1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược phát triển dịch vụ tài chính tại chính tại công ty tài chính dầu khí thời kỳ hậu WTO

97 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CBNV : Cán bộ nhân viên CK BSC : Công ty Chứng khoán Bảo Việt Công ty : Công ty Tài chính Dầu khí CTCG : Chứng từ có giá CTTC : Cho thuê Tài chính CtyTC : Công

Trang 1

-

LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI

CHÍNH TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ

THỜI KỲ HẬU WTO

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

T.S NGUYỄN MINH KIỀU

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2007

Trang 2

Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trang

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Xác định vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Nội dung nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm về dịch vụ Tài chính 5

1.1.1 Dịch vụ tài chính là gì? 5

1.1.2 Các loại hình dịch vụ Tài chính 6

1.1.2.1 Dịch vụ tài chính ngân hàng 6

1.1.2.2 Dịch vụ tài chính phi ngân hàng 13

1.2 Các yếu tố tác động đến dịch vụ tài chính 17

1.2.1 Sự phát triển của nền kinh tế 17

1.2.2 Sự phát triển của khoa học công nghệ 18

1.2.3 Xu thế tự do hóa tài chính và hội nhập nền kinh tế thế giới 19

1.2.4 Tác động vĩ mô từ cơ chế chính sách của Nhà nước 20

1.3 Vai trò và sự cần thiết phải mở rộng và phát triển dịch vụ Tài chính 20 1.3.1 Ngành dịch vụ tài chính là một ngành kinh tế lớn 20

1.3.2 Thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung và đầu tư lớn 21

1.3.3 Nâng cao hiệu quả đầu tư 22

1.3.4 Phân tán và giảm thiểu rủi ro 22

1.3.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước 23

1.3.6 Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia 23

1.4 Công ty tài chính 24

Trang 3

1.4.1 Cơ sở pháp lý và thực trạng 24

1.4.2 Nội dung hoạt động 28

1.5 Những cam kết gia nhập WTO về các dịch vụ Tài chính – Ngân hàng 30

1.5.1 Những ngành và phân ngành được áp dụng 30

1.5.2 Những hạn chế đối xử Quốc gia 31

1.5.3 Những hạn chế tiếp cận thị trường 32

1.6 Cơ hội và thách thức của các tổ chức tài chính – tín dụng thời kỳ hậu WTO 34

1.6.1 Những cơ hội 34

1.6.2 Những thách thức 35

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ 2.1 Giới thiệu về Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) 38

2.1.1 Mục đích và lịch sử phát triển của PVFC 39

2.1.2 Phương châm hoạt động 40

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của PVFC 42

2.2 Các sản phẩm dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Dầu khí 42

2.2.1 Thu xếp vốn và Tín dụng doanh nghiệp 42

2.2.1.1 Tư vấn & Thu xếp vốn 42

2.2.1.2 Cho vay ngắn hạn, trung hạn & dài hạn 43

2.2.1.3 Bảo lãnh 43

2.2.2 Dịch vụ Tín dụng cá nhân 44

2.2.2.1 Tiền gửi tích lũy có kỳ hạn 44

2.2.2.2 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 45

2.2.2.3 Ủy thác quản lý vốn cá nhân 45

2.2.2.4 Cho vay cá nhân 46

2.2.3 Hoạt động vốn 47

2.2.3.1 Làm đại lý phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình 47

6

Trang 4

-2.2.3.2 Kinh doanh vốn với các tổ chức tín dụng 47

2.2.4 Dịch vụ Tài chính 48

2.2.4.1 Huy động vốn ủy thác 48

2.2.4.2 Tư vấn tiền gửi 49

2.2.4.3 Thẩm định và tái thẩm định 49

2.2.4.4 Tư vấn tài chính 49

2.2.4.5 Tư vấn cổ phần hóa 50

2.2.5 Hoạt động Đầu tư 50

2.2.5.1 Dịch vụ Đầu tư cho cá nhân 50

2.2.5.2 Dịch vụ đầu tư cho tổ chức 52

2.2.5.3 Hợp tác đầu tư dự án 57

2.2.5.4 Kinh doanh cổ phiếu và chứng từ có giá 59

2.2.6 Hoạt động Chứng khoán 62

2.2.6.1 Ủy thác đầu tư kinh doanh chứng khoán 62

2.2.6.2 Sản phẩm hỗ trợ các nhà đầu tư chứng khoán 63

2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của PVFC 66

Kết luận chương 2 70

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ THỜI KỲ HẬU WTO 3.1 Nhận định chung tình hình nghành dịch vụ Tài chính Việt Nam 71

3.1.1 Thành công 71

3.1.2 Hạn chế 72

3.2 Mục tiêu chiến lược của PVFC 73

3.3 Phân tích SWOT của PVFC 74

3.4 Chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Dầu khí 76

3.4.1 Định hướng chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh 76

3.4.2 Các chiến lược phát triển của Công ty Tài chính dầu khí 77

7

Trang 5

-3.4.2.1 Chiến lược phát triển sản phẩm và dịch vụ 78

3.4.2.2 Chiến lược khách hàng 82

3.4.2.3 Chiến lược về tổ chức và mạng lưới hoạt động 83

3.4.2.4 Chiến lược về nguồn nhân lực và công tác đào tạo 84

3.4.2.5 Chiến lược Marketing thương hiệu PVFC 86

3.4.2.6 Chiến lược về công nghệ và quản lý 86

3.4.2.7 Về kiểm tra, kiểm soát nội bộ 87 Kết luận chương 3 88 Tài liệu tham khảo

8

Trang 6

-DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBNV : Cán bộ nhân viên

CK BSC : Công ty Chứng khoán Bảo Việt

Công ty : Công ty Tài chính Dầu khí

CTCG : Chứng từ có giá

CTTC : Cho thuê Tài chính

CtyTC : Công ty Tài chính

FDI : Foreign Direct Investment

GATS : Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ

HĐQT : Hội đồng quản trị

NH ĐT&PT : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

NH TMCP : Ngân hàng Thương mại cổ phần

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

OTC : Over the Counter

PVFC : PetroVietnam Finance Company

QĐ : Quyết định

SWOT : Strengths Weaknesses Opportunities Threats

Tập đoàn : Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

TCKT : Tổ chức kinh tế

TCT : Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TTCK : Thị trường Chứng khoán

TTGDCK : Trung tâm Giao dịch Chứng khoán

UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 7

-DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

Bảng 1.1: Các Công ty Tài chính hiện nay 27

Bảng 2.1: Các dự án PVFC góp vốn đầu tư 59

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động của PVFC giai đoạn 2001-2006 66

Bảng 2.3: Tốc độ tăng của Doanh thu và lợi nhuận giữa các năm 68

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của PVFC năm 2006 và kế hoạch năm 2007 68

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức PVFC 42

Hình 2.2: Biểu đồ về kết quả hoạt động kinh doanh của PVFC qua các năm 67

10

Trang 8

-GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

Cạnh tranh, hội nhập và phát triển là xu hướng tất yếu của tất cả các nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam Để đứng vững trong cạnh tranh và phát triển, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế đều có vai trò nhất định, trong đó lĩnh vực tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng giữ một vị trí trọng yếu Phát triển lĩnh vực dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, kế toán kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế, chứng khoán) là yêu cầu cấp thiết cho đất nước để góp phần huy động nguồn nội lực tài chính trong và ngoài nước để đảm bảo an ninh tài chính, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của từng sản phẩm, từng mặt hàng sản xuất trong nước nói riêng Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế giới – WTO vào ngày 07/11/2006 vừa qua Điều gì sẽ diễn ra khi chúng ta tham gia Tổ chức Thương mại có quy mô toàn cầu này Đâu là cơ hội mà chúng ta có thể

và cần phải tận dụng Những thách thức nào mà chúng ta phải nhận biết

để vượt qua Đặc biệt trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, một lĩnh vực được xem là “trái tim” của nền kinh tế

Thực tế ở nước ta cho đến nay, hệ thống thị trường dịch vụ Tài chính đồng bộ đang dần được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ Tài chính – Ngân hàng ngày càng gia tăng của các chủ thể trong nền kinh tế Các loại hình dịch vụ Tài chính – Ngân hàng ngày càng đa dạng, cả về số lượng cũng như chủng loại, bao gồm: dịch vụ ngân hàng,

11

Trang 9

-dịch vụ trên thị trường chứng khoán, -dịch vụ bảo hiểm, -dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính Tuy nhiên, các loại hình dịch vụ tài chính còn khá sơ khai, quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được các nhu cầu về dịch vụ tài chính của nền kinh tế Những vấn đề về thị trường dịch vụ tài chính và phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng Việt Nam đang còn khá mới mẻ Vì vậy trong tương lai, chúng ta cần đưa ra các định hướng và giải pháp để phát triển dịch vụ tài chính – ngân hàng trên bước đường hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Về phần Công ty Tài chính Dầu khí, hiện nay Công ty đã và đang có những chuyển biến tích cực cho quá trình hội nhập và phát triển của mình Cụ thể là đầu năm 2007 tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ VNĐ, kế đến

là sự mở rộng quy mô hoạt động của mình với việc thành lập một số chi nhánh mới Đồng thời nguồn nhân lực ở Công ty cũng ngày càng tăng cả

về số lượng và chất lượng Các sản phẩm - dịch vụ của Công ty ngày một linh động hơn, phù hợp hơn với tình hình thực tế Đứng trước những khó khăn, thách thức và cơ hội trong quá trình hội nhập nền kinh

tế thế giới, công ty Tài chính Dầu khí đã có những định hướng, chiến lược và giải pháp nào nhằm giảm thiểu những khó khăn, phát huy những thế mạnh của mình đồng thời tận dụng những cơ hội của quá trình hội nhập để xây dựng Công ty trở thành một định chế tài chính lớn mạnh trong nước và vươn ra thế giới Đó cũng là lý do nghiên cứu đề tài

“Chiến lược phát triển dịch vụ Tài chính của Công ty Tài chính Dầu khí

thời kỳ hậu WTO”

2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam đã được hình thành và có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, từng bước hội nhập với thị trường dịch vụ tài chính khu vực và thế giới Tuy nhiên, khả năng tập

12

Trang 10

-trung và phân bổ các nguồn lực tài chính thông qua thị trường dịch vụ tài chính còn chưa thực sự hiệu quả, các sản phẩm dịch vụ tài chính còn chưa phong phú, chất lượng dịch vụ cung cấp còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính của các chủ thể trong nền kinh

tế Vì vậy, tác động của thị trường dịch vụ tài chính đến việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn rất hạn chế

Đứng trước tình hình như vậy, vấn đề trọng tâm của đề tài cần nghiên

cứu là đưa ra các chiến lược phát triển các dịch vụ tài chính tại Công ty

Tài chính Dầu khí, một tổ chức Tài chính phi ngân hàng điển hình ở Việt Nam nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu hiện tại của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới Đây cũng là mong muốn

của tác giả nhằm góp phần củng cố năng lực cạnh tranh và khả năng chịu đựng cạnh tranh của các tổ chức tài chính Việt Nam trước sức ép của tự

do hóa tài chính và hội nhập kinh tế

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra, đề tài này nhằm vào mục tiêu đánh giá tổng quát về thị trường các dịch vụ tài chính, xem xét năng lực cạnh tranh của các định chế tài chính trong nước, cụ thể là Công ty Tài chính Dầu khí, từ đó góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách

có những bước đi đúng đắn về việc mở cửa các dịch vụ tài chính phù hợp với xu thế hội nhập Bên cạnh đó đề ra những chiến lược cụ thể của Công ty Tài chính Dầu khí nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của Công ty để họ đứng vững trước làn sóng hội nhập

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và suy luận logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp

13

Trang 11

-duy vật biện chứng, tức phân tích thực trạng để đưa ra các định hướng và

đề xuất một số giải pháp chiến lược để phát triển các dịch vụ tài chính

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương Chương 1 giới thiệu tổng quan về dịch vụ tài chính và sự cần thiết phải mở rộng và phát triển dịch vụ tài chính trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, sự cạnh tranh sẽ diễn ra hết sức khốc liệt, trong đó lĩnh vực tài chính sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp Trình bày những thực trạng về sản phẩm và dịch vụ tài chính tại Công ty Tài chính Dầu khí sẽ được trình bày trong chương 2 của luận văn

Cuối cùng, chương 3 sẽ là các chiến lược phát triển dịch vụ Tài chính tại Công ty Tài chính Dầu khí trong thời kỳ hội nhập quốc tế WTO trên

cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu, nhận biết cơ hội và nguy cơ của Công ty và một số đánh giá chung về thị trường dịch vụ Tài chính Việt Nam

6 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Về

lý luận, đề tài giúp hệ thống hóa được những vấn đề về thị trường dịch

vụ tài chính, các loại hình dịch vụ tài chính Qua đó, cho thấy sự cần thiết phải phát triển các dịch vụ tài chính này trong tương lai Về thực tiễn, đề tài này đưa ra được thực trạng tình hình cung cấp và sử dụng các dịch vụ tài chính hiện nay tại Công ty Tài chính Dầu khí đồng thời đưa

ra được các chiến lược phát triển dịch vụ tại Công ty Tài chính Dầu khí trong giai đoạn hội nhập WTO đầy thử thách phía trước

14

Trang 12

vụ tài chính như sau: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào đó có tính

chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”

Khái niệm dịch vụ tài chính của WTO được hầu hết các quốc gia thành viên thông qua trong hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) Về mặt nguồn gốc, khái niệm dịch vụ tài chính được xây dựng trên

cơ sở phân tích quá trình vận động của các dòng tài chính trong nền sản xuất

xã hội, từ người cung tài chính đến người cầu tài chính Trong quá trình này nguồn tài chính luân chuyển với ba hình thức sau:

- Gián tiếp qua trung gian tài chính

- Trực tiếp không qua môi giới

- Trực tiếp qua môi giới

Trường hợp nguồn tài chính luân chuyển gián tiếp qua trung gian tài chính và luân chuyển trực tiếp qua trung gian môi giới, các trung gian này lấy nguồn tài chính làm hàng hóa cho hoạt động kinh doanh của mình Như vậy, hoạt động kinh doanh của các trung gian này là kinh doanh dịch vụ với hàng hóa là nguồn tài chính

15

Trang 13

-Tóm lại, các hoạt động giao dịch tài chính được thực hiện theo phương thức luân chuyển qua các trung gian (bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ tài chính Ngoài ra, theo WTO các hoạt động có tác dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguồn tài chính như dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính, xếp hạng tín nhiệm…cũng được xem là dịch vụ tài chính

Dịch vụ cấp tín dụng

Đây là dịch vụ đi liền với dịch vụ huy động vốn Các tổ chức tài chính được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

+ Dịch vụ cho vay sản xuất kinh doanh

Các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ này nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống thông qua các phương thức cho vay luân chuyển, cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng…

16

Trang 14

-+ Dịch vụ cho vay đầu tư phát triển

Thực chất của dịch vụ cho vay đầu tư phát triển là cho vay trung, dài hạn của các tổ chức tài chính để tài trợ cho các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư các công trình xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục hoặc thay thế tài sản cố định, cải tiến và hợp lý hóa sản xuất kinh doanh Đây là hình thức tài trợ đầu tư phổ biến ở các nước đang phát triển

+ Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá khác

Thực chất của loại hình dịch vụ này là các tổ chức tài chính mua thương phiếu và chứng từ có giá khác còn trong thời hạn hiệu lực của khách hàng Người sở hữu thương phiếu khi bán cho các tổ chức tài chính này sẽ nhận được một số tiền nhất định bằng mệnh giá trừ đi tiền chiết khấu, tính theo trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác Người thụ hưởng muốn nhận được số tiền này phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở người thu lệnh nếu là hối phiếu, hoặc ở người phát hành nếu là lệnh phiếu khi đến hạn thanh toán.Đây là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, là nghiệp vụ ngân hàng cổ điển ra đời rất sớm

và đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến

+ Dịch vụ cho vay tiêu dùng

Đây là loại tín dụng sinh hoạt, cho vay để mua hàng tiêu dùng Xét ở góc độ nghiệp vụ và tính phổ biến của nó, có thể chia thành tín dụng tiêu dùng trực tiếp và tín dụng tiêu dùng gián tiếp:

- Các phương thức tín dụng tiêu dùng trực tiếp gồm có tín dụng trả theo

kỳ, thấu chi và thẻ tín dụng như sau:

17

Trang 15

+ Tín dụng trả theo định kỳ: là phương thức khách hàng vay và trả trực tiếp với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay

+ Thấu chi: là phương thức cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai vượt số dư Có tới một hạn mức đã được thỏa thuận

+ Thẻ tín dụng: là phương thức mà ngân hàng phát hành thẻ cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định hạn mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm thẻ quốc tế (như VISA Card, MASTER Card, JCB, AMERICAN EXPRESS…) và thẻ nội địa như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Cả hai loại tín dụng trả theo định kỳ và thấu chi đều không cần ký hợp đồng vay mượn mà chỉ cần thông qua một thỏa thuận nghiệp vụ với các nội dung chính: hạn mức, lãi suất, yêu cầu đảm bảo phí các loại, bảo hiểm (nếu cần), thời điểm tái xét thời hạn có hiệu lực của hạn mức, kỳ hạn nợ (nếu có)

- Tín dụng tiêu dùng gián tiếp: được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu

dùng thông qua việc ngân hàng mua các phiếu bán hàng từ những người bán

lẻ hàng hóa và do vậy nó chính là hình thức tài trợ bán trả góp của các ngân hàng thương mại

Trang 16

-bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh”

Như vậy, bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh bằng năng lực chi trả

Dịch vụ thanh toán

Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tồn tại của tiền tệ và lưu thông tiền tệ

không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là sự cần thiết để phục vụ cho

sự chu chuyển của sản phẩm xã hội để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất

được tiến hành một cách bình thường Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế

hàng hóa được thực hiện dưới hai hình thức: chu chuyển tiền mặt và chu

chuyển không dùng tiền mặt Chu chuyển tiền mặt ở Việt Nam được thực

hiện bởi dấu hiệu Tiền tệ Việt Nam – đó là đồng Việt Nam (VNĐ) Tiền

mặt vận động trong lưu thông thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và

phương tiện thanh toán Còn trong thanh toán không dùng tiền mặt, tiền chỉ

thực hiện một chức năng là phương tiện thanh toán Thanh toán không dùng

tiền mặt ở Việt Nam là quan hệ thanh toán được thực hiện và được tiến hành

bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản đơn vị này sang tài khoản đơn vị

khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị, thông qua cơ quan ngân hàng

Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ

Là dịch vụ trong đó các tổ chức tài chính thực hiện nghiệp vụ kinh doanh

ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng của mình nhằm thu lợi nhuận

do chênh lệch tỷ giá Đây là dịch vụ phổ biến của các ngân hàng trên thế

giới và ở Việt Nam Hoạt động này không chỉ nhằm để đáp ứng nhu cầu

thanh toán mà còn đem lại khoản lợi nhuận lớn cho người kinh doanh nó

Tuy nhiên, hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, nó chịu tác động của

nhiều nhân tố như tình hình kinh tế, chính trị, tỷ giá hối đoái, lãi suất….Các

nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bao gồm: quyền chọn (Option), giao dịch

giao ngay (Spot), giao dịch hoán đổi (Swap), giao dịch kỳ hạn (Forward),

19

Trang 17

-hợp đồng tương lai (Future), môi giới tài chính và tư vấn tài chính Chi tiết

cụ thể các nghiệp vụ như sau:

+ Quyền chọn (Option)

Quyền chọn là một công cụ tài chính cho người nắm giữ quyền – nhưng không bắt buộc – bán hoặc mua công cụ tài chính khác với giá thỏa thuận trong một thời gian nhất định gọi là ngày hết hiệu lực (hay ngày đến hạn) Có hai loại quyền chọn: quyền chọn mua và quyền chọn bán Quyền chọn mua cho phép chủ sở hữu quyền, nhưng không bắt buộc mua tài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở Quyền chọn bán thì ngược lại, cho phép chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc bán tài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở

Xét về mặt thời gian thực hiện quyền chọn, hiện nay có 2 hình thức của quyền chọn trên thế giới: quyền chọn kiểu Châu Âu (European style Option) cho phép người mua quyền chọn thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn, mục đích chính là phòng ngừa rủi ro tỷ giá Và quyền chọn kiểu

Mỹ (American style Option) cho phép người mua quyền chọn thực hiện quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian thỏa thuận của hợp đồng, mục đích chính là nhằm đầu cơ tỷ giá

+ Giao dịch giao ngay (Spot)

Giao dịch giao ngay được thống nhất trên thị trường quốc tế chỉ bao gồm việc mua bán các đồng tiền khác nhau trên tài khoản ngân hàng và các bên mua bán tiến hành thanh toán ngay sau khi đã thỏa thuận Tỷ giá ký kết (tỷ giá thỏa thuận) được lấy theo tỷ giá phát sinh vào thời điểm ký kết hợp đồng, tỷ giá giao ngay được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng

Hiện nay, nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất vì nó có mục đích là thanh toán tiền, hàng hóa dịch vụ và đáp ứng nhu cầu tái sản xuất

20

Trang 18

+ Giao dịch hoán đổi (Swap)

Giao dịch hoán đổi là việc đồng thời mua và bán một đồng tiền nhất

định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau Giao

dịch hoán đổi bao gồm hai loại:

- Loại giao dịch hoán đổi gồm một giao dịch giao ngay và một giao

dịch kỳ hạn (Spot – Forward Swap)

VD: Hợp đồng hoán đổi giao ngay – kỳ hạn giữa VNĐ & USD

Mua (bán)

USD

Bán (mua) USD

- Loại giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch đều là giao dịch kỳ hạn

được ký kết đồng thời tại ngày hôm nay nhưng có ngày giá trị khác nhau

(Forward – Forward Swap) Loại này ít được sử dụng trong thực tế

+ Giao dịch kỳ hạn (Forward)

Giao dịch kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà mọi dữ kiện

trong hợp đồng (số lượng ngoại tệ giao dịch, thời hạn và giá cả ký kết) được

ấn định vào thời điểm ký kết hợp đồng nhưng sẽ được thực hiện trong tương

lai Nói cách khác, hai bên mua bán sẽ thỏa thuận việc chuyển giao ngoại tệ

vào một ngày xác định trong tương lai với tỷ giá được xác định vào thời

điểm ký kết hợp đồng và tỷ giá đó gọi là tỷ giá kỳ hạn Một cách gần đúng

thì:

Forward rate = Spot rate + Swap cost

Trong đó:

Forward rate: tỷ giá kỳ hạn

Spot rate: tỷ giá giao ngay

21

Trang 19

-Swap rate: chi phí giao dịch hoán đổi

Hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là được thiết kết thích hợp đáp ứng yêu cầu của cả hai bên về quy mô giao dịch và ngày giao dịch kỳ hạn Tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn có các bất lợi sau đây:

- Chi phí giao dịch của các hợp đồng kỳ hạn có thời gian đáo hạn không tiêu chuẩn thường đắt hơn bình thường

- Hợp đồng kỳ hạn không thể hủy bỏ đơn phương mà phải có sự thỏa thuận của hai đối tác

- Nghĩa vụ của mỗi bên nhìn chung không thể chuyển giao cho bên thứ 3 nên nó không có tính thanh khoản cao

- Không có gì bảo đảm rằng sẽ không có bên vỡ nợ và hủy bỏ các nghĩa vụ hợp đồng

+ Hợp đồng tương lai (Future)

Hợp đồng Future là một thỏa thuận mua hoặc bán tài sản vào một thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định Hai thị trường Future lớn nhất là Chicago board of Trade (CBOT) và Chicago mercantile Exchange (CME)

+ Môi giới tài chính là các tổ chức tài chính thay mặt khách hàng

trong việc tìm kiếm, thương lượng với đối tác nhằm tìm kiếm các khoản tài trợ cho khách hàng hoặc thực hiện tài trợ cho đối tác

+ Tư vấn tài chính là dịch vụ trong đó các tổ chức tín dụng được phép

cung cấp những thông tin cần thiết nằm trong phạm vi cho phép của pháp luật, cũng như tư vấn nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả

22

Trang 20

-1.1.2.2 Dịch vụ tài chính phi ngân hàng

Dịch vụ bảo hiểm

Dịch vụ bảo hiểm ra đời và tồn tại là để đáp ứng những hậu quả tài chính của một số rủi ro nhất định, đem lại cảm giác yên tâm cho những cá nhân hay tổ chức sử dụng dịch vụ bảo hiểm Điều này không những quan trọng đối với những cá nhân khi họ tham gia bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xe cộ, nhà cửa và tài sản của mình mà còn có tầm quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại

Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm tùy theo giác độ phân tích và quan điểm của mỗi người Xét theo phương diện pháp lý, bảo hiểm

là hợp đồng được ký kết, trong đó người bảo hiểm đồng ý nhận một số tiền

đã được tính toán (phí bảo hiểm) để bồi thường cho người được bảo hiểm về những tổn thất người ấy phải gánh chịu đối với sự cố đã xảy ra Xét theo phương diện nghiệp vụ, bảo hiểm là nghiệp vụ qua đó người được bảo hiểm đóng góp một số tiền nhất định ( phí bảo hiểm) cho mình hoặc cho người thứ ba, trong trường hợp xảy ra sự cố bảo hiểm sẽ nhận được một khoản tiền đền bù từ phía nhà bảo hiểm Nhà bảo hiểm nhận toàn bộ trách nhiệm đối với các rủi ro và đền bù thiệt hại theo các điều khoản bảo hiểm đã thỏa thuận

Dịch vụ đầu tư tài chính

Là hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính của những người dư thừa vốn, được phát hành bởi những người cần huy động vốn Tài sản tài chính ở đây chủ yếu là các loại chứng khoán trên Thị trường Chứng khoán

Các loại dịch vụ đầu tư Tài chính bao gồm:

- Dịch vụ môi giới chứng khoán: công ty chứng khoán làm môi giới

tiếp khách hàng mua và bán chứng khoán, đồng thời được hưởng hoa hồng

23

Trang 21

-trên tổng doanh số các thương vụ mua bán số chứng khoán mà khách hàng thực hiện thông qua môi giới

- Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư: là hoạt động quản lý vốn của

khách hàng thông qua việc bán và lưu trữ chứng khoán của khách hàng vì quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với khách hàng

- Dịch vụ bảo lãnh phát hành: là hoạt động hỗ trợ cho công ty phát

hành (chủ sở hữu chứng khoán) trong việc phân phối chứng khoán bằng việc mua thỏa thuận chứng khoán để bán lại; thay mặt công ty phát hành (chủ sở hữu chứng khoán) bán chứng khoán đồng thời nghiên cứu và tư vấn cho các tổ chức cách thức phát hành chứng khoán như cơ cấu phát hành, giá phát hành, v.v…

- Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: là các hoạt động tư vấn liên

quan đến chứng khoán, là việc công bố phát hành các báo cáo phân tích tài chính có liên quan đến chứng khoán có thu phí Phí này được tính trên tỷ lệ phần trăm doanh số giao dịch của khách hàng

- Dịch vụ mua chứng khoán lô lẻ: được thực hiện bởi các công ty

chứng khoán giúp khách hàng có thể bán được phần chứng khoán lẻ không được phép giao dịch trên sàn của mình, và công ty cũng được hưởng phần chênh lệch giá theo +-% biên độ cho phép của giá đóng cửa thị trường

- Dịch vụ tư vấn cho các tổ chức phát hành niêm yết chứng khoán

trên sàn giao dịch Chứng khoán: là dịch vụ mà công ty chứng khoán sẽ

hướng dẫn các tổ chức phát hành lập hồ sơ đăng ký niêm yết tại UBCKNN

và TTGDCK, lập hồ sơ đăng ký lưu ký tại TTGDCK và lập hồ sơ cổ đông theo yêu cầu của TTGDCK

24

Trang 22

-Dịch vụ cho thuê tài chính (CTTC)

Dịch vụ CTTC hay còn gọi là cho thuê vốn, là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị…theo yêu cầu của bên thuê, nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê mà hai bên thỏa thuận (1)

Dịch vụ CTTC là một trong những kênh tiếp vốn quan trọng ở Việt Nam hiện nay Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, kinh doanh dịch vụ cho thuê tài chính là chức năng của các công ty cho thuê tài chính thuộc các tổ chức tài chính phi ngân hàng Định chế này được huy động tiền gửi có kỳ hạn (không được huy động tiền gửi thanh toán) và thực hiện việc cho thuê tài sản đối với các tổ chức và cá nhân

Xét về bản chất, CTTC là hoạt động tín dụng, trong đó mục đích của công ty CTTC là thu lãi trên vốn đầu tư, còn mục đích của người thuê là sử dụng vốn sao cho có hiệu quả Ngoài ra, CTTC còn mang bản chất của thuê tài sản thực hiện bằng cách mua tài sản theo yêu cầu của người thuê Tuy

sở hữu pháp lý về tài sản thuê nhưng công ty CTTC lại đứng ở vị thế của nhà cung cấp tín dụng Người thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản, nhưng được hưởng gần như toàn bộ lợi ích từ việc sử dụng tài sản thuê mang lại Mặt khác, thời gian cho thuê tài sản thường chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản, vì vậy người thuê không được hủy ngang hợp đồng Khi hết thời hạn thuê, người thuê có thể được chuyển nhượng sở hữu tài sản

(1) Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về hoạt động của công ty CTTC và thông tư

08-NHNN ngày 06/09/2001 hướng dẫn thực thi Nghị định số 16/CP

25

Trang 23

-hoặc cho thuê tiếp theo thỏa thuận của hai bên

Dịch vụ CTTC này giúp người thuê kịp thời hiện đại hóa máy móc thiết bị mà không nhất thiết phải đầu tư một lần với số lượng lớn Người thuê có thể tài trợ 100% nhu cầu vốn mà không bị đòi hỏi về thế chấp, bảo lãnh, cũng không bị hạn chế bởi hạn mức tín dụng CTTC giúp người thuê không bị đọng vốn vào tài sản cố định Đối với công ty CTTC thì đây là hình thức tài trợ bằng tài sản có độ an toàn cao vì vốn được sử dụng đúng mục đích, đảm bảo khả năng thu hồi nợ từ hiệu quả của tài sản cho thuê mang lại Công ty CTTC có điều kiện kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản cho thuê và có những biện pháp xử lý kịp thời nếu người thuê có dấu hiệu không an toàn

Các loại CTTC cơ bản bao gồm:

- Cho thuê tài chính 2 bên: là hình thức cho thuê tài sản mà trước khi

thực hiện nghiệp vụ cho thuê, tài sản cho thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách mua tài sản hoặc tự xây dựng Phương thức tài trợ này thường do các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy móc thực hiện

- Cho thuê tài chính 3 bên: là hình thức cho thuê tài sản mà bên cho

thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên đi thuê và đã được

2 bên thỏa thuận theo hợp đồng thuê Các bên tham gia gồm có bên cho thuê, bên đi thuê và bên cung cấp

- Tái cho thuê (Lease – Back) (hay còn gọi là bán và thuê lại), là

phương thức đặc biệt của cho thuê tài chính 2 bên Loại dịch vụ này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản cố định hiện có, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn ở các ngân hàng Doanh

26

Trang 24

-nghiệp buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc công

ty tài chính, sau đó thuê lại tài sản này để sử dụng

- Cho thuê hợp tác (Leveraged lease): Hình thức này áp dụng trong

trường hợp này bên cho thuê đã vay phần lớn vốn từ các ngân hàng hoặc định chế tài chính khác để mua tài sản cho thuê Do đó, để giảm thiểu rủi ro

do tập trung vốn quá lớn vào một khách hàng, một hoặc một số bên cho thuê hợp tác với một hoặc nhiều bên cho vay khác để cùng tài trợ Bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê, bên cho thuê là trái chủ trong quan hệ cho thuê

- Cho thuê giáp lưng (Under Lease): là phương thức cho thuê mà trong

đó bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản đó, với sự đồng ý của bên cho thuê Bên đi thuê thứ nhất vẫn chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với bên cho thuê

Dịch vụ kế toán, kiểm toán

Dịch vụ kế toán, kiểm toán sẽ nâng cao chất lượng kế toán ở doanh nghiệp qua đó giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Các tổ chức dịch vụ kế toán, kiểm toán còn góp phần rất lớn trong việc tham gia xây dựng và triển khai thực hiện các chế độ, chuẩn mực cũng như hành lang pháp lý trong lĩnh vực kế toán

1.2 Các yếu tố tác động đến dịch vụ tài chính

Hoạt động và phát triển trong môi trường của nền kinh tế xã hội nên tất yếu dịch vụ tài chính chịu sự tác động và chi phối của nhiều nhân tố Trong đó,

có thể kể đến các nhân tố sau:

1.2.1 Sự phát triển của nền kinh tế

Đây là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển các dịch vụ tài chính Một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thu nhập trong dân cư

27

Trang 25

-tăng thì các hoạt động tích lũy, tiết kiệm, sản xuất kinh doanh, đầu tư, thanh toán… mới có điều kiện phát triển, thị trường tài chính phát triển tạo điều kiện cho dịch vụ tài chính phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn ngày càng nhiều, do đó, rủi ro trong hoạt động của ngành tài chính - ngân hàng cũng từ đó mà phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp Một nền kinh tế kém phát triển, thị trường tài chính – tiền tệ lặng lẽ, ít biến động, nhàm chán thì không thể là môi trường tích cực để hoạt động cung cấp dịch

vụ tài chính phát triển được

1.2.2 Sự phát triển của khoa học công nghệ

Sự phát triển của khoa học công nghệ không chỉ ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực dịch vụ tài chính mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội Khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển, nhu cầu đời sống sinh hoạt về mọi mặt của con người được nâng lên Và để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao đó của xã hội, ngành ngân hàng bắt buộc phải

có sự thay đổi trong hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính của mình Khoa học công nghệ phát triển góp phần cải tiến công nghệ của thị trường tài chính - tiền tệ làm cho quá trình lưu thông, trao đổi, thanh toán nhanh chóng, hiện đại, an toàn và hiệu quả hơn Ứng dụng nhanh chóng và có hiệu quả thành tựu khoa học kỹ thuật vào công nghệ ngân hàng là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong điều kiện hiện nay Dịch vụ tài chính – ngân hàng áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ, những kỹ thuật công nghệ tiên tiến

sẽ ngày càng phát triển có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và phục vụ khách hàng tốt hơn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Công nghệ ngân hàng hiện đại là nền tảng tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển các dịch vụ mang tính chất truyền thống với phương thức ngày càng hiện đại, mở ra nhiều dịch vụ mới với chất lượng và tiện ích cao,

28

Trang 26

-như thanh toán trực tuyến, E-Banking…đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao trong thanh toán, lưu chuyển tiền tệ của nền kinh tế

1.2.3 Xu thế tự do hóa tài chính và hội nhập nền kinh tế thế giới

Xu thế tự do hóa tài chính và hội nhập nền kinh tế thế giới tạo ra nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung và ngành tài chính – ngân hàng nói riêng

Không gian kinh tế được mở rộng, áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài buộc các ngân hàng trong nước phải tiến hành cải thiện hệ thống quản lý, mô hình, quy mô hoạt động, chiến lược phát triển, chất lượng phục vụ khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng Tự do hóa tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng tiếp cận với phương thức quản lý hiện đại và có hiệu quả, công nghệ ngân hàng hiện đại, sản phẩm ngân hàng đa dạng, phong phú, tiếp cận thị trường toàn cầu rộng lớn, sẽ thúc đẩy các dịch vụ tài chính – ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động

Tự do hóa tài chính làm tăng thêm khả năng khủng hoảng thị trường tài chính vốn yếu kém của các nước đang phát triển, các yếu tố tiêu cực của nền kinh tế thị trường nảy sinh làm mất ổn định chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, mất sự ổn định của hệ thống tài chính và ngân sách Nếu tiến trình tự do hóa nóng vội, sai trình tự, thiếu đồng bộ, sẽ làm cho dịch vụ tài chính – ngân hàng khó phát triển, tăng thêm rủi ro, không phát huy được ưu điểm, mất dần lợi thế đang có của các ngân hàng trong nước Tự do hóa tài chính và hội nhập tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế, là khách hàng của ngân hàng, do đó,

đã có tác động gián tiếp đến dịch vụ tài chính – ngân hàng Các hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết trong tiến trình hội nhập

29

Trang 27

-có ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức, hoạt động, sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng

1.2.4 Tác động vĩ mô từ cơ chế chính sách của Nhà nước

Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của ngành ngân hàng Chính sách, khuôn khổ pháp lý hoặc hạn chế khả năng hoạt động hoặc tạo điều kiện thuận lợi để dịch vụ tài chính ngân hàng phát triển

Sự hỗ trợ tích cực của Ngân hàng Nhà nước tạo môi trường chính trị

xã hội ổn định, môi trường kinh tế vĩ mô tích cực, môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng là điều kiện để ngành ngân hàng phát triển mạnh mẽ

và hoạt động có hiệu quả, đóng góp tích cực cho nền kinh tế - xã hội

1.3 Vai trò và sự cần thiết phải mở rộng và phát triển dịch vụ tài chính

Dịch vụ tài chính là xương sống của nền kinh tế hiện đại Khó có thể nghĩ được một hoạt động kinh tế nào, ngoại trừ các hoạt động chủ yếu nằm ngoài nền kinh tế, sử dụng tiền tệ mà không phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ tài chính Do đó, dịch vụ tài chính giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Với tác động thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguồn tài chính, thị trường dịch vụ tài chính đã góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế

Một số vai trò đặc trưng thể hiện tầm quan trọng của thị trường dịch vụ tài chính gồm có:

1.3.1 Ngành dịch vụ tài chính là một ngành kinh tế lớn

Dịch vụ tài chính tạo nên một ngành lớn mạnh và không ngừng phát triển trong hầu hết các nền kinh tế cả phát triển cũng như đang phát triển Tỷ trọng của ngành dịch vụ tài chính trong GDP, cũng như tỷ lệ tạo việc làm đang ngày càng gia tăng Chẳng hạn, lượng nhân công trong ngành này

30

Trang 28

-chiếm từ khoảng 3% tổng lực lượng lao động tại Pháp, Canada, và Nhật Bản tới 5% như tại Singapore, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ Từ năm 1970 đến 1995, tỷ lệ nhân công trong ngành dịch vụ tài chính trong tổng lao động tăng khoảng 25% và 100% ở những nước như: Canada, Pháp, Nhật, Singapore, Mỹ….Trong khi đó, giá trị gia tăng đóng góp vào GDP đã tăng đáng kể trong thời kỳ 1970 – 1995 Tại các nước phát triển tỷ lệ dịch vụ tài chính trong GDP khoảng 2-4% trong năm 1970 đến giữa những năm 90 đã tăng lên 7,3% đối với Mỹ và 13,3% đối với Thụy Sĩ Do tầm quan trọng ngày càng lớn như vậy cho nên việc xây dựng một nền tài chính hiệu quả là ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia

1.3.2 Thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung và đầu tư lớn

Sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tạo ra hàng loạt sản phẩm tài chính Tính đa dạng về loại hình sản phẩm dịch vụ tài chính tạo điều kiện thu hút mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào tiết kiệm dưới mọi hình thức khác nhau như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiết kiệm…Nói cách khác, thị trường dịch vụ tài chính đã đóng góp phần nâng cao tiết kiệm dưới mọi hình thức của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, đồng thời các nguồn vốn nhỏ lẻ trong nền kinh tế được tích tụ, tập trung thành những quỹ tài chính lớn phục vụ nhu cầu đầu tư dài hạn, quy mô lớn trong nền kinh tế Ngoài ra, thông qua thị trường dịch vụ tài chính, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, doanh nhân dể dàng tìm được nguồn tài chính với chất lượng

và chi phí phù hợp nhu cầu đầu tư sản xuất của mình bằng nhiều kênh cung cấp khác nhau Bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng truyền thống, còn có thể huy động vốn qua thị trường chứng khoán, huy động từ các tổ chức bảo hiểm…Việc tiếp cận với nguồn vốn thuận lợi sẽ giúp đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Vai trò thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung và đầu tư vốn là vai trò cơ bản,

31

Trang 29

-quan trọng nhất Với vai trò này, thị trường dịch vụ tài chính đã huy động triệt để mọi nguồn vốn tiềm năng trong xã hội cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế

1.3.3 Nâng cao hiệu quả đầu tư

Sự vận động của các nguồn lực tài chính thông qua thị trường dịch vụ tài chính sẽ được phân bổ theo tín hiệu về tính hiệu quả của thị trường Do đó, những ngành, những lĩnh vực nào hoạt động thật sự có hiệu quả mới được chú trọng đầu tư và ngày càng phát triển theo yêu cầu của thị trường, của xã hội Trên cơ sở tự đánh giá các cơ hội đầu tư, giám sát quá trình luân chuyển và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính sẽ tăng lên Nói cách khác, tín hiệu về tính hiệu quả của thị trường là căn cứ khách quan đảm bảo

sự phân bổ các nguồn lực tài chính một cách tốt nhất

1.3.4 Phân tán và giảm thiểu rủi ro

Như đã đề cập, thị trường dịch vụ tài chính bao hàm nhiều lĩnh vực đa dạng Cùng với sự phát triển của nó, nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính đã và đang hình thành và phát triển Các loại hình dịch vụ tài chính này có mức độ rủi

ro khác nhau từ rủi ro thấp đến rủi ro cao Sự tồn tại các mức độ rủi ro như vậy tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho cả các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính và các khách hàng tham gia cùng một lúc vào nhiều loại hình dịch vụ tài chính khác nhau Điều này sẽ giúp tránh được rủi ro khi chỉ sử dụng một loại dịch vụ duy nhất Chúng ta hãy xem xét hành vi đầu tư của một cá nhân

có tiền vốn tạm thời nhàn rỗi Thay vì chỉ có thể gửi tiết kiệm ngân hàng, nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán, họ có thể tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức như đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, tham gia đầu tư vào hệ thống các quỹ đầu tư… Do đó, trong trường hợp xảy ra một số rủi ro đối với một số

32

Trang 30

-loại dịch vụ tài chính nhất định (như một ngân hàng bị phá sản), cá nhân này sẽ không bao giờ bị mất vốn hoàn toàn mà chỉ bị thiệt hại một phần hoặc thậm chí vẫn thu được lợi nhuận do các khoản đầu tư vào các loại dịch

vụ tài chính khác mang lại

1.3.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Với sự hình thành và phát triển của thị trường dịch vụ tài chính, nhà nước

có được một công cụ quản lý kinh tế hiệu quả Những quy luật của thị trường sẽ làm thay đổi nhà nước trong việc điều chỉnh từng yếu tố, từng thành phần hoạt động Giờ đây, thông qua thị trường dịch vụ tài chính và một số thị trường đặc thù trong thị trường dịch vụ tài chính như thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán…nhà nước thực hiện quá trình điều tiết mang tính định hướng cho toàn bộ nền kinh tế xã hội một các gián tiếp trên tầm vĩ mô Từ đó, công tác quản lý nền kinh tế trở nên hiệu quả, tránh tình trạng dài tay không hợp lý

1.3.6 Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia

Thị trường dịch vụ tài chính cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ mang tính định hướng, giám sát như tư vấn tài chính, đánh giá mức độ tín nhiệm…Những dịch vụ này sẽ góp phần đem lại sự lành mạnh cho nền tài chính quốc gia Hơn nữa, thông qua sự vận hành của thị trường dịch vụ tài chính, những tổ chức có nền tài chính yếu kém thiếu minh bạch sẽ nhanh chóng được phát hiện Do vậy, hạn chế được nhiều khoản tín dụng xấu trong nền kinh tế, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng dể đổ vỡ trong hệ thống ngân hàng Trong môi trường hoạt động có tính kỷ luật cao

và nghiêm ngặt như vậy, các tổ chức kinh tế bắt buộc phải tuân thủ những nguyên tắc tài chính chung và luôn giữ trong sạch tình hình tài chính của

33

Trang 31

-mình Sự minh bạch trong vấn đề tài chính của từng tổ chức kinh tế là điều kiện tiên quyết cho sự lành mạnh nền tài chính quốc gia

Với những vai trò quan trọng và những lợi ích tất yếu mà dịch vụ tài chính mang lại, đồng thời đứng trước yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế, đổi mới và phát triển các sản phẩm dịch vụ tài chính là xu thế tất yếu, và là vấn đề cấp thiết hiện nay của Việt Nam

1.4 Công ty tài chính (2)

1.4.1 Cơ sở pháp lý và thực trạng

Công ty tài chính là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Công ty tài chính không được thực hiện dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm

Cơ chế hoạt động của Công ty tài chính được phản ánh trong các văn bản pháp lý sau: Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính nay là Luật các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước, Quyết định

số 104/QĐ-NH5, Thông tư số 03/1998 tiền tệ - NHNN5, Công văn số 898/CV-NHNN10, Thông tư số 01/1999/tiền tệ - NHNN7 của Thống đốc NHNN Việt Nam, Nghị định số 79/2002/NĐ – CP ngày 04/10/2002

Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đã tạo động lực mạnh mẽ cho các Công ty tài chính ở Việt Nam hình thành và phát triển Cho đến tháng 06/2003, Việt Nam có 7 Công ty tài

(2) Phần này được tham khảo chủ yếu từ đề tài nghiên cứu cấp thành phố “ Cung cầu vốn tín dụng

trung – dài hạn đối với đầu tư phát triển trên địa bàn Tp.HCM: vấn đề đặt ra và giải pháp” của

Th.S Trần Anh Tuấn (chủ nhiệm đề tài), Viện Kinh tế Tp.HCM, năm 2004

34

Trang 32

-chính được NHNN cấp phép hoạt động, trong đó có 2 Công ty tài -chính độc lập và 5 Công ty tài chính trực thuộc các Tổng công ty Sự ra đời của Công

ty tài chính Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất (1991-1992) được đánh dấu bởi sự ra đời

của 2 Công ty tài chính cổ phần theo pháp lệnh Ngân hàng, Công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng bao gồm Công ty tài chính cổ phần Sài Gòn (SFC) thành lập tháng 09/1991, vốn điều lệ 42 tỷ VNĐ, có trụ sở chính tại Tp.HCM và Công ty tài chính cổ phần Seaprodex thành lập tháng 07/1992, vốn điều lệ 10 tỷ VNĐ Hiện nay Công ty tài chính cổ phần Sài Gòn đã chuyển thành Ngân hàng TMCP Việt Á và Công ty tài chính cổ phần Seaprodex cũng không còn hoạt động

- Giai đoạn thứ hai (từ sau 1998), ra đời các Công ty tài chính

trong Tổng công ty Nhà nước nhằm huy động các nguồn vốn dưới hình thức vay ưu đãi của Chính phủ, tín dụng của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, mua bán giấy tờ và chứng từ có giá theo quy định của pháp luật, huy động vốn nhàn rỗi của công nhân viên chức trong nội bộ tổng công ty và các đơn vị trong các ngành kinh tế - kỹ thuật mà tổng công ty kinh doanh để đáp ứng một phần nhu cầu về vốn của tổng công ty

và các đơn vị thành viên

Sau khi Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn đến nay đã có 6 Công ty tài chính ra đời và đi vào hoạt động với tổng vốn điều lệ của các Công ty hiện nay là 4.353 tỷ VNĐ Với quy mô như vậy, các Công ty tài chính được xếp vào loại hình doanh nghiệp

có quy mô vừa và nhỏ, chỉ riêng Công ty tài chính Dầu khí với vốn điều lệ hiện nay là 3.000 tỷ VNĐ được xem là tương đối lớn Thực tế hiện nay, đa phần các Công ty chỉ cung cấp, thu xếp vốn phục vụ cho Tổng công ty hay

35

Trang 33

-các thành viên của Tổng công ty là chủ yếu Riêng đối với Công ty tài chính Dầu khí hiện nay ngoài nhiệm vụ hỗ trợ cho các Công ty thành viên trong Tập đoàn Dầu khí, Công ty đã hoạt động kinh doanh có hiệu quả với các khách hàng khác ở bên ngoài Với lượng vốn huy động từ các Công ty trong Tập đoàn và bên ngoài tương đối lớn nên việc cho vay, thu xếp vốn hay đi đầu tư có thể đứng đầu trong hệ thống các Công ty tài chính Song cũng không tránh khỏi thách thức ở giai đoạn hiện nay, khi hệ thống các tổ chức Tài chính – Tín dụng nước ngoài tham gia ngày càng sâu và rộng vào thị trường trong nước Hệ thống các NH TMCP đang bành trướng thế lực với lợi thế không bị giới hạn một số lĩnh vực hoạt động

36

Trang 34

-STT Tên công ty Số và ngày cấp giấy phép giấy phép ngoại

điện

03/1998/GP-NHNN 10/10/1998

15/GP-NHNN 30/07/2003

Toà nhà Ocean Park, Số 1 Đào Duy

06/10/1998

02/GP-NHNN

3 Cty tài chính Dầu khí 12/2000/GP-NHNN 25/10/2000 03/GP-NHNN 06/03/2003 72 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội 3.000

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 35

1.4.2 Nội dung hoạt động

Nội dung hoạt động chính của các công ty tài chính bao gồm:

1 Huy động vốn

Công ty chỉ nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 01 năm trở lên của tổ chức, cá nhân

theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành, vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế, tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

2 Cho vay

Công ty tài chính được cho vay dưới các hình thức: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác, cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp

3 Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân

4 Bảo lãnh

Công ty tài chính đuợc bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của công ty tài chính phải được

Trang 36

thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật các Tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước

5.Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

6.Mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ

Công ty tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi công ty tài chính đặt trụ sở chính đồng thời duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Công ty tài chính cũng được mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép Công ty tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát triển tiền mặt cho khách hàng

7 Công ty tài chính được thực hiện các hoạt động sau đây:

Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác, đầu tư cho các dự án theo hợp đồng, tham gia thị trường tiền tệ, thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng, làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp, được quyền nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng, cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng, cung ứng các dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác

8 Công ty tài chính được thực hiện các nghiệp vụ dưới đây sau khi được Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cho phép: hoạt động ngoại hối, hoạt động bao thanh toán và các hoạt động

khác…

6

Trang 37

-1.5 Những cam kết gia nhập WTO về các dịch vụ Tài chính – Ngân hàng (3)

Các cam kết về dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác được thực hiện phù hợp với các luật lệ và các quy định liên quan được ban

hành bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để đảm bảo sự phù hợp với Điều VI của GATS và Đoạn 2 (a) của Phụ lục về các Dịch vụ Tài chính Theo quy định chung và trên cơ sở không phân biệt đối xử, việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ ngân hàng và tài chính khác phải tuân theo các yêu cầu về hình thức pháp lý và thể chế liên quan

1.5.1 Những ngành và phân ngành được áp dụng

a Nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng

b Cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại

c Thuê mua tài chính

d Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, Séc du lịch và hối phiếu ngân hàng

e Bảo lãnh và cam kết

f Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch, trên thị trường giao dịch thỏa thuận hoặc bằng cách khác như Công cụ thị trường tiền tệ (bao gồm Séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi), ngoại hối, các công cụ tỷ giá và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn; vàng khối…

h Môi giới tiền tệ

_

(3) Phần này được tham khảo từ Biểu cam kết về dịch vụ do Ban công tác về việc gia nhập WTO của

Việt Nam soạn thảo; trên trang web Bộ Thương mại: http://www.mot.gov.vn/

7

Trang 38

-i Quản lý tài sản, như quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác

j Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác

j Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác

k Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác

l Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác đối với tất cả các hoạt động được nêu từ các tiểu mục (a) đến (k), kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn đầu tư, danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại và về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp

1.5.2 Những hạn chế đối xử Quốc gia

đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn

(b) Các điều kiện để thành lập một ngân hàng liên doanh hoặc một ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài là Ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn

8

Trang 39

-(c) Các điều kiện để thành lập một công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty tài chính liên doanh, một công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc một công ty cho thuê tài chính liên doanh là tổ chức tín dụng nước ngoài có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn

và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài và kể từ ngày 01 tháng 04 năm 2007 được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu

tư nước ngoài

(ii) Đối với các công ty tài chính nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài

9

Trang 40

-(iii) Đối với các công ty cho thuê tài chính nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài (b) Trong vòng 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không

có quan hệ tín dụng theo hạn mức vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh phù hợp với lộ trình sau đây: Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp Năm 2008 sẽ là 800% vốn pháp định được cấp Năm 2009 sẽ là 900% vốn pháp định được cấp Năm 2010 sẽ là 1000% vốn pháp định được cấp và đến năm 2011, chi nhánh Ngân hàng Nước ngoài sẽ được đối xử quốc gia đầy đủ

(c) Tham gia cổ phần:

(i) Việt Nam có thể hạn chế việc tham gia cổ phần của các

tổ chức tín dụng nước ngoài tại các ngân hàng thương mại quốc doanh của Việt Nam được cổ phần hóa như mức tham gia cổ phần của các ngân hàng Việt Nam

(ii) Đối với việc tham gia góp vốn dưới hình thức mua cổ phần, tổng số cổ phần do các thể nhân và pháp nhân nước ngoài nắm giữ tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng, trừ khi luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc có thẩm quyền của Việt Nam

(d) Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài không được phép

mở các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở chi nhánh của mình

10

Ngày đăng: 09/01/2018, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w