1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)

151 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng quyền lợi động vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng (LA tiến sĩ)

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI LỢN

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Phương Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Đình Tôn, đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn GS Marc Vandenheed, Khoa Thú y, Trường Đại học Liege đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi có thêm nhiều kiến thức chuyên môn và thực tế trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn ThS Vũ Tiến Việt Dũng, Oxford University Clinicl Research Unit- Hà Nội, là người đã đưa ra giải pháp xử lý số liệu để kết quả luận án được chặt chẽ và có độ tin cậy cao

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Chăn nuôi Chuyên Khoa, Bộ môn Sinh lý - Tập tính động vật, Khoa Chăn Nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện

đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Chương trình Hợp tác Việt-Bỉ (VNUA-ARES CCD) đã cấp nguồn kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu này Cảm ơn tổ chức HSI (Humane Society International) đã tài trợ cho việc xây dựng chuồng trại thí nghiệm

Xin chân thành cảm ơn cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề Chăn nuôi, Phòng thí nghiệm Trung tâm Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học đã tận tình giúp đỡ nhóm tác giả thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Phương Giang

Trang 5

2.1.1 Khái niệm và lịch sử phát triển 5 2.1.2 Vai trò của phúc lợi động vật trong chăn nuôi 7 2.1.3 Luật pháp liên quan đến phúc lợi động vật trên thế giới 10 2.1.4 Luật pháp liên quan đến phúc lợi động vật ở Việt Nam 12 2.2 Các phương thức chăn nuôi lợn nái 13 2.2.1 Các phương thức chăn nuôi lợn nái trên thế giới 13 2.2.2 Các phương thức chăn nuôi lợn nái ở Việt Nam 17 2.3 Ảnh hưởng của Stress đến phúc lợi ở lợn nái 19 2.3.1 Khái niệm stress và mối liên hệ với phúc lợi động vật 19 2.3.2 Các giai đoạn và cơ chế phản ứng của stress 19 2.3.3 Ảnh hưởng của stress đến phúc lợi ở lợn nái 21 2.4 Các phương pháp đánh giá phúc lợi ở lợn nái 24 2.4.1 Đánh giá phúc lợi động vật dựa vào tiêu chí ―5 không‖ 24 2.4.2 Đánh giá phúc lợi động vật dựa vào các chỉ tiêu sinh lý 25

Trang 6

2.4.3 Đánh giá phúc lợi động vật dựa vào các quan sát tập tính 26 2.4.4 Đánh giá phúc lợi động vật dựa vào thể chất 27 2.4.5 Đánh giá phúc lợi động vật dựa hướng dẫn của Chất lượng Phúc lợi 2009 27 2.5 Tình hình nghiên cứu phúc lợi động vật ở lợn nái mang thai 28 2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28 2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 32 PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 3.1 Nội dung nghiên cứu 34 3.1.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn và đánh giá thực trạng phúc lợi của lợn

nái theo quy mô chăn nuôi ở vùng nghiên cứu 34 3.1.2 Đánh giá phúc lợi của lợn cái nuôi theo nhóm ở kiểu chuồng có sân và

4.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở vùng nghiên cứu 49 4.1.2 Thực trạng phúc lợi của lợn nái ở vùng nghiên cứu 52 4.2 Phúc lợi của lợn cái nuôi theo nhóm có sân và không có sân 59 4.2.1 Đánh giá phúc lợi của lợn cái theo Chất lượng Phúc lợi® 2009 59 4.2.2 Đánh giá mức độ Stress thông qua biến đổi nồng độ cortisol trong huyết

4.3.3 Đánh giá phúc lợi của lợn cái thông qua thể hiện tập tính 69

Trang 7

4.3 Đánh giá phúc lợi và năng suất sinh sản của lợn nái nuôi nhóm và nuôi

cũi cá thể ở các giai đoạn 72 4.3.1 Đánh giá phúc lợi của lợn nái theo Chất lƣợng Phúc lợi®

2009 72 4.3.2 Đánh giá mức độ stress thông qua biến đổi nồng độ cortisol ở các giai đoạn 80 4.3.3 Đánh giá phúc lợi của lợn nái thông qua thể hiện tập tính ở các giai đoạn 85 4.3.4 Đánh giá năng suất sinh sản 92 PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100

Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án 102

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Viết đầy đủ Nghĩa tiếng Việt

ACTH Adrenocorticotropic Hormone Kích vỏ thƣợng thận tố

CRH Corticotropin Releasing Hormone Hormone giải phóng corticotropin

EC European Commission Ủy ban Châu Âu

ELISA Enzyme Linked ImmunoSorbent Assay Phân tích hấp phụ miễn dịch

gắn enzym

EU European Union Liên minh Châu Âu

F1(LxY) F1(LandracexYorkshire) Lợn lai Landrace và Yorkshire HSUS Humane Society of the United States Tổ chức nhân đạo của Mỹ HSI Humane Society International Tổ chức nhân đạo quốc tế

OIE World Organisation for Animal Health Tổ chức thú y thế giới

RSPCA Royal Society for Prevention of

Cruelty to Animals

Hiệp hội Hoàng gia phòng chống ngƣợc đãi động vật TSPCA Thai Society for the Prevention of

WAP World Animal Protection Tổ chức bảo vệ động vật thế giới

WF Welfare Quality Chất lƣợng phúc lợi

Trang 9

4.10 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi về sức

4.11 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến biến động nồng độ cortisol trong nước

bọt của lợn cái hậu bị 644.12 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến biến động nồng độ cortisol trong huyết

tương của lợn cái hậu bị 664.13 Ảnh hưởng của kiểu chuồng có sân và không có sân tới thời gian thể hiện

tập tính ở lợn cái hậu bị 694.14 Tỷ lệ thời gian hoạt động của lợn cái hậu bị trong một ngày đêm 714.15a Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn cái

4.15b Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn cái

Trang 10

4.16a Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn nái

giai đoạn từ 1 đến 30 ngày sau phối 754.16b Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn nái

giai đoạn từ 1 đến 30 ngày sau phối 764.17a Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn nái

mang thai từ 31 đến 100 ngày 774.17b Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi ở lợn nái

mang thai từ 31 đến 100 ngày 784.18 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến biến động nồng độ cortisol trong nước

bọt của lợn cái hậu bị 804.19 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến biến động nồng độ cortisol trong nước

bọt của lợn nái qua các ngày sau khi phối 834.20 Ảnh hưởng của kiểu chuồng nuôi đến thời gian thể hiện tập tính lợn cái ở

4.21 Ảnh hưởng của kiểu chuồng nuôi đến thời gian thể hiện tập tính lợn nái ở

giai đoạn sau phối từ 1 đến 30 ngày 884.22 Ảnh hưởng của kiểu chuồng nuôi đến thời gian thể hiện tập tính lợn nái ở

giai đoạn mang thai 31 đến 100 ngày 894.23 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục 924.24 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến một số chỉ tiêu năng suất sinh sản 934.25 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa 964.26 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản trên đàn

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

2.1 Ba phương diện của phúc lợi động vật 53.1 Bố trí thí nghiệm chuồng có sân và không có sân 393.2 Lợn nuôi theo nhóm 393.3 Lợn nuôi nhóm có sân 393.4 Dụng cụ lấy nước bọt 41

3.6 Cách chiết nước bọt 413.7 Xác định nồng độ cortisol bằng test ELISA 413.8 Bố trí thí nghiệm chuồng nuôi nhóm và chuồng nuôi cũi 44

4.1 Biến động tỷ lệ diện tích đất xây dựng chuồng trại tại các quy mô chăn nuôi 504.2 Lợn nái ở quy mô nhỏ nuôi chuồng 514.3 Lợn nái ở quy mô lớn 514.4 Biến động nồng độ cortisol trong nước bọt của lợn cái hậu bị qua các

4.14 Lợn cắn thanh chuồng 91

Trang 12

4.16 Lợn bị viêm tử cung 98

4.18 Hiện tƣợng khó đẻ 984.19 Can thiệp khi lợn có hiện tƣợng khó đẻ 98

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Phương Giang

Tên luận án: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn đến chất lượng phúc lợi động

vật và năng suất chăn nuôi ở một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng

Chuyên ngành: Chăn nuôi Mã số: 09 62 01 05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng của các phương

thức chăn nuôi lợn nái đến năng suất và phúc lợi động vật ở một số tỉnh Đồng bằng Sông Hồng, đề xuất các giải pháp chăn nuôi vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đáp ứng được mục tiêu về năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm

Mục tiêu cụ thể: Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các phương thức chăn

nuôi tại nông hộ và trang trại đến phúc lợi động vật ở lợn nái Đánh giá năng suất chăn nuôi lợn với các phương thức chăn nuôi theo các mô hình thực nghiệm Từ đó đưa ra những khuyến cáo cho từng phương thức chăn nuôi vừa cải thiện chất lượng phúc lợi động vật, vừa đáp ứng được mục tiêu về năng suất và giá trị sản phẩm

Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu

- Tiến hành điều tra nhằm đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại vùng nghiên cứu

từ đó phân loại các quy mô chăn nuôi để đánh giá phúc lợi động vật của lợn nái nuôi theo hướng dẫn của Welfare Quality® 2009 (Chất lượng Phúc lợi® 2009)

Các số liệu điều tra và kết quả đánh giá phúc lợi động vật được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả Kiểm định Chi bình phương ( ) được dùng để tính toán

sự liên quan giữa các chỉ tiêu

Ảnh hưởng của các quy mô chăn nuôi lên các chỉ tiêu đánh giá phúc lợi theo hướng dẫn Welfare Quality® 2009 được đánh giá thông qua hồi quy logistic có thứ tự Chỉ số Odds Ratio (OR) phản ánh sự khác biệt về phân bố điểm phúc lợi của lợn nái nuôi theo các quy mô với mức tin cậy α=0,05 Phân tích hồi quy được thực hiện bởi hàm GENMODE

- Bố trí thí nghiệm nhằm đánh giá phúc lợi của lợn nái nuôi theo nhóm ở chuồng

có sân và không có sân Sự đánh giá được thực hiện theo 3 phương pháp:1) Đánh giá theo hướng dẫn Welfare Quality® 2009 (tương tự mục trên); 2) Biến động nồng độ cortisol trong nước bọt và trong huyết tương ở lợn nái: Nồng độ cortisol được biểu thị bằng giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LMS), giá trị nhỏ nhất, lớn nhất và sai số tiêu chuẩn (SEM) So sánh các giá trị LSM theo cặp bằng phép so sánh Tukey; 3) Quan sát tập tính: Kết quả quan sát tập tính qua camera được tóm tắt bằng phương pháp thống

kê mô tả (trung vị); Giá trị nhỏ hơn hoặc bằng trung vị được quy về giá trị 0, lớn hơn

Trang 14

trung vị được quy về giá trị 1, sự khác biệt này được phân tích bằng kiểm định Chi bình phương (χ2), α = 0,05 Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến tập tính được đánh giá bằng phương pháp hồi quy logistic

- Bố trí thí nghiệm nhằm đánh giá phúc lợi của lợn nái nuôi ở kiểu chuồng nuôi nhóm v chuồng cũi Sự đánh giá được thực hiện theo 4 phương pháp: 1) Đánh giá theo hướng dẫn Chất lượng Phúc lợi® 2009 (tương tự mục trên); 2) Biến động nồng độ cortisol của lợn nái (tương tự mục trên); 3) Quan sát tập tính (tương tự mục trên); 4) Đánh giá năng suất sinh sản: Ảnh hưởng của yếu tố kiểu chuồng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản sử dụng phương pháp phân tích phương sai đơn biến ANOVA 1-Way So sánh cặp đôi các giá trị trung bình theo phương pháp Duncan ở mức ý nghĩa P< 0,05

Tất cả các số liệu được xử lý bằng SAS 9.4

Kết quả chính và kết luận

- Ở các hộ quy mô nhỏ nuôi chuồng lợn nái được tự do đi lại, được sử dụng thức ăn có bổ sung chất xơ phù hợp với tập tính dinh dưỡng tuy nhiên gặp vấn đề về sức khỏe khi thời tiết khắc nghiệt Ở các hộ nhỏ nuôi cũi và các trang trại quy mô vừa và lớn, lợn nái được nuôi trong các cũi cá thể với chuồng trại hoàn toàn khép kín và thức

ăn chủ yếu là hỗn hợp hoàn chỉnh, đảm bảo dinh dưỡng nhưng lợn không thể di chuyển, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phúc lợi động vật

- Sự khác biệt đáng kể về phúc lợi lợn nái giữa các quy mô chăn nuôi được xác định Lợn nái ở các quy mô nhỏ có thể trạng tốt hơn, nhưng có nguy cơ bị thở dốc khi gặp thời tiết nóng Xu hướng các vết thương trên cơ thể, tình trạng da và khối viêm cục bộ; thể hiện một số tập tính rập khuôn (nhai bã trầu, uốn lưỡi, cắn thanh chuồng, cắn núm uống ) và sợ người ở lợn nái nuôi tại những hộ quy mô nhỏ nuôi cũi và trang trại

có quy mô vừa và lớn cao hơn ở quy mô nhỏ nuôi chuồng

- Phúc lợi của lợn nái nuôi nhóm ở kiểu chuồng có sân và không có sân là tương đương nhau ở các chỉ tiêu đánh giá Vì vậy, không cần thiết phải bổ sung chuồng có sân nền bê tông cho lợn cái nuôi nhóm trong điều kiện khí hậu ở ĐBSH

- Lợn nái nuôi ở kiểu chuồng nhóm có nhiều chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật tốt hơn lợn nái nuôi cũi như: điểm tổn thương bờ vai, què, vết thương trên cơ thể, tỷ lệ phân dính trên cơ thể, các tập tính rập khuôn và khám phá Tuy nhiên, với kiểu chuồng nuôi nhóm lại gây tăng nồng độ cortisol, tỷ lệ tổn thương cơ thể và hành vi gây hấn trong thời gian đầu khi ghép nhóm

Trong phạm vi nghiên cứu, kiểu chuồng không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh

lý sinh dục, các chỉ tiêu năng suất sinh sản và tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản Tuy nhiên, lợn nuôi cũi có xu hướng mắc bệnh kéo dài và dễ tái phát hơn lợn nuôi nhóm

Trang 15

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen Thi Phuong Giang

Thesis title: The influences of farming methods on welfare quality and production

performance of sows in some provinces of the Red River Delta

Major: Animal Science Code: 09 62 01 05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives

General objective: Based on the assessment of impact levels of different farming

methods on production performance and welfare quality of the sows in some provinces

of the Red river delta, we aimed to propose solutions for optimal farming methods, which not only ensure for animal welfare but also meet the demand for productivity and improve values of the products

Specific objectives:1) Assessing the impact levels of different farming methods

in households and conventional farms on welfare quality of the sows 2) Evaluating production performance of the sows in different farming methods by conducting experimental trials 3) From those above results, providing advices for each method in order to improve not only animal welfare but also meet the demand for productivity and improve values of the products

Materials and Methods

- Sow farming conditions were surveyed in the research area Thereafter, welfare

condition of the sows in different scales was assessed in the research area according to Welfare Quality® 2009 protocol Pearson’s chi-square test ( ) was used to test the relationship between criteria The impacts of farming scales on animal welfare criteria assessed were analyzed by using Ordered Logistic Regression Odds Ratio (OR) was used to demonstrate the differences in welfare quality scores between different housing style with significant level of α = 0.05 Regression analysis was conducted by GENMOD function

- An experiment was designed to assess welfare of sows kept in grouped pen with

and without outdoor yard The assessment was conducted by 3 following methods: 1) Welfare assessment according to Welfare Quality® 2009 (similar to survey research); 2) Varies of plasma and saliva cortisol levels of the sows: cortisol levels of the sows were described by Least Median Squares (LMS), Max value, Min value and SD of the Mean (SEM) Comparing LMS values by pair using Tuckey test; 3) Behavioural observation: Results of sow behaviours observed by camera were summarized by descriptive statistic (median) Results were smaller or equal to median were denoted a value of zero; otherwise, they were denoted a value of one, the differences between groups of zero and one were analyzed by Chi-square test ( ) with significant value of

α = 0,05 The effects of housing types on behaviours of the sows were analyzed by Logistic Regression method

Trang 16

- An experiment was designed to assess the welfare of sows kept in grouped pen

and kept in crate The assessment was conducted by 4 following methods:1) Welfare assessment according to Welfare Quality® 2009 (similar to survey research); 2) Varies

of plasma and saliva cortisol levels of the sows (mentioned above) ; 3) Behavioural observation (mentioned above); 4) Reproductive performance: Influences of housing types on reproductive performance criteria were analyzed by ANOVA Mean values

were compared in pair by Duncan method with P-value < 0.05

All of the results were analyzed by statistical software: SAS 9.4

Main results and conclusions

- In the small households, sows kept in the pen were free to walk and provided

feed with fiber ingredients which is suitable to their natural nutritional needs; however, they had health problem when facing with extreme environmental conditions In small household using farrowing crates and small-to-large scale farms, sows were kept in individual crates inside a closing housing system and were mainly fed commercial diets, which ensure their nutritional requirements but the sows kept in the crates were not able

to move hence their welfare was impaired The significant differences between two housing types were determined Sows in smaller farming scales had better body condition scores but had higher panting rate when exposing to hot weather The prevalence of skin lesions, skin conditions and local inflammation; the expression of some stereotype behaviours (sham chewing, tongue rolling, teeth grinding, bar biting, drinker biting ) and fear of human were higher in sows kept in crates than in those kept

in pens

- Welfare of grouped sows kept in pens with and without outdoor yard were not

significantly different in all of assessment criteria Therefore, it is not necessary to provide pen with outdoor yard for grouped sows in the climate conditions in the Red

rival delta

- Sows kept in grouped pen had more welfare quality criteria scored betther

compared to sows kept in crate such as: shoulder score, lameness, wounds on body, ratio of manure on the body, stereotype and exploring behaviours However, sows kept

in group showed higher cortisol levels, higher body scores and aggressive behaviour in

the beginning of mixing period

Within the scope of our research, housing type did not influence to the criteria of physiological reproduction, productive performance and the rate of reproductive diseases However, sows kept in crates tended to suffer the diseases in a longer period and easier to relapse than those kept in pens

Trang 17

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong chăn nuôi lợn công nghiệp, chuồng trại lợn nái mang thai là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất tại các cuộc thảo luận về phúc lợi động vật Chuồng cũi cá thể để nuôi lợn nái mang thai được cho là có liên quan đến các vấn đề phúc lợi kém vì hệ thống chuồng nuôi không đáp ứng được phúc lợi động vật do bị ngăn cản sự vận động, lợn chỉ có thể đứng lên, nằm xuống mà không thể quay lại, hạn chế thể hiện các tập tính tự nhiên và gây ra các phản ứng

stress mãn tính (Boyle et al., 1999; Lawrence et al., 1994) Trước những quan

ngại về ảnh hưởng bất lợi của sự giam hãm lợn nái trong cũi cá thể, hạn chế môi trường nuôi, nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, các nhà hoạch định chính sách cũng như cộng đồng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến việc kêu gọi giải pháp thay thế chuồng nuôi mới nhằm cải thiện vấn đề phúc lợi động vật cho

lợn nái mang thai (Edwards et al., 2014; Ohl and Staay, 2012; Sandilands and Petherick, 2006; Verdon et al., 2015) Chính vì vậy, việc cấm nuôi nhốt lợn nái

trong cũi đã dần được luật hóa, đầu tiên áp dụng ở Thụy Điển (1994), tiếp theo là ở Anh vào năm 1999 (CWFT, 2000), Tasmania (Úc) và ở New Zealand (2010) Ở

Mỹ, từ năm 2006 đến nay, đã có nhiều bang thông qua điều luật cấm nuôi lợn nái trong cũi (HSUS, 2013) Đặc biệt, năm 2001, luật pháp Châu Âu đã ban hành chỉ thị từ 01/01/2013 bắt buộc tất cả các trang trại phải sử dụng hệ thống nuôi lợn nái theo nhóm, chỉ cho phép nuôi lợn nái trong cũi 4 tuần sau khi phối giống (EU, 2001) Trước các quy định như vậy, nhiều nhà khoa học và nhà quản lý cho rằng

hệ thống nuôi nhóm là giải pháp thay thế và đã được nhiều quốc gia áp dụng Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng bên cạnh những lợi ích mà chuồng nuôi nhóm đem lại như lợn được di chuyển tự do, được vận động, được thể hiện các tập tính tự nhiên thì lợn nái nuôi nhóm thường bị stress bầy đàn và các tổn

thương trên cơ thể (Brambell, 1965; Geverink et al., 2003; Maes et al., 2016; Mendl et al., 1992; Verdon et al., 2015) Ở Việt Nam, năm 2015 đã ban hành

Luật thú y đầu tiên, trong đó tại điều 21 đã quy định về việc đảm bảo phúc lợi động vật, nhưng vấn đề này vẫn chưa được quy định một cách chi tiết và cụ thể cho từng đối tượng vật nuôi (Nghị quyết 79/2015/QH13, 2015)

Trong những năm gần đây, do sức ép về lượng thực phẩm cung cấp cho tiêu dùng, sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nái nói riêng đang có

Trang 18

sự chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn So với năm 2006, mặc dù số hộ chăn nuôi lợn năm 2011 giảm gần 35% song chủ yếu là ở nhóm các hộ nuôi nhỏ lẻ Năm 2014 có 9.897 trang trại chăn nuôi, đến năm 2016 là 12.888 tăng trên 30,2% Theo đó, tổng đầu lợn có mặt thường xuyên hiện nay của Việt Nam đã trên 29 triệu con, trong đó đàn nái gần 4,5 triệu con, đứng thứ tư trên thế giới (Tổng cục Thống kê, 2017) Trong những năm tới chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục ưu tiên phát triển những phương thức chăn nuôi công nghiệp đến năm 2020 với định hướng phát triển nền chăn nuôi bền vững (Quyết định 10/2008/QĐ-TTg, 2008) Trước đây, chăn nuôi bền vững cần đảm bảo 3 tiêu chí: hiệu quả kinh tế, đảm bảo chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên nhiên nhiên, đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một tiêu chí mới vô cùng quan trọng tham gia cấu thành nên nền chăn nuôi bền vững đó là việc đảm bảo phúc lợi cho động vật chăn nuôi Phúc lợi động vật không những cải thiện sức khoẻ; nâng cao sức đề kháng cho động vật và giảm chi phí thuốc; giảm nguy cơ mắc bệnh lây truyền từ động vật sang người mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng giá trị kinh tế từ người tiêu dùng và đảm bảo đạo đức cho người chăn nuôi

Vì vậy, để hướng tới một nền chăn nuôi bền vững, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế cần phải có những nghiên cứu cụ thể làm cơ sở khoa học cho người chăn nuôi, các nhà làm luật, các nhà hoạch định chính sách, người tiêu dùng cùng chung tay thực hiện các biện pháp nâng cao phúc lợi cho động vật nói chung và cho lợn nái nói riêng

Vấn đề nghiên cứu được đặt ra hiện nay là thực trạng phúc lợi động vật của lợn nái ở Việt Nam như thế nào? Phương thức chăn nuôi nào đảm bảo phúc lợi cho lợn nái hiện nay? Giả thiết đưa ra là phương thức chăn nuôi lợn nái theo nhóm trong chuồng có sân đảm bảo phúc lợi hơn chuồng không có sân Phương

thức chăn nuôi lợn nái theo nhóm đảm bảo phúc lợi hơn nuôi lợn nái trong cũi

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng của các phương thức chăn nuôi đến phúc lợi của lợn nái ở một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, đề xuất các giải pháp chăn nuôi vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đáp ứng được mục tiêu về năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm

Trang 19

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Tình hình chăn nuôi và đánh giá thực trạng phúc lợi động vật ở lợn nái nuôi tại các nông hộ, trang trại tại Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương thuộc Đồng bằng Sông Hồng từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2016

- Thực nghiệm được tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn nái F1(LxY) nuôi tại Trại thực nghiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo nghề Chăn nuôi, Khoa Chăn Nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được thực trạng phúc lợi động vật của lợn nái nuôi ở một số tỉnh Đồng bằng Sông Hồng

- Đưa ra được những cơ sở khoa học đối việc xây dựng hệ thống chuồng trại, phương thức chăn nuôi nhằm nâng cao chất lượng phúc lợi cho lợn cái ở giai đoạn hậu bị và mang thai

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm tư liệu cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của các phương thức chăn nuôi tới phúc lợi động vật và năng suất sinh sản của lợn nái

- Có thêm định hướng mới trong nghiên cứu chăn nuôi lợn nái vừa đảm bảo phúc lợi động vật vừa nâng cao năng suất sinh sản

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp các thông tin và thực trạng phúc lợi động vật ở đàn lợn nái được nuôi với các quy mô và phương thức khác nhau ở một số tỉnh Đồng bằng Sông Hồng

- Đưa ra được minh chứng với điều kiện thời tiết khí hậu ở miền Bắc

Trang 20

Việt Nam, để đảm bảo phúc lợi cho lợn cái không cần thiết phải nuôi lợn cái theo nhóm trong chuồng có sân

- Cung cấp các thông tin có căn cứ khoa học chứng minh lợn nái nuôi theo kiểu chuồng nhóm có nhiều chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật tốt hơn lợn nái nuôi trong cũi Trong giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài cho thấy nuôi lợn nái theo nhóm chưa cải thiện được năng suất sinh sản so với lợn nái nuôi cũi

- Với những ý nghĩa thực tiễn trên có thể đưa ra những khuyến cáo cho người dân trong việc xây dựng mô hình chuồng trại, phương thức chăn nuôi lợn nái vừa đảm bảo phúc lợi động vật, vừa đảm bảo năng suất sinh sản cho lợn nái

Trang 21

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT

2.1.1 Khái niệm và lịch sử phát triển

Phúc lợi động vật hay "animal welfare" là một thuật ngữ mô tả chất lượng sống của động vật ở một thời điểm cụ thể Trong những thảo luận về phúc lợi động vật, phụ thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn và khía cạnh quan tâm tới động vật mà các nhà khoa học đã đưa ra 3 khái niệm liên quan đến trạng thái thể chất, trạng thái tinh thần và tập tính tự nhiên (Fraser, 2008) Một số nhà khoa học quan tâm đến sức khoẻ, hoạt động chức năng của động vật, đặc biệt là quan tâm đến vấn đề bệnh tật và sự tổn thương của con vật hay còn gọi là trạng thái thể chất (Fraser and Broom, 1997) Một số nhà khoa học lại quan tâm đến trạng thái tinh thần của động vật như sự đau đớn, mức độ stress, những trạng thái mà con vật trải qua theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực (Duncan, 1993) Những nhà khoa học khác lại quan tâm đến điều kiện của động vật được sống cuộc sống tự nhiên, môi trường phù hợp, khả năng được thể hiện các tập tính bản năng vốn có hay còn gọi là tính tự nhiên của động vật (Brambell, 1965; Kiley-Worthington, 1989; Rollin, 1993) Những mối quan tâm này tạo nên những khái niệm và tiêu chí khác nhau làm cở sở để đánh giá mức độ đảm bảo phúc lợi động vật Về thực chất, các khái niệm này giao thoa với nhau đáng kể, vì vậy có nhiều quan điểm cho rằng phúc lợi động vật là sự kết hợp cả 2 hoặc 3 khái niệm trên ở mức độ nào đấy (Appleby and Hughes, 1997) và được thể hiện ở hình 2.1

Hình 2.1 Ba phương diện của phúc lợi động vật

Nguồn: Appleby and Hughes (1997)

Thể chất Tinh thần

Tính tự nhiên

Trang 22

Năm 1964, cuốn sách ―Những cái máy động vật- Animal Machines‖ của Ruth Harison đã được xuất bản trong đó mô tả hệ thống chăn nuôi gia súc, gia cầm thâm canh Tác giả cho rằng những người tham gia vào công nghiệp chăn nuôi động vật đã đối xử với động vật như cái máy vô tri, vô giác chứ không phải

là những cá thể sống (Harrison, 1964) Đứng trước những phản đối kịch liệt của công chúng Anh liên quan đến thông tin trong trong cuốn sách, vào năm 1965 chính phủ Anh thành lập Uỷ ban Brambell, dưới sự chủ trì của giáo sư F.Rogers Brambell, Ủy ban có nhiệm vụ xem xét, đánh giá và bảo vệ phúc lợi động vật trang trại Báo cáo Brambell cho rằng cần phải đảm bảo những điều kiện tối thiểu

để động vật có thể tự do để di chuyển, vận động, được thể hiện những tập tính tự nhiên Quan điểm này đã được thể hiện trong báo cáo của Brambell với tiêu chí

"5 không" và đã có ảnh hưởng rất lớn tới nhiều quốc gia lúc bấy giờ (FAWC, 1992) Theo đó phúc lợi của một động vật, bao gồm tình trạng sinh lý và thể chất được xác định bởi 5 không: 1) Không bị đói khát; 2) Không bị khó chịu; 3) Không bị đau, chấn thương hoặc bệnh tật; 4) Không bị hạn chế thể hiện các tập tính tự nhiên; 5) Không bị sợ hãi và stress

Nhờ có tiêu chí "5 không" mà ngày càng nhiều nghiên cứu nhằm cải thiện giảm thiểu đau đớn và đáp ứng tối đa nhu cầu tự nhiên cho động vật Nhiều hoạt động trong thực hành chăn nuôi gây đau đớn cho động vật đã được chấm dứt và thay thế Chẳng hạn, việc cắt mỏ gà nhằm hạn chế việc cắn mổ gây tổn thương đã được thay thế bằng việc chọn lọc di truyền những giống gà không rỉa lông nhau (Craig and Lee, 1990) Thiết kế các chuồng gà đẻ, chuồng nuôi lợn nái mang thai, sàn nằm cho bò sữa đã được cải thiện và mở rộng (Craig and Muir, 1993;

Stukenborg et al., 2011; Tauson, 1993; Taylor, 1995) Tuy nhiên, do phúc lợi

động vật bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phức tạp, trong đó có cả yếu tố cá thể (Grandin, 2007) nên rất khó để đánh giá Chính vì vậy, việc dùng những phương pháp đánh giá chỉ dựa vào sinh lý và tập tính học có thể cho kết quả không thống nhất Vì vậy, giai đoạn đầu vào những năm 90, tiến trình cải thiện chuồng trại đã

bị chậm lại Các nghiên cứu, các hoạt động cải thiện phúc lợi động vật chủ yếu tập trung vào vận chuyển và giết mổ

Trong khoảng thời gian này, cùng với những công bố có bằng chứng nghiên cứu khoa học về vấn đề đảm bảo phúc lợi động vật trang trại, nhận thức của công chúng về những vấn đề phúc lợi động vật đã tăng lên rất nhiều Vai trò lớn nhất trong việc thay đổi nhận thức chính là các tổ chức Chính phủ và phi Chính

Trang 23

phủ về bảo vệ phúc lợi động vật Sau khi các khái niệm về phúc lợi động vật ra đời, hàng loạt các tổ chức được thành lập ở nhiều nước phát triển trên thế giới nhằm bảo vệ và nâng cao phúc lợi cho vật nuôi, đặc biệt là động vật trang trại như Tổ chức Thú y Thế giới chịu trách nhiệm cải thiện sức khoẻ động vật trên toàn cầu (World Organisation for Animal Health-OIE), Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới (World Animal Protection- WAP) hay Hiệp hội Hoàng gia về Phòng chống ngược đãi động vật (Royal Society for Prevention of Cruelty to Animals - RSPCA) và tổ chức Nhân đạo Thế giới (Humane Society International- HSI) Hoạt động của các tổ chức này đã giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của việc đảm bảo phúc lợi động vật, khuyến khích các quốc gia cam kết hành động thân thiện với động vật Số lượng các nhà khoa học nghiên cứu phúc lợi động vật cũng đang gia tăng nhanh chóng Các ngành khoa học phúc lợi ngày càng đa dạng và tiếp tục được mở rộng Chủ đề phúc lợi động vật đang được giảng dạy ở hầu hết tất cả các các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành liên quan nhiều nước trên thế giới

Ở Việt Nam, môn học phúc lợi động vật đã chính thức được nghiên cứu và được đưa vào chương trình giảng dạy cho các sinh viên có chuyên ngành chăn nuôi, thú y từ năm 2008

Hiện nay, một số tổ chức bảo vệ động vật đang vận động để đạt được một tuyên bố chung về phúc lợi động vật tại Liên hiệp quốc (UDAW, 2013) Bản Tuyên bố sẽ kêu gọi Liên hiệp quốc công nhận động vật như chúng sinh, có khả năng cảm nhận đau đớn, đau khổ và phúc lợi động vật là một vấn đề có tầm quan trọng trong sự phát triển xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới

2.1.2 Vai trò của phúc lợi động vật trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi, động vật là đối tượng chính tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế và cung cấp nguồn thực phẩm cho con người Giá trị và tầm quan trọng được thể hiện thông qua năng suất và chất lượng sản phẩm đầu ra như thịt, trứng, sữa Vì vậy, đảm bảo phúc lợi cho con vật, chế độ chăm sóc, khai thác một cách hợp lý, duy trì năng suất ở mức thích hợp để vừa đạt được mục tiêu kinh tế vừa đảm bảo phúc lợi động vật là vấn đề được đặt ra đối với người chăn nuôi và các nhà hoạch định chính sách

Cải thiện phúc lợi động vật có thể mang lại cho cả xã hội và người chăn nuôi nhiều lợi ích và giá trị kinh tế thông qua việc tăng lợi nhuận từ: (i) giảm tỷ

lệ chết; (ii) cải thiện sức khoẻ động vật; (iii) nâng cao sức đề kháng và giảm chi

Trang 24

phí thuốc; (iv) giảm nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm; (v) nâng cao chất lượng sản phẩm; (vi) khả năng tăng giá trị kinh tế từ người tiêu dùng; (vi) sự hài lòng từ người chăn nuôi và đóng góp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Hiện nay, một số mâu thuẫn tiềm ẩn giữa phúc lợi động vật và hiệu quả chăn nuôi có thể được giải quyết bằng những giải pháp phát triển chọn lọc giống, thực hành, quản

lý và công nghệ mới (Dawkins, 2017)

- Giảm tỷ lệ chết

Lợi ích rõ ràng nhất của mối liên hệ chặt chẽ giữa phúc lợi động vật và hiệu quả kinh tế đó là việc giảm tỷ lệ chết ở vật nuôi Khi động vật được nuôi trong điều kiện đảm bảo phúc lợi sẽ có nhiều khả năng sống sót hơn, giúp người chăn nuôi có nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế

(Uetake, 2013; Windeyer et al., 2014) Những động vật như lợn, bò, gà nuôi

trong môi trường phúc lợi tồi thường bị què, thương tích không thể tiếp cận được

thức ăn hoặc nước uống sẽ giảm năng suất và phải loại thải (Harley et al., 2014; Rodenburg et al., 2013) Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây

thất thoát và kém hiệu quả trong hệ thống sản xuất

- Cải thiện sức khỏe động vật

Theo OIE (2014), hàng năm dịch bệnh gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi, ít nhất 20% doanh thu của ngành chăn nuôi toàn cầu (tương đương 60 triệu tấn thịt, 150 tấn sữa và có trị giá gần 300 tỷ USD mỗi năm) Đặc biệt, 14 loại dịch bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi, bao gồm cả bệnh truyền lây sang người gây ra những tác hại thảm khốc đối với động vật, sức khỏe cộng đồng, tác động tiêu cực tới nền kinh tế quốc dân toàn cầu

Ngay cả khi động vật bị bệnh nhưng không chết hoặc phải bị tiêu hủy thì bệnh tật và các tổn thương gây thiệt hại về hậu quả kinh tế và phúc lợi Nâng cao sức khỏe cho động vật là một cách cải thiện hiệu quả kinh tế và phúc lợi Khi động vật khỏe mạnh, người chăn nuôi sẽ giảm chi phí thú y (thuốc và nhân công

để điều trị) từ đó mang lại lợi nhuận trong sản xuất

Lợn nuôi trong chuồng thường có mật độ cao, sàn xi măng khô, cứng và nếu không có đệm lót thích hợp để khám phá, lợn sẽ chuyển hướng tập tính khám phá của chúng tới cấu trúc chuồng (thanh cũi thành chuồng) và những cá thể khác, có thể dẫn đến tập tính bất thường gây hại như cắn chuồng, cắn tai và cắn đuôi các con khác cùng đàn Trong hệ thống chăn thả tự do và các hệ thống hữu

Trang 25

cơ, lợn có thể đi ra ngoài, nơi chúng có cơ hội vận động, tìm kiếm, ủi dũi và khám phá, có thể cải thiện khỏe cho vật nuôi (Pickett, 2012) Vì vậy, khi được nuôi trong điều kiện đảm bảo phúc lợi, con vật được chăm sóc, đảm bảo sức đề kháng, sức khỏe tốt sẽ giảm được mối nguy tổn thương, dịch bệnh qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển chăn nuôi bền vững

- Cải thiện sức đề kháng và giảm sử dụng thuốc

Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng stress có tác động tiêu cực đến hệ miễn dịch của cơ thể động vật (Hoerr, 2010; Klasing, 2007; Segerstrom and Miller, 2004) Trạng thái stress kéo dài ở động vật có thể dẫn đến sự ức chế phản ứng miễn dịch và tăng sự mẫn cảm với bệnh tật (Broom, 1991)

Với sức ép ngày càng tăng về yêu cầu chất lượng sản phẩm, một trong những giải pháp quan trọng là phải thúc đẩy chăn nuôi hữu cơ để đảm bảo con vật khẻ mạnh, ít bệnh, ít stress, giảm sử dụng thuốc và hóa chất Nghiên cứu mối quan hệ giữa phúc lợi tốt, sức khoẻ tốt và sức đề kháng bệnh cao trở nên quan

trọng hơn bao giờ hết (Ghareeb et al., 2013; Ingemann et al., 2009) Đảm bảo

phúc lợi có thể được ví như một loại vacxin tốt, mang lại hiệu quả kinh tế và giá trị cho xã hội

- Cải thiện chất lượng sản phẩm

Những động vật nuôi trong môi trường có phúc lợi tốt thường cho sản phẩm có chất lượng cao nên được người tiêu dùng chấp nhận mua với giá cao hơn Thịt lợn nuôi từ các hệ thống thả tự do và các hệ thống hữu cơ phúc lợi tốt

có lượng omega-3, sắt và vitamin E cao (Pickett, 2012) Phúc lợi động vật có thể tăng thêm lợi nhuận do chất lượng sản phẩm được đảm bảo

- Giảm nguy cơ bệnh lây truyền từ động vật sang người

Sức khoẻ động vật ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người (Tomley and Shirley, 2009) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2011) có 75% các bệnh mới ảnh hưởng đến người từ các động vật và sản phẩm động vật Cúm gia cầm và cúm

lợn, bệnh do vi khuẩn gây ra bởi thực phẩm như campylobacter và salmonella hay các bệnh ký sinh trùng như toxoplasmosis và bệnh ấu trùng sán lợn (cysticercosis) có những ảnh hưởng tiềm tàng đối với sức khoẻ con người và gây thiệt hại kinh tế lớn ở các nước trên thế giới (Beach et al., 2007; Torgerson and Macpherson, 2011; Zinsstag et al., 2007)

Cải thiện phúc lợi động vật nhằm nâng cao sức đề kháng đang ngày càng

Trang 26

được công nhận là một trong những biện pháp can thiệp chính để kiểm soát bệnh

lây truyền từ động vật sang người (Singer et al., 2007) Tác động của phúc lợi

động vật đến sức khoẻ con người cung cấp một luận cứ lợi ích về tài chính và xã hội vững chắc nhất trong tương lai (De Passillé and Rushen, 2005)

- Tăng giá trị kinh tế từ người tiêu dùng

Lợi ích rõ ràng nhất mà phúc lợi động vật tốt có thể làm tăng lợi nhuận thông qua mức giá tăng mà khách hàng sẵn sàng chi trả cho thực phẩm được sản xuất trong điều kiện đảm bảo phúc lợi (Broom, 2010; Vanhonacker and Verbeke, 2014) Một trong những lý do chính được người tiêu dùng mua các sản phẩm động vật có phúc lợi cao là do họ nhận thức được rằng khi con vật khỏe mạnh hơn, chất lượng sản phẩm cao hơn sẽ có những tác động có lợi và an toàn hơn đối với sức khoẻ của người tiêu dùng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh một số lợi ích về dinh dưỡng đối với các sản phẩm động vật được nuôi có phúc lợi tốt Các sản phẩm động vật có lợi cho sức khoẻ cao hơn thường có lượng chất béo thấp hơn đáng kể so với các sản phẩm tương đương từ những con vật được chăn nuôi thâm canh (Pickett, 2012)

- Sự hài lòng của người chăn nuôi và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hầu hết người chăn nuôi tự hào về việc chăm sóc động vật trong điều kiện

đảm bảo phúc lợi động vật (Hemsworth et al., 2009; Hemsworth and Coleman,

2010) Mặc dù những lợi thế này khó có thể định lượng về mặt tài chính nhưng chúng có những ý nghĩa rõ ràng về mặt hiệu quả kinh tế, chẳng hạn như việc có thể duy trì được nhân viên giỏi và sự hài lòng trong công việc

Phúc lợi động vật vừa mang lại đạo đức cho người chăn nuôi vừa mang lại những hiệu quả kinh tế Điều này tạo động lực mạnh mẽ và cần thiết cho sản xuất thực phẩm có nguồn gốc động vật đảm bảo phúc lợi và là chìa khóa của nền chăn nuôi văn minh bền vững

2.1.3 Luật pháp liên quan đến phúc lợi động vật trên thế giới

Vấn đề bảo vệ động vật, phúc lợi động vật đã trở thành mối quan tâm quan trọng ở hầu hết các nước phát triển Tuy nhiên, nội dung và mức độ ở mỗi nước

là khác nhau

Liên minh Châu Âu được coi là những nước có sự tiếp cận sớm nhất và rất coi trọng vấn đề quyền động vật nói riêng và phúc lợi động vật nói chung Chính

Trang 27

vì vậy, luật pháp ở Châu Âu được quy định một cách toàn diện và khắt khe hơn

so với các nước phát triển ở các khu vực khác Hiện nay, liên minh Châu Âu gồm 27 nước thành viên, nơi có số lượng động vật nông nghiệp rất lớn nên có tầm ảnh

hưởng mạnh đến các khu vực khác trên thế giới (EC, 1998; Stevenson et al., 2014)

Các quy định của Châu Âu hiện nay rất chi tiết và áp dụng cho tất cả các loài động vật về các vấn đề ảnh hưởng đến phúc lợi Một phần cốt lõi của luật

EU là chỉ thị 98/58/EC vào ngày 20/7/1998 liên quan đến việc bảo vệ các loài vật nuôi giữ cho mục đích nông nghiệp Hầu hết quy định của EU dựa trên nguyên tắc "5 không", đã được thông qua Hội đồng phúc lợi động vật trang trại

Đối với lợn các loại, vấn đề phúc lợi động vật được quy định trong Chỉ thị

số 2008/120 /EC ban hành ngày 18/12/2008 (Bảng 2.1) Tiêu chuẩn tối thiểu áp dụng cho tất cả các loại lợn bao gồm: nâng cao chất lượng bề mặt sàn, tăng diện tích sàn cho lợn nái và lợn nái hậu bị, đào tạo nâng cao năng lực về các vấn đề phúc lợi cho nhân viên, chiếu sáng và độ ồn tối thiểu, tuổi cai sữa…

Bảng 2.1 Quy định liên quan đến phúc lợi động vật ở lợn nái

của Châu Âu (Chỉ thị số 2008/120 /EC)

Diện tích sàn tối thiểu

Lợn hậu bị sau phối >1,64m2/con Lợn nái và hậu bị nuôi nhóm >2,25m2/con

<6 lợn: +10%; >40 lợn: -10%

Thanh lát sàn Khoảng cách lớn nhất: 20mm

Chiều rộng thanh lát lớn nhất: 80mm Chuồng nuôi nhóm Bắt buộc từ 4 tuần sau khi phối đến 1 tuần trước khi đẻ Vật liệu có thể tha lôi Thường xuyên cung cấp cho lợn nái và nái hậu bị

Chế độ ăn Ít nhất 1 lần/ngày

Nước Nước sạch uống tự do

Lợn nái bị bệnh Có thể nhốt riêng để điều trị

Tiếng ồn <85dB

Ánh sáng >40 Lux/phút cho 8h/ngày

Chỗ nằm Thoải mái, đủ không gian khi tất cả lợn đều nằm

Đặc biệt, quy định của Châu Âu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2013, lợn nái mang thai phải được giữ theo nhóm thay vì nuôi cũi, cá thể như trước Đây được coi là một cải tiến rất quan trọng cho phúc lợi của lợn nái ở Châu Âu Trên thực tế, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ (lợn nuôi con và lợn đực) tất

Trang 28

cả lợn được nuôi theo nhóm và phải được tiếp cận thường xuyên với nước uống

và thức ăn có chất lượng thích hợp ở những giai đoạn mang thai

Ở Mỹ, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, công nghiệp chăn nuôi bắt đầu

phát triển mạnh (Finsen and Finsen, 1994) Theo The Humane Society (2016), từ những năm 1966 đến 2016, chăn nuôi thâm canh tiếp tục phát triển, với số lượng động vật bị giết mổ làm thực phẩm ở Mỹ ngày càng tăng từ 2,4 con tỷ năm 1965 lên đến 9,2 con tỷ vào năm 2015 Nhiều bang ở Mỹ như Florida; Arizona, Oregon, Colorrado, Califorrnia, Maine, Michigan đã ban hành quy định về việc cấm nuôi lợn nái lợn nái trong cũi, gà đẻ trong lồng (Barclay, 2015; The Humane Society, 2012)

Ở Nhật Bản, chăm sóc và quan tâm đến động vật đã trở thành một vấn đề vào cuối thế kỷ 20 Năm 1973, luật bảo vệ động vật đầu tiên đã được thông qua, chậm hơn 150 năm so với Tây Âu Kể từ đó, việc ngược đãi động vật bị cấm vì

nó đã được xác định cụ thể trong bộ luật và được sửa đổi 5 năm 1 lần kể từ năm

1999 Đến năm 2012, phúc lợi động vật đã chính thức được Quốc hội thông qua

như một điều khoản cơ bản

Ở Thái Lan 20 năm trước, Hiệp hội phòng chống ngược đãi động vật của

Thái Lan (Thai Society for the Prevention of Cruetly to Animals- TSPCA) đã bắt đầu đấu tranh để có luật bảo vệ quyền và phúc lợi cho động vật Đến năm

2014, luật phòng chống ngược đãi và phúc lợi động vật đầu tiên của Thái Lan

đã được thông qua Quốc hội Theo đó quy định chủ sở hữu gia súc phải đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, sức khỏe và vệ sinh môi trường, phải cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống

2.1.4 Luật pháp liên quan đến phúc lợi động vật ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phúc lợi động vật vẫn là khái niệm khá mới, nhận thức của cộng đồng về vấn đề này vẫn còn rất hạn chế Trên thực tế vẫn có nhiều vấn

đề nghiêm trọng về phúc lợi động vật không chỉ với động vật nông nghiệp mà còn liên quan đến động vật cảnh và động vật hoang dã Còn nhiều lễ hội động vật được sử dụng làm trò tiêu khiển như chọi gà, chọi trâu, chém giết tàn ác Hiện tượng vứt bỏ động vật cảnh như chó, mèo khi bị ốm nặng vẫn xảy ra Sự trói buộc, hành hạ động vật khi bắt, vận chuyển, giết mổ, không quan tâm đến đau đớn, sợ hãi của con vật diễn ra phổ biến… Điều này đã được các tổ chức Bảo vệ động vật, truyền thông trong nước và quốc tế lên án Đặc biệt, đỉnh điểm của câu chuyện phúc lợi động vật chỉ thực sự xuất hiện khi Tổ chức

Trang 29

Động vật của Úc công bố clip tố cáo sự vi phạm của Việt Nam trong giết mổ

bò không đảm bảo tiêu chuẩn phúc lợi động vật, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp ngừng xuất khẩu bò sang Việt Nam

Trước nhu cầu hội nhập quốc tế, chính phủ, đặc biệt giới khoa học và các

cơ quan chức trách đã quan tâm và thảo luận vấn đề này trong khoảng 10 năm gần đây Ngày càng nhiều hội nhóm bảo vệ, cứu trợ động vật trong nước và quốc

tế hoạt động tại Việt Nam, cùng với sự vào cuộc của truyền thông đến nay vấn đề phúc lợi đã chính thức được đưa vào luật

Thông qua sự sửa đổi hiến pháp theo nghị quyết số 51/2001/QH10 năm

2001 và Nghị quyết số 21/2003/QH11 năm 2003, Pháp lệnh thú ý năm 2004 đã

đề cập tại điều 13 quy định động vật phải được cung cấp đầy đủ nước, thức ăn phù hợp, có chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi đảm bảo vệ sinh thú y, phù hợp, phải được phòng bệnh và chữa bệnh kịp thời

Năm 2015, Việt Nam đã ban hành Luật thú y, trong đó điều 21 đã đề cập đến vấn đề về việc đảm bảo phúc lợi động vật Tuy nhiên, một trong những hạn chế của luật thú y 2015 về vấn đề này là mới chỉ ở mức độ khuyến cáo chứ không phải là bắt buộc như các nước khác Theo đó, các tổ chức, cá nhân chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sử dụng động vật có trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, vận chuyển phù hợp với từng loài động vật; Giảm thiểu đau đớn, sợ hãi, đối xử nhân đạo với động vật trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển, giết mổ, tiêu hủy, phòng bệnh, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học Tổ chức, cá nhân nuôi động vật làm cảnh, nuôi bảo tồn đa dạng sinh học có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật đầy đủ, kịp thời theo quy định của Luật Thú y Mặc dù còn rất hạn chế trong việc đảm bảo phúc lợi động vật, nhưng đây cũng là một đánh dấu quan trọng trong xu thế hội nhập với các nước trên thế giới

2.2 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI LỢN NÁI

2.2.1 Các phương thức chăn nuôi lợn nái trên thế giới

Trong những năm qua, với tốc độ gia tăng dân số thì nhu cầu thịt nói chung và thịt lợn nói riêng tăng lên nhanh chóng, buộc người chăn nuôi lợn phải chuyển sang hướng chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, đứng trước sức ép của công chúng, người tiêu dùng, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách

về vấn đề đảm bảo phúc lợi cho động vật, trong những năm gần đây, Châu Âu và

Trang 30

các nước phát triển đã có những thay đổi lớn trong mô hình chăn nuôi lợn, đặc biệt là lợn nái mang thai (Mcglone, 2013) Một số mô hình chăn nuôi nhằm nâng cao phúc lợi cho lợn nái mang thai đã và đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới

2.2.1.1 Nuôi lợn nái trong cũi cá thể

Năm 1968, cũi mang thai xuất hiện đầu tiên Mỹ và sau đó trở nên phổ biến trên thế giới Không thể phủ nhận lợi ích kinh tế mà cũi mang thai đem lại cho ngành công nghiệp chăn nuôi lợn Chi phí sản xuất thấp hơn, tiết kiệm diện tích, dễ quản lý Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng khoa học

về những hạn chế của nuôi cũi cá thể liên quan đến phúc lợi động vật Khi nuôi cũi cá thể, lợn nái chỉ có thể đứng, ngồi và nằm; không thể di chuyển và quay người; tỷ lệ bị què, viêm bao khớp, tổn thương cao và đặc biệt lợn nái không có điều kiện để thể hiện những tập tính tự nhiên mà thay vào đó là thể hiện những tập tính bất thường (Mcglone, 2013) Khi các bằng chứng được công bố, công chúng đặc biệt là các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và người tiêu dùng ủng hộ buộc các nước phải quan tâm và từng bước cải thiện

Cấm nuôi nhốt lợn nái trong cũi mang thai được coi như là một trong những nhận thức đầu tiên khi thừa nhận sự đối xử tàn nhẫn của con người với động vật trong công nghiệp sản xuất thịt lợn và đã được thực hiện ở nhiều nước phát triển trên thế giới

Tuy nhiên, ở Châu Á, đặc biệt Trung Quốc là nước có tổng đàn lợn chiếm 50% số đầu lợn của thế giới thì vẫn chưa có lệnh cấm nuôi nhốt lợn nái trong cũi, và đây thực sự là một khó khăn trong chiến dịch bảo vệ phúc lợi cho lợn nái trong những năm tới đây (Larsen, 2012)

2.2.1.2 Nuôi lợn nái theo nhóm

Lợn nái được nuôi theo nhóm sẽ có chất lượng phúc lợi cao hơn nhờ tăng diện tích cho lợn vận động, thể hiện các tập tính bầy đàn, khám phá môi trường xung quanh và được lựa chọn nơi nằm, ngủ, nghỉ Tuy nhiên, việc nuôi lợn nái theo nhóm cũng có thể dẫn đến ảnh hưởng xấu tới phúc lợi của con vật nếu chuồng không được thiết kế phù hợp và quản lý đàn không tốt sẽ xảy ra hiện tượng cạnh tranh thức ăn và đặc biệt là sự gây hấn, tranh dành ngôi vị trong thời gian đầu ghép

nhóm (Turner et al., 2001; Velarde and Geers, 2007) Vì vậy, để hạn chế nhược

điểm này, chuồng trại và máng ăn cần được thiết kế vừa đảm bảo lợn nái có thể thu

Trang 31

nhận được khẩu phần theo nhu cầu, vừa hạn chế tối đa sự cạnh tranh giữa các cá thể trong nhóm (Arey and Edwards, 1998; Brouns and Edwards, 1994; Mcglone and Salak-Johnson, 2008) Theo CWFT (2000) một số giải pháp đã và đang được

áp dụng trong chăn nôi lợn nái có thể cải thiện chất lượng phúc lợi động vật ở lợn nái bằng các phương pháp cho ăn, bổ sung chất độn chuồng, nuôi chăn thả tự do

a) Các phương pháp cho ăn

+ Cho ăn trên sàn: Lợn nái được nuôi theo nhóm lớn và được cho ăn cùng nhau trên sàn (khoảng dưới 30 con trong một chuồng lớn) Thức ăn sẽ được đổ từ trên xuống sàn qua một ống nhỏ hoặc một trục quay để phân phối thức ăn ra nhiều

vị trí Ở hệ thống này, chuồng nuôi thường được rải chất độn chuồng (chủ yếu là rơm) Đây là hệ thống nuôi nhóm có chi phí thấp nhất, tạo sự thoải mái cho lợn nái nhưng vẫn còn hạn chế vào thời điểm cho ăn xảy ra hiện tượng cạnh tranh gay gắt giữa các cá thể và không kiểm soát được khẩu phần ăn cho từng cá thể

+ Sử dụng máng ăn cá thể: Các máng ăn cá thể được ngăn cách với nhau bởi một tấm chắn, thức ăn được cho vào máng một cách từ từ để hạn chế sự cạnh tranh thức ăn nhưng vẫn có hiện tượng một số cá thể ăn rất nhanh rồi quay sang tranh dành khẩu phần của cá thể khác dẫn đến không kiểm soát được lượng thức

ăn thu nhận hàng ngày của mỗi cá thể (do cũi không được đóng lại)

+ Sử dụng cũi cho ăn cá thể: Để hạn chế những nhược điểm của 2 phương pháp cho ăn trên, phương pháp cho ăn dùng cũi cá thể đã được áp dụng Ở phương pháp này, lợn nái nuôi nhóm nhưng được bố trí cũi ăn cá thể riêng biệt Mỗi cá thể sẽ có khu vực ăn riêng (trong cũi) mà không bị các cá thể khác cạnh tranh Các cũi này cũng là khu vực nghỉ ngơi yên tĩnh cho từng cá thể nếu chúng không muốn nằm ở khu vực chung của nhóm Tuy nhiên, mỗi lần cho ăn cần đóng cũi, khi ăn xong phải mở cũi, điều này gây bất tiện trong vận hành và tăng chi phí sản xuất

+ Sử dụng cũi ăn tự chọn: với hệ thống này, lợn nái có thể vào bất kì cũi cá thể nào để ăn Lượng thức ăn cho ăn là như nhau giữa các cá thể nên không thể điều chỉnh khẩu phần theo thể trạng của con vật Hơn nữa, khu vực chung cho lợn chủ yếu là phần diện tích giữa hai dãy cũi nên rất hạn chế Đây chính là những nhược điểm của hệ thống này so với các hệ thống nuôi nhóm khác

+ Sử dụng máng ăn điện tử: Máng ăn điện tử ra đời nhằm hạn chế nhược

Trang 32

điểm của hệ thống nuôi nhóm lợn nái trong việc tranh dành thức ăn và cải thiện khả năng kiểm soát khẩu phần ăn của lợn nái Đây là hệ thống cho ăn tự động được điều khiển và lập trình bằng phần mềm máy tính cho phép kiểm soát khẩu phần ăn cho từng cá thể Lợn được mã hóa thông qua chíp điện tử gắn ở tai Cá thể có mã số phù hợp mới có thể vào cũi để ăn (trong khoảng 20 phút) theo đúng khẩu phần ăn phù hợp Mỗi máng sử dụng cho 40-60 lợn nái Các lợn nái phải tuần

tự, lần lượt vào trong cùng một máng Theo The Pig Site (2013) đây là hệ thống duy nhất có thể kiểm soát lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của mỗi cá thể lợn nái

trong hệ thống nuôi lợn nái Nghiên cứu của Bench et al (2013) cho biết, nhóm

lợn nái mang thai được nuôi nhóm và sử dụng máng ăn điện tử đã cải thiện được tỷ

lệ nái động dục trở lại, tỷ lệ đẻ và khối lượng sơ sinh cao so với nái nuôi cũi cá thể Tuy nhiên, hệ thống máng ăn điện tử có chi phí đầu tư cao và xảy ra hiện tượng

stress khi phải chờ đợi (Anil et al., 2003)

Một vấn đề mà người chăn nuôi thường đặt ra là nuôi lợn nái mang thai theo nhóm ảnh hưởng thế nào tới năng suất chăn nuôi Các nghiên cứu từ nhiều nước khác nhau đều chỉ ra rằng năng suất chăn nuôi lợn nái ở hệ thống nuôi theo nhóm không bị giảm, thậm chí còn có những chỉ tiêu cao hơn so với nuôi theo cũi truyền thống Năm 1998, khi hầu hết các trang trại chăn nuôi lợn ở Anh chuyển hoàn toàn sang hệ thống nuôi lợn nái theo nhóm, số lợn con cai sữa/nái/năm vẫn tương đương so với những nước mà hệ thống nuôi lợn nái trong cũi vẫn rất phổ biến như ở Hà Lan, Đan Mạch, và Pháp thời điểm đó (CWFT, 2000)

b) Bổ sung chất độn chuồng

Có rất nhiều bằng chứng cho thấy việc bổ sung chất độn chuồng (đệm lót cho lợn nái) mang lại nhiều lợi ích khi lợn được nằm ở nền chuồng êm, an toàn (ít trơn trượt) và được thể hiện một số tập tính theo bản năng của lợn (làm ổ, ủi dũi, nhai, ) Lợn thích nằm ở khu vực khô ráo hơn là ẩm ướt (80-90% thời gian nằm ở vùng khô) Bổ sung đệm lót vào mùa đông còn giúp giữ ấm cho lợn, giảm chi phí năng lượng sưởi ấm

Chăn nuôi lợn nái trên nền đệm lót rơm được nghiên cứu và áp dụng ở Thụy Điển từ những năm 1970 Ở hệ thống này, lợn nái được nuôi theo nhóm, trong chuồng có đệm lót rơm Lợn được cho ăn riêng bằng cũi ra vào tự do nhằm giảm sự cạnh tranh về thức ăn Khi lợn được phối giống hoặc tiêm vacxin, chúng được nhốt lại trong các cũi này Kết quả cho thấy, cải thiện này đã làm giảm tỷ lệ

Trang 33

chết của lợn nái và tăng thời gian khai thác của lợn nái Hệ thống này cũng được nghiên cứu và áp dụng ở Mỹ và cho kết quả tốt (Halverson, 1998) Vì thế đến nay, hệ thống nuôi lợn theo nhóm trong chuồng mái vòm có bổ sung đệm lót ngày càng phát triển

c) Chăn thả lợn nái ngoài trời

Trong những năm gần đây, người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đối với các sản phẩm thịt lợn có nguồn gốc từ hệ thống chăn thả tự do bởi những lợi ích

trong việc cải thiện phúc lợi động vật (Miao et al., 2004) Hệ thống chăn thả tự

do đã được trở thành một trong những mục tiêu chính cho ngành chăn nuôi lợn ở

Châu Âu và Bắc Mỹ Sather et al (1997) cho biết, lợn nuôi thả tự do được thể

hiện những tập tính tự nhiên, thịt lợn nuôi ở hệ thống này có vị ngon hơn và có lợi cho sức khỏe của con người do sản phẩm có lượng axít béo không bão hòa đa (chất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của người) cao hơn so với

lợn nuôi nhốt (Muriel et al., 2002; Simopoulos, 1991) Vì vậy, số lượng lợn được nuôi ở ngoài trời đã tăng đáng kể trong những năm qua (Barnett et al., 2001;

Sheppard, 1998)

Nhược điểm của hệ thống này là gia súc bị phụ thuộc hay ảnh hưởng nhiều

từ điều kiện tự nhiên, nhất là trong các vùng khí hậu khắc nghiệt (nóng, lạnh, ẩm ướt, gió ), lợn dễ bị nhiễm ký sinh trùng, mắc các bệnh đường ruột, các bệnh truyền nhiễm từ các vật chủ trung gian, sự đe dọa của các con vật săn mồi, khó khăn trong quản lý dinh dưỡng cũng như kiểm soát nguồn nước uống và quản lý

chất thải (Mcglone, 2013; Schau et al., 2013)

2.2.2 Các phương thức chăn nuôi lợn nái ở Việt Nam

Từ khi nền kinh tế thị trường phát triển, hàng loạt các hợp tác xã chăn

nuôi đã phải nhường chỗ cho các trang trại tư nhân phát triển Bên cạnh các hệ thống chăn nuôi giống cao sản, thức ăn công nghiệp hoàn chỉnh, hệ thống chuồng trại kiểu công nghiệp cũng không ngừng được cải tiến và đã có tác động rất lớn đến việc nâng cao năng suất chăn nuôi Có thể chia phương thức chăn nuôi dựa vào hai kiểu chuồng đang được áp dụng phổ biến hiện nay là kiểu chuồng truyền

thống và công nghiệp (Nguyễn Thiện và cs., 2005)

2.2.2.1 Nuôi lợn trong các kiểu chuồng truyền thống

Thường được sử dụng trong các hộ gia đình nuôi lợn nái nội và F1(ngoại x nội) So với chuồng trại trước năm 1975, chuồng nuôi lợn nái đã có nhiều cải tiến

Trang 34

Đặc trưng của kiểu chuồng lợn nái truyền thống này được xây dựng tại nơi cao ráo, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, cách xa nhà ở và nguồn nước sinh hoạt Nền chuồng được làm cao 25-30cm và có độ dốc 3-4% so với mặt đất

Ở vùng đồng bằng, chuồng lợn được cải thiện nhiều, về thiết kế gần giống với một số kiểu chuồng bán công nghiệp trong các trang trại quy mô nhỏ Toàn

bộ tường phía trước của chuồng được làm bằng các tấm đan gồm các chấn song sắt đảm bảo độ thông thoáng và ánh sáng cho lợn Phân rắn và chất độn chuồng được quét dọn hàng ngày tập trung tại hố ủ phân, phần nước thải được xử lý qua

hệ thống Biogas để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và lấy gas sử dụng làm nhiên liệu đốt

Ở miền núi, chuồng cũng được xây dựng xung quanh, nền chuồng lát gạch hoặc láng xi măng, tách rời khỏi bếp và nhà ở Phân và nước thải được chứa trong các hố phía sau chuồng để sử dụng cho vườn cây hoặc bón ruộng

Các kiểu chuồng này chỉ có 1 nái cho 1 chuồng, lợn nái có thể di chuyển

tự do trong chuồng Hiện nay, một số hộ thay thế chuồng nuôi thành chuồng nuôi cũi nhằm tiết kiệm diện tích chăn nuôi

2.2.2.2 Kiểu chuồng công nghiệp

Toàn bộ các trại lợn giống, các trang trại chăn nuôi lợn tư nhân, của nhà nước có quy mô lớn cũng như của các công ty chăn nuôi có 100% vốn nước ngoài đều được xây dựng và trang bị kiểu chuồng công nghiệp Qua quá trình nghiên cứu, các kiểu chuồng công nghiệp đã và đang được hoàn thiện từ quy hoạch, thiết kế đến xây dựng và sử dụng các trang thiết bị hiện đại nhằm phát huy hết khả năng sản xuất của các giống lợn nái cao sản

Có hai kiểu chuồng nuôi lợn nái công nghiệp phổ biến hiện nay là hệ thống chuồng kín và hệ thống chuồng hở

- Hệ thống chuồng kín: là chuồng có hệ thống chuồng có quạt hút gió, hệ thống phun sương và giàn mát Lợn nái thường được nuôi trong cũi cá thể

+ Ưu điểm: Có thể điều chỉnh được tiểu khí hậu chuồng nuôi; tiết kiệm diện tích, hạn chế lây lan mầm bệnh từ chuồng này sang chuồng khác

+ Nhược điểm: Chi phí đầu tư cao, khấu hao lớn và lợn không thể di chuyển

- Hệ thống chuồng hở: Đặc điểm của hệ thống chuồng này là nhờ vào sự

Trang 35

thông gió tự nhiên Chuồng làm 4 mái, giữa hai lớp có khoảng cách 30-35cm Chuồng thường có hai dãy, lối đi ở giữa, độ cao trung bình 2,0-2,2m Tường xây bằng gạch, cao 0,8-0,85m, phần còn lại được quây bằng lưới B40 với hệ thống bạt che vào những ngày mưa hoặc những ngày mùa đông gió rét

+ Ưu điểm: Chi phí đầu tư vừa phải, giá thành rẻ, thông thoáng và ánh sáng tự nhiên

+ Nhược điểm: Khó kiểm soát tiểu khí hậu trong chuồng, mùa hè nóng, mùa đông lạnh ảnh hưởng đến phúc lợi của lợn nái

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS ĐẾN PHÚC LỢI Ở LỢN NÁI

2.3.1 Khái niệm stress và mối liên hệ với phúc lợi động vật

Stress là phản ứng của cơ thể trước những tác động của các yếu tố bất lợi từ bên trong và bên ngoài Quá trình stress thực chất là quá trình huy động năng lượng tiềm tàng của cơ thể bằng cách tăng cường giải phóng năng lượng thông qua 2 cơ chế thần kinh và thể dịch để chống lại các tác nhân stress nhằm duy trì sự cân bằng nội môi của cơ thể Khi bị stress, động vật sẽ cố gắng đối phó với các tác nhân gây stress bằng cách sử dụng các đáp ứng tập tính, sinh lý

và có thể đo lường được (sự thay đổi tần suất thể hiện các tập tính hoặc thay đổi tập tính, thay đổi nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, nồng độ hormone trong máu) Khi các phản ứng stress bị cản trở hoặc khi chúng không thành công trong việc khôi phục lại trạng thái cân bằng, các triệu chứng điển hình của stress mãn tính xuất hiện như những tập tính gây hại, những tập tính bất thường, kích thích hoạt động mãn tính của hệ thần kinh tự động và hệ thần kinh nội tiết (Wei and Hai-

Bo, 2007) Hơn thế nữa, stress mãn tính có thể dẫn đến các trạng thái tiền bệnh

lý hoặc bệnh lý (Moberg, 1987) Điều này có thể khẳng định, stress là cơ sở quan trọng để giải thích, đánh giá và quản lý các vấn đề phúc lợi động vật

2.3.2 Các giai đoạn và cơ chế phản ứng của stress

Khi bị tác động bởi các tác nhân stress khác nhau, cơ thể đều đáp ứng bằng một phản ứng chung như nhau thông qua huy động năng lượng theo hệ thống thần kinh - thể dịch nhằm tăng cường sức đề kháng của cơ thể để có thể vượt qua stress và thích nghi với ngoại cảnh Các tác nhân stress là mối đe dọa đối với sự cân bằng nội môi của đàn vật nuôi, gây ra nhiều phản ứng sinh học liên quan đến đáp ứng thần kinh, thể dịch, tập tính và miễn dịch học

Trang 36

co thắt ruột và da, giãn mạch hoặc phóng thích glucose và lipid từ gan cũng được quan sát thấy Tất cả những thay đổi ngắn hạn này chuẩn bị cho động vật đối phó

với tác nhân gây stress (Dallman and Hellhammer, 2011)

+ Trục dưới đồi - Tuyến yên - Thượng thận (Hypothalamic - Pituitary - Adrenal axis response - HPA): Khi bị tác nhân stress tác động, vùng dưới đồi

giải phóng CRH từ đó tuyến yên giải phóng hormone Adrenocorticotropic (ACTH) kích thích thượng thận tiết glucocorticoid làm tăng sự chuyển hóa các

mô có chứa chất đạm và chất béo để sản xuất glucose

Trục HPA là một trong nhiều hệ thống được kích hoạt đối phố với các tác nhân gây stress Sự hoạt hóa dẫn đến sản sinh cortisol (ở người là glucocortioid), nên hormone này thường được sử dụng như chỉ số để đánh giá sự đáp ứng của cơ

thể khi bị stress (O'connor et al., 2000)

+ Trục dưới đồi Tuyến yên Tuyến sinh dục (Hypothalamic – Pituitary Gonadal axis response - HPG): Stress thường kèm theo cả sự gia tăng hoạt động

-của HPA và giảm HPG (Rivier and Rivest, 1991) Glucocorticoid ức chế sự giải phóng hormone luteizing (LH) estradiol và progesterone từ buồng trứng, cũng như ức chế tiết testosterone từ tinh hoàn (Norman and Smith, 1992), làm giảm nồng độ hormone sinh dục trong máu vì vậy nếu stress kéo dài hoặc mãn tính thường dẫn đến việc ức chế sinh sản, tuy nhiên, một số trường hợp của stress cấp

tính có thể là các yếu tố kích thích (Einarsson et al., 2008)

- Đáp ứng tập tính

Khi các tác nhân stress tác động, động vật thường thể hiện các hành vi đối phó Lợn khi sống trong môi trường hạn chế về không gian thể hiện hành vi hung

hăng quá mức như cắn đuôi và cắn tai con cùng chuồng (Valros et al., 2013) Một

chuỗi các tập tính để đánh giá phản ứng bên ngoài của lợn đối với stress đã được

đề xuất bởi Ruis et al (2001), bao gồm tập tính khám phá, đi tiểu, không hoạt

động (ngủ, nằm, ngồi và đứng), ăn uống (cho ăn và uống), kêu rống và hành vi đi

Trang 37

bộ Tập tính rập khuôn (một hành vi lặp đi lặp lại, không thay đổi mà không có mục tiêu rõ ràng hoặc chức năng cụ thể) cũng được coi là tập tính bất thường có thể xuất hiện sau khi lợn bị stress (Squires, 2010)

- Đáp ứng miễn dịch

Đáp ứng này phụ thuộc vào chất môi giới được giải phóng trong quá trình stress là catecholamine hoặc glucocorticoid (Dhabhar, 2009) Catecholamine được giải phóng vào hệ tuần hoàn khi bắt đầu stress hoặc gặp stress cấp tính, làm tăng bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu và lymphocytes) Mặt khác, khi kích thích stress kéo dài chủ yếu làm giảm số lymphocytes và nồng độ cortisol cao hơn Glucocorticoids cũng có thể ngăn chặn sự sản sinh cytokine và globulin miễn

dịch (Dhabhar and Mcewen, 2001; Dhabhar, 2009; Dhabhar et al., 1995)

Các cơ quan tổ chức có chức năng bảo vệ cơ thể hoạt động ở cường độ cao khi bị tác nhân stress tác động Thùy trước tuyến yên tăng cường sản xuất và tiết kích vỏ thượng thận tố (ACTH) kích thích miền vỏ tuyến thượng thận tiết các hormone thuộc nhóm glucocorticoid

Nếu tác nhân stress tạm thời yếu, cơ thể có đủ khả năng đề kháng thì sẽ chuyển sang trạng thái đề kháng, phục hồi và thích nghi

Ngược lại, nếu stress kéo dài thì năng lượng tiếp tục được huy động, cơ thể không thích ứng được và chuyển sang giai đoạn suy kiệt và rối loạn Trong giai đoạn này có hiện tượng thoái hóa các tổ chức của các cơ quan miễn dịch và những tuyến tham gia đề kháng stress như tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng… dẫn đến khả năng đề kháng giảm rõ rệt, con vật dễ bị kế phát các bệnh khác đặc biệt các bệnh tiêu hóa, hô hấp và các bệnh truyễn nhiễm Nếu không được điều trị và can thiệp kịp thời con vật sẽ suy kiệt và có thể chết

2.3.3 Ảnh hưởng của stress đến phúc lợi ở lợn nái

Lợn được nuôi trong hệ thống thâm canh phải đối phó với các tác nhân stress trong thời gian dài và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phúc lợi động vật Mức độ stress cao hay phúc lợi kém có những tác động tiêu cực trực tiếp đến các yếu tố chính liên quan đến chăn nuôi lợn nái: gây rối loạn sinh sản, tập tính

và khả năng miễn dịch (Smulders et al., 2006) Mức độ ảnh hưởng này sẽ khác

nhau tùy thuộc vào thời gian, mức độ stress, độ tuổi và di truyền của con vật (Moberg, 2000)

Trang 38

a Ảnh hưởng đến tập tính

Một con vật có phúc lợi tốt khi nó được thể hiện những tập tính tự nhiên

và ngược lại (Kiley-Worthington, 1989; Rollin, 1993)

- Tập tính không gian sống

Mặc dù, các hệ thống chăn nuôi lợn thâm canh có thể kiểm soát nhiệt độ,

độ ẩm, ánh sáng, nồng độ bụi, khí thải, mức amoniac và cường độ âm thanh

(Fernandez et al., 2015; O’connor et al., 2010; Pearce et al., 2013) nhưng chuồng

nuôi lợn nái vẫn không tự nhiên và không phù hợp đối với tập tính của lợn nái Trong chuồng, lợn thường sử dụng một phần của chuồng để làm nơi đi vệ sinh

Một số thiết kế chuồng bao gồm các khu vực chứa phân và nước để tắm (Jensen

et al., 1997) Khi nhiệt độ tăng cao hơn, lợn đắm mình trong bồn nước nhằm tăng

sự bay hơi, thậm chí chúng có thể có những tập tính bất thường như đầm mình

trên bãi phân, nước tiểu (Huynh et al., 2005)

- Tập tính ăn uống

Lợn ngoài tự nhiên sẽ ăn cỏ và các cây khác có sẵn (Edwards, 2003), tỷ lệ

thành phần thực vật trong khẩu phần ăn thay đổi theo vùng địa lý (Skewes et al., 2007), nhưng thường chiếm khoảng 90% chế độ ăn uống (Pinna et al., 2007)

Phần còn lại của khẩu phần bao gồm các thức ăn động vật như giun đất, loài giáp xác, côn trùng, động vật lưỡng cư, bò sát và loài gặm nhấm thậm chí lợn trưởng thành có thể ăn xác chết hoặc những con hươi nai nhỏ (Dantzer and Kelley,

1989; Dardaillon, 1987; Massei et al., 1996)

Với tập tính dinh dưỡng trong tự nhiên của lợn như vậy thì việc cho ăn thức ăn đậm đặc khi không có chất xơ như cây cỏ thực vật sẽ gây ra nhiều tập tính bất thường ở lợn Stress này còn do việc hạn chế nguồn cung cấp lương thực

(Lallès and David, 2011; Ott et al., 2014; Toscano et al., 2007) xuất hiện trong

điều kiện nuôi thâm canh khi lợn nái mang thai phải chịu sự hạn chế của thức ăn,

điều này dẫn đến hiện tượng đói kéo dài (Arellano et al., 1992) Tương tự như

vậy, trong quá trình ghép đàn lợn nái mang thai, thông thường các động vật hiền lành, nhút nhát tiếp nhận ít hoặc không tiếp cận được thức ăn (Brouns and Edwards, 1994)

Sự thiếu các cơ chất phù hợp để thỏa mãn nhu cầu về tập tính này có thể dẫn tới việc định hướng lại các mục tiêu không phù hợp là các cá thể sống cùng chuồng hoặc các vật dụng trong chuồng như là cắn đuôi và tai các con khác, cắn

Trang 39

chuồng, nhai giả (Fraser, 1987; Schrøder-Petersen and Simonsen, 2001; Van Putten, 1969) Khi các chất như rơm được cung cấp, lợn dành thời gian để thể hiện các tập tính tìm kiếm, khám phá, ủi dũi và từ đó giảm thể hiện các tập tính bất

thường (Fraser et al., 1991)

- Tập tính bầy đàn

Với lợn nái nuôi nhóm, việc ghép một đàn mới trong một diện tích sàn giới hạn dẫn đến tập tính gây hấn giữa các lợn nái với nhau Tùy thuộc vào vị trí của con vật trong đàn (những con thống trị hoặc những con yếu thế) các cá thể khác nhau có nhiều khả năng khác nhau trong việc cạnh tranh thức ăn và uống nước Một con vật không thích ứng với những tình huống này có thể bị giảm phúc lợi và giảm khả năng sinh sản Những lợn nái có thứ bậc cao trong trong đàn khi động dục nhảy lên những con lợn nái yếu thế hơn, và sẽ tăng làm tăng

mức độ stress (Pedersen et al., 1998) Mức độ stress tăng lên ở một nhóm nhỏ

lợn nái mới hình thành có thể kéo dài khoảng hai ngày cho đến khi một trật tự

xếp hạng được thiết lập giữa các lợn nái với nhau (Tsuma et al., 1996) và thậm

chí tiếp tục tăng thêm 10-12 ngày khi nhốt lợn nái theo nhóm với số lượng nái lớn (Stookey and Gonyou, 1994)

- Tập tính làm tổ và sinh con

Trong hầu hết các hệ thống trang trại, lợn nái đến thời kỳ đẻ được đưa ra chuồng riêng, chúng không có cơ hội để tìm ra và xác định một vị trí tổ cho mình Lợn nái trở nên bồn chồn và thực hiện các tập tính hướng về phía sàn và vật dụng của chuồng, chẳng hạn như các thanh cũi của chuồng cũng dẫn đến

stress (Jarvis et al., 2002) Sự giam hãm, hạn chế làm tổ cũng có thể dẫn đến hiện

tượng cắn, giẫm và đè lên con, có thể mất nhiều thời gian để chuyển dạ và thích

ứng với lợn con hơn (Ahlström et al., 2002)

b Ảnh hưởng đến sức khỏe

Phản ứng stress có thể được xem như là một cơ chế phòng vệ chống lại

các thách thức môi trường mà động vật sử dụng để duy trì cân bằng (Bohus et al.,

1993) đặc biệt là hệ thống miễn dịch giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự nhiễm vi

khuẩn và virus (Roitt et al., 1991) Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng

các stress khác nhau có thể ức chế một số loại chức năng miễn dịch (Dantzer and Kelley, 1989; Griffin, 1989)

Ghép nhóm, đặc biệt là ghép những con không cùng đàn có thể gây stress dẫn đến cơ thể mẫn cảm hơn với những tác nhân gây bệnh (Hessing and Tielen,

Trang 40

1994; Mcglone et al., 1993) Theo Morrow-Tesch et al (1994) có ảnh hưởng của

stress nhiệt đến hệ thống miễn dịch trong tình trạng bầy đàn

Trong các trường hợp bị stress có thể có sự suy giảm chức năng thông

thường của hệ thống miễn dịch (Morrow-Tesch et al., 1994; Tuchscherer et al.,

2009), thậm chí có thể làm giảm khả năng đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm chủng

(De Groot et al., 2001) làm tăng khả năng mắc bệnh (Proudfoot and Habing, 2015)

tăng chi phí, giảm năng suất và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi

2.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ PHÚC LỢI Ở LỢN NÁI

Đánh giá phúc lợi động vật là đánh giá khả năng đối phó của động vật về sinh lý, tập tính, nhận thức, cảm xúc với môi trường sống Có rất nhiều các chỉ số khác nhau cùng với các phương pháp tiếp cận khoa học khác nhau để đánh giá phúc lợi động vật Không có phương pháp nào đánh giá được toàn diện phúc lợi cho động vật, tuy nhiên có nhiều cách tiếp cận khác nhau đã được đưa ra để đánh giá Nhìn chung, các tiêu chí đánh giá phúc lợi động vật có thể chia thành 4 nhóm: tập tính, thể chất, sinh lý và năng suất chăn nuôi Kết hợp các chỉ số phúc lợi liên quan vào một quy trình đánh giá phúc lợi đã từng bước được áp dụng cho

những nghiên cứu đánh giá phúc lợi ở trang trại (Sejian et al., 2011)

2.4.1 Đánh giá phúc lợi động vật dựa vào tiêu chí “5 không”

Năm 1992, Hội đồng Phúc lợi động vật trang trại của Anh (Farm Animal Welfare Council) đã căn cứ vào báo cáo của Ủy ban Chính phủ (The Brambell Committee, 1965) đề xuất ―5 Không‖ gồm: 1) Không bị đói khát; 2) Không bị bệnh tật; 3) Không bị đau; 4) Không bị stress; 5) Không bị cản trở biểu hiện tập tính bình thường

―5 Không‖ đưa ra một danh mục các khía cạnh được coi là quan trọng với tất cả mọi động vật Có thể sử dụng một hệ thống thang điểm: rất tồi, tồi,

đủ, tốt, rất tốt để đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu của từng tiêu chí ―5 Không‖ được coi là điểm khởi đầu tốt cho việc đánh giá phúc lợi động vật trên thế giới Tiếp cận đánh giá từ nền tảng đạo đức, đánh giá mức độ cư xử của con người với động vật Khái niệm ―5 Không‖ được sử dụng rộng rãi trong khoa

học về phúc lợi động vật và trong chính trị lúc bấy giờ (Korte et al., 2007) ―5

Không‖ thực sự đã có tác động rất lớn trong chiến lược bảo vệ phúc lợi động vật, được đưa vào luật pháp, các khuyến nghị và các chương trình kiểm định chất lượng phúc lợi động vật trang trại ở các nước với những tiêu chí đơn giản,

dễ nhớ (Mcculloch, 2013)

Ngày đăng: 09/01/2018, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w