Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI LỢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT
VÀ NĂNG SUẤT CHĂN NUÔI Ở MỘT SỐ TỈNH
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: PGS.TS VŨ ĐÌNH TÔN
Phản biện 1: PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỨC
Hội Chăn nuôi
Phản biện 2: PGS.TS TRẦN HUÊ VIÊN
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên
Phản biện 3: TS LÊ THỊ THANH HUYỀN
Viện Chăn nuôi
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong chăn nuôi lợn công nghiệp, chuồng trại lợn nái mang thai là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất tại các cuộc thảo luận về phúc lợi động vật Chuồng cũi cá thể để nuôi lợn nái mang thai được cho là có liên quan đến các vấn đề phúc lợi kém Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cho rằng chuồng nuôi nhóm là giải pháp thay thế tốt nhằm cải thiện phúc lợi cho lợn nái mang thai Chính vì vậy, lệnh cấm nuôi nhốt lợn nái trong cũi đã dần được đưa vào luật ở các nước phát triển như Thụy Điển, Anh, New Zealand Kể từ 01/01/2013 Liên minh Châu Âu đã ra chỉ thị từ bắt buộc tất cả các trang trại phải sử dụng hệ thống nuôi lợn nái theo nhóm, chỉ cho phép nuôi lợn nái trong cũi 4 tuần sau khi phối giống (EU, 2001) Ở Việt Nam, năm 2015 đã ban hành Luật thú y đầu tiên, trong đó tại điều 21 đã quy định về việc đảm bảo phúc lợi động vật, nhưng vấn đề này vẫn chưa được quy định một cách chi tiết, đặc biệt không đề cập đến vấn đề chuồng trại cho lợn nái mang thai (Nghị Quyết 79/2015/QH13, 2015)
Vì vậy để hướng tới một nền chăn nuôi bền vững, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế cần phải có những nghiên cứu cụ thể làm cơ sở khoa học cho người chăn nuôi, các nhà làm luật, các nhà hoạch định chính sách, người tiêu dùng cùng chung tay thực hiện các biện pháp nâng cao phúc lợi cho động vật nói chung và cho lợn nái nói riêng
Vấn đề nghiên cứu được đặt ra hiện nay là thực trạng phúc lợi của lợn nái
ở Việt Nam như thế nào? Phương thức chăn nuôi nào đảm bảo phúc lợi cho lợn nái hiện nay? Giả thiết đưa ra là phương thức chăn nuôi lợn nái theo nhóm trong chuồng có sân đảm bảo phúc lợi hơn chuồng không có sân Phương thức chăn nuôi lợn nái theo nhóm đảm bảo phúc lợi hơn nuôi lợn nái trong cũi?
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng của các phương thức chăn nuôi đến phúc lợi của lợn nái ở một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, đề xuất các giải pháp chăn nuôi vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đáp ứng được mục tiêu về năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Tình hình chăn nuôi và đánh giá thực trạng phúc lợi động vật ở lợn nái
Trang 41.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng phúc lợi động vật của lợn nái nuôi ở một số tỉnh Đồng bằng Sông Hồng
- Đưa ra được những cơ sở khoa học đối việc xây dựng hệ thống chuồng trại, phương thức chăn nuôi nhằm nâng cao chất lượng phúc lợi cho lợn cái ở giai đoạn hậu bị và mang thai
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm tư liệu cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của các phương thức chăn nuôi tới phúc lợi động vật và năng suất sinh sản của lợn nái
- Có thêm định hướng mới trong nghiên cứu chăn nuôi lợn nái vừa đảm bảo phúc lợi động vật vừa nâng cao năng suất sinh sản
- Cung cấp các thông tin có căn cứ khoa học chứng minh lợn nái nuôi theo kiểu chuồng nhóm có nhiều chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật tốt hơn lợn nái nuôi trong cũi Trong giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài cho thấy nuôi lợn nái theo nhóm chưa cải thiện được năng suất sinh sản so với lợn nái nuôi cũi
- Với những ý nghĩa thực tiễn trên có thể đưa ra những khuyến cáo cho người dân trong việc xây dựng mô hình chuồng trại, phương thức chăn nuôi lợn nái vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đảm bảo năng suất sinh sản cho lợn nái
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phúc lợi động vật hay "animal welfare" là một thuật ngữ mô tả khả năng đánh giá chất lượng sống của động vật ở một thời điểm cụ thể Trong những thảo luận về phúc lợi động vật, các nhà khoa học thường đưa ra 3 khái niệm liên quan đến trạng thái thể chất, trạng thái tinh thần và tập tính tự nhiên (Fraser, 2008)
Trong suốt hơn 50 năm qua, đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề phúc lợi động vật được công bố trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Âu và các nước phát
Trang 5triển Các nghiên cứu đánh giá phúc lợi động vật ở lợn nái sử dụng các chỉ số
từ nhiều khía cạnh các quan sát tập tính, các chấn thương và stress sinh lý để
đánh giá phúc lợi của lợn nái (Schneider et al., 2007; Turner et al., 2006) chủ
yếu tập trung vào nghiên cứu về ảnh hưởng của chuồng nuôi cũi và nuôi nhóm
với các phương thức chăn nuôi khác nhau sử dụng (Barnett et al., 2001; Fraser, 2008; Nicol et al., 2011) Hầu hết các nghiên cứu cho đến nay đã chỉ ra rằng
mức độ stress sinh lý khi so sánh giữa lợn nái nuôi trong cũi cá thể trong suốt
thời gian thai kỳ với những lợn nuôi trong nhóm là không khác nhau (Rhodes
et al., 2005) Nồng độ cortisol huyết giữa lợn nuôi cũi tương đương với lợn
nuôi nhóm (Barnett et al., 1989; Tsuma et al., 1996)
Đánh giá về thể chất, các nhà nghiên cứu cho thấy, một tỷ lệ lớn những vết loét do nằm, các tổn thương ở bờ vai và chân của lợn nái nuôi cũi xảy ra thường xuyên hơn so với lợn nuôi nhóm do tiếp xúc với sàn chuồng xi măng cứng và thành cũi Lợn nái nuôi cũi vận động kém dẫn đến què, viêm khớp và các vấn đề về móng Cơ bắp chân giảm trọng lượng, yếu và độ dài xương giảm được quan sát ở nái nuôi cũi trong suốt thời gian mang thai so với những nái được nuôi trong nhóm (Marchant and Broom, 1996)
Về năng suất sinh sản giữa lợn nái nuôi cũi và lợn nái nuôi nhóm, phần lớn những dữ liệu cho rằng không có ảnh hưởng của kiểu chuồng đến số con đẻ ra,
khối lượng sơ sinh (Karlen et al., 2007; Kongsted, 2005; Peltoniemi et al.,
1999) Tuy nhiên, lại có những nghiên cứu cho thấy năng suất những lợn nái
nuôi cũi cao hơn nuôi nhóm (Karlen et al., 2007; Salak-Johnson et al., 2007), Barnett et al (1991) nhận thấy trong 15 nghiên cứu được xem xét có 8
nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất sinh sản lợn nuôi nhóm tốt hơn, trong khi chỉ
có 4 nghiên cứu chỉ ra năng suất của lợn nái nuôi cũi cá thể tốt hơn Các kết quả khác nhau đó có thể do việc áp dụng các biện pháp quản lý chỗ ăn, nghỉ và nghiên cứu tiến hành ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ mang thai, đặc biệt là trong khi phối giống và thời kỳ đầu mang thai
Một trong những phương pháp nghiên cứu đánh giá phúc lợi động vật là sử dụng quan sát tập tính Lợn nái nuôi cũi thường biểu hiện tập tính gây hấn trực tiếp với những con lợn bên cạnh Thời gian những tập tính này được quan sát
là cao tuy nhiên không có các vết thương do những tương tác này nhưng lợn nái sẽ trải qua trạng thái lo lắng, sợ hãi và thất vọng bởi vì chúng hầu như không có khả năng để giải quyết thoả đáng những cuộc chạm trán như vậy
(Broom et al., 1995) Lúc này lợn nái sẽ chuyển sang gặm những thanh cũi
ngang, nhai bã trầu, uốn lưỡi giảm hành vi gây hấn (Bartussek, 1999) Ngược lại, với hệ thống nuôi nhóm, tập tính gây hấn là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phúc lợi động vật của lợn nái nhiều nhất Vì vậy,
đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến việc xác định khoảng thời gian cho nhóm ổn định thứ bậc bầy đàn đã được thực hiện
Trang 64
Tuy nhiên ở Việt Nam, tính cho đến thời điểm này, chưa có công bố nghiên cứu chính thống nào về vấn đề phúc lợi động vật nói chung và phúc lợi động vật cho lợn nói riêng
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, để vấn đề về phúc lợi động vật được quan tâm và áp dụng trong thực tiễn thì việc nghiên cứu thử nghiệm các phương thức chăn nuôi mới phù hợp với điều kiện ở nước ta là rất cần thiết
PHẦN 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1) Điều tra tình hình chăn nuôi lợn và đánh giá thực trạng phúc lợi của lợn nái theo quy mô chăn nuôi ở vùng nghiên cứu; 2) Đánh giá phúc lợi của lợn nái nuôi theo nhóm ở kiểu chuồng có sân và không có sân; 3) Đánh giá phúc lợi và năng suất sinh sản của lợn nái nuôi theo nhóm và cũi cá thể
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn và đánh giá thực trạng phúc lợi của lợn nái theo quy mô chăn nuôi ở vùng nghiên cứu
3.2.1.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn ở vùng nghiên cứu
Điều tra thực hiện ở các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương thuộc ĐBSH
từ tháng 6/ 2014 - 6/ 2016 trên các nông hộ, trang trại nuôi lợn thuộc vùng nghiên cứu Lựa chọn ngẫu nhiên các cơ sở chăn nuôi được dựa vào danh sách
sơ bộ phân loại quy mô chăn nuôi theo tiêu chí phân loại của Bộ NN&PTNT Thu thập thông tin về tình hình chăn nuôi và phương thức chăn nuôi từ các phòng ban liên quan thuộc vùng nghiên cứu trong 3-5 năm gần đây Phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi thông qua bộ câu hỏi có sẵn
Phương pháp xử lý số liệu: Phân bố của từng chỉ tiêu sẽ được thể hiện qua tham số trung bình và tỷ lệ phần trăm
3.2.1.2 Đánh giá thực trạng phúc lợi của lợn nái theo quy mô chăn nuôi ở vùng nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phúc lợi của lợn nái được nuôi tại các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương từ 6/2014 - 6/2016 trên đàn lợn được lựa chọn ngẫu nhiên từ các quy mô chăn nuôi đã được nghiên cứu trên đây
Đánh giá theo Chất lượng Phúc lợi®
2009 bao gồm 4 tiêu chí chính về phúc lợi động vật (nuôi dưỡng, chuồng trại, sức khỏe và tập tính) được chia thành 12 tiêu chuẩn độc lập Các chỉ tiêu được đánh giá theo thang điểm: 0 (phúc lợi tốt), 1( phúc lợi trung bình) và 2 (phúc lợi kém) Trong một số trường hợp như tiêu chí thở dốc, thể hiện tập tính, khi có biểu hiện hoặc không có, sử dụng thang điểm nhị phân: điểm 0 là không xuất hiện; điểm 2: có xuất hiện
Phương pháp xử lý số liệu: Phân bố của từng chỉ tiêu phúc lợi động vật được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm từng điểm, sự liên quan giữa chỉ tiêu phúc lợi với quy mô (kiểu chuồng) được đánh giá thông qua kiểm định chi bình
Trang 7phương 2 Sự tác động của quy mô (kiểu chuồng) lên các chỉ tiêu thuộc nhóm chỉ tiêu có thứ tự (điểm 0, 1 và 2 điểm) và được đánh giá thông qua hồi quy logistic có thứ tự Mô hình logistic có thứ tự lên hai tỷ lệ:
Tỷ lệ điểm tốt chia trung bình và kém: Odds=
Với p0, p1 và p2 tương ứng là tỷ lệ điểm 0; 1 và 2
Chỉ số Odds Ratio hay OR được dùng để phản ánh sự khác biệt về phân bố điểm phúc lợi (điểm 0 với 1 và 2) của lợn nuôi theo các quy mô (kiểu chuồng) Ngưỡng sai số α=0,05 được áp dụng trong tính toán và luận giải kết quả Phân tích hồi quy được thực hiện bởi hàm GENMOD trên phần mềm SAS 9.4
3.2.2 Đánh giá phúc lợi của lợn cái hậu bị nuôi theo nhóm ở kiểu chuồng
có sân và không có sân
Nghiên cứu được thực hiện tại Trại thực nghiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề Chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi, HVNNVN từ 4/ 2015-8/ 2015 trên
20 lợn cái hậu bị F1(LxY) từ 7 tháng tuổi, có khối lượng ban đầu từ 90-100kg Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với 2 lô tương ứng với 2 kiểu chuồng khác nhau ở giai đoạn lợn cái hậu bị 20 lợn cái hậu bị được phân bố ngẫu nhiên trong 4 ô chuồng (2 ô nuôi nhóm không có sân và 2 ô nuôi nhóm có sân xen kẽ), 5 con/ô chuồng Mỗi ô chuồng có diện tích 12m2/chuồng, chuồng được thiết kế gồm 5 cũi cho ăn, phía sau mỗi cũi có thể
mở ra và đóng lại, phía trước cũi là máng ăn lật bằng inox và 1 núm uống tự động Ở giai đoạn hậu bị, cũi được mở, đến giờ ăn lợn sẽ tự động vào cũi, lợn
có thể đi lại và chọn máng ăn tự do chuồng có sân được bố trí thêm phần sân với diện tích 12 m2
/chuồng Sân được làm bằng nền bê tông, không có mái che, chỉ có cây xanh xung quanh Lợn có thể ra sân tự do từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối hàng ngày Nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi được theo dõi thông qua nhiệt
kế và ẩm kế được đặt trước ô chuồng, cách sàn 1,5m
Phương pháp đánh giá phúc lợi động vật của lợn nái
- Phương pháp đánh giá theo hướng dẫn của Chất lượng Phúc lợi2009: theo hướng dẫn mục 3.2.1 vào 1 ngày cố định hàng tuần với 8 tuần đánh
giá liên tiếp
- Phương pháp xác định biến động nồng độ cortisol
Phương pháp lấy mẫu
ấy nư t o qu n mẫu v á nh ortisol trong nư t
Nước bọt được lấy ngẫu nhiên 8 con/lô (4 mẫu/ô) ở ngày thứ 1 (sau 24h kể
từ khi ghép nhóm); ngày thứ 3, 7, 15, 30 ngày thứ 50 sau khi ghép nhóm Mẫu
nước bọt được lấy theo hướng dẫn của (Thomsson et al., 2015)
ấy mẫu máu o qu n mẫu v á nh ortisol trong máu
Chọn ngẫu nhiên 3 lợn/ô chuồng để lấy khoảng 1,5 ml máu/con bảo quản
Trang 86
lạnh ở điều kiện 2- 4 C để vận chuyển đến nơi phân tích trong vòng một giờ
Phương pháp ử lý số liệu: Giá trị cortisol trong từng kiểu chuồng và thời
điểm lấy mẫu được tóm tắt bằng giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LMS), giá trị nhỏ nhất, lớn nhất và sai số tiêu chuẩn (SEM) So sánh các giá trị LSM theo cặp bằng phép so sánh Tukey
- Phương pháp quan sát tập tính: sử dụng camera ghi hình 24/24h
Phương pháp quan sát: Đánh dấu các lợn cái bằng các màu sơn khác nhau
trên lưng Camera đặt phía trước chuồng nuôi, cách chuồng nuôi 5m, cao 3m (1 camera/chuồng, 1 camera/sân) Quan sát camera ghi hình vào 1 ngày cố định hàng tuần Quan sát 3 con/1 chuồng với 3 người quan sát cùng 1 lúc Quan sát thời gian thực hiện các tập tính: đứng, nằm, ngồi, gây hấn, cắn chuồng, ủi dũi,
nhai bã trầu Miêu tả các tập tính theo Beattie et al (1995)
Phương pháp ử lý số liệu: Kết quả quan sát được tóm tắt phương pháp
thống kê mô tả (trung vị) Chỉ tiêu quan sát là dữ liệu liên tục nhưng không tuân theo phân phối chuẩn nên được chuyển đổi thành các nhóm theo quy tắc: nhỏ hơn hoặc bằng trung vị sẽ quy về giá trị 0, lớn hơn trung vị sẽ quy là 1, sự khác biệt này được phân tích bằng kiểm định Chi bình phương (χ2
) ở ngưỡng tin cậy α = 0,05
Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến tập tính được đánh giá bằng phương pháp hồi quy logistic, hiệu chỉnh bởi số tuần và yếu tố cá thể với 3 giai đoạn đánh
giá riêng biệt theo mô hình: Logit (Tập tính) ~ Kiểu chuồng + Tuần + Cá thể
Biến tập tính là biến đã được phân nhóm, kiểu chuồng là biến cần đánh giá (2 kiểu), tuần là biến cố định (thời gian thí nghiệm), cá thể là biến ngẫu nhiên
Mô hình logistic tính toán chỉ số Odds Ratio (OR) thể hiện ước lượng tỷ số chênh giữa điểm 0 với điểm 1 của lợn nuôi nhóm so với lợn nuôi cũi ở ngưỡng tin cậy α = 0,05 Phân tích logistic bằng hàm GENMOD của SAS 9.4
3.2.3 Phương pháp đánh giá phúc lợi và năng suất sinh sản của lợn nái nuôi theo nhóm và cũi cá thể
Nghiên cứu được thực hiện tại Trại Thực nghiệm, Trung tâm Nghiên cứu
và Đào tạo nghề Chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi, HVNNVN từ 8/2015-3/2017 trên
20 lợn cái từ hậu bị F1(LxY) 7 tháng tuổi, từ 90-100kg
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với 2 lô tương ứng với 2 kiểu chuồng khác nhau ở hai giai đoạn lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai 20 lợn nái hậu bị được phân bố ngẫu nhiên trong 4 ô chuồng (2 ô nuôi nhóm và 2 ô nuôi cũi được thiết kế xen kẽ), 5 con/ ô chuồng
Chuồng nuôi nhóm: thiết kế tương tự thí nghiệm trên Giai đoạn từ ngày
phối đầu tiên đến ngày thứ 30 sau lợn được nuôi nhốt trong cũi (đóng phần sau cũi lại) Từ ngày thứ 31-100 lợn được nuôi theo nhóm, trước ngày dự kiến đẻ 1 tuần, lợn sẽ được chuyển lên cũi đẻ riêng
Trang 9Chuồng nuôi cũi: có diện tích là 1,37m/cũi, gồm 5 cũi cố định/ô chuồng, mỗi cũi có 1 máng ăn và 1 núm uống phía trước, lợn được nuôi hoàn toàn trong cũi đến trước ngày dự kiến đẻ 1 tuần, lợn sẽ được chuyển lên cũi đẻ riêng
- Phương pháp xác định biến động nồng độ cortisol: theo hướng dẫn ở
mục 3.2.2 với các giai đoạn khác nhau
Giai đoạn lợn hậu bị: Nước bọt được lấy ngẫu nhiên 6 con/lô (3 mẫu/ô) ở ngày thứ 0 (sau khi ghép nhóm 2h), ngày số 1 (sau 24h); ngày thứ 3, ngày thứ
7, ngày thứ 15 và ngày thứ 30 kể từ khi ghép nhóm và nhốt cũi Giai đoạn lợn mang thai: Nước bọt được lấy vào ngày thứ 0 (2h sau phối), 1, 3, 7,15, 30, 31,
33, 37 và 45 ngày sau khi phối giống
- Phương pháp quan sát tập tính: theo hướng dẫn mục 3.2.2 với các giai
đoạn khác nhau
- Phương pháp đánh giá một số chỉ tiêu năng suất sinh sản
Theo dõi một số chỉ tiêu năng suất sinh sản: Tuổi động dục lần đầu, tuổi
phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu; số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ, tỷ lệ sơ sinh sống, tỷ lệ sống đến cai sữa, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/con, khối lượng cai sữa/ổ, khoảng cách lứa đẻ và thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày)
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
Một số bệnh sinh sản ở lợn nái: Viêm tử cung, viêm vú và hiện tượng
khó đẻ
Phương pháp ử lý số liệu:Sử dụng phương pháp phân tích phương sai đơn
biến ANOVA để phân tích ảnh hưởng của yếu tố kiểu chuồng nuôi nhóm và nuôi cũi đến các tính trạng năng suất sinh sản Các tham số thống kê bao gồm dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình (Mean) và sai số tiêu chuẩn So sánh cặp đôi các giá trị trung bình theo phương pháp Duncan ở mức ý nghĩa P< 0,05
Mô hình thống kê: Y ij = μ + B i + ε ij Trong đó: Yij: chỉ tiêu năng suất sinh sản;
Bi: ảnh hưởng chuồng thứ i (i = 2: nhóm và cũi); εij: sai số ngẫu nhiên Phân bố của từng bệnh được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm mắc bệnh, mối liên quan giữa bệnh với kiểu chuồng được đánh giá thông qua kiểm định
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.4 Copyright © 2014 SAS Institute In
Trang 108
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN VÀ THỰC TRẠNG PHÚC LỢI CỦA LỢN NÁI Ở VÙNG NGHIÊN CỨU
4.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở vùng nghiên cứu
Đất sử dụng trong việc xây dựng chuồng trại chăn nuôi ở các quy mô nhỏ nuôi chuồng với tỷ lệ ít khoảng 5,98% (0,76/12,7 sào) và quy mô nhỏ nuôi cũi chiếm 8,26% (0,68/8,23 sào) với đầu lợn nái trung bình lần lượt là 5,43
và 9,07 con Ở quy mô vừa, diện tích đất sử dụng trong chăn nuôi chiếm khoảng 9,74% (2,01/20,64 sào) với trung bình 40,06 nái, quy mô lớn chiếm 55,38% (6,64/11,99 sào) với trung bình 212,7nái Tuy nhiên, diện tích trên một đầu lợn ở quy mô nhỏ nuôi chuồng trung bình khoảng 8,06m2
/con, 3 quy
mô còn lại có diện tích dành cho 1 lợn nái trung bình chỉ từ 1,43-1,51m2
/con tùy từng loại cũi
Có sự khác biệt rõ rệt giữa quy mô và kiểu hệ thống chuồng, điều này có thể dẫn tới những ảnh hưởng khác nhau đến phúc lợi của lợn nái Ở quy mô nhỏ, lợn nái được nuôi hoàn toàn với kiểu chuồng hở (100%) Ở quy mô nhỏ nuôi chuồng có 88,46% chuồng có sàn là xi măng không có độn chuồng và 11,54% sàn chuồng xi măng có độn chuồng bằng rơm rạ; 76,92% hộ sử dụng thức ăn tận dụng từ thức ăn dư thừa, có sẵn của gia đình và thức ăn tự phối trộn, 23,08% là sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Trái lại, ở quy mô lớn và quy mô vừa chiếm 93,33%-100% chuồng kín nên hạn chế được những tác động của thời tiết khắc nghiệt Cả 3 quy mô nhỏ nuôi cũi, quy mô vừa và lớn
sử dụng 100% sàn chuồng xi măng không có độn chuồng, gây hạn chế tập tính tìm kiếm và làm tổ của lợn nái, ảnh hưởng đến tiêu chí phúc lợi động vật Cả 3 quy mô này chủ yếu sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (86,67-92,86%), chỉ
có 7,14-13,33% là các trại tự lên khẩu phần và tự phối trộn
4.1.2 Thực trạng phúc lợi của lợn nái ở vùng nghiên cứu
Có mối liên hệ giữa giữa quy mô với các chỉ tiêu đánh giá điểm thể trạng (Bảng 4.1) Tỷ lệ lợn nái có điểm thể trạng tốt (điểm 0) ở quy mô nhỏ nuôi chuồng và nuôi cũi với tỷ lệ 50,86% và 52,12% nhiều hơn so với quy mô vừa
và lớn là 21,05% và 18,76% (P<0,001) Tỷ lệ lợn nái có thể trạng tốt ở quy mô nhỏ nuôi chuồng tương đương ở quy mô nhỏ nuôi cũi (OR=0,8, 95%CI: 0,37-1,73) Tỷ lệ lợn có điểm thể trạng tốt ở quy mô nhỏ nuôi chuồng nhiều hơn quy
mô vừa là 3,17 lần (95%CI:1,28-7,9) và 4,06 lần (95%CI:1,71-9,56) so với quy
mô lớn Lợn nái ở các trang trại quy mô nhỏ thường được cho ăn thức ăn giàu năng lượng (ngô, gạo), ăn theo nhu cầu, không bị hạn chế khẩu phần có thể
trạng cơ thể tốt hơn Quy mô vừa và lớn, lợn nái thường có năng suất sinh sản
cao Hơn nữa, với những khuyến cáo quy trình chăn nuôi, lợn nái sẽ được cho
ăn theo định mức nhằm hạn chế lợn nái bị quá béo, khó lên giống và giảm tỷ lệ đậu thai nên lợn nái ở các trang trại vừa và lớn có nguy cơ ảnh hưởng đến thể
trạng (Charette et al., 1996; Einarsson and Rojkittikhun, 1992)
Trang 11Bảng 4.1 Mối liên hệ giữa quy mô và các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi
về nuôi dưỡng và chuồng trại
Tiêu chí Chỉ tiêu Điểm
Nuôi chuồng (n=116)
Nuôi cũi (n=165) (n=247) (n=597) Nuôi
sự ảnh hưởng của quy mô nhỏ nuôi chuồng và nhỏ nuôi cũi với tỷ lệ lợn nái thở dốc (95%CI: 0,16-2,50) nhưng tỷ lệ lợn nái thở dốc của quy mô nhỏ nuôi chuồng nhiều hơn 85% quy mô vừa (OR= 0,15; 95%CI: 0,029-0,7) và 99,6%
so với quy mô lớn (OR=0,04; 95%CI: 0,01- 0,125) (Bảng 4.2) Đây là một thách thức lớn đối với các trại quy mô nhỏ nuôi chuồng và cần có hệ thống làm mát phù hợp để giảm nhiệt độ trong chuồng khi nhiệt độ ngoài trời cao
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của quy mô đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi
về nuôi dưỡng và chuồng trại
Tiêu chí Chỉ tiêu
Quy mô
Nuôi chuồng (n=116)
Nuôi cũi (n=165) (n= 247) (n=597) Nuôi
dưỡng trạng Thể
95%CI - 0,37 -1,73 1,28 -7,9 1,71 -9,65 Chuồng
trại Thở dốc
95%CI - 0,16-2,50 0,03-0,7 0,01-0,13
Ghi chú: OR thể hiện chỉ số chênh giữa tỷ lệ điểm 0 của quy mô nhỏ nuôi chuồng so với tỷ lệ điểm 0
của quy mô nhỏ nuôi cũi; quy mô vừa và quy mô lớn
Quy mô có mối liên hệ đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi về sức khỏe như
vết thuơng cơ thể, tổn thương da, viêm cục bộ (P<0,001) (Bảng 4.3)
Trang 1210
Bảng 4.3 Mối liên hệ giữa quy mô và các chỉ tiêu
đánh giá phúc lợi về sức khỏe
Nuôi cũi (n= 165) (n=247) (n=597) Què
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của quy mô đến các chỉ tiêu
đánh giá phúc lợi về sức khỏe
Chỉ tiêu
Quy mô
Nuôi chuồng (n=116)
Nuôi cũi (n=165) (n=247) (n=597) Vết thương
Ghi chú: OR thể hiện chỉ số chênh giữa tỷ lệ điểm 0 của quy mô nhỏ nuôi chuồng so với tỷ lệ điểm 0
của quy mô nhỏ nuôi cũi; quy mô vừa và quy mô lớn
Trang 13Có mối liên hệ giữa quy mô chăn nuôi với các tiêu chí đánh giá tập tính như sợ người, các tập tính rập khuôn (P<0,001) (Bảng 4.5) Điều này được thể hiện rõ hơn ở bảng 4.6 với chỉ số OR của từng chỉ tiêu đánh giá
Bảng 4.5 Mối liên hệ giữa quy mô và các chỉ tiêu
đánh giá phúc lợi về tập tính
Chỉ tiêu Điểm
Quy mô Quy mô vừa
Nuôi chuồng (n=116)
Nuôi cũi (n= 165) (n=247) (n=597) Mối quan hệ
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của quy mô đến các tiêu chí đánh giá tập tính
Chỉ tiêu Tham số
Quy mô nhỏ
Nuôi chuồng (n=116)
Nuôi cũi (n= 165) (n=247) (n=597) Mối quan hệ
với người
95%CI - 1,13-5,61 1,34-10,23 4,49-99,54 Nhai bã
Ghi chú: OR thể hiện chỉ số chênh giữa tỷ lệ điểm 0 của quy mô nhỏ nuôi chuồng so với tỷ lệ điểm 0
của quy mô nhỏ nuôi cũi; quy mô vừa và quy mô lớn