người bảo lãnh
Theo quy định hiện nay, chỉ có các tổ chức tín dụng mới được pháp bảo lãnh vay bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh
*Bảo lãnh một phần hoặc bảo lãnh toàn bộ
Người bảo lãnh có thể bảo lãnh một phần hay toàn bộ số nợ phải thanh toán cho ngân hàng Trong trường hợp bảo lãnh một phần thì phải ghi rõ số tiền bảo lãnh
Các khái niệm về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh được trình bày ở phần trên là theo quan điểm phổ biến trước kia về đảm bảo tín dụng Tuy nhiên theo quan điểm
về thế chấp, cầm cố tài sản trong Luật dân sự năm 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 26/12/06 của Chính Phủ về giao dịch đảm bảo thì ta có cách định nghĩa như sau:
“Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” (Điều 342-Bộ luật dân sự Việt Nam 2005)
Nghĩa vụ dân sự hay trong quan hệ tín dụng ngân hàng là nghĩa vụ trả nợ có thể là nghĩa vụ của người có tài sản, hay một bên thứ ba được người có tài sản bảo lãnh
Bên nhận thế chấp trong trường hợp này chỉ nằm giữ các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản, còn bên thế chấp vẫn có quyền nắm giữ và sử dụng tài sản thế chấp tuy nhiên không còn có quyền định đoạt đối với tài sản này nữa (bán, cho tặng, hay cho thuê tài sản,…) Khi cần phát mãi để xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ, bên thế chấp có nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản thế chấp lại cho bên nhận thế chấp
“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” (Điều 326 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005)
Trang 28Nghĩa vụ dân sự ở đây cũng được hiểu là nghĩa vụ trả nợ có thể là nghĩa vụ của người có tài sản, hay một bên thứ ba được người có tài sản bảo lãnh Ngân hàng có thể tự mình đứng ra quản lý tài sản cầm cố hay giao lại cho một bên khác
để quản lý tài sản thay mình
Về bên bảo đảm: theo quan điểm trước đây của Nghị định 165/1999/NĐ-CP quy định bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; người thứ ba dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa vụ, thì phải áp dụng biện pháp bảo lãnh bằng tài sản Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định bên bảo đảm không chỉ là bên có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự mà có thể là người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thay cho bên có nghĩa vụ Tài sản thế chấp, cầm cố ở đây cũng được mở rộng phạm vi hơn không chỉ bao gồm các tài sản theo quan điểm về thế chấp, cầm cố và bảo lãnh cũ mà còn bao gồm cả các tài sản hình thành trong tương lai
Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, việc xử lý các tài sản thế chấp, cầm cố thông thường tốn rất nhiều thời gian, liên quan đến nhiều thủ tục pháp lý phức tạp
và tốn rất nhiều chi phí liên quan Và đôi khi giá trị thu hồi từ việc phát mãi tài sản đảm bảo không đủ để bù đắp thiệt hại về vốn, lãi vay và các chi phí liên quan đến việc thu hồi nợ vay Mặt khác, một ngân hàng nếu thường xuyên phải thực hiện việc kiện tụng, phát mãi tài sản khách hàng để thu hồi nợ vay sẽ ảnh hưởng xấu đến lòng tin của các khách hàng đối với chất lượng họat động Ngân hàng
Do vậy, các ngân hàng cần phải trang bị cho mình một công cụ hữu hiệu để đánh giá mức độ tín nhiệm với các khách hàng và mức độ rủi ro với các khỏan vay
Trang 29Qua hệ thống chỉ tiêu này ngân hàng có thể tiến hành so sánh, lượng hoá mức độ rủi ro khi cấp tín dụng cho từng đối tượng khách hàng để từ đó có chính sách tín dụng phù hợp cho khách hàng đó
1.5.2 Các yếu tố cơ bản của một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
1.5.2.1 Số lượng các thứ hạng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Việc xác định số lượng các thứ hạng trong một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ hết sức quan trọng Số lượng các thứ hạng phải đảm bảo bao quát tất cả các mức độ rủi ro, bao quát tất cảc các mức độ tín nhiệm của các khách hàng hiện có tại ngân hàng Mặt khác, số lượng các thứ hạng cũng phải đảm bảo sao cho các doanh nghiệp có cùng mức độ tín nhiệm phải ở cùng một mức xếp hạng, và mức xếp hạng
đó phải phản ánh đúng được mức độ tín nhiệm, cũng như mức độ rủi ro của các khách hàng trong thực tế
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều tổ chức thực hiện việc xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp Mỗi tổ chức xếp hạng đều có một hệ thống các thứ hạng
để xếp hạng khác nhau Mức xếp hạng của Standard & Poors, một trong những
công ty xếp hạng tín nhiệm uy tín ở Mỹ, và trên thế giới, bao gồm 10 mức xếp hạng
được ký hiệu từ AAA đến D, với AAA là mức xếp hạng tối ưu Moody’s thì có hệ thống các thang điểm từ Aaa tời C và Fitch’s thì từ AAA đến D Tuy nhiên nhìn
chung thì hệ thống thang điểm xếp hạng bao gồm 10 mức từ AAA đến D được sử dụng phổ biến nhất tại các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trên thế giới
Tại Việt Nam, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng như: Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam cũng bao gồm 10 mức xếp hạng (Xem phụ lục 1-Các thứ
hạng trong hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ)
1.5.2.2 Các chỉ tiêu phi tài chính
Các yếu tố phi tài chính trong một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là chỉ tiêu không được phản ánh trực tiếp trong các báo cáo tài chính của doanh nghịệp, tuy nhiên các chỉ tiêu này có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến khả năng thực hiện các cam kết tài chính của doanh nghiệp
Trang 30Nhìn chung các chỉ tiêu phi tài chính được phân ra làm 2 nhóm chỉ tiêu cơ bản sau:
-Nhóm chỉ tiêu nội bộ doanh nghiệp: nhóm chỉ tiêu này phản ánh các đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu cơ bản sau: sản phẩm doanh nghiệp, thị phần sản phẩm doanh nghiệp, công nghệ máy móc thiết bị của doanh nghiệp, nguồn nguyên liệu, trình độ tổ chức quản lý, nguồn nhân lực và địa điểm của doanh nghiệp,…
-Nhóm chỉ tiêu môi trường sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến doanh nghiệp Bao gồm 2 nhóm chỉ tiêu nhỏ sau:
+Nhóm chỉ tiêu môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các chỉ tiêu như: môi trường văn hóa xã hội, môi trường chính trị pháp luật, môi trường công nghệ, môi trường kinh tế,…
+Nhóm chỉ tiêu môi trường ngành bao gồm các chỉ tiêu như:chu kỳ kinh doanh của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, triển vọng tăng trưởng ngành, áp lực cạnh tranh trong ngành và các áp lực cạnh tranh tiềm tàn,…
Các nhóm chỉ tiêu này được phản ánh qua sơ đồ sau:
Trang 311.5.2.3 Các chỉ tiêu tài chính
Các chỉ tiêu tài chính được phản ánh trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích các tỷ số tài chính, người đánh giá có thể xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại Đồng thời các tỷ số tài chính cũng tạo điều kiện cho việc so sánh “sức khỏe” của các doanh nghiệp giữa các thời kỳ và so sánh với các doanh nghiệp khác hay các giá trị trung bình của ngành Các chỉ số tài chính doanh nghiệp bao gồm các chỉ số như sau:
1 Các tỷ số thanh khỏan
1.1 Tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
1.2 Tỷ số thanh toán nhanh
2 Các tỷ số họat động
2.1 Tỷ số vòng quay hàng tồn kho
2.2 Kỳ thu tiền bình quân
2.3 Tỷ số hiệu quả sử dụng tài sản
3 Các tỷ số đòn bẩy
3.1 Tỷ số nợ
3.2 Tỷ số nợ trên vốn
Môi trường vĩ mô
-Môi trường văn hóa XH
-Môi trường chính trị
pháp luật
-Môi trường công nghệ
-Môi trường kinh tế
Môi trường ngành
-Chu kỳ kinh doanh
-Triển vọng tăng trưởng của ngành
Môi trường nội bộ
Môi trường bên ngoài
Trang 324 Các tỷ số lợi nhuận
4.1 Tỷ số lợi nhuận thuần trên tổng doanh thu
4.2 Tỷ số lợi nhuận thuần trên tổng tài sản
4.3 Tỷ số lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu
5 Chỉ tiêu lưu chuyển tiền tệ
5.1 Khả năng thanh toán lãi vay
5.2 Xu hướng luân chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ
Nội dung cụ thể, chi tiết về các chỉ số này sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3
1.5.2.4 Thang điểm của các chỉ tiêu
Các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đều có một hệ thống thang điểm các chỉ tiêu khác nhau, nhưng nhìn chung thang điểm của một chỉ tiêu được chia ra làm
5 mức điểm số khác nhau từ 20 đến 100 điểm
Mỗi chỉ tiêu lại được cho một trọng số nhất định Trọng số này phản ánh mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu đến mức độ tín nhiệm và rủi ro của đơn vị được đánh giá
Điểm của một chỉ tiêu được tính bằng cách lấy điểm của chỉ tiêu đó nhân với trọng số chỉ tiêu tương ứng
Điểm xếp hạng của doanh nghiệp được tính bằng cách cộng tổng các điểm chỉ tiêu của doanh nghiệp sau khi đã nhân với trọng số
1.5.3 Ý nghĩa của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Thứ nhất, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là một công cụ hữu hiệu để các
ngân hàng đánh giá mức độ tín nhiệm đối với một khách hàng vay, mức độ an toàn đối với một khoản vay
Thứ hai, một hệ thống xếp hạng tín dụng tốt sẽ góp phần hỗ trợ đắc lực cho
các lãnh đạo trong việc ra quyết định tín dụng Hệ thống này giúp hạn chế những sai sót trong quá trình thẩm định tín dụng của các cán bộ tín dụng Nó giúp cho các lãnh đạo ngân hàng có cái nhìn toàn diện hơn, chính xác hơn về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh, mức độ tín nhiệm của một khách hàng, hay mức độ rủi ro của một khoản vay
Trang 33Thứ ba, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có thể góp phần nâng cao tốc độ
xử lý hồ sơ tín dụng, góp phần đáng kể trong nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng trong điều kiện ngày nay
Thực vậy, trong điều kiện kinh tế mở rộng và hội nhập hiện nay, số lượng các ngân hàng ngày càng nhiều Các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài ra sức cạnh tranh nhau thị phần tín dụng Khách hàng tín dụng giờ đây có nhiều lựa chọn hơn khi có nhu cầu vay vốn.Và một trong những yếu tố mà khách hàng quan tâm hàng đầu đó là thời gian xử lý hồ sơ tín dụng, vì điều này có thể ảnh hưởng quan trọng đến cơ hội, thời cơ đầu tư, kinh doanh của họ Do vậy một ngân hàng có thời gian xử lý hồ sơ tín dụng nhanh chóng sẽ dễ dàng cạnh tranh, thu hút khách hàng tín dụng hơn so với các ngân hàng khác
Thứ tư, hệ thống xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng dễ dàng so sánh mức độ
tín nhiệm giữa những khách hàng với nhau để từ đó có các ưu đãi về lãi suất, điều kiện tài sản thế chấp đối với những khách hàng có mức độ tín nhiệm cao Mặt khác, đối với những khách hàng có mức độ tín nhiệm thấp thì ngân hàng cần chú ý hơn đến các biện pháp đảm bảo nợ vay cũng như tăng cường hơn công tác giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng này
Thứ năm, hệ thống xếp hạng tín dụng giúp cho ngân hàng đánh giá được
mức độ rủi ro của khoản mục tín dụng; giúp cho nhà quản trị ngân hàng so sánh khách quan mức độ rủi ro của các sản phẩm tín dụng hiện có tại ngân hàng Trên cở
sở đó, ngân hàng có thể phân bổ nguồn lực đẩy mạnh phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp mang lại lợi nhuận mong đợi và có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được Tóm lại, một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ chuẩn xác sẽ có tác dụng to lớn trong việc quản trị điều hành họat động tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ vào thực tế hoạt động tín dụng ngân hàng, nhà quản trị ngân hàng cần kết hợp công cụ này với việc xếp hạng, đánh giá tài sản đảm bảo của khách hàng để có những quyết định cho vay ít rủi ro và đạt được lợi nhuận như mong đợi
Trang 34CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á
2.1 Sơ lược về Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á được thành lập theo quyết định số 0009/QĐ-NH ngày 27/02/1992 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Giấy phép thành lập số 135/QĐUB do UBND Tp.HCM cấp ngày 06/04/1992
Ngày 01/07/1992, Ngân hàng TMCP Đông Á chính thức tham gia vào thị trường tài chính Việt Nam Ngân hàng TMCP Đông Á là một trong số những Ngân hàng TCMP đầu tiên ở Việt Nam
Trụ sở ban đầu tại 60-62 Nam Kỳ Khởi Nghĩa(nay là Nguyễn Văn Trổi), Q.Phú Nhuận, Tp.HCM Trụ sở hiện nay tại 130 Phan Đăng Lưu, Q Phú Nhuận, Tp.HCM
Các cổ đông góp vốn chính của Ngân hàng bao gồm:
z Văn phòng Thành uỷ TP.HCM
z Công ty CP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ)
z Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Phú Nhuận
z Tổng Công ty May Việt Tiến
z Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO)
z Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO)
2.1.2 Quy mô họat động và cơ cấu tổ chức
2.1.2.1 Quy mô họat động
Ngân hàng TMCP Đông Á ban đầu thành lập với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng Trải qua hơn 15 năm họat động hiệu quả, hiện nay số vốn điều lệ của Ngân hàng ngày càng tăng trưởng Tính đến cuối năm 2007, tổng vốn điều lệ của Ngân hàng đạt 1.400 tỷ đồng Dự kiến trong đầu năm 2008, Ngân hàng sẽ tiếp tục tăng vốn điều lệ lên thành 1.800 tỷ đồng và đạt 3.000 tỷ vào năm 2010
Trang 35Biểu đồ: 2.1 Vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Đông Á (Đơn vị: tỷ đồng)
sở giao dịch và hội sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó Ngân hàng còn
có hơn 700 máy ATM phân bổ rộng khắp trên địa bàn Tp.HCM và các tỉnh thành nơi Ngân hàng có chi nhánh Bên cạnh đó, Ngân hàng còn thực hiện liên kết với các siêu thị, trung tâm thương mại để tổ chức lắp đạt trên 700 điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ - POS
Số lượng và chất lượng phục vụ của nhân viên Ngân hàng Đông Á cũng ngày một nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh và cạnh tranh gay gắt trong thời kỳ hội nhập Tổng số cán bộ công nhân viên hiện tại của Ngân hàng
là gần 2.000 người Trong đó, đa số là các cán bộ nhân viên trẻ có trình độ chuyên môn tốt và rất năng động, nhiệt tình trong công việc
*Trình độ công nghệ Ngân hàng
Ngân hàng Đông Á chính thức thực hiện Online tòan hệ thống từ tháng 6/2005 Khách hàng khi có tài khỏan tại Ngân hàng có thể thực hiện giao dịch trên tài khỏan của mình tại bất cứ phòng giao dịch, chi nhánh nào của Ngân hàng Hiện nay, Ngân hàng đang ứng dụng chương trình quản lý dữ liệu Ngân hàng Flexcube
Trang 36do Công ty I-Flex Ấn Độ sản xuất Chương trình này hiện cũng đang được Citibank ứng dụng rộng rãi Chương trình này có thể tương thích dữ liệu với nhiều chương trình quản lý dữ liệu khác nên hứa hẹn sẽ giúp cho Ngân hàng có thể mở rộng thêm các dịch vụ ngân hàng hiện đại khác trong thời gian sắp tới
Thế mạnh hiện nay của Ngân hàng Đông Á so với các Ngân hàng TMCP khác tại Việt Nam là trình độ công nghệ thẻ ATM Ngòai chức năng rút tiền tại các máy ATM của Ngân hàng và thanh tóan bằng thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ - POS, khách hàng sở hữu thẻ ATM Đông Á còn được cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ khách rất hữu ích như:
+Mobi Banking: cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch trên tài khỏan thẻ cá nhân thông qua điện thoại di động
+Internet Banking: cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch trên tài khỏan của mình thông qua mạng Internet
Trang 372.1.2.2 Cơ cấu tổ chức
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SÓAT
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
P.Kiểm tóan Nội bộ
Văn phòng
HĐQT
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Khối giám sát
Trung tâm thanh toán
Trung tâm thẻ
Trung tâm điện toán
Khối
hỗ trợ họat động
P.KH
Cá
nhân
P.KH Doanh Nghiệp
Phòng Nguồn vốn
P.Kinh doanh tiền tệ
Phòng đầu tư
P.Kiểm sóat nội bộ
Phòng Pháp chế
Phòng Quản
TH Phòng nghiên cứu-PT
Phòng Nhân sự
P.Hành chính
Sở giao dịch,Chi nhánh,Phòng giao dịch
Cty trực thuộc:Cty Kiều hối Đông Á, Cty chứng khóan Đông Á
Trang 38BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG
KẾ TOÁN
PHÒNG KINH DOANH
PHÒNG NGÂN QUỸ
PHÒNG HÀNH CHÁNH
Ban tổng giám đốc điều hành hiện nay của Ngân hàng Đông Á gồm 1 tổng giám đốc và 6 phó tổng giám đốc Các thành viên Ban tổng giám đốc ngoài việc chia nhau điều hành các phòng ban tại hội sở, các phó tổng giám đốc còn được phân chia trực tiếp phụ trách quản lý họat động của các chi nhánh và phòng giao dịch theo phân quyền cụ thể
Hiện nay tại Ngân hàng Đông Á tồn tại 2 mô hình tổ chức chi nhánh khác nhau:
a/ Mô hình tổ chức theo chức năng:
Đây là mô hình tổ chức họat động chi nhánh truyền thống của Ngân hàng từ ngày đầu thành lập Theo mô hình này các phòng ban, bộ phận được tổ chức theo từng chức năng, nghiệp vụ cụ thể
b/ Mô hình tổ chức theo đối tượng khách hàng:
Đây là một mộ hình tổ chức chi nhánh mới tại Ngân hàng Đông Á, vừa được
áp dụng trong năm 2007 Theo đó, các phòng ban chức năng được tổ chức theo đối tượng khách hàng phục vụ Đây là một sự cải tiến trong tổ chức họat động của Ngân hàng nhằm chú trọng hơn nữa đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho các khách hàng Theo mô hình này các khách hàng được phân ra thành khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân Mỗi đối tuợng khách hàng khi có nhu cầu giao dịch
KẾ TOÁN
DOANH NGHIỆP
KẾ TOÁN
TỔNG HỢP
Trang 39chỉ cần đến một khu vực nhất định là có thể thực hiện hầu hết các giao dịch của mình
2.1.2.3 Một số kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Đông Á qua các năm gần đây
a/ Quy mô tổng tài sản
Quy mô tổng tài sản của Ngân hàng liên tục tăng trưởng qua các năm Đặc biệt trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của Ngân hàng đạt rất cao Tổng tài sản toàn ngân hàng cuối năm 2007 là: 26.961 tỷ đồng, tăng 123% so với năm 2006
Bảng 2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản Ngân hàng TMCP Đông Á
PHÒNG NGÂN QUỸ
PHÒNG HÀNH CHÁNH
Trang 40Biểu đồ 2.2 Quy mô tổng tài sản Ngân hàng TMCP Đông Á
(Nguồn:Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Đông Á)
b/ Quy mô huy động vốn
Với mạng lưới hoạt động ngày càng được mở rộng, kết hợp với khung lãi suất huy động vốn linh hoạt, hấp dẫn và chất lượng phục vụ tốt của đội ngũ cán bộ nhân viên Ngân hàng đã làm cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Đông Á tăng trưởng liên tục các năm Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng tăng trưởng mạnh mẽ đảm bảo phần lớn nhu cầu vốn cho hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng để Ngân hàng mạnh dạn tiếp tục mở rộng hoạt động tín dụng của mình
Mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng hiện nay tập trung chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Tuy nhiên trong năm 2007 và 2008, Ngân hàng đang đẩy mạnh việc xây dựng mới và mở rộng hoạt động của các chi nhánh và phòng giao dịch trên khắp các tỉnh và thành phố của đất nước Ngân hàng Đông Á đang phấn đấu đến năm 2009 sẽ có mạng lưới hoạt động trên tất cả các tỉnh và thành phố tại Việt Nam Do vậy quy mô huy động vốn của Ngân hàng dự kiến trong các năm tới sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ hơn nữa