1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thị trường quyền chọn cổ phiếu tại việt nam

64 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 917,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, bản thân thị trường đã được điều chỉnh để đạt được hiệu quả tối ưu, đồng thời, các sản phẩm chứng khoán phái sinh cũng được chú

Trang 1

TRƯƠNG MINH VŨ

XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN

CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh, năm 2006

Trang 2

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào tháng 07 năm 2000, đánh dấu một bước chuyển mình của thị trường tài chính trong nước trước xu thế hội nhập và quyết tâm đổi mới của Chính phủ Đến tháng 09 năm 2006, tổng giá trị vốn hoá toàn thị trường đã xấp xỉ 6,5% GDP cả nước, thu hút một lượng vốn đáng kể trong dân cư và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài Tuy nhiên, quy mô nhỏ bé và tính non trẻ của thị trường chứng khoán Việt Nam, cùng với các khiếm khuyết về chính sách quản lý, điều hành, giám sát loại hình thị trường cao cấp này đã và đang mang lại nhiều rủi ro - hệ thống lẫn phi hệ thống - cho các nhà đầu tư khi tham gia kinh doanh chứng khoán trong nước

Đối với các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, bản thân thị trường đã được điều chỉnh để đạt được hiệu quả tối ưu, đồng thời, các sản phẩm chứng khoán phái sinh cũng được chú trọng phát triển nhằm khắc phục các yếu tố rủi ro cố hữu gắn liền với thị trường chứng khoán cơ sở, đáp ứng khẩu vị phong phú

và chiến thuật đa dạng của các nhà đầu tư … Vì vậy, tham khảo và ứng dụng các

mô hình thị trường quyền chọn sẵn có dựa vào điều kiện thực tiễn ở nước ta là những bước đi cần thiết của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, đó là lý do

tôi chọn đề tài "XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TẠI

VIỆT NAM"

Nội dung của luận văn bao gồm:

Trang 3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

o Nghiên cứu các lý luận về sản phẩm quyền chọn và thị trường quyền chọn

o Nghiên cứu quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ lúc thành lập năm 2000 cho đến cuối tháng 09/2006

o Nghiên cứu mô hình của một số thị trường quyền chọn tiêu biểu và các điều kiện thực tiễn để ứng dụng tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa vào cơ sở lý thuyết chuyên ngành tài chính doanh nghiệp hiện đại, cùng với các phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và phân tích để khái quát bản chất của các vấn đề cần nghiên cứu

Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm ba chương:

™ Chương 1: Khái quát các vấn đề lý luận về công cụ quyền chọn, chiến lược phòng ngừa rủi ro với quyền chọn và cấu trúc của một thị trường quyền chọn

™ Chương 2: Điểm qua các giai đoạn biến động giá trên thị trường chứng khoán Việt Nam và nhận diện các yếu tố rủi ro mà các nhà đầu tư có thể gặp phải trên thị trường

™ Chương 3: Tham khảo một số mô hình thị trường quyền chọn tiêu biểu trên thế giới, thông qua tình hình thực tiễn tại Việt Nam để đề xuất mô hình thị trường quyền chọn cổ phiếu dự kiến cho Việt Nam

Trang 4

1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CHỌN

1.1.1 Quyền chọn

Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán - trong

đó người mua có quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một tài sản nào

đó vào một ngày trong tương lai với giá cả được thoả thuận vào ngày hôm nay

Tài sản được đề cập thông thường là chứng khoán, nhưng cũng có thể là các loại tài sản vật chất như tiền, vàng, dầu, nông sản , và cả các loại tài sản trừu tượng khác như chỉ số chứng khoán chẳng hạn

Mức giá cố định mà người mua hợp đồng quyền chọn có thể mua hoặc bán tài sản được gọi là giá chốt, hay giá thực hiện Một hợp đồng quyền chọn được thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn được gọi là quyền chọn kiểu Mỹ

và chỉ có thể thực hiện vào ngày đáo hạn thì được gọi là quyền chọn kiểu Châu Âu

Người mua quyền chọn phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn, để đảm bảo người bán quyền chọn sẵn sàng bán, mua hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo điều khoản của hợp đồng tuỳ theo yêu cầu của người mua quyền

Một quyền chọn cho phép chủ sở hữu của nó quyền mua tài sản với một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày đã được ấn định gọi là quyền chọn mua Một quyền chọn cho phép chủ sở hữu của nó quyền bán tài sản với một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày đã được ấn định gọi là quyền chọn bán

Trang 5

1.1.2 Quyền chọn mua

Hình 1.1

Điểm hoà vốn lãi

lỗ

giá tài sản tăng phí

Điểm hoà vốn

lãi

lỗ

phí

Vùng lỗ 0

giá thực hiện

Hình 1.1(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn khi giá của chứng khoán hay tài sản tăng trong tương lai Ngược lại, nếu giá giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối

đa bằng với phí mua quyền

Hình 1.1(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn mua cổ phần hay tài sản, anh ta chỉ kiếm lời từ khoản phí nhận được từ người mua, và sẽ thua lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện

1.1.3 Quyền chọn bán

Hình 1.2

giá tài sản tăng

Điểm hoà vốn lãi

hoà vốn

lãi

lỗ

phí 0

giá thực hiện

Tương tự, hình 1.2 mô tả vị thế của người mua quyền chọn bán (a) và của người bán quyền chọn bán (b) Với một mức phí để thực hiện hợp đồng, người mua quyền chọn bán chỉ lỗ giới hạn bằng với khoản phí đã trả khi giá cổ phần hay tài sản tăng và có lời khi giá cổ phần hay tài sản giảm Ngược lại, người bán quyền chọn

Trang 6

Tất nhiên, tuỳ theo kỳ vọng của các nhà đầu tư về giá chứng khoán hay tài sản, một quyền chọn thích hợp sẽ được sử dụng Căn cứ vào kết quả, vị thế của các quyền chọn nêu trên, ta có thể thấy quyền chọn mua là sự lựa chọn cho kỳ vọng (hay nỗi lo) về giá tăng trong tương lai và quyền chọn bán là sự lựa chọn cho kỳ vọng giảm giá của các nhà đầu tư

Nếu như vậy, không có nghĩa là những người bán quyền chọn mua và chọn bán là những kẻ liều lĩnh hay thích đùa, đánh đổi một ít lợi nhuận bằng cả một rủi

ro thua lỗ vô hạn Ngoại trừ họ vững tin xu thế giá cả tài sản sẽ biến động theo hướng kỳ vọng (nguyên nhân hiếm hoi), bằng cách này hay cách khác, họ sẽ tiến hành bù trừ vị thế rủi ro hay tự bảo vệ mình khỏi thua lỗ bằng cách kết hợp nhiều chiến lược một cách khôn khéo và độc đáo, đặc biệt trên thị trường chứng khoán, loại tài sản gốc mang đầy đủ các yếu tố nhạy cảm và rủi ro nhưng không thể thiếu trong một nền kinh tế phát triển

1.2 CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA RỦI RO VỚI QUYỀN CHỌN

Trên thực tế, có nhiều cách kết hợp giữa quyền chọn với quyền chọn, quyền chọn với các công cụ phái sinh khác, quyền chọn với tài sản, chứng khoán v.v tạo

ra vô số các chiến lược đa dạng nhằm đáp ứng mọi khẩu vị rủi ro cho nhà đầu tư và phù hợp với dự báo của thị trường

Sau đây là một vài chiến lược cơ bản đối với các nhà đầu tư chứng khoán và quyền chọn chứng khoán, bằng cách xác định lợi nhuận mà một chiến lược có thể tạo ra thông qua phương trình lợi nhuận với các ký hiệu quy ước:

C: Giá quyền chọn mua hiện tại P: Giá quyền chọn bán hiện tại

So: Giá cổ phiếu hiện tại X: Giá thực hiện

St: Giá cổ phiếu khi đáo hạn π: Lợi nhuận của chiến lược

Nc: Số quyền chọn mua Np: số quyền chọn bán

Ns: Số lượng cổ phiếu

Với Nc, Np, Ns > 0: nhà đầu tư đang mua quyền hay mua cổ phiếu, và:

Trang 7

Nc, Np, Ns < 0: nhà đầu tư đang mua quyền hay mua cổ phiếu

1.2.1 Quyền chọn mua và Cổ phiếu

Một chiến lược đơn giản nhưng có rủi ro thấp là bán một quyền chọn mua tương ứng với mỗi cổ phiếu đang sở hữu Mặc dù chiến lược này không phải là phi rủi ro, nhưng nó cũng làm giảm rủi ro của việc chỉ sở hữu cổ phiếu Nó cũng là một trong số các chiến lược phổ biến nhất của các nhà kinh doanh quyền chọn chuyên nghiệp Với hợp đồng bán quyền chọn mua cổ phiếu, người bán phải chịu rủi ro không giới hạn, nếu kết hợp với việc sở hữu cổ phiếu, sẽ không còn rủi ro phải mua

nó trên thị trường với mức giá cao Khi quyền chọn mua được thực hiện, nhà đầu tư chỉ phải chuyển giao cổ phiếu Đứng trên một quan điểm khác, người sở hữu cổ phiếu mà không bán quyền chọn gặp phải rủi ro đáng kể của việc giá cổ phiếu giảm xuống Bằng cách bán một quyền chọn mua đối với cổ phiếu đó, nhà đầu tư đã làm giảm rủi ro giảm giá Nếu giá cổ phiếu giảm đáng kể, khoản lỗ sẽ được bù đắp một phần bởi phí quyền chọn nhận được từ việc bán quyền chọn mua

Ta có phương trình lợi nhuận của việc mua cổ phiếu là:

π = N s (S t - S o ) (1.1) Với Ns>0 Mặt khác, phương trình của động tác bán quyền chọn mua cũng được biểu diễn như

sau: π = N c [Max(0, S t - X) - C] (1.2) Với Nc<0

- Nếu S t < X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn nhỏ hơn hoặc bằng giá thực hiện, người

mua quyền không yêu cầu được mua cổ phiếu, lợi nhuận của người bán quyền lúc này là phí bán quyền tương ứng (NcC)

- Nếu S t > X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn giá thực hiện, người mua quyền

yêu cầu thực hiện hợp đồng, lúc này giá trị lỗ của người bán quyền tỷ lệ thuận với mức chênh lệch giữa giá thị trường và giá thực hiện và số lượng quyền chọn trong hợp đồng

Quay lại với chiến lược mua cổ phiếu và bán quyền chọn mua tương ứng, đây là chiến lược thực hiện hai vị thế song song nên phương trình lợi nhuận của nhà đầu tư lúc này sẽ bằng tổng của hai phương trình lợi nhuận (1.1) và (1.2), ta được:

π = N s (S t - S o ) + N c [Max(0, S t - X) - C]

Trang 8

Với Ns>0 (mua cổ phiếu), Nc<0 (bán quyền) và Ns=-Nc , phương trình lợi nhuận lúc này là:

π = S t - S o - Max(0, S t - X) + C (1.3)

- Nếu S t < X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn nhỏ hơn hoặc bằng giá thực hiện, người

mua quyền không yêu cầu được mua cổ phiếu, khoản lỗ của cổ phiếu sẽ được giảm bớt nhờ phí quyền chọn: π = St - S o + C

- Nếu S t > X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn giá thực hiện, người mua quyền

yêu cầu thực hiện hợp đồng, cổ phiếu sẽ được chuyển giao, điều này làm giảm mức lợi nhuận của cổ phiếu: π = St - S o - S t + X + C = X - S o + C

1.2.2 Quyền chọn bán và Cổ phiếu

Người sở hữu cổ phiếu có thể được bảo vệ khi giá xuống có thể bán quyền chọn mua Trong một thị trường giá lên, cổ phiếu gần như sẽ được mua lại bằng cách thực hiện quyền chọn Một cách để nhận được sự bảo vệ trước thị trường giá xuống và vẫn có thể chia phần lợi nhuận trong thị trường giá lên là mua một quyền chọn bán bảo vệ, tức là mua cổ phiếu và mua một quyền chọn bán quyền chọn bán cung cấp một mức giá tối thiểu dành cho cổ phiếu

Với P là giá quyền chọn bán hiện tại, ta cũng có phương trình mua quyền chọn bán tương ứng:

π = N p [Max(0, X - S t ) - P] (1.4) Với Np>0

- Nếu S t > X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, người

mua quyền mong muốn được bán cổ phiếu ra thị trường và không thực hiện hợp đồng, chúng ta chịu lỗ một khoản phí mua quyền tương ứng (NpP)

- Nếu S t < X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn nhỏ hơn giá thực hiện, người mua quyền

yêu cầu thực hiện hợp đồng, tức buộc người bán quyền phải mua lại cổ phiếu, lúc này lợi nhuận của người mua quyền tỷ lệ thuận với mức chênh lệch giữa giá thị trường và giá thực hiện và số lượng quyền chọn trong hợp đồng, đồng thời giảm đi

một khoản phí tương ứng (N p [(X - S t ) - P] Trong trường hợp này, nhà đầu tư sẽ

hoà vốn khi S t = X-P

Trang 9

Từ đó, ta được phương trình của chiến lược kết hợp giữa mua cổ phiếu và mua quyền chọn bán (1.1) + (1.4) như sau:

π = N s (S t - S o ) + N p [Max(0, X - S t ) - P]

Với Ns>0 (mua cổ phiếu), Np>0 (mua quyền) và Ns=Np , phương trình lợi nhuận lúc này là: π = St - S o + Max(0, X - S t ) - P (1.5)

- Nếu S t > X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, ta được

kết quả: π = St - S o - P, lợi nhuận từ việc giá cổ phiếu tăng sẽ được khấu trừ một

phần chi phí phòng ngừa rủi ro

- Nếu S t < X, tức giá cổ phiếu khi đáo hạn nhỏ hơn giá thực hiện, người mua quyền

yêu cầu thực hiện hợp đồng, tức buộc người bán quyền phải mua lại cổ phiếu, lúc này lợi nhuận của người mua quyền là: π = St - S o + X - S t - P = X - S o - P

Quyền chọn bán trong trường hợp này tương tự như một hợp đồng bảo hiểm đối với cổ phiếu, trong thị trường giá xuống, tổn thất của cổ phiếu sẽ phần nào được

bù đắp bởi việc thực hiện quyền chọn, trong thị trường giá lên, việc bảo hiểm là không cần thiết và mức lợi nhuận do vị thế cổ phiếu tăng giá phải giảm đi một ít cho chi phí phòng ngừa rủi ro Như vậy, quyền chọn bán bảo vệ ấn định mức lỗ tối

đa do giá giảm nhưng lại chịu một loại chi phí là lợi nhuận ít hơn khi giá tăng

1.3 THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN

Quyền chọn tuy là một khái niệm kinh tế tài chính, nhưng chúng ta vẫn thường gặp phổ biến trong đời sống xã hội thường ngày, dưới các hình thức thể hiện khác nhau của chúng Một khoản tiền đặt cọc mua nhà cửa, hàng hoá, các khoản chi phí mà công ty bỏ ra cho hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, các khoản khuyến mãi, tiếp thị v.v đều là những dạng thể hiện bên ngoài của quyền chọn

Với các đặc tính ưu việt riêng có của quyền chọn, chúng dần trở thành các công cụ được sử dụng thường xuyên bởi các nhà đầu tư kinh doanh, theo xu thế phát triển của nền kinh tế tiên tiến và sự phổ biến của các sản phẩm phái sinh, về sau này, quyền chọn chính thức được xem như một loại hàng hoá và được nâng tầm giao dịch trên thị trường có tổ chức: thị trường quyền chọn

Trang 10

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Hệ thống thị trường quyền chọn hiện nay có nguồn gốc từ thế kỷ thứ 19, khi quyền chọn mua và chọn bán được chào bán đối với cổ phiếu Nhưng năm đầu tiên của thập niên 1900, một nhóm các công ty được gọi là Hiệp hội các Nhà môi giới

và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán đã thành lập thị trường các quyền chọn Mục đích của hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn, một thành viên của hiệp hội này sẽ tìm kiếm một người bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn Nếu công ty thành viên không thể tìm được người tự bán, tự công

ty sẽ bán quyền chọn Vì vậy, một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới - người mang người mua và người bán đến với nhau - hoặc là nhà kinh doanh - người thực hiện vị thế giao dịch

Tuy nhiên, thị trường quyền chọn phi tập trung này bộc lộ rõ nhiều khiếm khuyết Thứ nhất, do không có thị trường thứ cấp, thị trường này không cung cấp cho người nắm giữ quyền chọn cơ hội bán quyền chọn cho một người khác trước khi quyền chọn đáo hạn Các quyền chọn được thiết kế để được nắm giữ cho đến khi đáo hạn, và rồi thì chúng sẽ được thực hiện hoặc để cho hết hiệu lực Vì vậy, hợp đồng quyền chọn có rất ít, thậm chí không có tính thanh khoản Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng của người bán chỉ được đảm bảo bởi công ty môi giới kiêm kinh doanh Nếu người bán hoặc công ty thành viên của Hiệp hội các Nhà môi giới

và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán bị phá sản, người nắm giữ quyền chọn coi như tổn thất hoàn toàn Thứ ba, phí giao dịch tương đối cao, một phần cũng do hai nguyên nhân kể trên

Năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền chọn Sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) - sàn giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hoá, đã tổ chức một sàn giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu Sàn giao dịch này được đặt tên là Chicago Board Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977

Trang 11

CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn Bằng cách tiêu chuẩn hóa các ký hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường Nói cách khác, một nhà đầu tư đã mua hoặc bán một hợp đồng quyền chọn trước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu Tuy nhiên, quan trọng nhất, CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Vì vậy, không giống như trên thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng

Tiếp theo đó, thị trường chứng khoán Mỹ (AMEX) và thị trường chứng khoán Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975, thị trường chứng khoán Pacific (PSE) thực hiện giao dịch vào năm 1976 Khoảng đầu thập niên 80, khối lượng giao dịch tăng lên nhanh chóng đến mức mà số lượng

cổ phiếu theo hợp đồng quyền chọn bán hàng ngày vượt quá khối lượng giao dịch

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York

Thập niên 80 cũng là giai đoạn phát triển đối với thị trường quyền chọn ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng giao sau ở Mỹ Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên Chicago Board Option Exchange bắt đầu giao dịch quyền chọn chỉ số chứng khoán của S&P100 và S&P500 Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính và thị trường chứng khoán New York giao dịch chỉ số NYSE Đa

số các thị trường đều giao dịch quyền chọn đối với các hợp đồng giao sau

Từ thời điểm đó, nhiều sàn giao dịch chứng khoán và gần như tất cả sàn giao dịch giao sau bắt đầu giao dịch quyền chọn Được kích thích bởi nhu cầu của công chúng về quyền chọn, ngành kinh doanh này đang tăng trưởng mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1987 Bị tổn hại bởi các cú sốc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân đã sử dụng quyền chọn trước đây đã tránh xa thị trường,

Trang 12

Mặc dù các giao dịch của các định chế trên sàn giao dịch quyền chọn vẫn tương đối mạnh sau vụ sụp đổ, một xu hướng đồng thời tồn tại đã buộc các sàn giao dịch phải đương đầu với một mối đe doạ cạnh tranh mới, đó là sự hồi sinh của các thị trường quyền chọn phi tập trung Vào đầu thập niên 1980, nhiều công ty bắt đầu

sử dụng hoán đổi tiền tệ và lãi suất để quản trị rủi ro Với các chuyển biến thuận lợi của thị trường phi tập trung thời đó, các công ty này bắt đầu tạo ra các hợp đồng phi tập trung khác như kỳ hạn và quyền chọn

Lúc này, các giao dịch quyền chọn trên thị trường phi tập trung được thoả thuận qua điện thoại nhiều hơn là trên sàn giao dịch Một bên đối tác thường là ngân hàng đầu tư, ngân hàng sẽ duy trì hạng mục đầu tư quyền chọn và bảo hộ bằng cách

sử dụng một số công cụ Bên còn lại là khách hàng của ngân hàng đầu tư như là các nhà quản lý quỹ đầu tư hoặc là những người chịu trách nhiệm về vốn và ngoại hối của các tập đoàn lớn Các giao dịch quyền chọn này thường phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu cho các loại khách hàng của ngân hàng đầu tư

Vì định mức tối thiểu của mỗi giao dịch khá lớn và có rủi ro tín dụng, công chúng không thể tham gia vào thị trường phi tập trung mới hồi sinh này Tuy nhiên,

sự phát triển của thị trường phi tập trung của các định chế đã gây áp lực nặng nề lên các sàn giao dịch quyền chọn Vào đầu thập niên 1990, các sàn giao dịch cố gắng trở nên sáng tạo hơn để giành lại thị phần giao dịch và kích thích mối quan tâm của công chúng đối với quyền chọn Tuy nhiên, các xu hướng này không có nghĩa là quyền chọn đang mất dần tính đại chúng Thật ra, chúng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết đối với các định chế tài chính và doanh nghiệp, nhưng mức tăng trưởng thì tập trung ở các thị trường phi tập trung

1.3.2 Cấu trúc cơ bản của thị trường quyền chọn

Như đã đề cập, các giao dịch quyền chọn hoàn toàn không bị bó hẹp trong các sàn giao dịch tập trung Tuy nhiên, một cấu trúc thị trường quyền chọn được chuẩn hoá vẫn là mối quan tâm hàng đầu đối với tất cả các nhà đầu tư, qua đó, họ có

Trang 13

Đối với thị trường phi tập trung, một số định chế nhất định, có thể là ngân hàng hay các công ty môi giới, sẵn sàng đứng ra tạo lập thị trường quyền chọn Còn thị trường quyền chọn được niêm yết trên sàn được tạo ra bởi sàn giao dịch quyền chọn - là một pháp nhân mà các thành viên là cá nhân hoặc pháp nhân, mỗi thành viên được gọi là một seat Cho dù cấu trúc tổ chức của sàn giao dịch là không giống nhau, nhưng cơ bản bao gồm:

1.3.2.1 Hàng hóa, cung và cầu

Trong thị trường hàng hoá thông thường, các nhà khinh doanh mua bán, trao đổi các loại hàng hoá vật chất, tài sản thực Trong thị trường chứng khoán, các bên mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu , là mua bán những khoản vốn để trở thành chủ sở hữu hay chủ nợ Còn trên thị trường quyền chọn, hàng hoá là các sản phẩm phái sinh, tức là một công cụ phụ thuộc vào giá trị của một hay một số hàng hoá khác cách ly sản phẩm gốc một vài cấp - hợp đồng quyền chọn Các bên trong thị trường phái sinh mang danh nghĩa là giao dịch một số hàng hóa nhất định nhưng thực ra trong nhiều trường hợp, họ không cần phải thực sự sở hữu hoặc trao đổi tiền

- hàng đối với các loại hàng hóa đó Họ chỉ “mượn” giá trị của các hàng hóa cơ sở

để mua đi bán lại với mục đích bảo hộ hoặc kiếm lời Chẳng hạn trường hợp các nhà đầu tư lập các hợp đồng quyền chọn về nông sản, dầu mà không chờ mong một sự giao nhận hàng như cam kết trong hợp đồng, họ chỉ dùng nó nhằm mục đích bảo hộ rủi ro Tương tự, đối với những mặt hàng cao cấp hơn trong thị trường quyền chọn như ngoại tệ, lăi suất, chỉ số chứng khoán…, các nhà đầu tư không nhằm mục đích cuối cùng là mua - bán và tiến hành giao nhận những hàng hóa đó

mà họ lập hợp đồng quyền chọn về nó để kiếm được tiền từ sự chênh lệch giá mua bán nhằm mục đích bảo hộ hay đầu cơ Như vậy, hoạt động chủ yếu trên thị trường quyền chọn là bỏ tiền ra để đầu tư vào giá cả của một loại hàng hóa để kiếm lời Nhưng không dừng lại ở chỗ là một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, quan hệ mua bán này được nâng lên một tầm cao mới, được tổ chức quy cũ tại các

Trang 14

1.3.2.2 Nhà tạo lập thị trường:

Một cá nhân mua một seat (gọi nôm na là quyền được tham gia thị trường) trên sàn giao dịch có thể đăng ký để trở thành nhà tạo lập thị trường hay môi giới trên sàn Nhà tạo lập thị trường chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của công chúng đối với quyền chọn Khi một nhu cầu mua hay bán quyền chọn nhưng không kiếm được người bán hay mua, nhà tạo lập thị trường sẽ thực hiện giao dịch đó để đảm bảo tính thực hiện ngay lập tức của thị trường

Nhà tạo lập thị trường về bản chất là một doanh nghiệp Để tồn tại, nhà tạo lập thị trường phải tạo ra lợi nhuận bằng cách mua vào ở một mức giá và bán ra với một mức giá cao hơn, thực hiện thông qua việc yết giá hỏi mua và chào bán, là các mức giá cao nhất và giá thấp nhất mà nhà tạo lập thị trường chấp nhận mua hay bán quyền chọn

Các nhà tạo lập thị trường sử dụng đa dạng các biện pháp kỹ thuật để giao dịch quyền chọn sao cho có lợi nhuận Nhiều người quan sát các nhân tố cơ bản, điều kiện kinh tế và biểu hiện của Công ty Một số dựa vào phân tích kỹ thuật từ các

dữ liệu lịch sử, hoặc đơn giản chỉ dựa vào trực giác và kinh nghiệm

1.3.2.3 Các nhà môi giới

Môi giới sàn giao dịch là một dạng nhà kinh doanh khác trên sàn giao dịch Nhà môi giới trên sàn thực hiện các giao dịch cho các thành viên của công chúng Nếu một người nào đó muốn mua hay bán một quyền chọn, cá nhân người đó phải thiết lập một tài khoản tại công ty môi giới Công ty này phải thuê một nhà môi giới trên sàn, hoặc hợp tác với nhà môi giới độc lập hay nhà môi giới sàn giao dịch của các công ty khác

Trang 15

Nhà môi giới trên sàn thực hiện các lệnh của những người không phải là thành viên (để nhận mức lương thuần hay hoa hồng trên mỗi lệnh giao dịch thành công) Nhà môi giới trên sàn thường không cần quan tâm đến việc giá tăng hay giảm, tuy nhiên, một nhà môi giới giỏi sẽ tận dụng các khả năng để đạt được mức giá tốt nhất cho khách hàng của mình

1.3.2.4 Trung tâm thanh toán

Sau khi các giao dịch được thực hiện, trung tâm thanh toán - Công ty thanh toán bù trừ trên quyền chọn - là một công ty độc lập đảm bảo cho việc thực hiện của người bán Công ty thanh toán bù trừ trên quyền chọn là trung gian trong mỗi giao dịch Người mua sẽ thực hiện quyền chọn không hướng vào người bán mà hướng vào trung tâm giao dịch Người bán quyền chọn được thực hiện chi trả hoặc giao chứng khoán cho trung tâm giao dịch Mỗi thành viên của Công ty thanh toán bù trừ trên quyền chọn, được gọi là công ty thanh toán, có mở một tài khoản tại Công ty thanh toán bù trừ trên quyền chọn Các nhà tạo lập thị trường phải thanh toán tất cả các giao dịch thông qua một công ty thành viên, cũng như mỗi công ty môi giới, mặc dù trong một số trường hợp một công ty môi giới có thể đồng thời là một công

ty thanh toán

1.3.2.5 Hệ thống giám sát, kiểm soát

Ở Mỹ, ngành kinh doanh quyền chọn giao dịch trên sàn được quản lý theo nhiều cấp độ Mặc dù các quy định của liên bang và từng bang giữ vai trò lớn nhất, ngành kinh doanh này cũng tự quản lý thông qua các quy tắc và chuẩn mực, được thiết lập bởi sàn giao dịch và Công ty thanh toán bù trừ trên quyền chọn Công ty này cũng quản lý các thành viên của mình để giúp đảm bảo tất cả các hoạt động trên thị trường quyền chọn là phù hợp và không tạo ra rủi ro đối với sự tồn tại của thị trường

Bên cạnh đó, SEC (the US Securities and Exchange Commission)là cơ quan quản lý chính của thị trường quyền chọn ở Mỹ SEC là một tổ chức liên bang được thiết lập vào năm 1934 để giám sát lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, quyền chọn và quỹ đầu tư Mục tiêu chung của SEC là đảm bảo

Trang 16

Bên ngoài nước Mỹ, ngành kinh doanh quyền chọn được quản lý bởi cơ quan quản lý của chính phủ liên bang Ở hầu hết các nước, quyền chọn và hợp đồng giao sau được quản lý bởi các cơ quan liên bang giống nhau với mục tiêu chính là bảo vệ các nhà đầu tư

Như vậy, có thể khẳng định rằng, thuật ngữ "Quyền chọn" không hề xa lạ trong hệ thống lý thuyết đồ sộ của nền kinh tế Cũng như một số sản phẩm phái sinh khác, dưới các hình thức thể hiện đa dạng và linh hoạt của mình, Quyền chọn gắn

bó mật thiết với đời sống kinh tế xã hội loài người từ quá khứ, hiện tại đến cả tương lai Bằng những lý luận và chứng minh khoa học, Quyền chọn được khẳng định là một công cụ phòng ngừa rủi ro hết sức hiệu quả, đáp ứng được hầu hết mọi khẩu vị của các nhà đầu tư và kinh doanh, đặc biệt đối với những ngành nghề, chủng loại hàng hóa mang nhiều yếu tố rủi ro

Đối với quyền chọn chứng khoán, từ khi được xây dựng một cách quy mô và bài bản, thị trường sản phẩm bậc cao này đã thể hiện tính hiệu quả và năng động của mình song song với thị trường chứng khoán cơ sở Quyền chọn cổ phiếu đã mở

ra cho các nhà đầu tư một thế giới phong phú những chiến thuật đầy thú vị, dựa trên sở thích, tính nhạy bén và thông minh của mỗi người Lịch sử cũng đã đánh dấu thời kỳ mà thị trường sản phẩm chứng khoán phái sinh phát triển qua mặt cả thị trường chứng khoán cơ sở, chứng tỏ khả năng và ưu điểm ghê gớm của nó đối với thị trường tài chính đương đại

Trang 17

Chương 2

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM -

THỊ TRƯỜNG NHIỀU RỦI RO

Từ quy mô ban đầu với hai công ty niêm yết có vốn điều lệ tổng cộng khoảng 270 tỷ đồng, đến cuối tháng 9 năm 2006, thị trường niêm yết chứng khoán Việt Nam (Hà Nội và TP.HCM) đã bao gồm 63 loại cổ phiếu, một chứng chỉ quỹ, với tổng giá trị vốn hoá thị trường gần 55.000 tỷ, bằng 6,5% GDP cả nước (nguồn:

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - ngày 29/09/2006)

2.1 THĂNG TRẦM CỦA VN-INDEX

Mặc dù đã đạt được những bước tiến dài và có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, xét về góc độ quy mô thì thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ

bé so với khu vực và trên thế giới, tổng mức vốn hoá thị trường hơn 3,4 tỷ USD, rất khiêm tốn so với thị trường chứng khoán Thái Lan: 119 tỷ USD, Trung Quốc: 681

tỷ USD, Nhật: 3.040 tỷ USD và Mỹ: 14.266 tỷ USD Mặt khác, nếu như quá trình cải cách tài chính ở những nền kinh tế chuyển đổi khác như Đông Âu, Trung quốc ghi nhận sự ra đời từ rất sớm của thị trường chứng khoán (năm 1990 ở Hungary - Thị trường chứng khoán Budapest; năm 1992 ở Trung Quốc - Thị trường chứng khoán Thượng Hải; năm 1993 ở Ba Lan - Thị trường chứng khoán Varsovie và Tiệp Khắc - Thị trường chứng khoán Praha) thì Việt Nam mãi đến năm 2000 mới hình thành được thị trường chứng khoán, sự ra đời muộn màng gắn liền với quá trình cải cách tài chính và cổ phần hoá diễn ra hết sức chậm chạp đã tạo ra rất nhiều hệ luỵ khiến hệ thống tài chính Việt Nam khó đáp ứng xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh

tế, trong đó bao gồm công tác hình thành và phát triển các sản phẩm tài chính phái sinh trong tương lai

Điểm qua tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam từ ngày đầu thành lập đến ngày 29/09/2006, biểu đồ biến động của chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch được thể hiện như sau:

Trang 18

(nguồn: Công ty Chứng Khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam)

Từ phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đã thể hiện tính hấp dẫn của một môi trường đầu tư mới khi chỉ số VN-Index tăng liên tục từ 100 điểm lên 571,04 điểm trong phiên giao dịch thứ 137 ngày 25/06/2001, với tổng khối lượng khớp lệnh là 2,681 triệu cổ phiếu, đạt giá trị 23,571 tỷ đồng, đánh dấu đỉnh điểm của đợt sốt nóng lần thứ nhất trên thị trường

Tuy nhiên ngay sau đó, sự phấn khích của nhà đầu tư nhanh chóng chuyển thành nỗi ám ảnh kinh hoàng khi chỉ số VN-Index bắt đầu tuột dốc không phanh trong suốt giai đoạn từ tháng 07/2001 đến tháng 10/2001, bắt đầu thời kỳ ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong một thời gian dài từ tháng 11/2001 cho đến tháng 10/2005 Trong giai đoạn này, mốc đánh dấu sự khủng hoảng được thể hiện trong phiên giao dịch thứ 652 ngày 24/10/2003 với tổng giá trị giao dịch trên thị trường chỉ còn 1,782 tỷ đồng

Vào những tháng đầu năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam chuyển mình tăng trưởng trở lại, VN-Index từ khoảng hơn 300 điểm vào cuối năm 2005 liên tục tăng đến 623,69 điểm ở phiên giao dịch 1276 ngày 25/04/2006, đỉnh điểm

phiên 1 phiên 1386 VN-INDEX K.L (10CP)

Trang 19

Tiếp tục điệp khúc thăng trầm, VN-Index sau đó cũng nhanh chóng hạ nhiệt

và chỉ còn 399 điểm vào ngày 01/08/2006, làm chao đảo các nhà đầu tư trong và ngoài nước trước khi tăng trở lại hơn 500 điểm vào phiên 1376 ngày 15/09/2006

Trong môi trường khá ổn định về kinh tế và chính trị những năm đầu thế kỷ

ở nước ta, sự biến động thất thường của thị trường chứng khoán Việt Nam đã phản ánh được bản chất kém cỏi và non yếu của mình Trong khi ở những nước phát triển khác, thị trường chứng khoán đóng vai trò nòng cốt trong quá trình vận hành và phát triển của thị trường tài chính, là "hàng thử biểu" của nền kinh tế, sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng thể hiện tính vận hành cục bộ, không theo nguyên tắc, quy luật của một thị trường bình thường, vượt ngoài sự suy đoán của các chuyên gia và kỳ vọng của các nhà đầu tư

Có ý kiến cho rằng, nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam chẳng khác nào tham gia vào một canh bạc, ở đó việc thắng thua mang nhiều yếu tố may rủi chứ chưa hẳn đã dựa vào tiềm năng phát triển của một doanh nghiệp niêm yết nào Nhận định nghe có vẻ phiến diện này cũng phần nào phản ánh được tính chất cốt lõi của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, thị trường quá nhiều rủi ro

2.2 CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VN

2.2.1 Tâm lý và trình độ của công chúng đầu tư

Các đợt sốt giá đầu năm 2001 cho thấy phần nào tính hấp dẫn của một thị trường non trẻ tạo ra các làn sóng đầu tư đón đầu vào thị trường chứng khoán Việt Nam Những nhà đầu tư tiên phong “có công” làm bật lên thị trường trong giai đoạn đầu hầu như là giới thạo nghề, gồm những người và tổ chức trong và ngoài nước có kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính và nhạy bén, có mục tiêu và chiến lược đầu tư rõ ràng và chủ động, có ý đồ đầu tư dài hạn Tuy nhiên, trong quá trình sưu tập cổ

Trang 20

Như là quy luật, thị trường sôi động và giá tăng liên tục ấy đã nhanh chóng cuốn hút một làn sóng đầu tư mới khác, đó là đại bộ phận công chúng đang nắm giữ

số vốn nhàn rỗi khá lớn, kèm theo nhận định chán nản với thị trường bất động sản đóng băng suốt thời gian dài, muốn thử thánh thời vận trên thị trường tài chính có mức sinh lợi hấp dẫn, tham gia dễ dàng Tâm lý đầu tư theo số đông nổi bật trong thị trường chứng khoán thì đặc điểm này đã bộc lộ rõ nhất trong nhóm công chúng như thế này Không chấp nhận việc thua lỗ ở giai đoạn ngắn hạn, cùng với việc mua bán đơn thuần chỉ dựa vào cảm tính và theo xu hướng, điều tất yếu xảy ra khi thị trường đảo chiều là sẽ có một làn sóng bán tháo cổ phiếu, là nguyên nhân chính gây

ra xu thế ồ ạt giảm giá trên thị trường, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán

Theo nhận định của các chuyên gia, trong số hơn 60.000 tài khoản mở tại các công ty chứng khoán hiện nay, có lẽ không quá 1/5 số người có kiến thức và hiểu biết sâu sắc về thị trường chứng khoán, do đó, ảnh hưởng của tâm lý “bầy đàn” lên

sự biến động dữ dội của chỉ số VN-Index là rất lớn Đối với các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và trình độ, dường như cách thức mua bán chứng khoán thường thiên

về "mua cao và bán thấp" thông qua việc mua nhanh chờ giá lên và bán nhanh vì sợ giá còn giảm Ở nhóm nhà đầu tư này, khả năng phân tích tình hình tài chính, đánh giá các chỉ số hoạt động của doanh nghiệp rất hạn chế, đưa đến hệ quả là những lệnh giao dịch của họ vô tình làm thị trường chao đảo, tuy trong thời gian ngắn nhưng cũng phần nào làm mất phương hướng của các nhà đầu tư cũ và tạo ra tâm lý

e dè cho các nhà đầu tư mới muốn tham gia vào thị trường

Trong giai đoạn tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam tháng 04/2006, một ví dụ điển hình là giao dịch của cổ phiếu Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) Ở thời kỳ này, giá cổ phiếu BBT liên tục được đẩy mạnh từ mức 11.000 đồng/cổ phiếu lên đến hơn 22.000 đồng/cổ phiếu chỉ trong vài tuần Nhà đầu tư đổ xô mua vào bất chấp tình hình tài chính quý một của doanh nghiệp

Trang 21

Việc nghiên cứu, đánh giá giá trị cổ phiếu đòi hỏi những kiến thức nhất định

và đầu tư đúng mức Với khả năng hạn chế của một số nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường hàng hoá bậc cao này, dẫn đến việc đầu tư ồ ạt theo xu hướng, gánh lấy thua lỗ là một kết quả hoàn toàn tất yếu

Số lượng các công ty niêm yết có khả năng tài chính tốt còn khiêm tốn, tính tới tháng 09/2006, chỉ mới có 63 công ty cổ phần trong số hơn 5000 công ty cổ phần của cả nước tham gia vào thị trường chứng khoán là một con số rất khiêm tốn

so với khả năng của nền kinh tế và của các nhà đầu tư Nguyên nhân của tình trạng này là do “chúng ta chưa gắn kết được tiến trình cổ phần các doanh nghiệp nhà nước với việc phát hành chứng khoán ra công chúng và niêm yết, chưa có các doanh nghiệp lớn làm ăn có hiệu quả niêm yết trên thị trường chứng khoán Cũng chính vì điều này làm cho thị trường dễ bị tổn thương, nhất là mỗi khi có những sự kiện xảy ra từ phía các công ty niêm yết” (Trích lời ông Trần Xuân Hà - Cựu Phó Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán nhà nước)

Thêm vào đó, trong tổng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường, còn rất nhiều cổ phiếu nằm trong tay cổ đông Nhà nước, cổ đông là thành viên hội đồng quản trị, cổ đông chiến lược của mỗi công ty…, đây là số cổ phiếu không thể giao dịch được hàng ngày Thực tế, tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trong một số công ty như Vinamilk, Sudico, Thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh… lên tới trên 51%; tỷ lệ

Trang 22

nắm giữ của các thành viên hội đồng quản trị và nhà đầu tư chiến lược ở một số công ty khác vào khoảng 30% -50% Con số này cho thấy, khối lượng cổ phiếu thực

sự được giao dịch ít ỏi đến thế nào Ngoài việc khó thu hút những khách hàng lớn - những quỹ đầu tư tiếng tăm của thế giới, tầm vóc bé nhỏ tất yếu sẽ dễ biến động thất thường bởi các khách hàng từ cá nhân đến tổ chức

2.2.3 Thị trường thiếu thông tin

Ngày 31/3 và 3/4/2006, Ủy ban Chứng khoán đã có hai văn bản, gửi các Trung tâm giao dịch chứng khoán và gửi Ngân hàng Nhà nước Cả hai đều nhắc nhở về những rủi ro tiềm ẩn của thị trường và khuyến nghị các nhà đầu tư thận trọng Thông thường các thông tin trên thị trường chứng khoán hiện nay là tư vấn của những tổ chức chuyên môn, tuy nhiên, họ lại rất dè dặt trong những tình huống nhạy cảm và không đưa ra những khẳng định chắc chắn vì mục tiêu uy tín của mình

Nhận định từ phía các công ty chứng khoán, từ trước đến nay các công ty này chỉ nhận thông tin định hướng thị trường hoặc những thông tin về các công ty niêm yết từ trung tâm chứng khoán dưới dạng “thô” Bản thân công ty muốn xử lý những thông tin này qua việc phân tích, bình luận, diễn giải cho nhà đầu tư hiểu thêm cũng không dám vì sợ bị khiển trách Thực tế, không có công ty chứng khoán nào dám phân tích những rủi ro hoặc lợi nhuận kém của doanh nghiệp đã có cổ phiếu niêm yết Do vậy, người đầu tư phải tự tiên liệu, định hướng đầu tư và coi như vai trò tư vấn của công ty chứng khoán bị triệt tiêu

Đối với những dữ liệu của các công ty niêm yết, theo luật, những thông tin này phải được kiểm toán Tuy nhiên, trong giai đoạn thị trường đang sốt thì ít nhà đầu tư để ý nhiều đến những thông tin này, bên cạnh khả năng hiểu hết được những thông tin này không phải ai cũng có Mặt khác, giới đầu tư cho rằng, báo cáo hằng tháng theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán không có ý nghĩa do mức độ sai số của các chỉ tiêu tạm tính, ngay cả bản cáo bạch hoặc báo cáo tài chính của các công

ty niêm yết cũng không rõ ràng và thường không phản ánh đúng thực chất hoạt động của công ty hiện nay

Trang 23

2.2.4 Thủ thuật làm giá từ giới đầu cơ

Tiềm năng dồi dào về vốn của thị trường còn non trẻ có thể được ví như mảnh đất màu mỡ cho giới đầu cơ chứng khoán, một số cá nhân hoặc tổ chức với số tiền nhàn rỗi lớn, bằng cách này hay cách khác đã thao túng thị trường trong một khoảng thời gian dài, nhất là trong giai đoạn các nhà đầu tư nước ngoài hay các quỹ tài chính còn chưa mặn mà với chứng khoán Việt Nam, kiếm lời dựa vào sự kém hiểu biết và tâm lý bầy đàn của các nhà đầu tư trong nước

• Bán giá sàn tạo tâm lý hoảng loạn: Đây là cách các nhà đầu cơ thường sử dụng khi họ muốn mua cổ phiếu ở giá rẻ hơn so với giá thị trường Với việc chủ động bán cổ phiếu giá sàn ào ạt ở một tài khoản để tạo tâm lý hoảng loạn nơi các nhà đầu tư nhỏ Khi thị trường tung ra bán theo xu hướng thì nhà đầu

cơ sẽ dùng tài khoản khác (trong hệ thống tài khoản của mình) ung dung mua lại số cổ phiếu do chính mình vừa đặt bán và thu mua thêm cổ phiếu của các nhà đầu tư khác bán ra ở giá rẻ

• Mua giá trần tạo tâm lý hưng phấn: Khi muốn bán được cổ phiếu ở giá cao, các nhà đầu cơ thực hiện kịch bản ngược lại, hỏi mua giá cao nhằm tạo tâm

lý hưng phấn cho các nhà đầu tư khác Khi thấy một lượng lớn cổ phiếu được đặt mua giá trần, nhà đầu tư kỳ vọng một thông tin tốt và mua theo Khi đó,

"đại gia" sẽ dùng tài khoản khác bán dần cổ phiếu ra cho đến khi nào đạt được kết quả mong muốn

• Rải đinh che giá mua thật: là thủ thuật để mua được giá tốt nếu không muốn mua trần Đặt 3 lệnh ở 3 mức giá cao nhất, mỗi lệnh chỉ mua 1 lô Khi đó toàn bộ các lệnh mua khác bị che khuất, vì bảng điện tử chỉ cho phép hiện 3 mức giá mua cao nhất Phía sau những thông số giả trên bảng điện là các giao dịch thực sự của những nhà đầu cơ thị trường

• Rải đinh che giá bán thật: Ngược lại, nhà đầu cơ sẽ đặt bán ở 3 mức giá sàn thấp nhất, khiến các lệnh bán khác bị che lấp hoàn toàn, từ đó có thể bán được giá tốt, nếu không muốn bán giá sàn

Trang 24

2.2.5 Hiệu ứng lạm phát giá chứng khoán

Việc khả năng tăng trưởng kỳ vọng của toàn bộ thị trường cao hơn mức tăng trưởng trong quá khứ có thể được giải thích bằng việc nền kinh tế Việt Nam đang thể hiện những dấu hiệu khá rõ nét về khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, hay việc chúng ta có xuất phát điểm thấp nên khả năng phát triển cao là dễ dàng Tuy nhiên, tìm ra câu trả lời cho sự khác biệt hay có thể nói là sự bất thường trong

tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng của các công ty niêm yết trong mối tương quan so sánh với nhau là không đơn giản

Việc tăng giá mạnh mẽ trong thời gian qua của các công ty vốn không được đánh giá cao dường như đang theo đúng một kịch bản đã từng diễn ra tại các nước xung quanh Việt Nam là Thái Lan và Trung Quốc trước mỗi lần suy thoái của thị trường Đó là việc giá cổ phiếu của các công ty làm ăn hiệu quả tăng mạnh trong một thời gian dài đã kéo theo sự tăng giá cổ phiếu của các công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả Sự tăng giá này thường được đẩy lên mức mà giá chứng khoán của các công ty làm ăn không hiệu quả lại cao hơn nhiều so với giá của các công ty làm ăn hiệu quả, xét trên mối tương quan với khả năng sinh lời trong quá khứ

Giá cổ phiếu hiện tại ở Việt Nam cao hay thấp, không ai có thể đưa ra một lời giải thích được tất cả mọi người chấp nhận Nếu chỉ xét trên hệ số P/E mà so sánh với các thị trường khác trong những thời điểm khác nhau thì việc chỉ số VN-Index có tăng thêm vài trăm điểm nữa cũng chưa chắc đã trở thành vấn đề cần đặc biệt quan ngại Vấn đề đáng lưu tâm không phải là giá quá cao mà chính là giá đã tăng quá nhanh Suy luận một cách đơn giản như trong trường hợp phải đối mặt với tình trạng lạm phát phi mã, người tiêu dùng mua bất kể hàng hoá gì mà họ tìm thấy, không cần biết loại hàng đó có thực sự là tốt hay có ích đối với mình hay không Lạm phát không cho phép người tiêu dùng thời gian để suy xét, đơn giản chỉ vì nếu không mua hôm nay thì ngày mai giá sẽ tăng Giá cả trên thị trường chứng khoán vừa qua cũng thể hiện một trạng thái tương tự

Trang 25

Khởi đầu cho sự sụt giảm của VN-Index trong đợt tuột giá lần thứ hai (quý 3 năm 2006) là tác động không mong muốn của 2 cổ phiếu lớn mới lên niêm yết, Sacombank và Thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (VSH) Đối với VSH, có lẽ tâm lý đón đầu những cổ phiếu sẽ giao dịch trên sàn TP HCM cộng với kết quả kinh doanh 2 quý đầu năm 2006 khả quan hơn cùng kỳ năm 2005, đã đẩy cổ phiếu này tăng giá mạnh, từ mức hơn 10.000 đồng lên tới hơn 30.000 đồng/cổ phiếu Do đó, việc điều chỉnh giá đối với VSH là điều tất yếu Còn đối với Sacombank, do quá trình tăng vốn quá nhanh từ mức 740 tỷ đồng vốn điều lệ năm 2005, nay tăng lên gần 2.000 tỷ đồng và có kế hoạch tiếp tục tăng vốn điều lệ, trong khi kết quả kinh doanh chưa thể tăng kịp với tốc độ tăng vốn điều lệ mà giá thì liên tục tăng sau mỗi lần phát hành thêm cổ phiếu mới với giá ưu đãi, nên việc giảm giá cũng là điều tất yếu, khi so sánh tương quan với sự sụt giảm của các cổ phiếu khác

2.2.6 Hệ thống quản lý, giám sát thị trường chưa hiệu quả

Sau Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định số 22/2000/NĐ-CP, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện được điều chỉnh bằng hai nghị định mới là Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Nghị định 161/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán cùng với một hệ thống các thông tư, quy chế hướng dẫn của Bộ Tài chính

Tuy nhiên, vì chứng khoán là một lĩnh vực mới mẻ lại nằm trong quá trình hoàn thiện, nên các quy định hiện hành còn nhiều kẽ hở mà giới nhà đầu tư có thể tận dụng để “lách” một cách dễ dàng

Từ thực tế trên cho thấy, không phải bây giờ mà ngay từ khi thị trường chứng khoán mới ra đời, nhà đầu tư đã biết cách sử dụng nhiều tài khoản để thu lợi Hiện nay, dù quy định pháp lý đã được hoàn thiện hơn một bước, nhưng nếu một cá nhân hay một tổ chức có ý định thâu tóm cổ phiếu doanh nghiệp để kinh doanh thì

họ không dại gì mở một tài khoản (chỉ trừ khi họ có ý định công khai để tham gia vào Hội đồng quản trị), bởi cách làm này vừa phải qua nhiều thủ tục, vừa phải chào mua công khai và phải sau 6 tháng mới được bán Họ chỉ cần mở nhiều tài khoản với các tên khác nhau ở một hay nhiều công ty và mua với khối lượng cổ phiếu dưới

Trang 26

5% (tức là 4,99 %) là có thể thâu tóm một lượng cổ phiếu rất lớn, mà không phải tuân theo các quy định trong Nghị định Đây là cách “lách luật” hết sức sơ đẳng mà nhà quản lý không thể kết tội được đối tượng thực hiện

Dưới góc nhìn của nhà đầu tư, rõ ràng, điều khoản nêu trên khó có thể thực hiện theo cách mà nhà quản lý mong muốn Thông thường, khi một cá nhân hay một tổ chức muốn kiếm lợi nhuận trên thị trường chứng khoán thì việc đầu tiên là

họ không muốn “xuất đầu lộ diện” Việc chào mua hay chào bán công khai sẽ tạo làn sóng tâm lý làm thay đổi cán cân cung - cầu trên thị trường, như vậy sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong việc kinh doanh Thêm nữa, đối với những người mua vì mục tiêu kinh doanh, họ không thể đợi sau 6 tháng mới được bán, vì thời cơ kiếm lợi nhuận đâu có tuân theo ý muốn chủ quan của ai

Những người quan sát kỹ thị trường chứng khoán đều nhận thấy, thời gian qua, có một khối lượng mua, bán cổ phiếu rất lớn từ một tổ chức có tiềm lực mạnh

về tài chính, gây ra những cơn chao đảo giá cả, nhưng các nhà giám sát, quản lý đã không đủ khả năng hoặc không có công cụ để phát hiện Điều này cũng chứng tỏ rằng, khối lượng tiền và cổ phiếu được mua -bán không nằm trong một, hai tài khoản, mà nằm trong nhiều tài khoản và các tài khoản này có thể cùng hoạt động trong một phiên giao dịch

Bên cạnh đó, rất khó để xác định đâu là hành vi mua bán bình thường, đâu là hành vi mua bán giả tạo, vi phạm luật trên thị trường chứng khoán Việc xác định được các hành động thao túng trên thị trường rất phức tạp, ngay cả ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển Do đó, muốn Luật Chứng khoán có khả năng thực thi cao cần phải quan tâm đầy đủ đến việc đào tạo chuyên môn về chứng khoán cho đội ngũ thẩm phán Ở Việt Nam hiện nay, việc thanh tra, giám sát, quản lý giao dịch thuộc Trung tâm Giao dịch chứng khoán

Dưới góc nhìn của một nhà phân tích đầu tư, có thể thấy, nếu trên thị trường

có sự thao túng, lũng đoạn thì cũng khó mà chỉ ra được tài khoản nào, tên ai, tổ chức nào đang phạm luật, mặc dù quy định pháp luật có cụ thể, chi tiết đến đâu Lý

do là bản chất của việc phát hiện các hành vi thao túng, lũng đoạn không chỉ nằm

Trang 27

trong việc theo dõi thường xuyên các phiên giao dịch, cũng như kiểm soát các tài khoản được lưu trữ tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, mà nó nằm trong sự phân tích, nghiên cứu hàng ngày giá chứng khoán trên thị trường Muốn thực hiện được điều đó Phòng Quản lý, giám sát tại Trung tâm giao dịch chứng khoán phải là Phòng Phân tích thị trường Khi có các hiện tượng giao dịch bất thường là phải kiểm tra ngay các tài khoản tạo ra việc mua bán bất thường đó Thông thường mọi hành vi thao túng đều bắt đầu từ những hành vi bất thường Ví dụ, khi thị trường chứng khoán nằm trong chiều hướng đi ngang, tức là mua bán đang ở thế cân bằng, nếu không có thông tin tốt, xấu gì mà bên bán xuất hiện một lượng cổ phiếu bán ra rất lớn, liên tục kéo hàng loạt các nhà đầu tư bán ra theo phản ứng dây chuyền, thì

đó là một hành động bất thường

Trước các hành động thao túng giá cả của giới đầu cơ, vi phạm đạo đức chứng khoán, mua bán nội gián…làm tăng nguy cơ lũng đoạn thị trường, hệ thống giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đã được thiết lập nhưng hoạt động chưa thực sự hiệu quả, chưa có hệ thống chỉ tiêu giám sát Bên cạnh đó năng lực giám sát, các chế tài cưỡng chế hành vi vi phạm còn hạn chế; các văn bản pháp luật khác có liên quan như luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thanh tra, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính… chưa quy định rõ thẩm quyền và chưa

có các quy định rõ ràng về các hành vi vi phạm trong hoạt động chứng khoán Công tác phổ biến, quán triệt các quy chế chính sách đối với hoạt động của thị trường chứng khoán tuy đã được tổ chức thực hiện nhưng chưa được sâu rộng nên ý thức chấp hành chưa cao Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý còn chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa nắm chắc nghiệp vụ nên kết quả kiểm tra còn hạn chế

Tuy nhỏ bé về quy mô và còn nhiều yếu tố cản trở phát triển, nhưng chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của thị trường chứng khoán cho thị trường tài chính trong nước thời gian vừa qua Để có thể thực hiện tốt vai trò trong

xu thế hội nhập của mình, thị trường chứng khoán Việt Nam, ngay lúc này, cần triển khai nghiên cứu và ứng dụng mô hình giao dịch các công cụ chứng khoán phái sinh, như là một chất xúc tác cho quá trình phát triển năng động trong tương lai

Trang 28

Chương 3

XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN CỔ

PHIẾU Ở VIỆT NAM

Đối với Việt Nam, sự cần thiết thành lập một thị trường quyền chọn cổ phiếu càng có ý nghĩa quan trọng hơn nữa khi thị trường chứng khoán chưa phát huy vai trò nòng cốt của mình và tạo ra sân chơi lành mạnh cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, "Options", "Futures" vẫn dường như là những thuật ngữ xa lạ đối với đại bộ phận công chúng đầu tư và các nhà kinh doanh Việt Nam Suốt thời gian qua, một số ngân hàng đã nổ lực rất lớn trong công tác tiếp cận và phát triển sản phẩm quyền chọn ngoại tệ, vàng đến các doanh nghiệp Việt Nam nhưng kết quả còn quá khiêm tốn trong điều kiện của nền kinh tế hiện nay

Như vậy, với các rủi ro trên thị trường chứng khoán hiện nay, một thị trường

"sản phẩm phái sinh chứng khoán Việt Nam" là nhu cầu mang tính cấp thiết Việc xây dựng một thị trường tài chính mới mẻ này sẽ không thể thực hiện được nếu chúng ta không nghiên cứu học hỏi từ các thị trường đi trước, cùng với nhận thức

về ý nghĩa và tầm quan trọng khi ứng dụng vào thực tiễn ở nước ta

3.1 Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG

3.1.1 Tạo ra công cụ bảo vệ cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

Mặc dù đã có những bước chuyển mình mang tính tích cực, nhưng bản chất rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam - hệ thống và phi hệ thống - vẫn là mối

đe doạ tiềm tàng cho các nhà đầu tư

Bằng việc sở hữu quyền chọn, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể

cố định giá mua, bán chứng khoán của mình trong một khoảng thời gian nhất định (là thời gian hiệu lực của hợp đồng quyền chọn) Do đó, nếu biết vận dụng các kỹ thuật mua bán chứng khoán kết hợp với quyền chọn, các nhà đầu tư có thể hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán một cách hữu hiệu

Hơn nữa, việc kết hợp mua bán chứng khoán và các hợp đồng quyền chọn sẽ tạo ra những chiến lược tự bảo hiểm đồng vốn cho các nhà đầu tư - đối với chứng khoán riêng rẻ hay cả danh mục đầu tư - chống lại xu hướng giá cả biến động bất lợi

Trang 29

3.1.2 Đa dạng hoá cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư tài chính trong và ngoài nước

Chúng ta không phủ nhận mức phát triển về lượng và tăng trưởng về chất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, xét về quy mô và hiệu quả, thị trường chứng khoán mang thương hiệu Việt quá nhỏ bé so với khu vực và thế giới Việc cho ra đời các sản phẩm phái sinh chứng khoán sẽ có

ý nghĩa thiết thực cho xu hướng gia tăng số lượng và chất lượng hàng hoá trên thị trường, đồng nghĩa với việc gia tăng các cơ hội đầu tư tài chính ở Việt Nam

Đánh vào thu nhập khiêm tốn và tâm lý thận trọng của đa số bộ phận dân cư, các hợp đồng quyền chọn với chi phí đầu tư ban đầu tương đối ít xem ra rất phù hợp với nhu cầu đầu tư trong nước

3.1.3 Thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán

Với các ưu điểm của mình, hợp đồng quyền chọn là động lực vô hình thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi mà công chúng đầu tư - vốn dĩ vẫn e ngại với các rủi ro của thị trường - sẽ bắt đầu nhận thức và áp dụng các chiến lược phòng ngừa, dần trở nên khôn ngoan và mạnh dạn đổ vốn đầu tư vào chứng khoán

Kỳ vọng giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận qua các hợp đồng quyền chọn chắc chắn thu hút thêm nhiều nhà đầu tư và làm gia tăng mức cầu về chứng khoán, hoàn thiện về cơ cấu hàng hoá, giao dịch, làm tiền đề cho sự tiếp tục phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai

3.1.4 Ảnh hưởng tích cực đến các doanh nghiệp trong nước và nền kinh tế

Bằng các công cụ phòng ngừa rủi ro sẵn có trên thị trường, các công ty tài chính, quỹ đầu tư trong và ngoài nước, thậm chí cả các nhà đầu tư riêng rẽ sẽ dần thay đổi định kiến chỉ đầu tư ngắn hạn sang đầu tư dài hạn, phát huy vai trò là kênh huy động vốn hữu dụng của thị trường chứng khoán Việt Nam Kéo theo hệ quả

Trang 30

Đối với các công ty niêm yết, thị trường quyền chọn cũng là một trong những thước đo về hiệu quả hoạt động và uy tín trên thị trường Ngoài khối lượng

cổ phiếu, trái phiếu được giao dịch, các hợp đồng quyền chọn đã cho thấy mức độ đánh giá của giới đầu tư về bản thân doanh nghiệp, thông qua việc nhận định về mức độ an toàn khi nắm giữ cổ phiếu của đơn vị, từ đó, kích thích sự quan tâm của doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động, đánh bóng thương hiệu, lành mạnh hoá tài chính và cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh trong đơn vị

Đối với các công ty chứng khoán và các định chế tài chính khác, thị trường quyền chọn hợp đồng quyền chọn gia tăng cơ hội kinh doanh và kiếm lời trên các hoạt động giao dịch, hỗ trợ, tư vấn và thanh toán, góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện hoá hệ thống giao dịch, môi giới và tăng thu cho ngân sách Nhà nước trong tương lai

3.1.5 Thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam

Đến tháng 09/2006, đã có 19 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư gần 2 tỷ USD (trong đó, Dragon Capital: 600 triệu USD, VinaCaptital: 450 triệu USD, Indochina: 150 triệu USD, Vietnam Holding:

112 triệu USD ), các quỹ này đã rót vào Trung tâm chứng khoán TP.HCM tổng cộng 840 triệu USD Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay chỉ chiếm khoảng 1,2% vốn đầu tư trực tiếp, một con số còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực

Rất nhiều ngành nghề đòi hỏi được đầu tư công nghệ cao và vốn lớn nhưng chưa được phép gọi vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài như dịch vụ định giá doanh nghiệp, mua bán nợ, phát triển cơ sở hạ tầng, kiến trúc đô thị, hàng không, điện, nước v.v Ngoài ra, chính sách mở room (gia tăng tỷ trọng nắm giữ vốn trong doanh nghiệp) cho các nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30% và nay là 49% -

Trang 31

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp được thực hiện thông qua các định chế tài chính trung gian hoặc trực tiếp vào các công ty cổ phần Với các công cụ phòng ngừa rủi

ro trên thị trường vốn, nhà đầu tư, các định chế trung gian nước ngoài hoàn toàn có điều kiện mở rộng danh mục đầu tư, tiếp tục mạnh dạn rót vốn vào thị trường chứng khoán Do đó, để thu hút được nguồn vốn này, bên cạnh các điều kiện vĩ mô cơ bản như hoàn thiện hệ thống pháp lý, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước , công tác phát triển thị trường chứng khoán nói chung và thị trường phái sinh chứng khoán nói riêng là giải pháp cấp bách và phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay

3.1.6 Thúc đẩy nâng cao chiều sâu tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam

Thuật ngữ "chiều sâu tài chính" (finacial deepening) được nhà kinh tế học McKinnon đề cập rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về tự do hoá tài chính Theo ông, quá trình tự do hoá tài chính và việc áp dụng lãi suất thực dương là nguyên nhân dẫn đến chiều sâu tài chính thông qua việc phân tích tỷ số M3 cung tiền mở rộng đối với tổng sản phẩm quốc gia Theo đó, chỉ số M3/GNP càng cao thì chiều sâu tài chính của một quốc gia càng đáng kể

Tỷ số M3/GNP cao cho thấy một dòng vốn thực sự của các quỹ có khả năng cho vay trong nước dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư mới Chiều sâu tài chính thực chất là quá trình phát triển các trung gian tài chính, chẳng những bao gồm quá trình tự do hoá khu vực ngân hàng mà còn cao hơn thế nữa, nó liên quan đến việc phát triển một thị trường chứng khoán, cổ phiếu và trái phiếu năng động

Hiện nay, tỷ số M3/GNP chỉ thực sự cao đối với các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, đối với các nước đang phát triển, do thị trường chứng khoán phát triển khá chậm, thước đo tiêu chuẩn của chiều sâu tài chính được sử dụng là M2/GNP, chủ yếu đánh giá mức độ hiệu quả của hệ thống ngân hàng với tư cách là một định chế trung gian

Trang 32

Như vậy, việc phát triển thị trường chứng khoán phái sinh trong tương lai ở Việt Nam vừa đóng vai trò thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, vừa là tác nhân gián tiếp gia tăng tính năng động của thị trường chứng khoán, thông qua các chức năng phòng ngừa rủi ro, nâng cao tính thanh khoản của chứng khoán, tạo môi trường đầu tư hiệu quả Thị trường giao dịch các hợp đồng phái sinh chứng khoán khi được phát triển sẽ là một trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy nâng cao chiều sâu tài chính cho thị trường tài chính trong nước

3.2 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.2.1 Những thuận lợi

3.2.1.1 Tiềm năng phát triển thị trường chứng khoán

Tiềm năng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam là rất lớn, trên cơ

sở ổn định về chính trị, tốc độ tăng trưởng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế.Từ khi thực hiện Luật Doanh nghiệp, và hàng loạt chính sách cải cách kinh tế, đến nay chúng ta đã cổ phần hoá được gần 3.500 doanh nghiệp Nhà nước và bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, dự kiến đến năm 2010, Việt Nam tiếp tục cổ phần hoá thêm 1.500 doanh nghiệp Nhà nước Tổng giá trị vốn các đơn vị cổ phần ngày càng gia tăng do Luật Doanh nghiệp đang phát huy tác dụng mạnh trong đời sống kinh tế, hoạt động cổ phần hóa đang được Chính phủ chú trọng đẩy mạnh Trong số những doanh nghiệp trên, có các ngân hàng thương mại, các tổng công ty lớn của nhà nước, khi cổ phiếu của các công ty này được niêm yết trên sàn sẽ là nguồn hàng chất lượng thu hút nhiều nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước tham gia vào thị trường, đây là nguồn cung về hàng cho thị trường chứng khoán phát triển

Ngoài ra, việc trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội khai trương và đi vào hoạt động ngày 8/3/2005 phần nào đã đáp ứng được phần nào nhu cầu rất lớn của nhà đầu tư hiện nay, họ có cơ hội để tiếp cận với các cổ phiếu của các công ty vừa và nhỏ, mà số công ty này ở Việt Nam chiếm khoảng 80%

Như vậy, trong tương lai, sẽ có rất nhiều cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là cổ phiếu của các công ty, tổ chức tài

Ngày đăng: 09/01/2018, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm