1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng và các giải pháp chiến lược phát triển du lịch MICE trên địa bàn TP HCM từ nay đến 2010 và tầm nhìn đến 2020

97 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do có điều kiện công tác trong ngành và luôn trăn trở với việc giải quyết bài toán trên, tôi quyết định chọn đề tài “ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE TRÊN Đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN HOÀNG LONG

ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM TỪ NAY ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa và lý do chọn đề tài

Được hưởng lợi từ quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,thị trường khách du lịch MICE “bùng nổ” ở thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng hai năm gần đây và đã được một số công ty lữ hành và khách sạn quan tâm khai thác Đây là phân khúc thị trường có tiềm năng rất lớn mà thành phố Hồ Chí Minh

và Việt Nam nói chung có thể khai thác và đẩy mạnh phát triển

Mặc dù có nhiều cơ hội để phát triển loại hình du lịch MICE, nhưng hiện nay Tp HCM đang vấp phải rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh với các nước trong khu vực Asean như Singapore, Thái Lan, Malaysia Chẳng hạn như thị trường MICE Việt Nam chưa có danh tiếng, Việt Nam chưa có chiến lược để phát triển du lịch MICE Theo các chuyên gia về du lịch MICE ở Tp HCM, thì có các nguyên nhân chính như sau: thành phố Hồ Chí Minh hiện chưa có một trung tâm hội nghị, hội thảo và triển lãm nào có đủ tầm cỡ quốc tế; thành phố chưa có một cơ quan chuyên trách và một tổ chức chuyên nghiệp về MICE ; tình trạng thiếu phòng ốc

Trong những năm tới, nếu như những khó khăn trên được cải thiện sớm, thì triển vọng thu hút dòng khách MICE đến Việt Nam sẽ rất khả quan Do có điều kiện công tác trong ngành và luôn trăn trở với việc giải quyết bài toán trên, tôi quyết định chọn đề tài “ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM TỪ NAY ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020” làm đề tài luận văn Thạc sĩ với một niềm ao ước rằng kết quả nghiên cứu sẽ góp một phần nhỏ vào chiến lược phát triển du lịch MICE của thành phố Hồ Chí Minh và đưa thành phố trở thành một trung tâm du lịch lớn nhất của cả khu vực Đông Nam Á

Đề tài nghiên cứu này ra đời trong khi Tp Hồ Chí Minh cũng như các địa phương khác trong cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu chưa có

Trang 3

coi là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với mọi thành viên có liên quan đến lĩnh vực MICE, nhất là đối với giới chức quản lý và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch MICE tại Tp HCM và các địa phương khác trong bối cảnh có nhiều thời cơ phát triển hiện nay.

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

ƒ Phân tích thực trạng kinh doanh loại hình du lịch MICE trên địa bàn thành phố trong những năm qua Đánh giá các mặt thuận lợi, khó khăn, cơ hội và nguy cơ đối với du lịch MICE Tp Hồ Chí Minh

ƒ Đề xuất các định hướng phát triển du lịch MICE trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh trong thời gian tới

ƒ Xây dựng chiến lược phát triển và hệ thống giải pháp đồng bộ để thực hiện chiến lược đó nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của Tp Hồ Chí Minh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn: toàn bộ hoạt động của loại hình

du lịch

MICE, kể cả các dịch vụ bổ trợ có liên quan

3.2 Phạm vi nghiên cứu :

ƒ Về không gian: một mặt, nghiên cứu hoạt động kinh doanh du lịch MICE của Việt Nam nói chung, nhưng tập trung vào địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; mặt khác, nghiên cứu kinh nghiệm về loại hình hoạt động này của một số quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới

ƒ Về thời gian: phân tích dữ liệu từ khoảng 5 năm gần đây, và dự báo các định hướng mục tiêu phát triển đến các năm mốc 2010 và 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

ƒ Phương pháp nghiên cứu tại bàn: thu thập thông tin thứ cấp về du lịch nói chung và du lịch MICE nói riêng của Việt Nam và Tp Hồ Chí Minh

ƒ Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: thu thập kinh nghiệm phát triển du lịch MICE của các quốc gia khác

Trang 4

ƒ Phương pháp điều tra thực tế: thu thập thông tin sơ cấp từ các cơ sở kinh

doanh và khách hàng du lịch MICE tại Tp Hồ Chí Minh

ƒ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: trao đổi ý kiến với một số giới chức

trong ngành xoay quanh các quan điểm phát triển du lịch MICE của Tp Hồ Chí

Minh

5 Bố cục của luận văn

Gồm 3 chương, không kể phần mở đầu và phần kết luận

Chương 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE

Phần này sẽ giới thiệu sơ lược về du lịch MICE, vai trò và sự cần thiết

khách quan của việc phát triển du lịch MICE,ø kinh nghiệm phát triển của một số

quốc gia trên thế giới, qua đó vận dụng lý thuyết quản trị chiến lược vào định

hướng phát triển du lịch MICE

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE TRÊN

ĐỊA BÀN TP.HCM

Phần này sẽ phân tích những tiềm năng và thực trạng phát triển du loch

MICE trên địa bàn thành phố trong những năm qua, qua đó sẽ rút ra những thuận

lợi, khó khăn trong việc khai thác loại hình này cũng như những cơ hội, thách thức

tác động đến thị trường này hiện tại và trong tương lai

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH MICE TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM TỪ NAY ĐẾN 2010 VÀ TẦM NHÌN

ĐẾN 2020

Đề xuất các định hướng và mục tiêu phát triển du lịch MICE cho thành phố

Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó sẽ xây dựng chiến lược và đề ra những giải pháp

chủ yếu để thực hiện những chiến lược phát triển du lịch MICE trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trang 5

Chương 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH MICE 1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE

1.1.1 Khái niệm du lịch MICE

Du lịch MICE được hiểu là loại hình du lịch kết hợp với hội nghị, khen thưởng, hội thảo và triển lãm MICE là chữ viết tắt của Meeting, Incentive, Convention/Conference và Exibition /Event, tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event

1.1.1.1 Hội họp (Meeting)

Hội họp là thuật ngữ chung được sử dụng để chỉ cho bất kỳ các cuộc họp nào, là việc mọi người đến với nhau với những mối quan tâm chung để thực hiện một mục tiêu đã định trước Ở Úc, thì thuật ngữ “hội họp” được sử dụng cho cả hội

nghị (convention / confenrence / congress) Theo Davision (Business travel and Tourism, trang 5), thì hội họp là những sự kiện mà các thành viên tham dự cùng

thảo luận một vấn đề quan tâm cần được chia sẽ, có thể là lĩnh vực thương mại hoặc phi thương mại

1.1.1.2 Khuyến thưởng (Incentive)

Có tính chất như hội họp, những cuộc họp loại này thường do một công ty, tổ chức kinh doanh tổ chức để khen thưởng cho nhân viên vừa hội họp, vừa vui chơi làm phát sinh nhu cầu tham quan du lịch và thưởng ngoạn Theo SITE

(Business travel anh Tourism, trang 6), thì du lịch khuyến thưởng là loại hình kết

hợp mang tính kinh doanh và thư giãn , được sử dụng như là một phần thưởng cho những cá nhân xuất sắc tại nơi làm việc

1.1.1.3 Hội nghị, Hội thảo (Convention/Conference/Congress )

Trang 6

Những thuật ngữ trên đều cóù tính chất là như nhau, nhưng về tên gọi thì có sự khác nhau giữa các quốc gia Ở Anh, thì người ta gọi hội nghị là Conference, ở Mỹ thì gọi là Convention và các quốc gia ở Châu Âu thì gọi là Congress

Conference

Ở Anh, thì Conference là cuộc họp được tổ chức ở nơi được thuê, thời gian họp kéo dài tối thiểu 4 tiếng đồng hồ; số người tham dự hội họp ít nhất là 8 người; phải có chương trình được bố trí trước Một sự kiện được tổ chức phải nhằm mục đích trao đổi những quan điểm, truyền đạt những thông điệp, đưa ra những vấn đề tranh luận hoặc công khai ý kiến vào một vấn đề cụ thể

Convention

Ở Mỹ, Úc và các quốc gia Châu Á, Convention là một nhóm người vì một mục tiêu chung là trao đổi những quan điểm, ý kiến và thông tin cần được chia sẻ đối với nhóm Để chuẩn bị cho cuộc họp loại này thì phải mất tối thiểu 2 năm vì qui mô lớn và nó thường được tổ chức bởi những hiệp hội quốc tế

Congress

Thuật ngữ này được sử dụng ở Pháp Những sự kiện hàng năm được nhóm họp với số đại biểu tham dự từ vài trăm đến vài ngàn người Những cuộc họp này có xu hướng được tổ chức bởi những tổ chức, những liên đoàn, mà các đại biểu tham dự cùng thảo luận một đề tài đặc biệt Một cuộc hội thảo, thường kéo dài khoảng vài ngày, có các phiên họp xảy ra đồng thời

1.1.1.4 Triển lãm, Hội chợ (Event / Exibition )

Mục đích của các hội chợ, triển lãm là quảng bá, quảng cáo, giới thiệu những ưu thế nổi trội về năng lực, sản phẩm - dịch vụ của các hãng sản xuất kinh doanh; duy trì hoặc tạo nên những mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh Hội chợ, triển lãm là nơi thực hiện trao đổi thông tin, ý tưởng giữa các nhà trưng bày, các chuyên gia kinh doanh và khách hàng tham quan Theo Davision, triển lãm

Trang 7

được xem là một phần của ngành du lịch MICE vì chúng khuyến khích du lịch phát triển, tạo ra một nhu cầu cao về dịch vụ du lịch, về vấn đề ăn ở

1.1.2 Lợi ích của việc khai thác du lịch MICE

1.1.2.1 Lợi ích trực tiếp

Gia tăng đầu tư từ chính phủ và ngành

MICE phát triển sẽ thúc đẩy thương mại phát triển, thương mại phát triển lại tác động đến đầu tư và trong nhiều trường hợp đầu tư lại tạo bàn đạp cho du lịch phát triển Quốc gia hay địa phương nào mà quan tâm đẩy mạnh phát triển du lịch MICE thành công thì sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ về mặt tài chính từ các khu vực tư nhân Thêm nữa, Chính phủ và chính quyền địa phương cũng sẽ ủng hộ ngành dịch vụ này nếu như họ thấy được những lợi ích từ việc gia tăng việc làm và tăng trưởng kinh tế

Lợi nhuận cao

So với khách đi du lịch thông thường, thì khách du lịch MICE sẵn sàng chi tiêu cao để thưởng thức những dịch vụ cao cấp và sản phẩm đắt tiền MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu lớn cho du lịch Singapore, Thái lan, Bali

(Indonesia), Malaysia

Tạo nhiều việc làm

Việc tạo ra nhiều việc làm được coi là một trong những lợi ích trực tiếp quan trọng nhất từ việc phát triển du lịch MICE Phát triển MICE sẽ thúc đẩy xây dựng những trung tâm hội nghị, hội thảo; việc nâng cấp khách sạn, nhà hàng; các trung tâm giải trí; các cửa hàng bán quà lưu niệm Do đó, một số lượng lớn việc làm có chuyên môn và không có chuyên môn sẽ được tạo ra Chẳng hạn như những người lên kế hoạch hội họp, những nhà tiếp thị hội họp, dịch vụ thư ký, nhân viên phục vụ ăn uống, tài xế, dịch vụ bảo vệ …

1.1.2.2 Lợi ích gián tiếp

Trang 8

Những lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương

Những lợi ích kinh tế gián tiếp có thể thu được từ việc tổ chức các sự kiện là việc thu thuế do mua hàng hoá và dịch vụ từ khách tham gia hội nghị Những hàng hoá và dịch vụ mà khách MICE mua đều đánh thuế cao Ngoài ra, những khoản chi tiêu bên ngoài hội nghị cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho địa phương như làm tăng nguồn thu ở các nhà hàng, quán bar, các cửa hàng bán quà lưu niệm và đặc biệt là giảm áp lực tình trạng thâm hụt tài chính

Tăng công suất phòng cho các khách sạn

Các khách sạn là nhà cung cấp chính dịch vụ hội nghị, hội thảo Các hội nghị, hội thảo được tổ chức thường xuyên đã làm tăng công suất phòng cho khách sạn Bên cạnh đó, nhờ việc áp dụng chính sách giá cao cho các đối tượng của khách MICE mà lợi nhuận thu được sẽ cao hơn nhiều so với khách du lịch thuần tuý

Quảng bá cho điểm đến

Việc tổ chức thành công một sự kiện sẽ góp phần thu hút nhiều nhà doanh nghiệp, khách du lịch và nó còn là công cụ quảng cáo hữu hiệu để xúc tiến, quảng bá hình ảnh của điểm đến,tiếp cận những kỹ thuật công nghệ mới và giao lưu văn hoá

1.1.3 Đặc trưng của du lịch MICE

ƒ Thứ nhất là các đoàn khách MICE thường rất đông và đặc biệt là mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường do ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4-5 sao, dịch vụ cao cấp, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu

ƒ Thứ hai là so với khách du lịch thông thường, thì khách du lịch MICE được xem là khách hạng sang, chủ yếu là các thương nhân, chính khách, người có chức vụ cao trong xã hội

Trang 9

ƒ Thứ ba là phải có địa điểm tổ chức với những tiện ích cao cấp và thời gian chuẩn bị cho việc tổ chức sự kiện phải lập kế hoạch trước

1.1.4 Cơ cấu của ngành dịch vụ MICE

Ngành dịch vụ MICE rất phức tạp, cấu trúc của ngành này bao gồm những người tham gia sau: khách hàng / người tiêu thụ; các nhà cung cấp các dịch vụ hội

nghị, hội thảo và các tổ chức trung gian đại diện cho khách hàng (xem hình 1.1)

Hình 1.1: Cấu trúc của một ngành du lịch MICE

Các tổ chức trung gian:

ƒ Công ty chuyên tìm địa điểm tổ chức hội thảo

ƒ Công ty “nghe-nhìn” trong tổ chức hội thảo

ƒ Đại lý du lịch chuyên về khuyến thưởng

ƒ Công ty quản lý tại điểm đến

ƒ Công ty lữ hành

ƒ Nhà tổ chức hội chợ, triển lãm

Nhà cung cấp :

ƒ Các điểm đến

ƒ Các nơi hội họp

ƒ Các cơ sở lưu trú

ƒ Công ty vận chuyển

ƒ Các dịch vụ phụ trợ

Khách hàng / Người tiêu dùng

ƒ Công ty, tổ chức kinh doanh

ƒ Hiệp hội, đoàn thể

ƒ Các tổ chức thuộc lĩnh vực công

Cầu

Các tổ chức

trung gian

Cung

Nguồn :Horner và Swarbrooke (Business Travel and Tourism, trang 7)

1.1.4.1 Khách hàng / người tiêu thụ

Khách MICE sử dụng dịch vụ hội nghị, hội thảo thường rất đa dạng thuộc nhiều ngành nghề, tổ chức khác nhau Các yêu cầu của họ về tiện nghi và dịch vụ tuỳ thuộc vào mục đích, qui mô, chủ đề của cuộc hội nghị, hội thảo

Trang 10

Các công ty, tổ chức kinh doanh (Corporate customer)

Các công ty này thuộc nhiều ngành nghề như dầu khí, dược, điện tử, ôtô, tài chính, thực phẩm, du lịch và vận chuyển khách hàng này có đặc điểm như sau :

ƒ Phần lớn những sự kiện hội họp này thường nằm trong phạm vi những bộ phận như kinh doanh và tiếp thị, đào tạo - tuyển dụng, quản trị nguồn nhân lực

ƒ Những cuộc hội họp này thường tổ chức ở các khách sạn 4-5 sao, nhưng đôi khi cũng tổ chức ở các trung tâm hội nghị, hội thảo lớn

ƒ Thời gian để chuẩn bị tổ chức các sự kiện hội nghị, hội thảo này chỉ vài tuần hoặc vài tháng

ƒ Những sự kiện này tổ chức hàng năm, thời gian kéo dài 2 ngày hoặc ít hơn

ƒ Số lượng khách tham dự tương đối thấp so với khách là hiệp hội, đoàn thể (cao nhất khoảng vài trăm khách),

ƒ Các chi phí liên quan đến việc tổ chức đều do công ty thanh toán

Các hiệp hội, đoàn thể (Association customer)

Theo Rogers (1998), thì có sáu tổ chức đoàn thể như : các tổ chức nghề nghiệp; các tổ chức tình nguyện; các tổ chức từ thiện; các tổ chức tôn giáo; các tổ chức chính trị; các nghiệp đoàn Loại khách hàng này có những đặc điểm sau :

ƒ Hầu hết những tổ chức này không vì mục đích kiếm lợi nhuận, không có liên quan đến công việc kinh doanh

ƒ Những sự kiện hội nghị, hội thảo thường có thời gian chuẩn bị tương đối dài

vì các thành viên tham gia rất lớn từ vài trăm đến hàng ngàn khách

ƒ Những khoản chi phí liên quan đến hội họp tương đối thấp vì những đại biểu tham gia phải tự thanh toán

ƒ Những sự kiện này thường tổ chức vào mùa xuân và mùa thu, thời gian họp kéo dài 3 hoặc 4 ngày

Trang 11

Các tổ chức thuộc khu vực công (Public sector customer )

Là những tổ chức thuộc khu vực cơ quan chính quyền trung ương, địa phương; các tổ chức luật; liên đoàn lao động; các tổ chức giáo dục và tổ chức y tế Cũng giống như khách hiệp hội, đoàn thể, những tổ chức này hoạt động cũng không phải vì mục đích lợi nhuận Nhưng hơi khác ở chỗ là các thành viên tham dự không phải thanh toán những chi phí để tham dự hội họp Để tổ chức các sự kiện, họ phải dựa vào nguồn ngân sách hạn hẹp của mình, cho nên thường tổ chức ở những nơi rẻ hơn, chẳng hạn như tổ chức ở các trung tâm hành chính, hội trường ở các trường đại học, cao đẳng và ở các khách sạn 3 sao

1.1.4.2 Nhà cung cấp (Supplier)

Là những tổ chức cung cấp chính dịch vụ hội nghị, hội thảo Theo hình 1.1, thì có 5 loại nhà cung cấp như sau: những người cho thuê nơi hội họp (Venues), trung tâm xúc tiến hội nghị, hội thảo ở điểm đến (Destinations), các hãng vận chuyển (Transport), các cơ sở lưu trú (Accommodation) và những nhà cung cấp dịch vụ phụ trợ (Ancillary Services)

Những nơi hội họp (Venues)

Là những nơi để tổ chức các sự kiện hội họp, hội nghị - hội thảo, triển lãm, các khoá huấn luyện cho nhân viên, du lịch khuyến thưởng, giới thiệu sản phẩm mới

Các khách sạn được coi như là nơi tổ chức thuận tiện, lý tưởng cho khách tham dự hội nghị, hội thảo, đặc biệt là các khách sạn 4-5 sao Bởi vì, ngoài việc cung cấp phòng họp và các trang thiết bị phục vụ hội họp, nơi đây còn cung cấp chỗ ở và các dịch vụ hỗ trợ như nhà hàng, khu vui chơi giải trí, câu lạc bộ sức khoẻ, casino, cửa hàng quà lưu niệm, quầy bar …

Bên cạnh các khách sạn, ngày nay số lượng các trung tâm hội nghị, hội thảo ngày càng lớn mạnh đáp ứng được nhu cầu đặc biệt của khách hàng Với ưu thế

Trang 12

nổi bật của các trung tâm hội nghị là cung cấp một hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, các phòng họp với qui mô lớn, cách thức tổ chức, phục vụ hội nghị - hội thảo mang tính chuyên nghiệp hơn

Ngoài ra, các nơi tổ chức hội họp khác như các cơ sở đào tạo (trường đại học, cao đẳng), trung tâm hành chính (civic venues), văn phòng thương mại (council chamber), hội trường (committee room), cũng góp vai trò quan trọng trong việc đa dạng hoá dịch vụ hội nghị, hội thảo

Điểm đến (Destination)

Theo Rogers, thì điểm đến là nơi mà khách hàng sẽ tổ chức các sự kiện của MICE, điểm đến có thể là thành phố hay một quốc gia Khác với nơi hội họp, chỉ cung cấp một vài dịch vụ, trong khi điểm đến thì cung cấp tất cả mọi thứ dịch vụ cho khách hàng Những sản phẩm mà những điểm đến cung cấp là sự pha trộn của nhiều yếu tố như cung cấp thông tin; cung cấp những dịch vụ tổ chức cho khách; các dịch vụ phụ trợ; cung cấp trung tâm hội nghị, hội thảo, triển lãm; các cơ sở lưu trú; các điểm tham quan; hệ thống vận chuyển; đặc điểm địa lý

Phương tiện vận chuyển (Transport)

Là tất cả các phương tiện được sử dụng phục vụ cho khách hàng tới điểm đến và tại điểm đến, bao gồm đường hàng không; đường sắt; đường bộ; đường thuỷ

Cơ sở lưu trú (Accommodation)

Rất cần thiết cho khách MICE khi lưu trú tại điểm đến Hầu hết khách thường lưu trú tại các khách sạn 3 sao trở lên vì các khách sạn này thường có phòng ăn ở và các dịch vụ phụ trợ đáp ứng được nhu cầu của khách Ngoài ra, những nơi như nhà khách thanh niên (youth hostels), khách sạn nổi (floating hotel), tàu thủy (cruise ships) cũng rất thích hợp cho khách MICE lưu trú

Các dịch vụ phụ trợ (Ancillary services)

Trang 13

Đó là các nhà cung cấp “nghe-nhìn”; công ty giải trí - biểu diễn văn hoá nghệ thuật; nhà hàng; dịch thuật; trang trí hoa; các nhà cung cấp trang thiết bị phục vụ hội họp như hệ thống âm thanh, máy chiếu slide, máy chiếu Overhead, TV và đầu máy video, thiết bị đa phương tiện, máy vi tính và máy vi tính cá nhân và các thiết bị văn phòng …

1.1.4.3 Các tổ chức trung gian (Intermediaries)

Là các tổ chức đại diện cho khách hàng trong việc tổ chức các sự kiện hội nghị, hội thảo Theo Rogers (1998), thì có các tổ chức sau (Business travel and Tourism, trang 41) :

Nhà tổ chức hội thảo chuyên nghiệp (Professional conference organizers- PCOs)

Là các công ty quản lý sự kiện, được khách hàng thuê để hỗ trợ trong việc tổ chức hội nghị, hội thảo Họ đóng vai trò là người tìm kiếm và giới thiệu một nơi tổ chức sao cho phù hợp, lên kế hoạch cho chương trình hội thảo (bao gồm chương trình xã hội, tiếp thị hội thảo, mời đại biểu, đặt ăn uống, đưa ra ngân sách và kiểm soát tất cả những chi phí hội thảo) Ngược lại, thì PCOs được hưởng khoản chi phí quản lý từ khách hàng, ngoài ra họ cũng được hưởng những khoản hoa hồng từ nơi tổ chức hội nghị, từ việc đặt ăn ở và từ những dịch vụ khác có liên quan Loại hình MICE, mà các nhà tổ chức này kinh doanh như : hội họp, hội nghị, hội thảo, những khoá huấn luyện - đào tạo

Công ty chuyên tìm địa điểm tổ chức hội thảo, hội nghị (Venue finding company)

Họ đóng vai trò ít quan trọng hơn so với PCOs Các công ty này chỉ cần tìm cho khách hàng một địa điểm tổ chức sao cho phù hợp với quy mô, chi phí, tính chất hội thảo và yêu cầu của khách hàng Họ chỉ được hưởng hoa hồng từ nơi hội họp, ngoài ra họ cũng được hưởng những khoản hoa hồng từ việc đặt chỗ lưu trú ở

Trang 14

các khách sạn cho các đại biểu và những dịch vụ có liên quan Loại hình MICE, mà nhà tổ chức này kinh doanh như : hội họp, hội nghị, hội thảo, những khoá huấn luyện - đào tạo, giới thiệu sản phẩm mới

Đại lý du lịch chuyên về khuyến thưởng (Incentive travel agency)

Đây là đại diện đặc biệt cho khách hàng, chuyên tổ chức các tour du lịch trọn gói với mục đích là để khuyến khích người lao động hay là phần thưởng dành cho những các nhân xuất sắc của công ty Do vậy, những đại lý này thường thiết kế các tour du lịch rất đa dạng, phong phú và chất lượng

Các công ty quản lý tại điểm đến (Destination management company)

Là những tổ chức trung gian có sự hiểu biết và mối quan hệ rộng rãi tại nơi hội thảo sẽ được tiến hành Họ sắp xếp nơi ở cho các đại biểu, tổ chức khâu vận chuyển từ sân bay đến khách sạn, từ khách sạn đến nơi hội thảo, tư vấn các tour du lịch trước và sau hội thảo Loại hình MICE, mà nhà tổ chức này kinh doanh như : hội họp, hội nghị - hội thảo, du lịch khuyến thưởng, tổ chức hội chợ, triển lãm , giới thiệu sản phẩm mới

Công ty lữ hành chuyên về khách công vụ (Business travel company)

Cung cấp các dịch vụ du lịch cho khách du lịch MICE, bao gồm việc đặt vé máy bay, xe, ăn ở (hay tổ chức tour trọn gói) cho khách hàng Khách hàng của

công ty lữ hành thường là khách công vụ, số lượng không lớn

Các công ty chuyên về tổ chức hội chợ, triển lãm (Exibition organizer)

Để quảng bá, giới thiệu những sản phẩm dịch vụ của mình cho công chúng, các công ty kinh doanh đều phải tìm kiếm thông tin về điều kiện tham dự, giá cả, quy mô, số lượng của các thành viên tham gia của những nhà tổ chức hội chợ, triển lãm Thông qua các hoạt động quảng bá, tiếp thị, các nhà tổ chức triển lãm có trách nhiệm trong việc thu hút tối đa sự quan tâm của công chúng

1.1.5 Sự cần thiết khách quan của việc phát triển du lịch MICE

Trang 15

1.1.5.1 Vai trò của ngành du lịch MICE

ƒ Cùng với du lịch thuần tuý, thì du lịch MICE ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia, một khi du lịch MICE phát triển thì nó sẽ kéo theo tăng tỷ trọng GDP lên Theo WTO, hiện nay thị trường MICE toàn cầu trị giá 300 tỉ USD, tạo ra các hoạt động kinh tế trị giá 5.490

tỉ USD, bằng 10,4% tổng GDP thế giới với hơn 214 triệu người hiện đang làm việc

ƒ Mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho nhiều nước, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Singapore, Thái Lan, Malaysia Doanh thu từ du lịch MICE của Singapore tăng từ 2,2 tỷ đôla Singapore năm 2002 lên khoảng 3 tỷ đôla Singapore vào năm 2005 ; còn ngành du lịch MICE của Malaysia mỗi năm đóng góp khoảng 30% tổng doanh thu của ngành du lịch

ƒ Du lịch MICE là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển của các ngành khác Du lịch MICE phát triển sẽ thúc đẩy thương mại phát triển, thương mại phát triển lại tác động đến đầu tư và tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, và trong nhiều trường hợp đầu tư lại tạo bàn đạp cho du lịch phát triển Và chính vì vậy, mà lượng khách du lịch đi qua các cường quốc du lịch như Singapore, Thái Lan, Malaysia bao giờ cũng ở mức 6 -10 triệu khách / năm

1.1.5.2 Sự cần thiết khách quan của việc phát triển du lịch MICE

ƒ Góp phần nâng cao hiệu quả của ngành du lịch nói chung Khi mà cuộc sống ngày càng phát triển đến mức độ hoàn thiện hơn, hiện đại hơn, thì nhu cầu về du lịch của người dân trên thế giới cũng ngày càng tăng cao Bên cạnh sự phát triển chung của các loại hình du lịch thuần tuý như du lịch sinh thái, du lịch khám phá,

du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng, thì loại hình du lịch MICE thuộc loại sinh sau đẻ muộn, nhưng lại đang phát triển ngày càng mạnh và trở thành lợi thế cạnh tranh lớn tại một số quốc gia hiện nay

Trang 16

ƒ Góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia trên thị trường quốc tế Việc tổ chức thành công các sự kiện hội nghị, hội thảo quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì qua đó, nó là công cụ quảng cáo hữu hiệu để xúc tiến những sản phẩm và dịch vụ tới thị trường mục tiêu, quảng cáo hình ảnh của điểm đến

1.2 THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

1.2.1.Thực tiễn phát triển du lịch MICE của một số quốc gia tiêu biểu

1.2.1.1 Singapore

Singapore là một điểm đến hàng đầu thế giới cho các sự kiện thương mại như hội thảo, khen thưởng, hội nghị và triển lãm Hiện nay, Singapore đứng thứ 3 ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương sau Úùc, Nhật và Thái Lan (xem thêm phụ lục 1.3) và đứng thứ 22 trên thế giới về thị trường khách du lịch MICE, do có thuận lợi

là trang thiết bị phục vụ hội họp và hạ tầng cơ sở hiện đại Chính điều này đã làm cho các nhà tổ chức yên tâm khi chọn nơi đây làm nơi hội nghị, hội thảo và triển lãm Singapore đã tổ chức thành công một số sự kiện có uy tính nhất trên thế giới như SIBOS 2003, Diễn đàn kinh tế thế giới 2005, phiên họp lần thứ 117 của Ủy ban Olympic thế giới 2005 và Hội nghị thường niên của Quỹ tiền tệ Thế giới và Ngân hàng thế giới vào năm 2006 Và các sự kiện thương mại như tuần lễ trao đổi thương mại truyền thông Infocom, hội chợ hàng gia dụng quốc tế Singapore, triển lãm không gian vũ trụ Châu Á, hội nghị thực phẩm và khách sạn Châu Á …

Trong những năm qua, Singapore đã nhận được nhiều giải thưởng quan trọng, chứng nhận danh tiếng là một điểm đến hàng đầu cho các sự kiện Thương mại và MICE như :

ƒ Thành phố Điểm đến kinh doanh tốt nhất (giải thưởng Sự lựa chọn của độc giả Destinasian 2006)

Trang 17

ƒ Thành phố Du lịch kinh doanh MICE tốt nhất ( giải thưởng Du lịch TTG 2005)

ƒ Cơ sở Dịch vụ hội nghị / triển lãm được ưa thích ( Sự lựa chọn Du lịch của Độc giả tạp chí Time)

ƒ Thành phố Trung tâm hội nghị thứ 2 trên thế giới (Hiệp hội hội nghị và Đại hội quốc tế 2004)

ƒ Thành phố Trung tâm hội nghị số 1 của Châu Á trong 22 năm liên tiếp (Liên minh các hiệp hội quốc tế 2004)

Singapore có hai trung tâm triển lãm lớn là trung tâm triển lãm và hội nghị

quốc tế Suntec và Singapoe Expo (xem bảng 1.1), ngoài ra còn có trung tâm hội

nghị Raffles City và trung tâm hội thảo Waterfront Hầu hết các trung tâm thương mại, phòng hội nghị, hội thảo quốc tế đều rất gần sân bay Thêm vào đó, sân bay quốc tế Singapore đủ lớn để đón tiếp 40 triệu lượt khách mỗi năm, một hệ thống khách sạn 4-5 sao (30.000 phòng) gần trung tâm hội nghị và triển lãm quốc tế, có thể phục vụ và đáp ứng được nhu cầu ăn ở của nhiều khách tham dự

Với thuận lợi là cơ sở vật chất hiện đại, dịch vụ tiêu chuẩn cao, thuận lợi qua các dịch vụ Internet và dịch vụ hội nghị từ xa tại các khách sạn thương mại và các khu trung tâm triển lãm và hội nghị đã giúp Singapore trở thành một điểm đến hàng đầu cho các cuộc hội họp doanh nghiệp Ngoài ra, Singapore còn cung cấp cho những nhà tổ chức sự kiện vô số các chương trình giải trí và thư giản đầy ấn tượng như chương trình thưởng thức cocktail trên chuyến xe điện tham quan Vườn thú đêm Night Safari, tham quan những khu vực sắc tộc từ khu Tiểu Ấn đến Phố Tàu để khám phá di sản đa văn hoá của Singapore và thưởng thức các món ăn địa phương và quốc tế đa dạng Về quảng bá, xúc tiến thì Cục Du lịch Singapore từ cuối năm 2003 đã đưa ra chiến dịch xúc tiến quảng bá với 15 triệu đôla Singapore (khoảng 8,6 triệu USD) nhằm thu hút thị trường khách du lịch doanh nhân và

Trang 18

Văn phòng Hội nghị và triển lãm Singapore

Văn phòng Hội nghị và triển lãm Singapore đóng vai trò tích cực trong việc

phát triển du lịch MICE

ƒ Cung cấp thông tin toàn diện về các cơ sở vật chất, các địa điểm tổ chức và

dịch vụ ở Singapore

ƒ Phối hợp với các nhà tổ chức và các cơ quan chính phủ khác để đảm bảo các

buổi họp và các sự kiện được tổ chức thành công

ƒ Phối hợp với các nhà tổ chức kiểm tra địa điểm

ƒ Sắp xếp và tạo thuận lợi các cuộc gặp gỡ với các thành viên tham gia

ƒ Dàn dựng đề cương quảng cáo cho các thông báo sơ bộ của các cuộc họp

ƒ Cung cấp tài liệu và thông tin quảng cáo cho các cuộc họp

Bảng1.1: Các trung tâm hội thảo ở Singapore

Khu vực triển lãm Phòng họp

Sức chứa Trung tâm Bên trong (m2 ) Bên ngoài (m 2 ) Số phòng Loại lớp

học Loại nhà hát

Malaysia cũng đang là địa điểm mới nổi lên về sự kiện hội nghị, hội thảo và

triển lãm ở Đông Nam Á Trong năm 2003, Malaysia xếp hạng thứ 23 thế giới và

thứ 6 ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương về thị trường khách MICE Lượng khách

MICE từ năm 1999 đến nay luôn tăng liên tục( xem bảng 1.2)

Trang 19

Bảng 1.2: Khách du lịch và khách MICE đến Malaysia từ 1999 – 2002 (lượt người)

Tỉ lệ khách MICE so với tổng số khách du lịch đến Malaysia Năm Khách du lịch Khách MICE % Tỉ lệ

Nguồn: Malaysia – The Rise of MICE, www:businesstravellerindia.com

Trong những năm qua, Malaysia đã tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn như phong trào các nước không liên kết (NAM Summit), Hiệp hội du lịch Ấn Độ (Travel agent’ Association of India), Foodtech Malaysia, hội thảo về bệnh tim Đông Nam Á lần thứ 14 (14th ASEAN Congress of Cardiology), giải thưởng quốc tế (Malaysia Gift and Premium), Hội chợ trang thiết bị quốc tế (International Furniture fair), … Và hiện nay Malaysia đang nhắm vào thị trường khách là khu vực Châu Âu và vùng Viễn Đông

Để đạt được những thành tựu đó phải kể đến sự hợp tác giữa các bộ phận hữu quan như hãng hàng không Malaysia, các cơ quan chính quyền địa phương và Chính phủ Malaysia, các khách sạn, các trung tâm hội nghị - hội thảo, các nhà tổ chức sự kiện chuyên nghiệp, các công ty quản lý tại điểm đến, các nhà cung cấp triển lãm, các công ty du lịch và các nhà sản xuất quà lưu niệm Ngoài ra, Malaysia cũng được công nhận là quốc gia có môi trường chính trị ổn định, điểm đến an toàn, cơ sở hạ tầng thuận lợi

Về vấn đề lưu trú, Malaysia có 2.032 khách sạn với 133.495 phòng ngủ đáp

Trang 20

mại thế giới Putra có 2 khách sạn quốc tế là Pan - Pacific và Legend hotel; Mines Reosort có Palace of the Golden Horses, Genting có Genting hotel, Resort hotel và First hotel … Thuận lợi của các khách sạn này là chỉ mất khoảng 15 phút để đến các trung tâm hội nghị

Về trung tâm hội nghị, hội thảo Malaysia cung cấp một số trung tâm mang tầm quốc tế tọa lạc ngay thành phố Kuala Lumper như Putra World Trade Centre ( diện tích 35.000 m2); Trung tâm hội nghị quốc tế Malaysia (Malaysia International Exibition and Convention Centre); Genting International Convention Centre (diện tích 9.847 m2); Trung tâm hội nghị Kuala Lumper (Kuala Lumper Convention Centre)

1.2.2 Những bài học rút ra từ thực tế phát triển du lịch MICE của một số quốc gia

Theo kinh nghiệm phát triển du lịch MICE của Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Hồng Kông thì để khai thác thị trường này tốt, thì ta thấy có một số bài học sau :

ƒ Thứ nhất, không thể phát triển du lịch MICE nếu như không có một cơ quan

quản lý chuyên trách về MICE (Chính phủ hoặc tư nhân) Hầu hết các quốc gia khai thác thị trường này đều có một cơ quan hay tổ chức xúc tiến du lịch MICE như một số quốc gia đã thành lập: Japan Congress and Convention Bureau, Singapore Convention Bureau, Malaysia Covention Bureau, HongKong Convention and Incentive Travel Bureau, Shanghai Convention Bureau, Thailand Incentive and Convention Bureau

ƒ Thứ hai, để phát triển du lịch MICE thì điểm đến phải có cơ sở vật chất kỹ

thuật hiện đại Trước hết là phải có một hệ thống khách sạn 4-5 sao với các trang thiết bị hội nghị, hội thảo đạt chuẩn quốc tế Thứ nữa là phải có những trung tâm hội họp đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện hội nghị, hội thảo, triển lãm có sức chứa từ vài nghìn người trở lên, mang tầm vóc quốc tế

Trang 21

ƒ Thứ ba, vì khách hàng bao gồm cả những công ty, tập đoàn đa quốc gia,

những tổ chức quốc tế lớn trên thế giới, nên cần phải có những nhà tổ chức chuyên nghiệp (Professional Convention Organizer) đứng ra đảm nhiệm để cho việc tổ chức các sự kiện của MICE được thành công

ƒ Thứ tư, Phát triển du lịch MICE rất cần sự ủng hộ và trợ giúp của các cơ

quan chính quyền địa phương, đặc biệt là từ phía Chính phủ trong việc ổn định, sắp xếp lại trật tự xã hội, vệ sinh môi trường, nhằm xây dựng một môi trường xã hội,

môi trường du lịch thông thoáng, an toàn và thân thiện

1.3 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀO TRƯỜNG HỢP ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE

Có nhiều quốc gia nhận thấy được lợi ích của du lịch MICE và họ đã thành công trong việc định hướng phát triển du lịch MICE của mình Một điều lưu ý là hầu như các quốc gia này đã tận dụng được những lợi thế riêng có của mình như hạ tầng cơ sở hiện đại, tài nguyên du lịch phong phú như Nhật Bản, Hồng Kông, Malaysia để thu hút khách MICE Những lợi thế đó không thể là tuyệt đối bởi vì nó còn chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố khác nữa trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có xu hướng hội nhập ngày càng chặt chẽ hơn

Từ cách tiếp cận trên, để có hướng phát triển du lịch MICE thì phần này có mục đích là trình bày những lý thuyết cơ bản về quản trị chiến lược để vận dụng cho việc phân tích và xây dựng những định hướng phát triển du lịch MICE cho địa phương

1.3.1 Lý thuyết quản trị chiến lược

1.3.1.1 Khái niệm chiến lược và quản trị chiến lược

Có nhiều cách tiếp cận về chiến lược, ví dụ theo như Alfred Chandler - Harvard University cho rằng “Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát xác định các mục tiêu dài hạn cơ bản của một tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc

Trang 22

chương trình hành động và phân bố các nguồn tài nguyên chủ yếu để thực hiện các mục tiêu đó” Theo William J Glueck thì “chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các

mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện” (Business Policy and Strategic Management.McGraw Hill, Newyork, 1980)

Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lược chức năng khác Chiến lược chỉ tạo các khung để hướng dẫn tư duy để hành động Như vậy, mục đích của một chiến lược là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh

Còn về khía cạnh quản trị chiến lược, Fred R David cho rằng “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu, phân tích môi trường bên trong, bên ngoài của tổ chức hiện tại cũng như tương lai; xác lập nhiệm vụ chức năng và xây dựng hệ thống các mục tiêu cần theo đuổi; hoạch định, thực hiện và kiểm tra chiến lược nhằm vận dụng hữu hiệu các nguồn lực và tiềm năng của tổ chức để đạt các mục tiêu mong muốn”

Theo đó, khi xây dựng và thực hiện chiến lược của tổ chức, các nhà quản trị chiến lược cần phải tuân thủ những yêu cầu sau :

ƒ Thứ nhất, chiến lược kinh doanh phải đạt mục đích làm tăng thế lực của doanh nghiệp để giành lợi thế cạnh tranh Muốn đạt yêu cầu này, thì khi xây dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp tận dụng thế mạnh chứ không dùng quá nhiều công sức cho việc khắc phục các điểm yếu tới mức không đầu tư gì thêm cho các mặt mạnh

ƒ Thứ hai, chiến lược kinh doanh phải đảm bảo an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp Để đạt yêu cầu này, chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro vẫn có thể xảy ra nhưng chỉ ở mức thấp nhất

Trang 23

ƒ Thứ ba, phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu Việc xác định phạm vi kinh doanh trong chiến lược kinh doanh, phải đảm bảo sao cho khắc phục được sự dàn trải nguồn lực Trong mỗi phạm vi kinh doanh nhất định, các doanh nghiệp có thể định ra mục tiêu cần đạt tới phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Đi liền với mục tiêu, cần đề ra hệ thống các chính sách, biện pháp và điều kiện vật chất, kỹ thuật, lao động làm tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu ấy

ƒ Thứ tư, phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai Việc dự đoán này chính xác bao nhiêu thì chiến lược kinh doanh càng phù hợp bấy nhiêu

ƒ Thứ năm, phải có chiến lược dự phòng Vì thế, khi xây dựng chiến lược kinh doanh, phải tính đến khả năng xấu nhất mà doanh nghiệp có thể gặp phải Và trong tình thế đó thì chiến lược dự phòng nào sẽ thay thế

ƒ Thứ sáu, phải kết hợp độ chín muồi với thời cơ Chiến lược kinh doanh không chín muồi thì doanh nghiệp sẽ gặp thất bại

1.3.1.2 Qui trình quản trị chiến lược

Qui trình quản trị chiến lược bắt đầu bằng việc phân tích môi trường kinh doanh, bao gồm phân tích môi trường bên trong và bên ngoài để xác lập các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và đe dọa đối với tổ chức Dựa trên cơ sở đó để thiết lập các mục tiêu của chiến lược về tăng trưởng lượng khách, gia tăng thị phần khách, tăng doanh thu toàn ngành … và vạch ra các giải pháp chiến lược đồng bộ nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra Sau đó là xây dựng các chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện chiến lược Và cuối cùng là đánh giá, kiểm soát kết quả nhằm điều chỉnh chiến lược (khi cần thiết) để làm cho chiến lược luôn thích nghi với hoàn cảnh môi trường Như vậy, qui trình quản trị chiến lược được chia làm 3 giai đoạn như minh hoạ ở Hình 1.2

Trang 24

Hình 1.2: Qui trình quản trị chiến lược

Giai đoạn 1: Xây dựng và phân tích chiến lược

Công việc đầu tiên của quản trị chiến lược là thiết lập mục tiêu sản xuất kinh doanh (của doanh nghiệp) hay mục tiêu phát triển (của ngành, địa phương), sau đó là đánh giá tình hình hiện tại của doanh nghiệp (ngành, địa phương) Tức là thực hiện điều tra nghiên cứu điều tra cơ bản để xác định các mặt mạnh và mặt yếu bên trong, cũng như các cơ hội và đe dọa đối với doanh nghiệp (ngành, địa phương) này Cách làm này thường được gọi là phân tích SWOT Để thực hiện tốt giai đoạn này, nhà quản trị cần phải (1) phân tích, đánh giá các yếu tố bên ngoài gồm có yếu tố kinh tế; yếu tố văn hoá; xã hội; yếu tố pháp luật và chính trị; yếu tố công nghệ Từ đó xác định được các cơ hội và mối nguy cơ cho tổ chức (2) phân tích, đánh giá các yếu tố bên trong gồm có yếu tố nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, marketing, sản phẩm dịch vụ cung ứng, tài chính … từ đó xác định các điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức (3) xây dựng ma trận SWOT và (4) lựa chọn chiến lược

Giai đoạn 2: Thực hiện chiến lược

Đây là giai đoạn mà nhà quản trị lên bảng kế hoạch hành động, triển khai các hoạt động mà tổ chức sẽ thực hiện theo từng mốc thời gian để đạt mục tiêu chung Để thực hiện tốt giai đoạn này nhà quản trị cần phải (1) ấn định sứ mạng, mục tiêu cần đạt (2) xây dựng một tổ chức có đủ khả năng thực hiện được các chiến lược đề ra (3) đưa ra các chính sách phân bổ các nguồn lực hợp lý để các

Đánh giá , kiểm tra chiến lược

Thực hiện chiến lược

Xây dựng và phân tích chiến lược

Trang 25

nhân viên trong tổ chức có thể làm một cách hiệu quả (4) chính sách hỗ trợ nhân viên thực hiện chiến lược và các qui trình làm việc

Giai đoạn 3: Đánh giá, kiểm tra chiến lược

Đây là giai đoạn cuối cùng của qui trình quản trị chiến lược Tất cả các chiến lược tuỳ thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi thường xuyên Các hoạt động chính của giai đoạn này là: (1) xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại, (2) đo lường kết quả đạt được và (3) thực hiện các hoạt động điều chỉnh

1.3.1.3 Các công cụ chủ yếu để xây dựng và lựa chọn chiến lược

Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)

Tổ chức cần xác định các cơ hội và nguy cơ thông qua phân tích dữ liệu về thay đổi trong các môi trường kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật và công nghệ ở thị trường nơi tổ chức đang hoạt động Các cơ hội có thể bao gồm tiềm năng phát triển thị trường, khoảng trống thị trường … Các nguy cơ đối với tổ chức có thể là thị trường bị thu hẹp, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những thay đổi về chính sách có thể xảy ra, bất ổn về chính trị ở các thị trường chủ chốt Đây là cơ sở để thiết lập

ma trận EFE

Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE)

Với việc phân tích môi trường bên trong của tổ chức, các mặt mạnh có thể là các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế mà tổ chức có trước đối thủ cạnh tranh như có nhà quản trị tài năng, thương hiệu nổi tiếng, tổ chức có hình ảnh tốt trong mắt khách hàng hay chiếm thị phần lớn trên thị trường, sản phẩm dịch vụ chất lượng cao Những mặt yếu thể hiện ở những thiếu sót hoặc nhược điểm và kỹ năng, nguồn lực hay các yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của tổ chức Đó có thể là sản phẩm - dịch vụ nghèo nàn, hoạt động quảng bá, xúc tiến kém, nguồn nhân

Trang 26

lực không đủ mạnh so với đối thủ cạnh tranh Đây là cơ sở để thiết lập ma trận IFE

Ma trận SWOT

Phân tích SWOT là phân tích dựa vào ma trận EFE và IFE, là phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài mà tổ chức phải đối mặt (các cơ hội và nguy cơ) cũng như các yếu tố thuộc môi trường bên trong (các điểm mạnh và điểm yếu) Sự kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của một tổ chức đối với việc phát triển một ma trận SWOT, nó đòi hỏi phải có sự phán đoán tốt và sẽ không có một kết hợp tốt nhất Tuy nhiên, kết quả của quá trình phân tích SWOT phải đảm bảo được tính cụ thể, thực tế và khả thi vì tổ chức hay doanh nghiệp sẽ sử dụng kết quả đó để thực hiện những bước tiếp theo như hình thành các chiến lược và các giải pháp đồng bộ hỗ trợ cho từng chiến lược đã lựa chọn

Qui trình xây dựng ma trận EFE, IFE và SWOT (xem phụ lục 1.4)

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển du lịch MICE

Là những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài, mặc dù không phải là những yếu tố quyết định đối với sự phát triển du lịch MICE, nhưng chúng có ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành và phát triển du lịch MICE của bất kỳ một khu vực hay một quốc gia nào

1.1.5.1 Môi trường quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, các nước phụ thuộc vào nhau hơn Việc một quốc gia, một khu vực nào đó xảy ra tình trạng bất ổn định chính trị, vấn đề suy thoái kinh tế, an ninh xã hội không được bảo đảm ( nhất là khi có xảy ra tình trạng khủng bố hay xung đột sắc tộc ) thì hậu quả là lượng khách du lịch quốc tế ở điểm đến đó sụt giảm đáng kể

Trang 27

1.1.5.2 Môi trường trong nước ( dùng phân tích PEST)

Môi trường an ninh – chính trị (Political)

Môi trường chính trị ổn định, hệ thống luật pháp rõ ràng, những chính sách của nhà nước, hệ thống thuế, sự ủng hộ của chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch địa phương phát triển

Môi trường kinh tế (Economic)

9 Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, tạo điều kiện thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến làm ăn, cũng qua đó thu hút một lượng khách du lịch công vụ đáng kể

9 Ngoài ra, sự phát triển mạnh của các hệ thống ngân hàng và viễn thông cũng làm cho khách du lịch MICE yên tâm hơn, vì mọi giao dịch của họ chủ yếu liên quan đến vấn đề thương mại, giao dịch quốc tế

Môi trường xã hội (Socical)

9 Những vấân đề xã hội như môi trường tự nhiên không bị ô nhiễm, môi trường văn hoá lành mạnh

9 Tình hình ổn định an ninh xã hội, sự thân thiện của nơi đến, phong cách sống của người dân góp phần tạo tâm lý cho khách du lịch yên tâm hơn khi tới điểm đến

Môi trường công nghệ (Technological)

Sự phát triển của công nghệ thông tin yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ hiện đại hơn, chất lượng hơn như hệ thống Internet, hệ thống xử lý thông tin, tìm kiếm thông tin Tất cả các trung tâm hội nghị, hội thảo ngày nay đều phải đáp ứng nhanh chóng xu thế này

Trang 28

Kết luận chương 1

Tóm lại, trong chương này đã phân tích kỹ khái niệm du lịch MICE là gì, đó là loại hình du lịch kết hợp với hội nghị, khen thưởng, hội thảo và triển lãm MICE là chữ viết tắt của Meeting, Incentive, Convention/Conference và Exibition /Event, tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event Du lịch MICE đem lại hiệu quả cao nhờ lượng khách đông và có mức chi tiêu cao so với các đối tượng

du khách khác vì đây là khách hạng sang sử dụng nhiều dịch vụ cao cấp

Thêm nữa, cùng với du lịch thuần tuý, thì du lịch MICE ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia, góp phần vào việc tạo công ăn việc làm và thu nhập cho địa phương hay quốc gia; du lịch MICE phát triển sẽ thúc đẩy thương mại phát triển và gia tăng đầu tư từ nước ngoài Bên cạnh đó, trong sự phát triển chung của các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng, thì loại hình du lịch MICE đang phát triển ngày càng mạnh và trở thành lợi thế cạnh tranh lớn tại một số quốc gia hiện nay Và thông qua việc tổ chức thành công các sự kiện hội nghị, hội thảo quốc tế đã góp phần quảng cáo hữu hiệu để xúc tiến những sản phẩm và dịch vụ tới thị trường mục tiêu, quảng cáo hình ảnh của điểm đến

Từ thực tiển phát triển du lịch MICE của một số quốc gia như Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hồng Kông và Thái Lan, chúng tôi thấy có 4 điểm cốt lõi cần quan tâm như :

ƒ Thứ nhất, không thể phát triển du lịch MICE nếu như không có một cơ quan

quản lý chuyên trách về MICE (Chính phủ hoặc tư nhân)

ƒ Thứ hai, để phát triển du lịch MICE thì điểm đến phải có hạ tầng cơ sở vật

chất kỹ thuật hiện đại

Trang 29

ƒ Thứ ba, để phát triển du lịch MICE nên cần phải có những nhà tổ chức

chuyên nghiệp đứng ra đảm nhiệm tổ chức các sự kiện của MICE được thành công

ƒ Thứ tư, phát triển du lịch MICE rất cần sự ủng hộ và trợ giúp của các cơ

quan chính quyền địa phương, đặc biệt là từ phía Chính phủ

Từ cách tiếp cận trên, để có hướng phát triển du lịch MICE cho một quốc gia hay một địa phương Trong phần này, cũng đề cập tới việc vận dụng lý thuyết về quản trị chiến lược của Fred R David để vận dụng cho việc phân tích và xây dựng những định hướng phát triển du lịch MICE cho địa phương Đặc biệt là sử dụng các công cụ chủ yếu như ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE), ma trận SWOT để định hướng cho chiến lược Phân tích SWOT là một trong 4 bước của giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược, một khi tổ chức muốn khai thác, phát triển và thâm nhập thị trường thì phân tích SWOT là một khâu không thể thiếu trong quá trình định hướng chiến lược kinh doanh của một tổ chức Và đây cũng là tiền đề để xây dựng định hướng chiến lược phát triển du lịch MICE trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh trong tương lai

Trang 30

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH MICE TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM

2.1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE CỦA TP HCM

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch để phát triển du lịch MICE

Bao gồm vị trí địa lý, phong cảnh, biển, sông , hồ, núi, rừng, hang động, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật, hệ động vật, thực vật, những địa danh … là nguồn tài nguyên du lịch đa dạng phong phú

Thành phố Hồ Chí Minh là một địa phương không có nhiều di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng quốc gia, quốc tế như Hà Nội, Huế, Hội An hay phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ như Hạ Long, Phong Nha hay những bãi biển tuyệt đẹp như Nha Trang, Phan Thiết Tài nguyên du lịch của thành phố chỉ có vài nơi như vườn cò Quận 9, sân chim Vàm Sát, bãi biển 30/4, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và hai khúc sông Đồng Nai và Sài Gòn, vừa đơn giản về chủng loại, vừa nghèo về số lượng Tuy nhiên, hàng năm thành phố Hồ Chí Minh vẫn chiếm tới 54-55% lượng khách quốc tế cả nước, là nơi hội tụ phần lớn các doanh nghiệp lữ hành hàng đầu, có nhiều khách sạn, nhà hàng lớn và một lượng hướng dẫn viên hùng hậu Với vị thế là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật lớn nhất của cả nước, có vị trí địa lý thuận lợi về mặt giao thương quốc tế, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch hiện đại so với các địa phương khác, đặc biệt là hệ thống khách sạn 4 - 5 sao, khiến thành phố trở thành “điểm trung chuyển” thuận lợi cho các tour du lịch nội địa và xuyên quốc gia Ngoài ra, với vị thế là trung tâm thương mại - dịch vụ lớn, thành phố Hồ Chí Minh còn là một trung tâm mua sắm, ẩm thực lớn nhất trong cả nước, đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển du

lịch MICE trong tương lai

2.1.2 Tài nguyên về xã hội, nhân văn

Trang 31

Mặc dù không có nhiều tài nguyên du lịch, nhưng thành phố Hồ Chí Minh vừa hơn 300 năm tuổi, một thời được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nổi tiếng là một thương cảng trù phú sầm uất của vùng đất phương Nam Trong quá trình khai phá, mở mang bờ cõi, người Việt đã biết hoà hợp với nhiều dân tộc hội tụ về đây đã hình thành và phát triển một nền văn hoá phong phú, một truyền thống lịch sử hào hùng với nhiều di tích văn hoá - kiến trúc, di tích lịch sử, nhà Bảo tàng - nhà lưu niệm, những loại hình nghệ thuật đặc sắc … trở thành tài nguyên du lịch xã hội, nhân văn quý giá để phát triển du lịch bền vững

2.1.2.1 Di tích văn hoá - kiến trúc

Thành phố hiện có trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ trở thành những tài sản quý về văn hoá, kiến trúc và nghệ thuật Đó là những công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền Quốc Tổ, đền Lê Văn Duyệt, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện Thành Phố, hệ thống các ngôi chùa cổ ( chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, Tổ Đình Giác Viên, chùa Vĩnh Nghiêm , chùa Xá Lợi…), hệ thống các nhà thờ cổ (Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức …) Nhìn chung, đây là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá, là “cơ cấu kiến trúc” Việt - Hoa - Châu Âu, đó là một tổng thể kiến trúc mà thành phố có được

2.1.2.2 Di tích lịch sử

Hiện thành phố có một vài di tích lịch sử cũng thu hút nhiều khách quốc tế trong thời gian qua như Bến Dược - Địa đạo Củ Chi, Dinh Độc Lập, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, Rừng sác Cần giờ, 18 thôn vườn trầu

2.1.2.3 Nhà bảo tàng - lưu niệm

Bên cạnh những di tích lịch sử văn hoá phong phú đa dạng, thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống bảo tàng gồm 11 bảo tàng cùng nhiều nhà lưu niệm

ở các quận, huyện Đó là Bảo tàng Cách Mạng Thành Phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh,

Trang 32

Thắng … là những địa chỉ không thể thiếu trong chương trình tham quan của du khách nước ngoài

2.1.2.4 Những loại hình nghệ thuật

Nền tảng văn hoá truyền thống của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là văn hoá dân gian, đó là kho tàng văn hoá phong phú với nhiều loại hình nghệ thuật như :

Văn nghệ và nghệ thuật sân khấu: cải lương, đờn ca tài tử nam bộ, dân ca

nam bộ, hát bội, biểu diễn áo dài truyền thống, những điệu múa dân gian, múa rối nước Trong đó đờn ca tài tử, biểu diễn áo dài truyền thống, múa dân gian, múa cung đình, múa rối nước trở thành các món ăn tinh thần không thể thiếu của khách

du lịch quốc tế mỗi khi đến thành phố Hồ Chí Minh

Âm nhạc cổ truyền: Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có tiếng nói

và sắc thái văn hoá riêng Cũng chính vì thế, mà trong quá trình phát triển cộng đồng, gắn bó giữa các dân tộc với nhau đã sáng tạo rất nhiều loại nhạc khí cũng như những thể loại dân ca đặc sắc như đàn Bầu, đàn Đá, đàn Tranh và các loại nhạc như nhạc trong lễ cung đình, nhạc cổ truyền

2.1.2.5 Ẩm thực- mua sắm- vui chơi giải trí

Là trung tâm của vùng đất phương Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất đa dạng phong phú Lại thêm là nơi hội tụ của dân cư từ mọi miền đất nước và cửa ngõ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm thực của cả nước và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn

Bên cạnh đó, thành phố có một số trung tâm thương mại đạt chuẩn quốc tế như trung tâm thương mại Saigon tourist, trung tâm thương mại Diamond Plaza, trung tâm thương mại Zen Plaza, trung tâm thương mại Superbowl và Thương xá Tax; Về chợ có chợ Bến Thành, chợ Bình Tây; và một chuỗi cửa hàng trên các tuyến đường Đồng Khởi, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, Lê Lợi và Nguyễn Trãi

Trang 33

Về vui chơi giải trí, thành phố cũng có khu du lịch như Thanh Đa, Bình Quế;

khu vui chơi giải trí Đầm Sen, Suối Tiên, Sài Gòn Water Park, Vietnam Water

Park, sân Golf Thủ Đức

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MICE TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ

CHÍ MINH TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.2.1 Khách du lịch MICE

2.2.1.1 Tình hình chung về thị trường khách du lịch quốc tế

Bảng 2.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam và TP.HCM (lượt người) từ

Nguồn : Sở du lịch Tp.HCM và Tổng cục du lịch Việt Nam

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng đều

tăng lên qua từng năm Lượng khách quốc tế đến thành phố năm 2005 là 2.000.000

lượt tăng 63,08% so với năm 2001 (1.226.400 lượt ), nhịp độ tăng bình quân hàng

năm trong giai đoạn này là khoảng 54-55% Và trong 8 tháng đầu năm 2006, lượng

khách đến thành phố là 1.478.000 lượt tăng 9% so với cùng kỳ năm 2005 và chiếm

61% tổng số lượt khách quốc tế đến Việt Nam (xem bảng 2.1 )

Xét về phương tiện, khách đến bằng đường hàng không năm 2005 là

1.753.784 lượt, chiếm 87% tổng lượng khách quốc tế đến thành phố, tăng 27% so

với năm 2004 Khách đến bằng các đường khác là 250.000 lượt ( đường biển và

đường bộ), chiếm 13% tổng lượt khách quốc tế đến thành phố, tăng 25% so với

Trang 34

560.000 lượt, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2005, bằng đường bộ là 64.000 lượt và

đường biển là 6.000 lượt (xem bảng 2.2)

Bảng 2.2: Tổng số lượt khách quốc tế đến Tp.HCM từ 2001 đến 2005 qua các

phương tiện vận chuyển (lượt người)

2.2.1.2 Khách du lịch MICE

Thị trường khách du lịch MICE đến thành phố Hồ Chí Minh “bùng nổ” trong khoảng hai năm gần đây và đã được một số công ty lữ hành và khách sạn quan tâm khai thác Đối tượng khách đến thành phố khá phong phú, không chỉ là khách quốc tế, các tập đoàn nước ngoài, công ty liên doanh đang hoạt động tại Việt Nam, mà có cả khách từ các doanh nghiệp trong nước Hiện nay, Sở du lịch Thành phố chưa có số liệu cụ thể liên quan đến du lịch MICE, nhưng cũng đã ghi nhận việc tổ chức thành công một số đoàn khách hội nghị, hội thảo, du lịch khuyến thưởng và triển lãm cho các công ty, tập đoàn đa quốc gia thuộc các nước khối Asean, Mỹ, Đức, Nga, Úc, Nhật, Hàn Quốc Trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam năm 2004 là 2.927.876 lượt người, thì khách công vụ là 512.666 lượt người,

chiếm 17,82% (xem bảng 2.3) Trong đó, tổng số khách công vụ tới thành phố năm

LƯỢT KHÁCH ĐẾN

TPHCM

LƯỢT NGƯỜI

NHỊP ĐỘ PHÁT TRIỂN (%)

ĐƯỜNG HÀNG KHƠNG

ĐƯỜNG BIỂN

Trang 35

2004 đạt 300.516 lượt, chiếm 57,61% so với cả nước và có nhịp độ tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2000 - 2004 là khoảng 4%

Bảng 2.3: Số lượng khách công vụ đến Việt Nam và Tp.HCM từ năm 2000 đến 2004

Khách quốc tế đến Việt Nam 2.140.000 2.330.050 2.627.988 2.428.735 2.927.876 Khách công vụ đến Việt Nam 491.646 395.158 445.751 468.429 521.666

Tỉ lệ khách công vụ so với khách

quốc tế đến Việt Nam 22,97 16,96 16,96 19,29 17,82

Khách quốc tế đến Tp.HCM 1.109.000 1.226.400 1.433.000 1.302.000 1.580.000

Khách công vụ đến Tp.HCM 260.282 224.309 278.432 285.394 300.516

Tỉ lệ khách công vụ so với khách

Tỉ lệ khách công vụ tới Tp.HCM

Nguồn: Tổng cục du lịch và Sở du lịch TP.HCM

Theo phân tích của các nhà tổ chức khách MICE, thông thường các đoàn khách MICE đến Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thường gắn với mục đích thương mại, đầu tư thông qua việc tham dự các hoạt động hội nghị, hội thảo, hội chợ hoặc một chuyến thực hành ngoại khoá sau đó sẽ kết hợp tham quan du lịch Tuy nhiên, việc khai thác thị trường MICE của thành phố còn rất thấp, đa số các đoàn khách là các đoàn nhỏ Theo các chuyên gia làm MICE ở thành phố Hồ Chí Minh, thì lượng khách gia tăng trong thời gian qua là do Việt Nam tổ chức thành công hội nghị ASEM 5, Việt Nam miễn visa cho 11 quốc gia thuộc khối Asean, vùng Đông Bắc Á và Bắc Á Thêm nữa là tình hình thế giới đang diễn ra phức tạp, mất ổn định tại nhiều quốc gia và khu vực dẫn đến tâm lý không an toàn cho du khách, thì Việt Nam được công nhận như là một điểm đến thân thiện và an toàn

Trang 36

Mặc dù có nhiều cơ hội để phát triển loại hình du lịch MICE, nhưng hiện nay thành phố Hồ Chí Minh đang vấp phải rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh với các nước trong khu vực Asean Theo các chuyên gia về MICE ở các công ty lữ hành, khách sạn và Sở du lịch Tp HCM thì có các nguyên nhân chính như sau :

ƒ Thành phố hiện nay chưa có một trung tâm hội nghị, hội thảo và triển lãm nào có đủ tầm cỡ mang tính khu vực và quốc tế như ở các nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Nhật Bản và Hồng Kông Thành phố chỉ có khả năng cung cấp các phòng họp tổ chức trong các khách sạn lớn với sức chứa cao nhất cũng chỉ 1.500 người

ƒ Vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về MICE ( Convention Bareau) để xây dựng chiến lược phát triển và quảng bá hình ảnh thành phố như là một điểm đến MICE tại Châu A Ù- Thái Bình Dương

ƒ Hiện tại thành phố chỉ mới hình thành một số công ty chuyên tổ chức sự kiện và còn thiếu tính chuyên nghiệp, nên chưa có một tổ chức chuyên nghiệp về MICE

ƒ Tình trạng thiếu phòng ốc cũng đặt ra thêm một trở ngại cho việc phát triển

du lịch MICE tại thành phố

2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh về thị trường MICE

2.2.2.1 Khối lữ hành

Về lượng khách

Hiện nay, thành phố có một số công ty du lịch khai thác mạnh thị trường này như Saigontourist, Du lịch Bến Thành, Fiditourist, Viettravel, Exotissimo … Tuy nhiên, các công ty này chưa thống kê cụ thể về lượng khách MICE Nhưng qua khảo sát 8 công ty lữ hành này, chúng tôi thấy phần lớn khách là hội họp, khuyến thưởng, hội nghị - hội thảo và chỉ duy nhất một công ty là khai thác được khách

Trang 37

triển lãm Và cũng đã ghi nhận việc phục vụ một số đoàn khách trong thời gian qua của một số công ty này như sau :

Công ty du lịch Sài Gòn tourist

ƒ Năm 2004: Tháng 12-2004, đón và phục vụ khoảng 200 khách Mỹ ( theo

báo Tuổi trẻ ngày 6/1/2005, Bùng nổ khách du lịch hội nghị)

ƒ Năm 2005: Trong năm tháng đầu 2005, công ty đã phục vụ hơn 1000 khách

MICE quốc tế, đoàn có lượng khách đông nhất là 135 khách Tây Ban Nha, một số đoàn có lượng khách ít nhưng chương trình du lịch dày là 36 khách Úùc và 25 khách

Áo ( theo www.vneconomy.com ngày 14/9/2005, Du lịch MICE phát triển trong thách thức)

ƒ Năm 2006: Tháng 1-2006, công ty đón 1.200 khách (theo Tổng cục du lịch

ngày 9/1/2006, Bùng nổ khách du lịch MICE)

Công ty du lịch Bến Thành

Năm 2004

9 Tháng 12-2004: công ty đón và phục vụ gần 400 khách MICE đến từ

Malaysia, Inđonesia, Úùc và Mỹ ( theo báo Tuổi trẻ ngày 6/1/2006, Bùng nổ du lịch hội nghị)

9 Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2004: công ty đón từ 800 -1000 khách quốc tế tham dự hội nghị kết hợp với du lịch gồm nhiều lĩnh vực như dầu khí, dược, thương

mại … (theo báo Tuổi trẻ ngày 12/4/2004, Tp.HCM: ra mắt trung tâm du lịch MICE đầu tiên)

Năm 2005

9 Tháng 1-2005: đón 232 khách du lịch MICE, là khách hàng và đối tác của

công ty dược Glaxo SmithKline, đa số khách đến từ Malaysia và Singapore ( theo báo Tuổi trẻ ngày 13/1/2005, Thành phố Hồ Chí Minh đón nhiều đoàn khách MICE)

Trang 38

9 Tháng 3-2005: đón 3 đoàn lớn gần 1000 khách (theo báo Tuổi trẻ ngày 22/3/2005, Đoàn du khách tàu biển)

9 Ngày 26-8-2005: đón 270 khách MICE là nhân viên công ty Dược đa quốc gia Glaxo SmithKline đến từ Singapore, Brunei và Inđonesia Và từ nay đến cuối

năm công ty sẽ đón trên 1000 khách từ các nước Asean và Úùc ( theo Tuổi trẻ ngày 27/8/2005, Đón 270 khách du lịch MICE)

Năm 2006: Quí 1 năm 2006, công ty đón trên 1.500 khách MICE, phần lớn

là khách đến từ Philippines, Singapore, Mỹ (theo Tuổi trẻ ngày 23/1/2006, Đón 132

du khách MICE)

Công ty du lịch Fiditourist

ƒ Năm 2005: Ngày 13-1-200, công ty đón 146 khách MICE là các giáo viên,

sinh viên của trường trung học Anglo Chinese (Singapore) đến Thành phố tham

quan và học tập ngoại khoá ( theo Tuổi trẻ ngày 13/1/2005, Thành phố Hồ Chí Minh đón nhiều đoàn khách du lịch MICE)

ƒ Năm 2006: Tháng 1-2006, công ty đón 2000 khách MICE quốc tế (theo

Tổng cục du lịch ngày 9/1/2006, Bùng nổ khách du lịch MICE)

Công ty Việt travel

Ngày 2-5-2005: công ty đã đón 140 khách du lịch MICE đến từ Nga để tham quan dự hội nghị và kết hợp đi du lịch nghỉ dưỡng Hầu hết khách trong đoàn là

giám đốc các ngân hàng, tập đoàn dầu khí (theo tuổi trẻ ngày 3/5/2005, Tp.HCM đón đoàn khách MICE đến từ Nga)

Trung tâm du lịch Sasco travel

Ngày 30-4-2005: công ty đã đón đoàn khách MICE với hơn 100 khách Mỹ,

đây là đoàn khách của tập đoàn an ninh mạng Forbinet ( theo Tuổi trẻ ngày 3/5/2005, Tp.HCM đón đoàn du khách MICE đến từ Nga)

Về doanh thu, lợi nhuận

Trang 39

Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính xác về doanh thu, lợi nhuận từ loại hình MICE của các công ty du lịch Nhưng theo Ông Henri Ceran, chuyên gia về MICE của tổ chức Du lịch Thế Giới, cho rằng lợi nhuận thu từ lĩnh vực này cao hơn

4-5 lần lợi nhuận từ kinh doanh du lịch bình thường ( theo Tuổi trẻ ngày 19/6/2004, Làm thế nào để phát triển du lịch MICE); Còn theo Ông Nguyễn Hữu Thọ, tổng

giám đốc Saigontourist, chi tiêu của khách MICE cao gấp 6 lần chi tiêu của khách

du lịch thông thường, chi tiêu của họ không chỉ trong các hội nghị mà còn ở bên

ngoài hội nghị ( theo www.nld.com.vn ngày 22-6-2006, MICE- Thị trường lớn đang chờ ngành du lịch VN khai thác); Bà Lê Hoàng Yến, giám đốc Trung tâm Tổ chức

hội thảo, sự kiện và du lịch của Bến Thành Tourist, nói rằng hầu hết khách MICE là doanh nhân, các nhà đầu tư nước ngoài nên mức chi tiêu bình quân không dưới

500USD /người/ ngày ( theo Tuổi trẻ ngày 31/10/2005, “Bùng nổ” khách du lịch MICE)

2.2.2.2 Khối khách sạn

Về lượng khách

Các khách sạn cũng chưa có số liệu thống kê đầy đủ về lượng khách của mãng này Việc thống kê còn mang tính sơ khai, có khách sạn thì thống kê khách MICE riêng, có khách sạn thì thống kê khách MICE chung với lượng khách lưu trú tại khách sạn, có khách sạn thì thống kê lượng khách MICE chung với khách thương nhân Theo thống kê của một số khách sạn chuyên về MICE, thì lượng khách du lịch MICE đến khách sạn qua các năm tăng lên rõ rệt, phần lớn khách là khách hội họp, khuyến thưởng, hội nghị - hội thảo và khách triển lãm cũng tương đối Đặc biệt là các khách sạn 4-5 sao như Sheraton, New World, Sofitel Plaza, Rex … lượng khách MICE luôn tăng cao Dẫn đầu là khách sạn Sheraton, Sofitel Plaza và kế đến là khách sạn New World, do có thuận lợi về phòng họp đạt tiêu chuẩn cao với quy mô từ 300 đến 800 khách cùng các phương tiện, trang thiết bị

Trang 40

khách MICE và năm 2005 đón 10.798 lượt khách, tăng 37.94% so với năm 2004 Khách sạn New World năm 2005 đón 4.502 lượt khách MICE , tăng 56.80% so với năm 2004 Đặc biệt là khách sạn Sofitel và Rex, có nhịp độ tăng trưởng trên 100%

( xem bảng 2.4)

Bảng 2.4: Lượng khách MICE ở các khách sạn 4-5 sao năm 2004 và 2005

Về doanh thu, lợi nhuận

Về lợi nhuận từ loại hình này, thì các khách sạn cũng chưa có thống kê chính thức, nhưng theo một số khách sạn cho rằng doanh thu thu được từ ngành này

rất cao Nguyên nhân thứ nhất là do khách MICE sử dụng nhiều dịch vụ như dịch

vụ phòng, giặt ủi, ăn uống, giải trí thư giãn tại các bar, massage, sử dụng những

dịch vụ văn phòng như in ấn, fax, Internet, điện thoại; Thứ hai là việc ấn định giá

phòng và giá dịch vụ thường cao hơn khách du lịch thuần tuý

2.2.3 Thị trường các nhà cung cấp dịch vụ MICE

2.2.3.1 Hệ thống cơ sở lưu trú

TỔNG SỐ KHÁCH TRONG ĐÓ, KHÁCH MICE

kê Chưa thống kê

Ngày đăng: 09/01/2018, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm