NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO (LÀ tiến sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM SỸ CƯỜNG
NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG SÁNG TÁC
NGUYỄN CÔNG HOAN, VŨ TRỌNG PHỤNG VÀ NAM CAO
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 62.22.01.21
Trang 2
HÀ NỘI - 2017 CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 3- Thư viện
- Thư viện
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Phạm Sỹ Cường (2009), Hệ thống giọng điệu trong Vỡ đê của Vũ
Trọng Phụng, Tạp chí Nhà văn, số 7, tr 96 – 103.
2 Phạm Sỹ Cường (2010), Nghệ thuật tổ chức giọng điệu trong tiểu
thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tạp chí Tản Viên Sơn, số 1,
tr.59 – 61
3 Phạm Sỹ Cường (2016), Một phương diện của ngôn ngữ đối thoại
trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945,
Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12, tr.82 – 92
4 Phạm Sỹ Cường (2017), Vai trò của ngôn ngữ đối thoại trong kết
thúc truyện ở truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Tạp chí Nghiên cứu
Văn học, số 6, tr.128 – 134
5 Phạm Sỹ Cường (2017), Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ đối thoại
của đám đông- một phương diện độc đáo trong ngôn ngữ nghệ thuật Vũ Trọng Phụng, Tạp chí Tản Viên Sơn, số 8, tr 53 – 55
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học là tiếng nói của con người Vấn đề trung tâm của văn học, nhất
là văn xuôi là nhân vật Nhân vật trong tác phẩm văn chương được khắc họabằng ngoại hình, được phân tích, cắt nghĩa bằng ngôn ngữ trần thuật Mộttrong những yếu tố khiến cho nhân vật không trở thành những “ma-nơ-canh”
vô hồn, vô tri, mà sống động, có hơi thở chính là ở ngôn ngữ đối thoại Ngônngữ đối thoại, lời đối đáp qua lại của nhân vật là một phương diện quan trọngcủa ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ đối thoại, một mặt, khắc họa diện mạo,tính cách nhân vật, tạo nên hình tượng nghệ thuật, mặt khác, thể hiện tưtưởng của tác phẩm, quan niệm về con người và thực tại của tác giả
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao là ba cây bút vănxuôi tiêu biểu cho ba chặng đường phát triển của chủ nghĩa hiện thực ViệtNam Sáng tác của họ có đóng góp lớn lao trên nhiều phương diện với nềnvăn xuôi hiện đại Chính vì vậy, văn phẩm của họ thu hút sự quan tâmkhông chỉ của bạn đọc mà còn của rất nhiều những nhà nghiên cứu phêbình thuộc nhiều thế hệ Tuy nhiên, vấn đề ngôn ngữ đối thoại trong vănxuôi hiện thực nói chung và ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác NguyễnCông Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao nói riêng chưa được nghiên cứuquy mô, thỏa đáng Đặt ba tác giả vào quá trình phát triển của trào lưu vănhọc hiện thực phê phán, luận án tập trung nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại ởnhiều cấp độ khác nhau Soi vào ngôn ngữ đối thoại, người đọc sẽ thấy rõhơn chân dung nhân vật, thấy rõ hơn năng lực tổ chức ngôn từ nghệ thuật,tầm vóc tư tưởng của nhà văn Đề tài sẽ không chỉ có ý nghĩa với lĩnh vựcnghiên cứu phê bình văn học mà còn có ý nghĩa với công việc giảng dạy
về các tác giả tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán trong trường đạihọc và nhà trường phổ thông
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trongsáng tác của nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà văn Vũ Trọng Phụng và nhàvăn Nam Cao Ngôn ngữ đối thoại ở đây được hiểu là ngôn ngữ của cácnhân vật, trong đó bao gồm các song thoại, tam thoại, đa thoại và trong
Trang 5những trường hợp đặc biệt còn bao gồm cả độc thoại nội tâm, ngôn ngữnửa trực tiếp
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những đặc sắc ngôn ngữ đối thoại củanhân vật trong sáng tác Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và NamCao Một mặt tìm ra những nét riêng trong ngôn ngữ đối thoại của mỗi nhàvăn, mặt khác thấy được sự vận động, phát triển về ngôn ngữ đối thoạitrong sáng tác Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao Qua đó,công trình làm rõ một số phương diện đặc sắc của nội dung tư tưởng vàphong cách nghệ thuật mỗi nhà văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận án xác định thực hiện cácnhiệm vụ cốt yếu như sau:
- Xác định cơ sở lí thuyết làm phương tiện để nghiên cứu ngôn ngữ đốithoại
- Khám phá đặc sắc ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác của ba nhà văn:Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao Luận án nghiên cứumỗi lời thoại, cuộc thoại, đoạn thoại, gắn chúng với mỗi nhân vật và toàn
bộ tác phẩm, toàn bộ sự nghiệp của mỗi tác giả, tìm ra những nét độc đáo,thú vị trong bút pháp nghệ thuật của mỗi tác giả Đồng thời, đặt mỗi nhàvăn trong mối tương quan với nhau, với trào lưu hiện thực và các trào lưukhác, từ đó luận án chỉ ra những đóng góp của các nhà văn với quá trìnhhiện đại hóa của nền văn học dân tộc
Trang 6- Chỉ ra sự gắn kết giữa hình thức lời văn nghệ thuật (ngôn ngữ đốithoại) và cách nhìn, cách cắt nghĩa của các nhà văn về thực tại.
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương phápnghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp liên ngành, phương pháp hệthống, phương pháp nghiên cứu tác giả, phương pháp thông kê, phân loại,phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương phápphân tích diễn ngôn…
5 Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện và hệ thống về đặc sắc ngônngữ đối thoại trong sáng tác Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và NamCao trước Cách mạng tháng Tám 1945
- Chúng tôi chỉ ra, phân tích, làm rõ những đặc sắc của ngôn ngữ đối thoạitrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết
và phóng sự Vũ Trọng Phụng, ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn NamCao Với quan niệm ngôn ngữ đối thoại là một yếu tố trong chỉnh thể tácphẩm, luận án không nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại của từng tác phẩm, tácgiả một cách độc lập mà xem nó là một hệ thống của những hệ thống khác, làbiểu hiện của quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người, thể hiện một
số nét cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn Trong đó,Nguyễn Công Hoan tạo nên kiểu đối thoại giàu kịch tính trong kiểu truyệnngắn được kịch hóa; Vũ Trọng Phụng để lại dấu ấn với kiểu đối thoại phôbày chân tướng nhân vật, đặc biệt là con người phức tạp, những đối thoại củađám đông ồn ã, náo loạn; Nam Cao lại lắng sâu với đối thoại tâm lí hóa, đốithoại khơi gợi độc thoại nội tâm, đối thoại tạo nên tính đa thanh
- Làm rõ những đặc sắc của ngôn ngữ đối thoại cùng với việc tổ chứcngôn ngữ đối thoại của ba tác giả trong tác phẩm của họ, luận án góp phầnkhẳng định Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao là nhữngnhà văn lớn, những bậc thầy ngôn ngữ văn xuôi hiện thực
- Luận án là tài liệu hữu ích cho bạn đọc, cho các nhà nghiên cứu vàgiảng dạy liên quan đến vấn đề ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong sángtác Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, từ đó có thể sosánh với các tác giả, các trào lưu văn học khác
Trang 76 Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục công trình nghiên cứu
của tác giả luận án và Thư mục tham khảo, luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và khái quát về ngôn ngữđối thoại trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Chương 2 Ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác Nguyễn Công Hoan Chương 3 Ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác Vũ Trọng Phụng
Chương 4 Ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác Nam Cao
Trang 81.2 Khái niệm “ngôn ngữ đối thoại”
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Đối thoại: Nói chuyện qua lại giữa hai hay
nhiều người với nhau” Đối thoại còn được gọi là đối đáp/hội thoại…
“Ngôn ngữ đối thoại” mà chúng tôi sử dụng ở đây được hiểu là mộtphương tiện nghệ thuật để nhà văn khắc họa nhân vật, phản ánh thực tại vàbiểu hiện thế giới chủ quan của mình Nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại, tacòn thấy phần nào tiến trình hiện đại hóa của văn xuôi hiện thực phê phánnói riêng, văn xuôi hiện đại Việt Nam nói chung
Chương 2.Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao tạo nên ba đỉnh caocủa văn học hiện thực phê phán Việt Nam, đương nhiên tác phẩm của họcũng tạo sự thu hút đặc biệt với giới nghiên cứu, phê bình, lí luận Có thểnói, hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình có tên tuổi của Việt Nam thế kỉ
XX đều từng cất công nghiên cứu một hoặc nhiều khía cạnh về ba tác giả
Có những người đã thành danh qua những chuyên luận, những công trìnhnghiên cứu dày dặn, công phu, sâu sắc về ba hiện tượng văn học lớn này.Trong số đó phải kể tới những nhà nghiên cứu tiêu biểu như Vũ NgọcPhan, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Văn Tâm, Nguyễn Đăng Mạnh, NguyễnHoành Khung, Lê Thị Đức Hạnh, Phong Lê, Những nghiên cứu của cáctác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành, đặc biệt những nghiên cứu
được tập hợp thành những cuốn sách có tính chất tổng hợp như Nguyễn
Công Hoan- cây bút hiện thực xuất sắc, Nguyễn Công Hoan- Tác phẩm và lời bình, Vũ Trọng Phụng- một tài năng độc đáo, Vũ Trọng Phụng- về tác gia và tác phẩm, Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm Vũ Trọng Phụng, Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nam Cao- về tác gia và tác phẩm… đã đem đến cái
Trang 9nhìn phong phú, nhiều chiều về con người, tư tưởng và phong cách nghệthuật của ba cây bút tiêu biểu của trào lưu hiện thực phê phán Việt Nam.
Về góc độ ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác Nguyễn Công Hoan, VũTrọng Phụng và Nam Cao cũng đã có những nghiên cứu rải rác trong luận
án TS và một số tiểu mục trong một số công trình nghiên cứu Nguyễn
Thanh Tú trong luận án Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ
trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan và sau này Trần Đình
Sử và Nguyễn Thanh Tú trong Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn
Công Hoan đã có những nghiên cứu tỉ mỉ, thú vị về ngôn ngữ nhân vật.
Tác giả của công trình trong mục 2 (Kịch hóa nhân vật) đã chỉ ra rằng
“mỗi truyện của Nguyễn Công Hoan là một màn trò Nhân vật là những kẻlàm trò Làm trò nghĩa là đóng kịch” Chính nguyên tắc “kịch hóa nhânvật” đã dẫn đến “kịch hóa hành động”, “kịch hóa tâm lí” và cuối cùng là
“kịch hóa ngôn ngữ nhân vật” Chuyên luận Nhân vật tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng dành 7 trang (tr.183-190) để viết về “đối
thoại sinh động, giàu kịch tính” Trong chuyên luận Thi pháp tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng, Nguyễn Thành ở chương 7 (Điểm nhìn trần thuật và ngôn
ngữ trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng), mục 7.2.1 (tr.244) và mục 7.2.2(tr.263) đã tìm hiểu “Nghệ thuật tổ chức lời văn đối thoại” và “Nghệ thuật
cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật” Nguyễn Văn Phượng với luận án Ngôn từ
nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng, trong chương 2, mục 2.4 đã có những
phân tích về “Ngôn từ đối thoại cá thể hóa, độc thoại nội tâm và phức điệu”(tr.125) Nhà thơ Thanh Thảo trong cuốn sách “Chân dung – tiểu luận – phê
bình – tản văn” Mãi mãi là bí mật cũng có những phát hiện thú vị, tài hoa
về ngôn ngữ đối thoại Vũ Trọng Phụng Ở luận án của mình, Đinh
Ngọc Hoa (Những phương diện chủ yếu của thi pháp văn xuôi tự sự Nam
Cao trước Cách mạng tháng Tám) và Lê Hải Anh (Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao), đã có những
nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ đối thoại nói riêng
của nhà văn Nam Cao Đáng kể nhất, trong chuyên luận Chủ nghĩa hiện
thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, Trần Đăng Suyền có dành
những trang tâm huyết gợi mở về vấn đề này (chương VI) Tác giả của côngtrình dày dặn, công phu này đã có riêng một chương “Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 10của chủ nghĩa hiện thực”, chỉ ra một cách toàn diện những vấn đề lí thuyết
và thực tiễn của văn học hiện thực phê phán Việt nam
Như vậy, ngôn ngữ đối thoại trong văn học hiện thực phê phán đãđược các nhà nghiên cứu đề cập đến với những mức độ khác nhau và cầnđược tiếp tục “đào sâu”, “tìm tòi” hơn nữa Chúng tôi lựa chọn nghiêncứu ngôn ngữ đối thoại trong sáng tác của ba tác giả Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng và Nam Cao, vừa là tiếp tục, kế thừa, phát triển nhữngnghiên cứu trước đây, lại vừa đi tìm một hướng nghiên cứu, một phạm vitiếp cận mới
2.1 Khái quát về ngôn ngữ đối thoại trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam
2.2 Cơ sở hình thành ngôn ngữ đối thoại trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam
2.3 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
Đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, đã
có những chuyển biến lớn Mâu thuẫn dân tộc (giữa dân tộc Việt Nam vàthực dân Pháp), mâu thuẫn giai cấp (giữa quần chúng lao động nghèo khổ
và tầng lớp thống trị tàn ác) ngày càng gay gắt Không khí xã hội bên cạnh
sự căng thẳng cũng trở nên sống động, cởi mở hơn Cũng từ đây, xã hộiViệt Nam dần chuyển biến theo hướng hiện đại hóa Kinh tế vận động đểhòa nhập với thế giới đã khiến con người Việt Nam dần thoát ra khỏi cái ao
tù để bắt đầu hòa nhập với biển lớn Những đô thị lớn nhỏ mọc lên, nhữngtầng lớp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản…) xuất hiện Những con ngườimới của một nền tân học (không ít trong số đó là những du học sinh, nhữngsinh viên được đào tạo bài bản từ các trường học, trong đó có Cao đẳng Mĩthuật Đông Dương…) đã đem đến những tư tưởng mới, quan điểm thẩm mĩmới Họ đón nhận luồng gió mới của phương Tây, khao khát truyền bá vàthực thi tư tưởng hiện đại, đặc biệt là ý thức chống lại những quan niệm lạchậu, những “khuôn phép bất nhân”, trói buộc quyền sống tự do, quyền cánhân của con người Đảng Cộng sản với định hướng rõ ràng của mình cũngnhập cuộc góp phần thúc đẩy tích cực đối với nền văn hóa dân tộc Những
xu hướng, trào lưu văn học, những cuộc tranh luận nghệ thuật, đáng kể nhất
là tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” đã
Trang 11khiến cho các nhà văn lên tiếng trong những diễn đàn, hoặc bày tỏ quanđiểm trong chính sáng tác của mình một cách rạch ròi, quyết liệt hơn…Tiếng Pháp, chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán và Nôm (tồn tại hàng ngànnăm) tác động mạnh đến nền hành chính, văn hóa, văn chương, nghệ thuật.Chữ quốc ngữ của nền báo chí, xuất bản tạo thành cái cầu nối hiệu quả,tiện dụng để đưa nghệ thuật đến với công chúng nhanh hơn, hiệu quả hơn.Một không khí văn chương nghệ thuật sôi nổi, một nền học thuật phongphú, phức tạp “chưa từng có” hiện diện
Có thể nói, không khí lịch sử, xã hội, văn hóa đầu thế kỉ XX là một môitrường lí tưởng để hình thành ý thức đối thoại, từ đó có những tác động mạnh
mẽ đến ý thức đối thoại, ngôn ngữ đối thoại trong các tác phẩm văn chương
Chương 3.Nguyên tắc thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực và ngôn ngữ đối thoại
Chủ nghĩa hiện thực xuất hiện đã xác lập những nguyên tắc thẩm mĩriêng, điều này có ảnh hưởng sâu sắc tới việc tổ chức ngôn ngữ đối thoạitrong các tác phẩm của các nhà văn
Những nguyên tắc lịch sử- cụ thể, phản ánh hiện thực bằng chính hình thức của đời sống, đảm bảo tính chân thực của chi tiết, chú trọng mối quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình và
tất nhiên là nguyên tắc biểu hiện đã chi phối mạnh mẽ cách nhà văn sử
dụng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Từ đó, nhà văn không chỉ phản ánhtrung thực cuộc sống mà còn thể hiện được lập trường tư tưởng của mìnhđối với thực tại
Chương 4.Đặc trưng và chức năng của ngôn ngữ đối thoại trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Chương 5.Ngôn ngữ đối thoại và cảm hứng phê phán
Với cảm hứng phê phán mặt trái của hiện thực, các nhà văn của trào lưuhiện thực phê phán Việt Nam đã sử dụng ngôn ngữ đối thoại hết sức thànhcông Cảm hứng phê phán đã tạo thành nguồn động lực, còn ngôn ngữ đốithoại giống như một thứ “chắp cánh” để tạo nên những giọng điệu, diệnmạo của cả trào lưu và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn
Trang 12Chương 6.Ngôn ngữ đối thoại và tính cá thể hóa
Mỗi con người tạo nên dấu ấn của mình bằng nhiều cách trong đó hoạtđộng nói năng, đối đáp chiếm phần không nhỏ Xây dựng nhân vật, cácnhà văn cũng dùng ngôn ngữ đối thoại như một cách thức hiệu quả để tạonên diện mạo riêng của nhân vật Độc giả chỉ cần qua cách họ nói, tâmtình, tranh luận, chửi rủa, cãi vã… có thể nhận ra nghề nghiệp, lứa tuổi,tâm lí, môi trường sống, văn hóa, cá tính của nhân vật
Chương 7.Ngôn ngữ đối thoại và tính đa thanh
Tính đa thanh có thể coi là một bước tiến trong hành trình hiện đại hóacủa nền văn học nói chung, trào lưu văn học hiện thực phê phán nói riêng.Các nhà văn trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam, nhất lànhững tác giả ở chặng đường sau trong cuộc chạy tiếp sức, bằng khả năngtrời phú, bằng sự nhạy cảm với cái mới, ý thức tiếp thu cái mới, đã chạmđến được tính đa thanh Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật mà họ tổ chức cóvai trò đặc biệt làm nên tính đa thanh ấy
xã hội đang phơi bày tất cả những ngang trái, đen tối, nực cười Tập truyện
ngắn đầu tiên Kiếp hồng nhan ra đời 1923 đã chứng tỏ sự lựa chọn lối viết “tả
chân” của nhà văn Ông trở thành cây bút được dư luận chú ý với mục “Ba
đào ký” trên An nam tạp chí của Tản Đà Cứ thế, những truyện ngắn, đặc biệt
là truyện ngắn trào phúng, rồi truyện dài, tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoanliên tiếp ra đời Ba mươi năm cầm bút ở chặng đường trước Cách mạng thángTám 1945, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã để lại một gia tài văn chương thực
sự quý giá Với ngôn ngữ ngữ đối thoại nói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật nói
Trang 13chung, nhà văn đã khiến văn xuôi Việt Nam gần gũi với đời sống hơn, có sứchấp dẫn và khả năng biểu đạt mạnh mẽ hơn.
8.1. Từ quan niệm cuộc đời là một sân khấu hài kịch…
Trước khi cầm bút để trở thành nhà văn thực sự, Nguyễn Công Hoan đã
có duyên nợ với sân khấu, theo một cách riêng, rất thú vị
Trong cuộc chơi, cuộc đời của mình, cậu bé Hoan đã đến với vănchương nghệ thuật bắt đầu bằng sân khấu Nguyễn Công Hoan tự soạnkịch, tự vào vai diễn viên chính, còn diễn viên phụ là những anh em trongnhà, khán giả là các anh chị, người giúp việc rồi sau đó loang rộng ra cảtrại cơ Sau này, dù không đầu tư quyết liệt vào kịch, nhưng tư duy sânkhấu dường như đã định hình, đã chi phối mạnh cách nhìn, cách nghe,cách thể hiện của nhà văn này
Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan như là một cách tiếp tục, một độlắng của kịch, dưới một hình thức “thống nhất nhưng không đồng nhất”.Nhà văn đã tiếp tục câu chuyện trong những vở kịch ngày nào, chỉ có điều,ông tạo thành kịch tính trong những truyện ngắn hàm súc, dồn nén tiếngcười và vô cùng bén nhọn, hiệu quả Nguyễn Công Hoan đã không chỉdừng lại ở một thú chơi, thú vui nhất thời mà chuyển thành một quan niệmnghệ thuật, một lí tưởng thẩm mĩ Trong khi Vũ Trọng Phụng tâm niệm
“tiểu thuyết là sự thực ở đời” thì “khôi hài tác giả việc khôi hài” trở thànhmột nguyên tắc chi phối cách nhìn đời sống hiện thực, cách triển khai tácphẩm “theo một cách riêng”, “rất Nguyễn Công Hoan” Toàn bộ sáng tácNguyễn Công Hoan có thể coi là bộ “tấn trò đời” mà mỗi truyện ngắn làmột mảnh, một màn của đại hài kịch đó “Những truyện ngắn NguyễnCông Hoan hiện ra trước mắt chúng ta với những lớp lang và đối thoại nhưnhững màn kịch” để thể hiện hiện thực bằng thế mạnh đó
8.2 …đến vị trí đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ đối thoại
8.3 Ngôn ngữ đối thoại dày đặc
Nguyễn Công Hoan đã kịch hóa những truyện ngắn của mình Vì vậy, đốithoại đã trở thành linh hồn trong truyện của ông Đối thoại trong các truyệnngắn của ông xuất hiện dày đặc Trong số 103 truyện ngắn được khảo sát, cótới 98 truyện có sử dụng ngôn ngữ đối thoại Năm truyện ngắn không có
ngôn ngữ đối thoại của nhân vật là Ái tình tiểu thuyết, Chiếc quan tài, Đi
giày, Hai cái bụng và Thế là mợ nó đi Tây Trong số 5 truyện ngắn này, thực
Trang 14chất chỉ có 3 truyện là tuyệt đối không có ngôn ngữ đối thoại Thế là mợ nó
đi Tây không có đối thoại thông thường nhưng thay vào đó là 9 bức thư như
một hình thức đối thoại khác, đối thoại bằng ngôn ngữ viết, ngôn ngữ điện
tín Còn trong Đi giày, sự hiện diện của “tờ sức” của quan tri huyện XX
không khác gì một cách nhắn gửi đến thày chánh tổng bằng ngôn ngữ hành
chính Tác phẩm có số lượt thoại nhiều nhất là Cái lò gạch bí mật: 174 lượt thoại, vị trí thứ hai thuộc về Oẳn tà roằn với 91 lượt thoại, hai tác phẩm ở vị trí thứ ba là Samandji II (83 lượt thoại) và Sóng vũ môn (82 lượt thoại) Có
tới 54 truyện ngắn trong tổng số 103 truyện có 10 lượt thoại trở lên trong mộttrang truyện Thậm chí, có tới 5 truyện ngắn mà mỗi trang truyện có từ 20
lượt thoại trở lên: Nhân tình tôi (21 lượt/trang), Oẳn tà roằn (20 lượt/trang),
Cái ví ấy của ai (21 lượt/trang), Cái lò gạch bí mật (20 lượt/trang và 24
lượt/trang) Nhìn từ góc độ đoạn thoại, phổ biến nhất là truyện có 3 đoạnthoại giống như vở kịch 3 màn Có 30 truyện ngắn ở dạng này Tiếp theo đó
là 20 truyện ngắn có 2 đoạn thoại Ngược lại, những truyện có 8 hoặc 10
đoạn thoại chỉ dừng lại ở con số 1 (Cái lò gạch bí mật và Trần Thiện, Lê văn
Hà) Cũng trong 103 truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có tới 35 truyện kết
thúc bằng lời thoại của nhân vật Ở những trang truyện có số lượt thoại dàyđặc, lời dẫn thoại trở nên lép vế Ít về số lượt và bị co ngắn tối đa Nhiềutrang truyện chỉ có 2 đến 3 lời dẫn thoại, còn lại là những đối thoại liên tiếpcủa các nhân vật Lời dẫn thoại giống những “chỉ dẫn sân khấu” giúp đạodiễn và diễn viên thể hiện ngôn ngữ và ngôn ngữ cơ thể cho phù hợp nhất
Chương 9.Ngôn ngữ đối thoại mô tả hoàn cảnh và khắc họa tính cách nhân vật
Dùng ngôn ngữ đối thoại để mô tả hoàn cảnh, phơi bày cảnh ngộ là một cách xử lí nghệ thuật hết sức thú vị, thông minh của Nguyễn Công Hoan.
Trong khi đa số các nhà văn dùng ngôn ngữ trần thuật để thưc hiện chứcnăng miêu tả, tự sự, Nguyễn Công Hoan lại sử dụng ngôn ngữ đối thoại.Trong loại hình nghệ thuật sân khấu, diễn viên có sự hỗ trợ phối hợp củaphông cảnh, đạo cụ, ngôn ngữ cơ thể, phục trang… sân khấu để đặc tả hoàncảnh của mình Nguyễn Công Hoan lại chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoạinhân vật mà qua đó vẫn có thể giúp cho độc giả có những hình dung sốngđộng, cụ thể, chân thực về cảnh ngộ của đối tượng Đây là điều không hề