Đó là những lý do chính mà tôi chọn đề tài “Xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường Hoa Kỳ của Công ty Cổ phần giày An Lạc” để làm đề tài hoàn thành khóa học của mình ii MỤC TIÊU CỦA ĐỀ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
-# " -
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG HOA KỲ CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY AN LẠC GIAI ĐOẠN 2008 -2013
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3 U
I) LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 3
II) MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 4
III ) CƠ CẤU CỦA ĐỀ TÀI: 5
IIII) PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI : 5
IIII) PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 5
CHƯƠNG 1 : 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 6
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 6
1.1.1 THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ LÀ GÌ ? 6
1.1.2 QUI TRÌNH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 8
1.1.3 HÌNH THỨC KINH DOANH OEM (Original Equipment Manufacturer) 14
1.2 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 16
1.2.1 NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG ĐIỂM CHUNG CỦA HOA KỲ 16
1.2.2 MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-HOA KỲ: 16
1.2.2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao: 16
1.2.2.2 Quan hệ kinh tế-thương mại 17
1.2.3 HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA THỊ TRƯỜNG HOA KỲ .19
1.2.3.1 Đặc điểm các hình thức phân phối tại thị trường Hoa Kỳ 19
1.2.3.2 Một số điểm lưu ý khi tiếp thị sản phẩm và dịch vụ vào thị trường Hoa Kỳ 20
1.2.4 PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM GIÀY DÉP CỦA HOA KỲ 21
1.2.4.1 Nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ 21
1.2.4.2 Thị trường nhập khẩu giày dép chính của Hoa Kỳ 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 26
CHƯƠNG 2 : 27
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA AN LẠC TRONG GIAI ĐOẠN 2002-2007 27
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY AN LẠC: 27
2.1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 27
2.1.2 SẢN PHẨM VÀ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT : 29
2.1.3 VỀ KHÚC THỊ TRƯỜNG 29
2.1.4 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY AN LẠC (2003-2007) 30 2.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA AN LẠC- MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI : 35
2.2.1 MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 35
2.2.1.1 Môi trường kinh tế : 35
2.2.1.2 Môi trường chính trị, chính sách và pháp luật : 36
2.2.1.3 Môi trường văn hoá - xã hội: 37
2.2.1.4 Môi trường công nghệ : 37
2.2.2 MÔI TRƯỜNG VI MÔ: 38
2.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh: 38
2.2.2.2 Nhà cung cấp: 39
2.2.2.3 Sản phẩm thay thế: 39
2.3 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 39
2.3.1 SẢN XUẤT 39
2.3.2 CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM : 39
2.3.3 QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 40
2.3.4 MAKETING 41
2.3.5 QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC : 41
2.3 MA TRẬN SWOT 41
2.4 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (2002-2007) 48
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG II 52
CHƯƠNG 3 : 53
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG HOA KỲ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY AN LẠC (2008-2013) 53
3.1 CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 53
3.2 DỰ BÁO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 53
3.3 MỤC TIÊU CỦA CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP 55
3.4 HOẠCH ĐỊNH CÁC CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP 56
3.4.1 PHÂN TÍCH CÁC CHIẾN LƯỢC CHÍNH 56
3.4.1.1 Chiến lược kết hợp về phía trước : 56
3.4.1.2 Chiến lược kết hợp về phía sau : 56
3.4.1.3 Chiến lược kết hợp theo chiều ngang : 57
3.4.1.4 Chiến lược tập trung phát triển sản phẩm : 57
3.4.1.5 Chiến lược tăng trưởng theo hướng thâm nhập, phát triển thị trường : 58
3.4.1.6 Chiến lược đa dạng hoạt động đồng tâm : 58
3.4.2 LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC 58
3.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CÁC CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG HOA KỲ GIAI ĐỌAN 2008-2013 59
3.5.1 GIẢI PHÁP MARKETING 59
3.5.2 GIẢI PHÁP SẢN XUẤT 59
3.5.3 GIẢI PHÁP CHẤT LƯỢNG 60
3.5.4 GIẢI PHÁP NHÂN SƯ 67
3.5.5 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 67
3.5.6 GIẢI PHÁP XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI .67
3.6 KIẾN NGHỊ 69
3.6.3 TỪ CƠ QUAN QUẢN LÝ CẤP CAO 69
3.6.4 TỪ PHÍA CÔNG TY .70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN 73
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
i) LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất xuất khẩu thì việc phát triển mở rộng thị trường là một yêu cầu đòi hỏi phải được tiến hành mang tính cấp bách và thường xuyên, một phần để mở rộng kênh phân phối, tăng năng suất hoạt động của doanh nghiệp, mặc khác để thay thế cho những phần thị phần bị mất đi
Với một đơn vị sản xuất giày xuất khẩu dưới hình thức cho các OEM (Original Equipment Manufacturer, sẽ phân tích OEM trong phần sau) như Công ty Cổ phần An Lạc thì việc xâm nhập thị trường quốc tế lại càng quan trọng hơn với các lý do sau :
- Mục tiêu của An Lạc là xuất khẩu chiếm khoảng 95% năng suất sản xuất
- Mở rộng thêm thị trường trên toàn khắp thế giới, không dừng lại ở châu
Âu hay châu Mỹ mà còn phải xuất khẩu sang cả châu Úc và Châu Phi
Trong những năm qua thị trường xuất khẩu chính của An Lạc là châu Âu và hiện tại như trong năm vừa qua Việt Nam đang đối mặt với việc bán phá giá về mặt hàng giày da vào thị trường châu Âu Do đó trong bối cảnh hiện tại buộc các doanh nghiệp Việt Nam để tồn tại được thì phải tìm cách chuyển hướng thị trường xuất khẩu Trong các thị trường tiềm năng giữa châu Úc, Mỹ và châu Phi thì thị trường châu Mỹ và đặc biệt là Hoa kỳ thì được xem là khả thi và có hiệu quả nhất
- Thêm vào đó, trước tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam như hiện nay, cộng thêm với mối quan hệ chính trị-kinh tế xã hội giữa hai nước Việt Nam-Hoa Kỳ đang phát triển tốt đẹp thì việc kết hợp giữa các doanh nghiệp Việt Nam-Hoa Kỳ cũng đang được hình thành và phát triển
- Trung Quốc là nhà xuất khẩu dẫn đầu trong việc xuất khẩu giày dép vào thị trường Hoa Kỳ Hiện tại Hoa Kỳ đang thâm hụt trong cán cân thương mại với Trung Quốc, dẫn đến việc chuyển hướng của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ trong việc tìm nhà cung cấp ở nước khác Thêm vào đó tình hình giá lao động phổ
Trang 5So với các thị trường cần thâm nhập như Hoa Kỳ, Úc và châu Phi thì thị trường Hoa Kỳ có sự nổi trội hơn cả bởi vì Hoa Kỳ là một nước có sức mua vào hàng đầu thế giới, với dân số khoảng 290 triệu dân và sản lượng tiêu thụ giày hàng năm vào khoãng 18 tỷ USD thì Hoa Kỳ vẫn là thị trường đầu tiên cần nhắm đến trong chuỗi hoạt động Marketing của An Lạc
Đó là những lý do chính mà tôi chọn đề tài “Xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường Hoa Kỳ của Công ty Cổ phần giày An Lạc” để làm đề tài hoàn thành khóa học của mình
ii) MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Trong tình hình sản xuất của An Lạc như hiện nay hầu như phụ thuộc rất nhiều vào khách hàng chính là châu Âu và nhận đơn hàng gia công từ nhà máy khác Theo diễn biến của tình hình hiện tại và nhận định trong tương lai thì đơn hàng nhận gia công sẽ giảm, điều này ảnh hưởng đến năng suất sản xuất của doanh nghiệp sẽ giảm đi khoảng 25% Để cân bằng lại cán cân sản xuất thì buộc
An Lạc phải tìm được những khách hàng tương đối lớn về sản lượng để bù đắp cho sản lượng bị mất Thị trường Hoa Kỳ được chọn là thị trường mục tiêu trong chiến lược thâm nhập này Mục tiêu của quá trình thâm nhập phải đạt được các kết quả sau :
- Quảng bá hơn nữa về năng lực sản xuất của An Lạc
- Tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng mà An Lạc sẽ gặp phải trong quá trình thâm nhập
- Thực hiện các chiến lược Marketing mix để sau 1-2 năm, An Lạc phải xuất được hàng vào thị trường này, chia sẻ với thị trường hiện tại khoảng 10-15% năng lực sản xuất hiện tại và cân bằng cơ cấu thị trường về mặt hàng xuất khẩu của An Lạc
Trang 6iii) CƠ CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài được chia làm 3 chương :
Chương 1: cơ sở lý luận về thị trường và khái quát về thị trường Hoa Kỳ Chương 2: Tình hình hoạt động sản xuất của An Lạc trong năm năm qua (2003-2007)
Chương 3: Chiến lược thâm nhập thị trường Hoa Kỳ của Công ty Cổ phần giày An Lạc (2008-2013)
iiii) PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI :
- không gian nghiên cứu : tập trung chủ yếu vào thị trường Hoa kỳ, với mặt hàng xuất khẩu chính là giày lưu hoá
Thời gian nghiên cứu : đề tài tập trung nghiên cứu xuất khẩu mặt hàng giày của An Lạc vào thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn 2008-2013
iiii) PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
phương pháp nghiên cứu mô tả, thu thập số liệu, tổng hợp để phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần giày An Lạc, từ đó đề ra chiến lược thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ
Trang 7CHƯƠNG 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ THỊ
TRƯỜNG HOA KỲ
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
1.1.1 THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ LÀ GÌ ?
Ngày nay trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên thế giới chịu sự chi phối rất nhiều khi tham gia trao đổi buôn bán với các đối tác trên thế giới như tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, tốc độ tăng trưởng kinh tế, xu thế tự do hoá kinh tế quốc tế Nhưng có một điều thể hiện khá rõ rệt nhất là cuộc đua cạnh tranh của các doanh nghiệp, các quốc gia ngày càng khốc liệt và trở nên gay gắt hơn Dù trong xu thế ngày nay cạnh tranh mang tính tích cực hơn so với cạnh tranh cổ điển : cạnh tranh không có nghĩa là dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt hay triệt tiêu lẫn nhau mà cạnh tranh ngày nay mang tính hợp tác hơn, các doanh nghiệp, quốc gia đều tập trung vào việc hướng đến người tiêu dùng, họ sẽ mang đến cho người tiêu dùng những lợi ích tốt nhất Tức là trước kia mục tiêu của cạnh tranh là nhằm tiêu diệt đối thủ thì cạnh tranh ngày nay nhắm vào ai sẽ mang lại nhiều lợi ích nhất cho người tiêu dùng Đó là lợi thế cạnh tranh
Thâm nhập thị trường thế giới cũng là một trong những giải pháp giải quyết vấn
đề cạnh tranh của doanh nghiệp ngày nay Để đạt được thế lợi thế cạnh tranh cao, mang lại lợi ích cho các đối tác của mình nhiều hơn, không có cách nào khác là các nhà cung cấp, nhà xuất khẩu phải thâm nhập vào thị trường mục tiêu- thị trường cần nhắm đến để có được những thông tin phản hồi từ chính các đối tác của mình Thâm nhập thị trường quốc tế sẽ giúp cho các doanh nghiệp những lợi thế sau :
Trang 8- Sẽ tiếp cận được nhiều khách hàng, nhiều khúc thị trường hơn để từ đó chọn lựa những khách hàng, thị trường mục tiêu
- Sẽ có cơ hội để tìm hiểu rõ về thị trường mục tiêu hơn thông qua tất cả các cách tiếp cận của chiến lượng Marketing mix
- Tận dụng được lợi thế của mình hơn so với các đối thủ không thực hiện được chiến lược thâm nhập
- Doanh nghiệp sẽ ứng phó dễ dàng trước từng khách hàng, đối thủ khác nhau thông qua việc tìm hiểu rõ hơn về họ
Vậy thâm nhập thị trường quốc tế bằng cách nào? và các kênh thâm nhập sẽ
ra sao?
Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, công nghệ phát triển cao giúp rất nhiều cho các doanh nghiệp trong việc quảng cáo, quảng bá hình ảnh của mình đến người nhập khẩu Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tận dụng được tất cả các kênh phân phối thông tin từ sự hỗ trợ của Chính phủ, Hiệp hội và cả sự nổ lực của chính doanh nghiệp mình để đạt được hiệu quả cao trong quảng bá Thâm nhập thị trường chính là việc định vị được vị thế của mình đối với nhà nhập khẩu, thể hiện cho họ thấy được những lợi ích mà họ sẽ có được trong việc hợp tác với doanh nghiệp ta
Thâm nhập thị trường quốc tế khác biệt rất nhiều so với việc thâm nhập thị trường nội địa, vì ảnh hưởng rất nhiều về vấn đề chính trị quốc tế, văn hoá quốc gia, phong tục tập quán, nếu doanh nghiệp xuất khẩu nghiên cứu không kỹ các vấn đề này sẽ dẫn đến các chiến lược thâm nhập không hiệu quả Một ví dụ cụ thể đối với các nhà nhập khẩu của Hoa Kỳ là nếu bạn muốn chào hàng đến cho
họ thông qua hình thức gởi bằng mail thì họ có thể kiện bạn trong việc quấy rối trong kinh doanh, tốt nhất bạn nên gởi bằng thư theo đường bưu điện và trong thư bạn không cần phải giới thiệu nhiều về bạn, bạn chỉ cần thể hiện những thông tin cần thiết để khi có nhu cầu họ sẽ liên hệ, tốt nhất nên ngắn gọn và thể hiện những lợi ích mà họ sẽ có khi làm việc với bạn
Trang 9Mối quan hệ ngoại giao được xúc tiến tốt giữa 2 quốc gia cũng được xem là một lợi thế để xúc tiến chiến lược thâm nhập tốt hơn Nhưng trên hết đó là nhu cầu thật sự của mặt hàng xuất khẩu sẽ quyết định chiến lược thâm nhập sẽ tiến hành như thế nào
1.1.2 QUI TRÌNH THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
Tìm hiểu rõ về thị trường cần thâm nhập, chúng ta phải tiến hành qua 4 bước sau :
Bước 1 : Nghiên cứu thị trường thế giới
Bước 2 : Phân tích SWOT doanh nghiệp
Bước 3 : Chọn lựa chiến lược thâm nhập
Bước 4 : Hoạch định chiến lược Marketing mix
Sau đây tôi xin phân tích từng bước trong quá trình thâm nhập
Bước 1 : Nghiên cứu thị trường thế giới
• Mục tiêu của nghiên cứu thị trường thế giới
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp xuất khẩu nào cũng thế, muốn đẩy mạnh được hoạt động sản xuất của mình ra thị trường quốc tế, công tác đầu tiên đó là nghiên cứu nhu cầu thị trường, tìm hiểu nhu cầu thật sự của thị trường, chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã… để từ đó doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có chiến lược đầu tư dây chuyền sản xuất cho đúng hướng, cũng như việc hoạch định chiến lược Marketing để tiếp cận thị trường Nghiên cứu thị trường cũng là cách để doanh nghiệp có thể tìm hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh của mình, sẽ tìm hiểu
rõ được miếng bánh mình đang muốn chia sẻ sẽ chia ra bao nhiêu phần và biết được mình sẽ nắm được bao nhiêu phần trăm trong đó
Nếu tiến hành nghiên cứu toàn bộ thị trường trên thế giới thì đòi hỏi công việc này mất rất nhiều chi phí và thời gian trong khi hiệu quả lại không cao Do đó doanh nghiệp cần tập trung vào các nội dung sau :
- Xác định được thị trường, quốc gia nào là thị trường mục tiêu cần nhắm đến và có thể đạt được hiệu quả nhất, để tiến hành các chiến lược thâm nhập cho phù hợp
Trang 10- Định lượng được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình trong hiện tại và tương lai
- Cách thức thay đổi của sản phẩm doanh nghiệp mình có đáp ứng được những thay đổi của thị trường hay không
- Thu nhập, sức mua của người tiêu dùng cuối cùng
- Những biến động, khả năng sản phẩm thay thế có thể xảy ra trong tương lai
• Phương pháp nghiên cứu thị trường thế giới :
Đối với một thế giới rộng lớn về mặt bằng, không gian thì công tác nghiên cứu không dễ dàng như thị trường nội địa là có thể chọn mẫu nghiên cứu để từ đó đưa ra nhận định cuối cùng thông qua mẫu được chọn, đối với thị trường thế giới thì phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào 2 phương pháp nghiên cứu sau đây :
- Nghiên cứu cấp 1 : tức là nghiên cứu tại chỗ, thông qua các thông tin
thu thập được từ sự hỗ trợ của các Hiệp hội, báo chí, Internet, các bảng báo cáo… để từ những số liệu thu thập được sẽ phân tích đánh giá và chọn ra thị trường mục tiêu để thâm nhập
- Nghiên cứu cấp 2 : tức là nghiên cứu thực tế, được tiến hành ngoài
hiện trường, thông qua nhìn, thấy được từ việc khảo sát hành vi tiêu dùng ở thị trường nước ngoài, để từ đó sẽ có những nhận định khái quát về thị trường cần thâm nhập Phương pháp nghiên cứu này thường tốn nhiều chi phí hơn phương pháp 1 và cũng không thể điều tra nghiên cứu trên diện rộng mà cũng dừng lại ở một hoặc hai vùng thị trường mẫu
Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần phải kết hợp cả 2 phương pháp nghiên cứu trên để có được thông tin tốt nhất về thị trường mình cần nghiên cứu, tức sau khi có được những thông tin cấp 1 từ những số liệu thống kê, nếu số liệu này đáng tin
Trang 11cậy thì chúng ta có thể dừng lại Nếu số liệu ở cấp 1 chưa đáng tin cậy thì chúng ta tiến hành thêm phương pháp 2 để thẩm định lại phương pháp 1
Để đáp ứng được thông tin hoàn hảo về thị trường mục tiêu, doanh nghiệp nên tiến hành xử lý và sàn lọc thông tin theo trình tự như sau :
- Khi nghiên cứu chúng ta tiến hành sàn lọc sơ khởi chọn những thị trường phù hợp với năng lực của doanh nghiệp, để tránh lãng phí cho những thị trường không khả thi Mặt khác chúng ta sẽ dễ dàng khoanh vùng thị trường tiềm năng mà có chiến lược đúng hơn
- Từ việc khoanh vùng thị trường tiềm năng, tiếp theo doanh nghiệp phân khúc thị trường, chọn thị trường mục tiêu
- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp mình phát triển trong tương lai
mà chọn lựa khúc thị trường cho phù hợp
- Từ các thị trường đã được chọn, chúng ta phân loại, xếp hạng theo thứ
tự ưu tiên và sẽ có kết quả cuối cùng đâu là thị trường sẽ mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
Những bước xử lý phân tích trên nên lập bảng thống kê, biểu đồ và phải đánh giá và đưa ra kết quả cuối cùng về thị trường mục tiêu khả thi nhất, phù hợp với doanh nghiệp nhất
Bước 2 : Phân tích SWOT doanh nghiệp
Đây là một bước không thể thiếu được trong bất kỳ một chiến lược nào của doanh nghiệp Bởi vì nó được xem là hồn sống của cơ thể, phải đánh giá cho được khả năng của mình trước những biến đổi của thị trường, khả năng nhạy bén của doanh nghiệp trước những cơ hội, thách thức đe doạ của thị trường Từ
đó chúng ta nắm bắt hướng đầu tư cho sản phẩm chiến lược
Bước 3 : chọn lựa chiến lược thâm nhập
Sau khi đã có được những thông tin về thị trường cần thâm nhập, cũng như việc đánh giá được thị trường mục tiêu việc tiếp theo đối với doanh nghiệp là phải xây dựng cho được chiến lược thâm nhập :
- Lựa chọn phương thức thâm nhập
Trang 12- Xây dựng chiến lược Marketing mix cho sản phẩm thâm nhập
- Tổ chức hoạt động Marketing
- Xác định thời gian thực hiện các hoạt động Marketing
- Xác định nguồn nhân lực, tài chính
Bước 4 : hoạch định chiến lược Marketing mix
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong hình thức sản xuất xuất khẩu, thì sản phẩm được xuất khẩu dưới 2 hình thức :
- Sản phẩm mang thương hiệu của nhà xuất khẩu
- Thương hiệu của khách hàng (tức là dưới hình thức OEM), ở đây trong
đề tài này chúng tôi chỉ trình bày chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế cho sản phẩm dưới thương hiệu của khách hàng Do đó sản phẩm đựơc xuất khẩu ở đây chỉ đến các nhà nhập khẩu trung gian, chưa phải là người tiêu dùng cuối cùng, khách hàng là các nhà nhập khẩu, các OEM
Do đó khi hoạch định chiến lược Marketing mix, chúng ta tập trung vào các điểm sau :
a./ Chiến lược sản phẩm quốc tế : sản phẩm mang tính quốc tế đòi hỏi
những thông tin được thể hiện phải khác biệt so với các sản phẩm nội địa, ngoài việc nhằm thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý của sản phẩm thông thường, sản phẩm quốc tế còn phải đáp ứng được các nhu cầu khác của nhà nhập khẩu như thông tin thể hiện trên sản phẩm, bao bì, đóng gói phải theo chuẩn của khách hàng, hoặc những thông tin phải đảm bảo tuân thủ của hải quan xuất nhập khẩu,… do
đó đối với sản phẩm quốc tế, doanh nghiệp cần phải xem xét các vấn đề chính sách chủng loại sản phẩm quốc tế : mỗi nhà xuất khẩu phải lựa chọn các chiến lược sau về chủng loại hàng hoá khi xuất khẩu ra nước ngoài :
- Chỉ bán những sản phẩm không đòi hỏi có sự thay đổi thường xuyên nào
về công nghệ trong sản xuất, và công nghệ sử dụng này có thể sản xuất ra sản phẩm mang tính quốc tế (tức có thể bán cho được nhiều quốc gia)
- Chiến lược cải tiến làm cho sản phẩm thích hợp với thị trường nước ngoài bằng cách thiết kế lại mẫu mã, kiểu dáng, bao bì, đặt tên hiệu để sản phẩm phù
Trang 13hợp và hấp dẫn ở thị trường nước ngoài Đòi hỏi những vấn đề về kỹ thuật, vốn, Marketing, để cho hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả
- Chiến lược sáng tạo những sản phẩm mới cho thị trường nước ngoài Nhu cầu về sản phẩm có thể thay đổi, doanh số những sản phẩm xuất khẩu hiện có
có thể bị sút giảm, đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải sáng tạo ra những sản phẩm mới để tồn tại và phát triển Để thực hiện được điều này, hoạt động nghiên cứu thị trường, những chính sách Marketing phải gắn liền với hoạt động về đầu tư
- Nhãn hiệu hàng hoá : nhãn hiệu hàng hoá không những để phân biệt sản phẩm giữa các hãng, nó còn mang nhiệm vụ quảng cáo Ơ mỗi quốc gia, những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng, không hoàn toàn giống nhau, có khi hoàn toàn khác biệt Do đó muốn hàng hoá bán được ở thị trường nước ngoài, chính sách nhãn hiệu hàng hoá đặc biệt quan trọng
- Dịch vụ gắn liền với sản phẩm : những sản phẩm quốc tế đòi hỏi những dịch vụ về thông tin, vận chuyển, bảo hành, sữa chữa Đặc biệt là giữa các quốc gia các thủ tục về pháp lý trong quá trình giao dịch có nhiều khác biệt Do
đó các nhà xuất khẩu cần chú ý đến các dịch vụ để giải quyết vấn đề này
b./ Chiến lược giá và những vấn đề về thanh toán : việc định giá cho những sản
- Các chiến lược giá :
• Định giá theo chi phí : công ty có thể căn cứ vào chi phí sản xuất, cũng như những chi phí khác, căn cứ vào mức lời mong muốn để đưa ra giá xuất khẩu, cách định giá này mang tính chủ quan cao, nếu định giá quá cao sẽ khó bán hàng
• Định giá cạnh tranh : căn cứ theo giá của các đối thủ cạnh tranh để định giá cho các sản phẩm xuất khẩu
Trang 14• Định giá dựa vào cảm nhận của khách hàng, cách định giá này dựa vào
sự cảm nhận của khách hàng để đưa ra mức giá bán Vấn đề quan trọng là phải biết được khách hàng cảm nhận như thế nào về hàng hoá
• Định giá chắt lọc thị trường : căn cứ vào nhu cầu và khả năng kinh tế của khách hàng, định giá cao hướng vào nội bộ khách hàng có thu nhập cao
• Định giá chiết khấu : giảm giá cho khách hàng mua số lượng nhiều, phương thức thanh toán thuận lợi và đảm bảo,…
• Định giá tuỳ theo khách hàng là căn cứ vào những khách hàng thường xuyên, khách hàng mới
• Định giá theo mùa vụ
Trong hoạt động xuất khẩu cùng với việc định giá, nguời ta còn chú ý đến những phương thức thanh toán : phương thức chuyển tiền theo hình thức điện báo, phương thức nhờ thu kèm chứng từ D/A, D/P Phương thức thanh toán theo tín dụng chứng từ (L/C) Ngoài ra cần vận dụng một số phương thức có lợi cho xuất khẩu như phương thức trao chứng từ trả tiền ngay (CAD hoặc COD)
c./ Các chiến lược xúc tiến việc bán hàng :
• Quảng cáo : mục tiêu nhằm thông tin kích thích khách hàng mua hàng,
có thể dùng các phương tiện quảng cáo như báo chí, phim, tivi, Internet,…
• Khuyến mãi : là những biện pháp nhằm kích thích khách hàng mua hàng ngay, mua nhiều,…
• Tuyên truyền : sử dụng những bài báo, bài phóng sự, phim ảnh, để đưa những thông tin tốt về công ty xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu, nước xuất khẩu,…
• Chào hàng : là sự tiếp xúc trực tiếp của nhà xuất khẩu với các nhà nhập khẩu, thông qua các hội chợ mang tính chất chuyên ngành quốc tế, các kỳ triển lãm, giới thiệu sản phẩm…
Trang 151.1.3 HÌNH THỨC KINH DOANH OEM (Original Equipment
Manufacturer)
Đây là hình thức kinh doanh rất được ưa chuộng trên các nước hiện nay, vì rất nhiều lợi ích được mang lại dưới hình thức này, trước hết chúng ta tìm hiểu kinh doanh OEM là gì ? Đó là hình thức các công ty bán buôn, bán lẻ, phân phối, hoặc kinh doanh thương mại, chuyên bán các sản phẩm do các công ty khác sản xuất Họ không sản xuất, nhưng họ sẽ bán những sản phẩm đó đến người tiêu dùng Những sản phẩm bán đến người tiêu dùng đó có thể do họ thiết kế rồi đặt nhà máy sản xuất, hoặc có thể họ chọn luôn mẫu của nhà máy rồi đặt hàng dưới thương hiệu của họ
Trong hầu hết các trường hợp OEM không thêm trị giá gia tăng vào sản phẩm
mà chỉ gắn thương hiệu của họ trên sản phẩm Việc gắn thương hiệu của OEM trên sản phẩm có thể do nhà sản xuất tiến hành hoặc do bản thân OEM tiến hành Ví dụ thương hiệu Nike, Rebok rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ, nhưng những nhãn hiệu này không có nhà máy sản xuất, họ chỉ thiết kế kiểu dáng cho một nhà máy nào đó ở Việt Nam hay Trung Quốc để sản xuất và gắn thương hiệu của họ vào,
họ không hề thêm một giá trị nào vào sản phẩm, giá trị của sản phẩm tăng lên gấp 10-20 lần so với mẫu gốc chính là do thương hiệu của họ mang lại
Để tiết kiệm chi phí sản xuất, bản thân các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ cũng đặt gia công toàn bộ hoặc một phần hàng hóa và dịch vụ ở nước ngoài thay vì cho sản xuất tại cơ sở của mình ở trong nước Hình thức kinh doanh này (tiếng Anh gọi là Outsourcing) đang rất phát triển ở Hoa Kỳ Ví dụ, một công ty sản xuất giày ở Hoa Kỳ có thể đặt gia công mũ giày ở Việt Nam mang về lắp ráp lại thành giày hoàn chỉnh và bán tại Hoa Kỳ Vì thế, hiện nay, nhiều hàng hóa ở Hoa Kỳ có ghi dòng chữ “Assembled in USA” (lắp ráp tại Mỹ) thay cho “Made in USA” (sản xuất tại Mỹ) Nhiều công ty Hoa Kỳ hiện nay vừa là nhà sản xuất vừa là OEM và có những công ty đã bỏ hẳn sản xuất chuyển thành OEM Ví dụ, Công ty Nike, Adidas, rebok vốn dĩ là nhà sản xuất nhưng hiện nay hoạt động chủ yếu như một OEM
Trang 16Trong khi chưa hội tụ đủ điều kiện để xây dựng thương hiệu riêng của mình như đã phân tích ở trên thì sự lựa chọn thích hợp nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm tới để tăng kim ngạch xuất khẩu nói chung và sang Hoa Kỳ nói riêng là tổ chức lại sản xuất để có thể cạnh tranh trở thành các nhà sản xuất và gia công chiến lược theo hợp đồng cho các OEM và các nhà sản xuất nước ngoài trong đó có các công ty Hoa Kỳ Hầu hết các doanh nghiệp Trung Quốc hiện đang phát triển theo hướng này, và Trung Quốc đang được coi
là công xưởng của thế giới Năm 2005, Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ gần
250 tỉ USD, nhưng hầu như không có hàng hóa mang thương hiệu Trung Quốc Như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói trong bài viết “WTO cơ hội, thách thức
và hành động của chúng ta” là: “Cái chúng ta lựa chọn và quyết định là cái tốt nhất có thể chứ chưa phải là cái mà chúng ta mong muốn” Bước tiếp theo là tự thiết kế và sản xuất sản phẩm chào bán cho các OEM Khi sản xuất đã ổn định với qui mô đủ lớn và có tích luỹ tài chính, lúc đó có thể tính đến việc xây dựng thương hiệu riêng Cũng giống như những đứa trẻ, chúng phải trải qua các bước tập lật, tập ngồi, tập đứng rồi mới tập đi Nhìn chung, các nhà sản xuất thường bắt đầu xây dựng thương hiệu trên thị trường trong nước trước khi tiến ra nước ngoài, và trên thế giới hầu như không có thương hiệu cho các sản phẩm nguyên liệu thô
Do vậy, công tác xúc tiến xuất khẩu của ta ở nước ngoài nói chung và tại Hoa
Kỳ nói riêng cả ở tầm quốc gia và tầm doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay nên tập trung vào quảng bá khả năng sản xuất ổn định và cạnh tranh, nhất là đối với các sản phẩm cần nhiều sức lao động khéo tay Các doanh nghiệp thay vì cho đầu tư vào xây dựng thương hiệu nên đầu tư vào mở rộng và tổ chức lại sản xuất để nâng cao và ổn định chất lượng hàng hóa và giảm giá thành để trở thành nhà sản xuất chiến lược của các công ty OEM và nhà sản xuất nước ngoài và Hoa Kỳ Cũng vì lý do này, sắp tới khi ta phải bỏ các trợ cấp liên quan đến xuất khẩu theo cam kết với WTO ta có thể nghiên cứu áp dụng trợ cấp nâng cao năng lực quản lý và tổ chức sản xuất nói chung cho các doanh nghiệp nội địa
Trang 171.2 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.2.1 NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG ĐIỂM CHUNG CỦA HOA KỲ
Hiểu về văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở một nước ngoài
sẽ có ích cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh với các bạn hàng ở nước đó Phần này nhằm tóm tắt và hướng dẫn một số nét cơ bản về văn hóa kinh doanh ở Hoa Kỳ với hy vọng phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp mới thiết lập quan hệ kinh doanh với các bạn hàng ở Hoa Kỳ, giao tiếp và duy trì quan hệ kinh doanh có hiệu quả hơn với các bạn hàng ở nước này
Là một nước có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới và với khoảng 290 triệu dân
có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, Hoa Kỳ là một xã hội đa dạng nhất trên thế giới Mặc dù đại bộ phận người Mỹ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như người gốc Mỹ (người da đỏ), người
Mỹ gốc Phi, người Hispanic, và người Châu Á cũng rất đông Hiện nay, mỗi năm
có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến Hoa Kỳ sinh sống và làm ăn, và
dự kiến đến năm 2050 người Mỹ da trắng chỉ còn chiếm dưới 50% Các cộng đồng đang sinh sống ở Hoa Kỳ đều có những bản sắc riêng của họ, kể cả ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục; Do vậy, rất khó có thể khái quát chính xác được văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở nước này Phần
giới thiệu dưới đây chỉ là những nét cơ bản và hướng dẫn chung (xem phụ lục 2)
1.2.2 MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-HOA KỲ:
1.2.2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao:
Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau:
Về phía Hoa kỳ:
- Ngày 5/8/1995: Ngoại trưởng W.Chistopher thăm Việt Nam
- Ngày 4/9/1995: Cựu Tổng thống G.Bush thăm Việt Nam
Trang 18- Ngày 12/7/1996: Cố vấn An ninh quốc gia A.Lake thăm Việt Nam
- Ngày 6/4/1997: Bộ trưởng Tài chính Robert Rubin thăm Việt Nam
- Ngày 27/6/1997: Ngoại trưởng M.Albright thăm Việt Nam
- Từ 7 đến 10/12/1997, Bộ trưởng Y tế-Xã hội Dona Shalala thăm VN
- Ngày 6/9/1999: Ngoại trưởng M.Albright thăm Việt Nam
- Từ 16 đến 19/11/2000: Tổng thống Bill Clinton thăm Việt Nam
- Ngày 13/3/2000: Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen thăm VN
- Năm 2001: Ngoại trưởng C.Powell thăm Việt Nam
- Năm 2006 tổng thống Bush thăm Việt Nam tham gia diễn đàn APEC
Về phía Việt Nam:
- Ngày 20/9/1998: Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Hoa Kỳ
- Từ 18 đến 22/6/2000: Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng thăm Hoa Kỳ
- Từ 21 đến 24/9/2000: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm Hoa Kỳ
- Năm 2001: Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ
- Từ ngày 30/9 đến 2/10/2003: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm Hoa Kỳ
- Từ 3 đến 7/12/2003: Phó Thủ tướng Vũ Khoan thăm Hoa Kỳ
- Tháng 11/2003, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà thăm Hoa Kỳ
- Tháng 6/2007, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Hoa Kỳ Ngoài ra, lãnh đạo cấp cao hai nước đã có các cuộc gặp gỡ tại nhiều Diễn đàn đa phương trên thế giới
1.2.2.2 Quan hệ kinh tế-thương mại
Hai nước đã ký kết một số Hiệp định, Thỏa thuận về kinh tế sau đây:
- Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997)
Trang 19- Hiệp định về hoạt động của Cơ quan đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC) (ngày 26/3/1998)
- Hiệp định bảo lãnh khung và Hiệp định khuyến khích dự án đầu tư giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ-EXIMBANK (ngày 9/12/1999)
- Hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (ký ngày 13/7/2000,
có hiệu lực ngày 10/12/2001)
- Hiệp định hợp tác về khoa học và công nghệ (có hiệu lực từ ngày 26/3/2001)
- Hiệp định dệt may (có hiệu lực từ 1/5/2003)
- Hiệp định Hàng không (có hiệu lực từ 14/1/2004)
- Thư thỏa thuận hợp tác về phòng chống ma túy (có hiệu lực từ 14/1/2004) Hai bên đang đàm phán để ký kết Hiệp định khung hợp tác về Vận tải biển; Bản ghi nhớ hợp tác về nông nghiệp
- Kể từ Việt nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao và sau 5 năm ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (năm 2000), quan
hệ buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt được những bước phát triển mới Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng lên 5,2 tỷ USD trong vòng 5 năm, từ mức 821,3 triệu USD của năm 2000
- Hiện Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là: Dệt may, thủy sản, giày dép, đồ gỗ nội thất và nông lâm sản Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được đánh giá cao bởi sự cạnh tranh về giá, mẫu mã và chất lượng Hàng dệt may đứng vị trí thứ 5 trong trong số khoảng 10 nước xuất khẩu mặt hàng này vàoHoa Kỳ Mặt hàng gỗ cũng khẳng định được vị thế của mình ở thị trường Hoa Kỳ với mẫu mã, chất liệu phong phú và đa dạng, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 10 trong số các nhà xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất vào Hoa Kỳ Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng
Trang 20- Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn thứ 33 của Hoa Kỳ Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ vào Việt Nam mới ở mức 367,5 triệu USD nhưng năm 2004 đã tăng lên 1,16 tỷ USD Việt Nam đã trở thành một thị trường quan trọng đối với ngành máy bay dân dụng của Hoa
Kỳ Năm 2004, Việt Nam đã mua 200 xe tải hạng nặng do Hoa Kỳ sản xuất Các nhà máy dệt của Việt Nam nhập khẩu bông của Hoa Kỳ trị giá 60 triệu USD Các phòng thí nghiệm, nghiên cứu, các trường đại học và cơ sở
y tế của Việt Nam đã chi 30 triệu USD để mua thiết bị y tế của Hoa Kỳ
1.2.3 HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA THỊ TRƯỜNG HOA
KỲ
1.2.3.1 Đặc điểm các hình thức phân phối tại thị trường Hoa Kỳ
Các doanh nghiệp có nhiều cách bán hàng nhập khẩu tại Hoa Kỳ Họ thường nhập khẩu hàng hoá về để bán tại Hoa Kỳ theo các cách phổ biến sau đây: Bán sỉ cho các cửa hàng bán lẻ: Hầu hết các loại hàng hoá như trang sức, quần áo, đồ chơi, tạp hoá đều có thể bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu hay các người bán hàng có tính chất cá nhân và các công ty nhập khẩu hay các tổ chức buôn bán hàng hoá chuyên nghiệp Cách bán hàng này rất có hiệu quả khi hàng hoá có nhu cầu mạnh và có lợi nhuận cao
Bán cho nhà phân phối: Thay vì bán hàng cho người bán lẻ, ta có thể bán hàng cho các nhà phân phối vì họ có hệ thống phân phối rộng khắp khu vực nào
đó hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp nào đó Họ có khả năng bán hàng trong thời gian ngắn Nhưng cách này ta phải chia sẻ bớt lợi nhuận của mình cho các nhà phân phối
Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp: Các công ty này có thể làm được khi các nhà máy công xưởng trực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ ở
Trang 21Bán sỉ qua đường bưu điện: Có một số sản phẩm nhỏ và không đắt lắm có thể bán theo cách này qua một số trung gian bán buôn Cách này có lợi làm bán hàng theo diện rất rộng và không phải qua khâu trung gian phân phối hay bán buôn
Bán lẻ qua đường bưu điện: Có một số nhà nhập khẩu không cần qua trung gian mà họ trực tiếp gửi bưu kiện đến cho người mua Để làm được cách này phải có hệ thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và có hiệu quả cao Thiết kế được thị trường một cách chi tiết
Bán hàng theo catalogue: Chìa khoá cho phương thức này là phải biết được địa chỉ của người hay công ty có nhu cầu thường xuyên về mặt hàng mình kinh doanh
Bán lẻ: Nhà nhập khẩu tự tổ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng hoá theo khả năng về thị trường của mình và tự gánh chịu mọi rủi ro về nhu cầu của thị trường cũng như là thu được toàn bộ lợi tức do nhập khẩu mang lại Khi nhập khẩu họ phải biết được xu hướng thị trường và phải tự làm hết mọi việc trong mọi khâu buôn bán là điều chứa đựng nhiều rủi ro lớn
Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình: là hình thức mới và phải có hàng tức thời và bán theo giá công bố
1.2.3.2 Một số điểm lưu ý khi tiếp thị sản phẩm và dịch vụ vào thị
để lợi thế cạnh tranh của mình cũng như sự khác biệt của sản phẩm cung cấp so với các sản phẩm khác cùng loại đang có mặt và chiếm lĩnh thị trường
Trang 22Chú ý đến tất cả các vấn đề của Marketing Mix bao gồm sản phẩm, giá cả, hình thức quảng cáo khuyến mại, hình thức phân phối Sử dụng các công cụ hỗ trợ khác, một Website giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ là một việc nên làm
Bao bì hấp dẫn là một trong những yếu tố thành công trong kinh doanh bán
lẻ Hầu hết các chuyên gia Marketing tại Hoa Kỳ đều xếp bao bì là một yếu tố của chiến lược sản phẩm Bao bì được thiết kế tốt có thể tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng và đồng thời cũng là một công cụ hữu hiệu cho quảng cáo sản phẩm Người Mỹ sử dụng hệ thống đo lường Anh (imperial measurements), do
đó các công cụ Marketing cũng như Website của bạn nên lưu tâm đến vấn đề này
Các công cụ quảng cáo: Tờ rơi, Cataglog, Brochures, và các phương tiện quảng cáo, sản phẩm mẫu phải được làm phù hợp, phải được Mỹ hoá Chi tiết
về liên hệ : bao gồm cả email, website, điện thoại quốc tế đều rất cần thiết được
in trên các tài liệu quảng cáo
1.2.4 PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM GIÀY DÉP CỦA HOA KỲ
1.2.4.1 Nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất thế giới về giày dép Năm 2005, tổng giá trị giày dép tiêu thụ tại Hoa Kỳ khoảng 19,7 tỷ USD, trong đó sản xuất trong nước là 1,9
tỷ (tính theo trị giá xuất xưởng), còn lại là hàng nhập khẩu (tính theo trị giá hải quan) Nếu tính theo giá bán lẻ thì tổng trị giá tiêu dùng giày dép ở Hoa Kỳ năm
2005 xấp xỉ 60 tỷ USD
Sản xuất nội địa
Theo thống kê của Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, năm 2005, ở Hoa
Kỳ chỉ còn 310 cơ sở sản xuất giày dép (so với 381 cơ sở năm 2001) với 18.000 công nhân và giá trị tổng sản lượng là 2,4 tỷ USD Sản phẩm giày dép sản xuất ở Hoa Kỳ chủ yếu đế giày và những giày dép loại không phổ thông và cạnh tranh không phải trên cơ sở giá mà trên cơ sở như chủng loại đặc biệt (ví dụ, như giày
Trang 23Nhập khẩu
Khoảng trên 90% lượng giày dép tiêu thụ ở Hoa Kỳ là hàng nhập khẩu Năm
2005, Hoa Kỳ nhập khẩu tới 17,83 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2004 và 14,5%
so với năm 2003 Giá bình quân giày dép nhập khẩu tiếp tục giảm do giày dép thường giá thấp chiếm tỷ lệ tiêu thụ ngày càng tăng
Trung Quốc là nước xuất khẩu giày dép lớn nhất vào Hoa Kỳ Năm 2005, Trung Quốc xuất khẩu vào Hoa Kỳ 12,65 tỷ USD giày dép, tăng 11,5 % so với năm 2004 và chiếm 71% trị giá nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ Tiếp theo Trung Quốc là Italia và Brazil, chiếm tương ứng 8% và 7% Nhập khẩu từ Việt Nam tăng ổn định ở mức cao, bình quân mỗi năm 40 – 45% kể từ năm 2002 là năm bắt đầu thi hành Hiệp định thương mại song phương giữa hai nước Năm 2005, Việt Nam đã vượt Inđônêxia trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 4 về giày dép vào Hoa Kỳ, đạt 945 triệu USD đứng sau Trung Quốc, Italy & Brazil
Bảng 1.1 : Các quốc gia xuất khẩu chủ yếu vào Hoa Kỳ (ĐVT : triệu USD)
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Trung Quốc 9.767 10.242 10.546 11.348 12.654 13.548 14.090
Italy 1.261 1.182 1.241 1.250 1.137 1.078 12.00
Trang 24(nguồn : Website thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ)
Do thâm hụt thương mại nói chung của Hoa Kỳ với Trung Quốc ngày càng lớn cũng như thị phần giày dép của Trung Quốc tại Hoa Kỳ quá lớn và ngày càng tăng, để tránh phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu từ Trung Quốc, đồng thời để chủ động đối phó với khả năng tăng giá đồng Nhân dân tệ và tình trạng tăng giá, thiếu lao động đang xuất hiện và gia tăng trong ngành giày dép Trung Quốc, một
số công ty Hoa Kỳ đang có xu hướng tìm thêm nguồn hàng từ các nước khác, trong đó có Việt Nam Ngoài ra, để đối phó với tình trạng trên, một số nhà cung cấp nước ngoài (đặc biệt là các công ty Đài Loan) cũng đang có xu hướng di chuyển bớt một số cơ sở sản xuất ở Trung Quốc sang một số nước khác, trong
đó có Việt Nam
Tại khu vực Đông Nam Á, Inđônêsia cũng là một nguồn cung cấp chính về giày dép cho thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, do tình hình chính trị và xã hội Inđônêsia không được ổn định, nên các công ty Hoa Kỳ cũng có xu hướng giảm bớt nhập khẩu từ thị trường này, trong đó Việt Nam là một trong những thị trường thay thế Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Inđônêsia vào Hoa Kỳ năm
2004 chỉ đạt 493 triệu USD, giảm 13,5% so với năm 2003 và 32,5% so với năm
Trang 252002 Năm 2005, xuất khẩu giày dép của Inđônêsia vào Hoa Kỳ chỉ đạt 510 triệu USD, tăng khoảng 3,5%
1.2.4.2 Thị trường nhập khẩu giày dép chính của Hoa Kỳ
Hơn 90% sản phẩm giày dép được tiêu thụ tại Hoa Kỳ là nhập khẩu, thị trường nhập khẩu được xem lớn nhất hiện nay của Hoa Kỳ đó là Trung Quốc, Brazil, Indonesia, Italy, Vietnam,… Trong năm 1996, sản lượng nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 68% thì đến năm 2006 con số này lên đến 85% Đây là vấn đề nan giải của Hoa Kỳ hiện nay, và đang tìm cách để giảm sự phụ thuộc này xuống và chia sẻ với các nước còn lại, trong đó Việt Nam cũng có sự tăng trưởng đáng kể từ năm 1996 chưa chiếm được 1% thì đến năm 2005 con
số này đã lên đến gần 3% Trong năm vừa qua sản lượng xuất khẩu của Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bậc (33.2%, từ khoảng 64triệu đôi, lên 85triệu đôi) như vậy Việt Nam đang là thị trường tiềm năng được các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đang để mắt đến
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu với những mặt hàng chủ chốt, chất lượng
từ thấp đến trung bình khá, chủ yếu là những kiểu giày đơn giản, dễ làm giá rẻ tận dụng được những lợi thế của Trung Quốc về nguồn nguyên liệu, nhân công, nhưng trong xu hướng sắp đến thì các nhà nhập khẩu của Hoa Kỳ sẽ chia sẻ sự nhập khẩu này sang Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn Độ
Sau Trung Quốc, thì Brazil là nước xuất khẩu đứng vị trí thứ 2 vào Hoa Kỳ, chiếm khoảng 3.5% trong năm 2005, được lợi thế trong điều kiện địa lý gần Hoa
Kỳ nên việc xuất khẩu của quốc gia này cũng được thuận lợi, nhưng trong xu hướng sắp đến, trong khi mối quan hệ kinh tế của Hoa Kỳ với Việt Nam và Châu
Á ngày càng khởi sắc hơn thì các nhà nhập khẩu sẽ chuyển dịch từ thị trường này sang các thị trường mới tiềm năng hơn
Nhập khẩu từ Việt Nam
Nếu trong năm 1996 Việt Nam chỉ xếp hạng 7 sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia, Italy, Mêxicô, Thailand thì đến năm 2006 vị trí này đã được cải thiện
Trang 26rất nhiều đã tiến lên vị trí thứ 3 (Trung Quôc, Italy, Việt Nam, Brazil, Indonesia, Thailand), một vị trí rất thuận lợi cho Việt Nam xúc tiến thương mại hơn trong xuất khẩu của mình Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ 717 triệu USD giày dép, tăng 51,5% so với năm 2004 Năm 2006, kim ngạch này ước đạt 945 triệu USD, tăng 31% và năm 2007 tốc độ này chựng lại và đạt tốc độ khoảng 10%
Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Hoa Kỳ được dự báo tiếp tục tăng trưởng cao trong các năm tới do một số nhà nhập khẩu Hoa Kỳ có kế hoạch mở rộng đặt hàng từ Việt Nam, nhất là các loại hàng có yêu cầu sản xuất phức tạp và chất lượng từ trung bình khá trở lên để tận dụng thế mạnh lao động khéo tay của ta
Bảng 1.2 : Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn 2002-2007
Đơn Vị : triệu USD
Dựa vào bảng 1.2 trên, chúng ta có thể thấy được tốc độ tăng trưởng đều mặt hàng giày dép xuất khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ, từ giá trị xuất khẩu chiếm 1,5% so với tổng giá trị nhập khẩu vào Hoa Kỳ của năm 2002 và tăng đều hàng năm đến năm 2007 chiếm được 5,4% trên tổng giá trị nhập khẩu của Hoa Kỳ
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Thâm nhập thị trường quốc tế là những hoạt động hoàn tòan khác biệt nhiều
so với thị trường nội địa Vì những rào cản về không gian, văn hóa, kinh tế xã hội
và đặc biệt là chi phí cho các hoạt động này cao hơn nhiều so với thị trường nội địa
Nghiên cứu thị trường là hoạt động cần phải thực hiện trước trong công tác thâm nhập, sau đó phải định vị xác định thị trường mục tiêu để thực hiện các bước tiếp theo của qui trình thâm nhập
Hoa kỳ là một quốc gia đầy tiềm năng về sức tiêu thụ của tất cả các mặt hàng, giày dép là một trong những mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài rất nhiều Mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang trên đà phát triển tốt đẹp được xem là lợi thế cho các doanh nghiệp 2 quốc gia hợp tác kinh doanh
Ngành giày dép của Việt Nam được xem là một trong những ngành chủ lực mang về giá trị xuất khẩu
Trang 28CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA AN LẠC TRONG GIAI ĐOẠN 2002-2007
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY AN LẠC:
- Máy móc, thiết bị :100 cái
Năm 1990, An Lạc ký hợp đồng liên doanh với Công ty Lạc Tỷ Đài Loan, máy móc thiết bị đã được nâng cấp lên :
- Mặt bằng tăng thêm : 8.000 m2
- Máy móc thiết bị tăng thêm : 300 máy
Giai đoạn phát triển Công ty Giày An Lạc (1992-2005)
Năm 1992, Nhà máy Giày An Lạc chuyển đổi tổ chức và hoạt động thành Công ty Giày An Lạc
Năm 2000 do nhu cầu phát triển ngày càng cao, Lãnh đạo Công ty chú ý đến đầu tư chiều sâu để tăng chất lượng sản phẩm :
- Đã đầu tư thêm 14.000 m2 nhà xưởng
- Đầu tư thêm một số máy chuyên dùng và máy móc, thiết bị
- Đầu tư phần mềm 2D và 3D thiết kế mẫu và máy cắt rập mẫu tự động đạt
độ chính xác cao trong thiết kế
- Đầu tư thêm phòng lab phục vụ cho công tác test đảm bảo các tiêu chuẩn
về chất lượng
Trang 29- Đầu tư thêm dây chuyền sản xuất cho thị trường nội địa năng suất 3,5 ngàn đến 5 ngàn đôi/năm
Giai đoạn Công ty Cổ phần Giày An Lạc
Ngày 16 tháng 12 năm 2005, công ty giày An Lạc được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Giày An Lạc
Công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu các loại sản phẩm như : giày vải, hài, dép đi trong nhà, sandan, giày thể thao, giày da, các loại sản phẩm da, giả da và may mặc
Hiện tại Công ty Cổ phần Giày An Lạc có 4 Xí nghiệp trực thuộc và 3 Công ty liên doanh với tổng số 8.000 cán bộ công nhân viên lành nghề và giàu kinh nghiệm :
1- Xí nghiệp Giày vải 2.500.000 đôi/năm
2- Xí nghiệp May I 1.500.000 đôi/năm
3- Xưởng Phát triển sản xuất 200.000 đôi/năm
4- Xí nghiệp May II 600.000 cái/năm
5- Công ty Cổ phần Giày An Phú 2.000.000 đôi/năm
6- Công ty liên doanh Lạc Tỷ (liên doanh với Đài Loan)3.500.000 đôi/năm 7- Công ty liên doanh Lạc Cường (liên doanh với Đài Loan) 3.500.000 đôi/năm
Trang 30Hình 2.1 : Văn phòng chính Công ty CP Giày An Lạc
2.1.2 SẢN PHẨM VÀ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT :
Công ty Cổ phần Giày An Lạc là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu
chuyên biệt trong giày vải, thuộc công nghệ lưu hoá, bên cạnh đó An Lạc cũng
sản xuất những mặt hàng dép đi trong nhà, dép sandal thuộc birkenstock
Với năng suất khoảng 250.000đôi/ tháng, 6 chuyền gò rắp ráp, An Lạc được
xem như là nhà máy sản xuất giày lưu hoá lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đây
được xem là một lợi thế cho An Lạc vì rất ít đối thủ cạnh tranh trong nước
2.1.3 VỀ KHÚC THỊ TRƯỜNG
Như bảng phân tích dưới đây chúng ta có thể nhận dạng được rằng hầu hết
các khách hàng hiện tại của An lạc là ở châu Au, rất nhiều rủi ro nếu thị trường
này bị biến động Nhu cầu mở rộng sang thị trường khác như châu Mỹ, Uc,
Mêxico, Nam Phi đang rất được ban lãnh đạo An Lạc quan tâm
Mặc dù các nhãn hiệu mà An Lạc đang sản xuất cho họ cũng rất nổi tiếng nhưng
chưa thật sự là những nhãn hiệu hàng đầu thế giới Trong tương lai đến năm
2010, An Lạc phải giảm tỉ trọng thị trường và khách hàng châu Au xuống khoảng
60%, số lượng còn lại Mỹ chiếm 30%, và thị trường khác là 10% Đó cũng là một
trong những lý do mà ban lãnh đạo An Lạc đang quan tâm để thúc đẩy thâm
nhập thị trường Mỹ trong năm 2007-2008
Bảng 2.2: Thị trường xuất khẩu chính của An Lạc 2003-2008
Đơn Vị : Đôi
2003 2004 2005 2006 2007 2008
Thị trường lượng Sản %
Sản lượng %
Sản lượng %
Sản lượng %
Sản lượng %
Sản lượng %
1,265,553 100.0 849,016 100.0 1,276,789 98.7 1,289,221 88.5 1,229,332 82.3 1,264,006 69.7
Anh 459,356 36.3 362,323 42.7 456,321 35.3 581,000 39.9 658,453 44.1 685,472 37.8 Pháp 355,000 28.1 275,321 32.4 363,114 28.1 295,340 20.3 275,643 18.5 284,045 15.7 Tây Ban
Nha 121,352 9.6 82,654 9.7 175,664 13.6 174,000 11.9 170,400 11.4 125,400 6.9
Châu
Âu
Ý 184,959 14.6 85,003 10.0 186,222 14.4 84,500 5.8 5,100 0.3 0 0.0
Trang 31Hy Lạp 0 0.0 0 0.0 17,004 1.3 22,444 1.5 12,546 0.8 0 0.0
Hà Lan 25,665 2.0 10,000 1.2 25,000 1.9 65,230 4.5 16,000 1.1 16,000 0.9 Đức 0 0.0 0 0.0 5,600 0.4 0 0.0 15,400 1.0 20,000 1.1
Bồ Đào
Nha 46,321 3.7 21,035 2.5 27,666 2.1 15,000 1.0 8,600 0.6 0 0.0 Khác 72,900 5.8 12,680 1.5 20,198 1.6 51,707 3.6 67,190 4.5 133,089 7.3
Phi Nam
Phi 0 0.0 0 0.0 0 0.0 4,500 0.3 10,000 0.7 11,200 0.6
0 0.0 0 0.0 0 0.0 0 0.0 35,000 2.3 20,400 1.1 Châu
TỔNG CỘNG 1,265,553 100.0 849,016 100.0 1,292,989 101.3 1,456,071 100.0 1,493,964 100.0 1,814,215 100.0
(Nguồn : Công ty giày An Lạc)
Dựa vào bảng 2.2 trên chúng ta có thể thấy được sự chuyển dịch về thì phần của An Lạc Trong năm 2003 thì An Lạc hầu như xuất khẩu 100% sang châu Âu, với tổng sản lượng 1,2triệu đôi Nhưng đến năm 2008 thì Châu Âu chỉ còn chiếm 79.7% (1,2 triệu đôi), châu Mỹ chiếm 27.9% (500ngàn đôi) Như vậy gia tăng sản lượng sản xuất tại An Lạc do có sự mở rộng thị trường Điều này làm năng lực sản xuất ngày càng tăng
2.1.4 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
GIÀY AN LẠC (2003-2007)
Như đã định hướng chiến lược kinh doanh của An Lạc trong thời gian qua cũng như sắp tới An Lạc tập trung nhiều hơn cho thị trường xuất khẩu, hơn 95% sản lượng sản xuất ra là xuất khẩu Nếu nhìn vào bảng báo cáo doanh thu trong
5 năm qua của An Lạc, chúng ta có thể thấy được sự phát triển vượt bậc cả về doanh thu và sản lượng Để đạt được điều đó An Lạc đã không ngừng trong cải tiến từ khâu phục vụ khách hàng, đến sản xuất ngày càng nâng vị trí của An Lạc đối với khách hàng :
Bảng 2.3: Sản lượng xuất khẩu của An Lạc qua các năm 2003-2008
Đơn vị : Đôi
Trang 32Tháng 2003 2004 2005 2006 2007
2008 (kế hoạch)
Dựa vào bảng số liệu thông kê tình hình doanh thu cũng như sản lượng công
ty đạt đước trong các năm vừa qua chúng ta có thể nhận thấy một số thành tựu nhất định mà Công ty Cổ phần Giày An Lạc đạt được trong năm 2003 sản lượng chỉ đạt được 1,2triệu đôi, nhưng đến năm 2008 sản lượng này tăng lên 1,8triệu đôi Tốc độ tăng trưởng trung bình 8%
Trang 33Đồ thị 2.4 : Đồ thị tăng trưởng sản lượng qua các năm 2003-2008
SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN 2003-2008
0 200,000 400,000 600,000 800,000 1,000,000 1,200,000 1,400,000 1,600,000 1,800,000 2,000,000
Tuy nhiên công ty đã có sự tăng trưởng ổn định cho giai đoạn tiếp theo với hơn 1,400,000 đôi năm 2006 và dự kiến mức sản lượng cho năm 2007 sẽ là hơn 1,620,000 đôi giày vải, hài và dép các loại, giữ được tốc độ tăng trưởng đều vào khoảng 20% năm, đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng chung của toàn ngành
Trang 34Bảng 2.5: Bảng tổng kết doanh thu giai đoạn 2003-2008 của An Lạc
Trang 35Đồ thị 2.6 : Đồ thị tăng trưởng doanh thu qua các năm 2003-2008 Của An Lạc
Doanh thu giai đoạn 2003-2008
0 20,000,000 40,000,000 60,000,000 80,000,000 100,000,000 120,000,000 140,000,000 160,000,000 180,000,000
Thông qua tình hình tăng trưởng của doanh thu và sản lượng của Công ty Cổ phần giày An Lạc từ 2003 đến 2007, chúng ta có thể nhận thấy tình hình tăng trưởng sau khi cổ phần hoá là khá mạnh Bên cạnh đó, việc công ty đã lựa chọn phân khúc thị trường giày cao cấp là phù hợp với năng lực hiện tại cũng như phù hợp với tiềm năng của công ty và khả năng phát triển cho mảng sản phẩm này là còn khá lớn
Trang 362.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA AN
LẠC- MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
2.2.1 MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
2.2.1.1 Môi trường kinh tế :
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Bảng 2.7 :Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đọan 1995-2007
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 GDP
(%) 9,54 9,34 8,15 5,80 4,80 6,79 6,84 7,04 7,24 7,5 8,4 8,2 8.5
Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB
- Theo số liệu trên thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 1995 đến nay khá cao Đây là một nhân tố tích cực đến các doanh nghiệp họat động trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và An Lạc nói riêng Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trưởng cao đã kéo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người cũng tăng:
Bảng2.8 : GDP bình quân đầu người từ năm 1995-2007
ời 273 311 321 340 363 400 420 439 483 514 640 722
Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á -ADB
- Từ số liệu trên cho ta thấy GDP bình quân đầu người gia tăng tương đối đều qua các năm, nhưng tốc độ tăng không đáng kể Mặt khác, nếu so với các nước trong khu vực thì mức thu nhập khả dụng của người dân vẫn còn thấp Mặc dù tăng không nhiều nhưng vẫn là một yếu tố rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế:
Trang 37- Khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu theo đúng lộ trình như đã cam kết với WTO Cụ thể, sẽ có khoảng 36% dòng thuế trong biểu thuế phải cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu
so với hiện hành Lộ trình cắt giảm kéo dài từ 5-7 năm Những ngành có mức cắt giảm nhiều nhất là dệt may, thuỷ sản, hàng chế tạo và máy móc thiết bị thông dụng, ôtô và linh kiện ôtô, chế biến thực phẩm…
- Cùng với việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết WTO, Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện các cam kết cắt giảm thuế theo các FTA khu vực Theo các cam kết này việc cắt giảm đều rất triệt để, xuống mức 0- 5% Điều này sẽ có ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất trong nước nếu không có những biện pháp điều chỉnh vì các nước đối tác đều có thế mạnh về sản xuất và xuất khẩu Việc cắt giảm thuế theo FTA trong khuôn khổ AFTA thời gian qua chưa có tác động nhiều đến sản xuất trong nước vì thực tế buôn bán trong ASEAN chỉ chiếm 25-27% tổng giá trị nhập khẩu và giá trị kim ngạch đảm bảo các tiêu chí để được miển thuế mới chiếm 10% tổng kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN Tuy nhiên, khi AFTA
mở rộng sang cả Trung Quốc, Hàn Quốc thì những ảnh hưởng sẽ càng rõ nét hơn
- Chính việc Việt Nam tham gia ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty trong nước mở rộng thị trường, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ quản lý… Mặt khác, nó cũng tạo nên những áp lực cạnh tranh đối với các công ty trong nước Buộc các công
ty này phải chỉnh đốn hoạt động, hạ giá thành sản phẩm… để thích nghi với tình hình mới
2.2.1.2 Môi trường chính trị, chính sách và pháp luật :
- Tình hình chính trị ổn định của Việt Nam có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động, làm tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Điều này cũng tác động tích cực trong việc tạo lập và triển khai chiến lược của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung trong đó có An Lạc
Trang 38- Trong xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Quốc hội đã ban hành và tiếp tục hòan thiện các Bộ Luật như Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật thuế…để đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế ở Việt Nam
- Nhà nước đã thực hiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh mọi ngành nghề mà pháp luật cho phép Điều này dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường mạnh mẽ hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, họat động hiệu quả hơn
- Những ràng buộc pháp lý đối với ngành bánh kẹo chủ yếu liên quan đến an tòan thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đây cũng là những vấn đề được An Lạc từ nhiều năm nay rất chú trọng và xem là chiến lược lâu dài của mình
- Khi tham gia thị trường thế giới thì An Lạc chịu sự tác động của các yếu tố chính trị, pháp lý, chính sách của các nước trên thế giới Do đó, việc nâng cao ý thức, nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách
2.2.1.3 Môi trường văn hoá - xã hội:
- Trải qua quá trình lịch sử, nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của sự giao thoa từ nhiều nền văn hóa khác nhau, nhưng ảnh hưởng nhiều nhất là nền văn hóa Trung Hoa
- Do ảnh hưởng của văn hóa Á Đông nên người Việt Nam rất cần cù chăm chỉ trong công việc, đây là điểm mạnh cho nguồn nhân lực của Việt Nam Rất cần thiết cho những ngành giày chiếm dụng rất nhiều lao động như hiện nay
2.2.1.4 Môi trường công nghệ :
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra nhanh chóng trong thời gian gần đây đã làm cho chu kỳ sống của của công nghệ ngày càng bị rút ngắn Điều này buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ nếu không muốn
Trang 39tụt hậu Đặc biệt trong ngành sản xuất giày dép, thị hiếu tiêu dùng thường xuyên thay đổi nên chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn Điều nghịch lý là trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, để phát triển sản xuất, tăng tích lũy cho đầu tư phát triển là một bài tóan khó cho mỗi doanh nghiệp
- Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay đã tạo những điều kiện rất thuận lợi để An Lạc có thể tiếp cận được dễ dàng với công nghệ mới và máy móc hiện đại của thế giới để nâng cao vị thế của mình trên thị trường
2.2.2 MÔI TRƯỜNG VI MÔ:
- Các đối thủ chính trong nước :
Bảng 2.9 : Các đối thủ cạnh tranh chính của An Lạc
Giày lưu hóa (giày
vải) Gòn, Giày Hà Tây, Thượng Đình Giày Bình Định Phước Bình, Hiệp trí, Đông Hải, Thanh Hải, Giày Sài
Hài dép đi trong
nhà Hiệp An, Hùng Huy, D joung, j.Young, Nam Á, Lucky
- Các đối thủ nước ngoài
bên cạnh các đối thủ trong nướ`c ngày càng mạnh lên, An Lạc còn phải nghiên cứu các đối thủ nước ngoài với công nghệ sản xuất giày tương đối hiện đại : Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Brazil, Indonesia
Trang 402.2.2.2 Nhà cung cấp:
- Các nguyên liệu cơ bản như vải, da, cao su, hóa chất, chỉ, dây giày đều có các nhà cung cấp trong nước ổn định với giá cả cạnh tranh Bên cạnh đó các nhà cung cấp đến từ Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Trung Quốc được xem là lợi thế mang lại nguồn nguyên liệu đa dạng dồi dào cho An Lạc
- Nhìn chung, yếu tố “nhà cung cấp” ít ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của An Lạc, do sự dồi dào của nguồn nguyện liệu trên thị trường
2.2.2.3 Sản phẩm thay thế:
Do An Lạc chỉ tập trung vào sản xuất sản phẩm giày công nghệ lưu hóa là chính, nên sản phẩm thay thế mang công nghệ giày thể thao đế dán, công nghệ giày đế phun rất cao Được xem như những đối thủ rất mạnh cho công nghệ giày lưu hóa hiện nay
2.3 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
2.3.1 SẢN XUẤT
Với qui mô về khuôn viên rộng lớn có thể dễ dàng trong điều kiện mở rộng qui
mô sản xuất, nên An Lạc tiếp tục duy trì phát triển công nghệ giày lưu hoá như là một chiến lược trọng tâm cho hoạt động đến năm 2010 Ngoài 6 dây chuyền sản xuất như hiện tại, An Lạc sẽ dự định mở thêm 2 dây chuyền nữa tăng năng suất tháng lên 350.000đôi/tháng Điều này đặt trọng trách lên bộ phận Marketing rất lớn trong việc quảng bá, xúc tiến tìm kiếm thị trường mới, khách hàng mới để bảo toàn cho năng lực sản xuất trong tương lai
2.3.2 CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM :
Đa dạng hoá các chủng loại hàng hoá, kiểu dáng, mẫu mã để kéo dài sự tồn tại của công nghệ giày lưu hoá lâu hơn, đặc biệt đối với công nghệ giày lưu hoá ngày nay đã cho phép các nhà thiết kế tạo ra những kiểu dáng giày lưu hoá hiện đại khác biệt hoàn toàn với các kiểu giày cổ điển trước đây, những kiểu giày ngày nay mang dáng vấp giống như giày thể thao của công nghệ đế dán hay đế phun, đó chính là bí quyết để kéo dài sự tồn tại cho công nghệ này