1.2.3 Các biện pháp BĐTV Căn cứ năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi và hiệu quả của khoản vay và tình hình thực tế, TCTD có thể lựa chọn áp dụng một hoặc một số biện phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN CHÍ ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2005
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ TSBĐ TIỀN VAY, NỢ
TỒN ĐỌNG 1
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 1
1.1.1 Khái niệm tín dụng 1
1.1.2 Chức năng của tín dụng 2
1.1.3 Vai trò của tín dụng 3
1.1.4 Các nguyên tắc cho vay – thể loại cho vay của Ngân hàng 4
1.1.4.1 Các nguyên tắc cho vay 4
1.1.4.2 Thể loại cho vay 6
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 7
1.2.1 Sự cần thiết và quá trình hình thành cơ chế BĐTV 7
1.2.1.1 Khái niệm 7
1.2.1.2 Sự cần thiết 7
1.2.2 Mục đích – nguyên tắc BĐTV 8
1.2.2.1 Mục đích của BĐTV 8
1.2.2.2 Các nguyên tắc BĐTV 8
1.2.3 Các biện pháp BĐTV 9
1.2.3.1 Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản 9
1.2.3.2 Biện pháp BĐTV trong trường hợp cho vay không bảo đảm bằng TS 9
1.2.4 BĐTV bằng tài sản cầm cố, thế chấp và bảo lãnh của bên thứ 3 10
1.2.4.1 Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và phạm vi BĐTV của TS 10 1.2.4.2 Các loại TS dùng để BĐTV 12
1.2.4.3 Điều kiện đối với TSBĐ 17
1.2.4.4 Xác định giá trị TSBĐ tiền vay 19
1.2.4.5 Lập hợp đồng bảo đảm 22
1.2.4.6 Việc giữ tài sản và các giấy tờ của TSBĐ 23
1.2.5 Cơ sở lý luận về xử lý TSBĐ tiền vay 26
1.2.5.1 Các nguyên tắc xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ 26
1.2.5.2 Các trường hợp TCTD có quyền xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ 27
1.2.5.3 Các phương thức xử lý TSBĐ tiền vay 28
1.2.5.4 Thực hiện xử lý TSBĐ tiền vay 28
Trang 31.3 CƠ CHẾ XỬ LÝ NỢ TỒN ĐỌNG 30
1.3.1 Xử lý nợ tồn đọng có TSBĐ 30
1.3.2 Xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ và không còn đối tượng để thu hồi nợ 31
1.3.3 Xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ nhưng con nợ còn đang hoạt động 32
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ TSBĐ TIỀN VAY, NỢ TỒN ĐỌNG TẠI NHCT-VN 34
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC TCTD 34
2.1.1 Về đầu tư tín dụng cho nền kinh tế 35
2.1.2 Về chất lượng tín dụng 37
2.2 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ NHCT-VN 42
2.2.1 Khái quát 42
2.2.2 Kết quả đề án cơ cấu lại NHCT-VN hơn 4 năm thực hiện 44
2.3 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHCT-VN 50
2.3.1 Khái quát chung về hoạt động cho vay 50
2.3.2 Tình hình dư nợ cho vay 51
2.3.3 Chất lượng tín dụng 59
2.4 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BĐTV TẠI NHCT-VN 68
2.4.1 Tình hình bảo đảm tiền vay bằng tài sản 68
2.4.2 Những tồn tại trong thực hiện cơ chế BĐTV tại các Chi nhánh 70
2.5 THỰC TRẠNG XỬ LÝ TSBĐ, NỢ TỒN ĐỌNG TẠI NHCT-VN 73
2.5.1 Tình hình nợ tồn đọng tại các NHTM nhà nước 73
2.5.2 Tình hình xử lý nợ tồn đọng tại NHCT-VN 74
2.5.2.1 Đặc điểm nợ tồn đọng tại NHCT-VN 74
2.5.2.2 Tình hình xử lý nợ tồn đọng có TSBĐ 75
2.5.2.3 Tình hình xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ, không còn con nợ 78
2.5.2.4 Tình hình xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ, con nợ đang hoạt động 79
2.5.2.5 Kết quả xử lý nợ tồn đọng tại NHCT-VN 80
2.5.3 Tình hình xử lý TSBĐ tiền vay thu hồi nợ tồn đọng tại NHCT-VN 83
2.5.3.1 Những biện pháp xử lý TSBĐ thu hồi nợ tồn đọng tại NHCT-VN 83
2.5.3.2 Kết quả xử lý TSBĐ thu hồi nợ 85
2.5.3.3 Những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong công tác xử lý TSBĐ 86
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ TSBĐ TIỀN VAY, NỢ TỒN ĐỌNG TẠI NHCT-VN 89
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NHCT-VN THỜI KỲ 2005-2010 89 3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 93
3.2.1 Nâng cao chất lượng quy trình thẩm định tín dụng 93
3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của CIC 95
3.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý danh mục TSBĐ 97
3.2.4 Chuyển nợ cho vay sang nợ quá hạn 99
Trang 43.2.5 Nâng cao trình độ và phẩm chất đội ngũ cán bộ 100
3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 103
3.3.1 Vấn đề thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất 103
3.3.2 Cầm cố, bảo lãnh máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất 106
3.3.3 Xác định TSBĐ hình thành từ vốn ngân sách nhà nước 107
3.4 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ XỬ LÝ TSBĐ TIỀN VAY 111
3.4.1 Xử lý TSBĐ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 111
3.4.2 Xử lý tài sản bảo lãnh của bên thứ 3 114
3.4.3 Vấn đề thuế trong hoạt động xử lý TSBĐ 116
3.5 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TSBĐ TIỀN VAY 121
3.5.1 Hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá và quy trình bán đấu giá 121
3.5.2 Thủ tục và phí THA 126
3.5.3 Đăng ký GDBĐ 129
3.5.4 Công chứng, chứng nhận hợp đồng BĐTV 135
3.5.5 Thủ tục giải quyết các tranh chấp theo con đượng tố tụng 138
3.5.6 Thủ tục giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến TSBĐ 141
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: ĐIỀU TRA THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cưú đề tài:
Cho vay vốn tiền tệ là một trong những chức năng cơ bản của các TCTD, của NHTM nói chung và của NHCT Việt Nam nói riêng Nhờ chức năng đó mà các nguồn vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng không hiệu quả trong xã hội được tập trung để phân phối lại, đáp ứng các nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hoá và tiêu dùng làm cho tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội được nâng cao hơn, sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn
Trong những năm qua, các NHTM đồng thời với việc nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản lý, chất lượng tín dụng, đã hoàn thiện dần cơ chế về tín dụng, nhất là cơ chế về bảo đảm tiền vay, phòng ngừa rủi ro, ngăn ngừa các khoản nợ khó đòi phát sinh và đẩy mạnh cho vay đầu tư vốn cho sản xuất Tuy nhiên trong một môi trường tài chính đầy rủi ro đối với các khách hàng vay có bảo đảm bằng tài sản và không có bảo đảm bằng tài sản vì do phần lớn các doanh nghiệp là đối tượng cho vay của Ngân hàng hoạt động không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp cho nên dù nợ tồn đọng cũ có được giải quyết thì nợ quá hạn mới sẽ lại tiếp tục phát sinh, dẫn đến việc thu hồi nợ khó khăn và kéo dài làm cho chất lượng tín dụng thấp
Do đó, để nâng cao chất lượng tín dụng giảm thiểu rủi ro tín dụng, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của hệ thống NHTM nói chung và đặc biệt là NHCT Việt Nam, một Ngân hàng đang phải cơ cấu lại tài chính, trong đó xử lý nợ tồn đọng và nợ quá hạn phát sinh là một vấn đề quan trọng, do vậy xử lý TSBĐ để thu hồi nợ cho NHCT Việt Nam một cách có
Trang 6hiệu quả là công việc thường xuyên và liên tục trong cơ chế cho vay có bảo đảm bằng tài sản hiện nay
Thực hiện tốt nhiệm vụ trên sẽ góp phần phát triển kinh tế xã hội trong những năm trước mắt và những năm sau, đưa nước ta ngang tầm với những nước vào loại khá trên thế giới, thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành ngân hàng và các ngành có liên quan là nghiên cứu hoàn thiện cơ chế xử lý TSBĐ tiền vay, phòng ngừa rủi ro để xử lý nhanh các khoản nợ xấu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, tăng khối lượng tín dụng và vòng quay vốn qua ngân hàng
Để có cơ sở nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế này, người viết đã cố gắng nghiên cứu, vận dụng lý luận về tín dụng trong nền kinh tế thị trường, đường lối chính sách của Đảng đã được học trong chương trình Đại học, Cao học; nghiên cứu và vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến đề tài, đồng thời kết hợp phân tích hoạt động thực tế, những tiến bộ khó khăn vướng mắc khi thực hiện cơ chế xử lý TSBĐ tiền vay, thu nợ tồn đọng tại NHCT Việt Nam; thông qua các cuộc trao đổi với một số cán bộ đã và đang làm việc tại các NHTM khác, và một số cán bộ đang công tác tại các cơ quan hữu quan … lấy ý kiến, để tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn có liên quan đến cơ chế bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong đó có cơ chế xử lý TSBĐ tiền vay, thu nợ tồn đọng cho ngân hàng một cách khoa học, có cơ sở
2 Xác định vấn đề nghiên cứu:
Như được trình bày ở trên, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn công tác xử lý TSBĐ tiền vay, thu nợ tồn đọng là làm sao thu được nhanh chóng nợ xấu, lành mạnh tình hình tài chính ngân hàng Như vậy vấn đề thử thách dành cho người viết, là làm sao nêu lên được những quy định pháp luật hiện hành về xử lý TSBĐ, thu
Trang 7nợ tồn đọng được thực hiện trong thực tế như thế nào, để từ đó tìm ra những khó khăn vướng mắc, mà có những đề xuất khắc phục lên các cơ quan nhà nước có trách nhiệm
Đây là vấn đề nghiên cứu vừa mới mẻ vừa có tính hữu ích cao ở Việt Nam hiện nay Nó mới mẽ vì mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật đã có quy định nhưng việc thực hiện cơ chế này vào trong thực tế hiện nay là không có hiệu quả hay nói cách khác là hiện nay các NHTM vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi áp dụng
cơ chế bảo đảm tiền vay cũng như cơ chế xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ một cách nhanh chóng Vấn đề nghiên cứu này có tính hữu ích cao vì kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các NHTM và các cơ quan nhà nước có liên quan phối hợp và thực hiện cơ chế một cách có hiệu quả, tránh được những chồng chéo, khó khăn, giảm chi phí phát sinh trong hoạt động tín dụng, đẩy nhanh tốc độ cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, giải toả vốn đóng băng cho nền kinh tế, lành mạnh tình hình tài chính ngân hàng trong lộ trình hội nhập quốc tế
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Để có thể giải quyết được vấn đề cần nghiên cứu trên đây, nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của đề tài nghiên cứu này là phải đạt được 3 mục tiêu sau đây:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận vai trò của TSBĐ tiền vay được sử dụng như là công cụ hạn chế rủi ro tín dụng Đề tài nhấn mạnh về bảo đảm tiền vay, xử lý TSBĐ tiền vay, thu nợ tồn đọng theo quy định của pháp luật
- Phản ánh và đánh giá đúng thực trạng của hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng NHCT Việt Nam, cũng như những nổ lực xử lý TSBĐ, thu nợ tồn đọng mà pháp luật đã quy định, từ đó tìm ra những vướng mắc khó khăn trong công tác này
Trang 8- Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, tìm ra giải pháp kiến nghị với các cấp có thẩm quyền nhằm tháo gỡ những khó khăn, tìm ra một cơ chế thích hợp để có thể phát triển tín dụng mà chất lượng tín dụng vẫn được nâng cao, hoạt động của ngành Ngân hàng ngày càng có hiệu quả và an toàn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng lý luận, pháp luật vào thực tiễn hoạt động xử lý TSBĐ tiền vay, thu nợ tồn đọng ở các NHTM Việt Nam hiện nay Như đã đề cập trong phần mục tiêu nghiên cứu, đề tài phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng tính chất hợp lý và ưu việt của từng loại phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp duy vật biện chứng, gắn liền với các phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh để thu thập số liệu, phân tích số liệu…
5 Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được trình bày thành 3 phần:
- Phần 1 là phần mở đầu, giới thiệu đề tài và trình bày những vấn đề liên quan đến phương pháp luận trong nghiên cứu
- Phần 2 là phần nội dung của đề tài được trình bày thành 3 chương, những vấn đề cơ bản về xử lý TSBĐ tiền vay, nợ tồn đọng được trình bày trong chương 1 Chương 2 giới thiệu chi tiết để phân tích đánh giá thực trạng xử lý TSBĐ tiền vay, nợ tồn đọng tại NHCT Việt Nam Chương 3 đề xuất một số giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý TSBĐ tiền vay
- Phần 3 là phần kết luận, nêu một cách khái quát những nội dung đề tài nghiên cứu và những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu
Trang 9Phần 2 là phần nội dung của đề tài, người viết đã cố gắng thực hiện trong thời gian từ ngày 15/06/2005 đến 10/09/2005 bằng nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy PGS.TS.Trần Hoàng Ngân, cùng với sự đóng góp ý kiến của nhiều cán bộ đồng nghiệp, tham khảo nhiều tài liệu quý giá của các tác giả có liên quan đến đề tài, đề tài của người viết đã hoàn thành
Tuy nhiên vấn đề đặt ra của đề tài là rất lớn và phức tạp có liên quan đến nhiều lĩnh vực nên nội dung của đề tài còn chưa đầy đủ và mang tính chủ quan, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thiện và mang tính thực tiễn hơn
Xin cảm ơn chân thành
Trang 10CHƯƠNG1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ XỬ LÝ
TSBĐ TIỀN VAY
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quan hệ tín dụng đơn giản, chủ yếu là hiện vật, đó là tín dụng nặng lãi Tín dụng nặng lãi phản ánh thực trạng nền sản xuất khi đó là tiểu nông, phân tán, hàng hóa nhỏ kém phát triển Khi chủ nghĩa
tư bản ra đời và nhất là trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển thì quan hệ tín dụng phát triển mạnh, có nhiều hình thức phong phú hơn Lúc này, tín dụng bằng hiện vật đã nhường chỗ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng nặng lãi phi kinh tế nhường chỗ cho các hình thức tín dụng kinh tế ưu việt hơn
Mặc dù tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội có nhiều hình thức khác nhau và ngày một hoàn thiện, tiến bộ hơn nhưng bản chất của tín dụng vẫn là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi, và có 3 tính chất quan trọng sau đây :
kim hay bằng tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, mà không làm thay đổi quyền sở hữu chúng
- Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn được xác định và phải được hoàn trả
Trang 11- Vốn tín dụng không những được bảo tồn mà còn được tăng thêm một phần nhờ lợi tức tín dụng
1.1.2 Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hóa, tín dụng có 2 chức năng sau :
• Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở hoàn trả
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng được thông qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng và các TCTD là các tổ chức trung gian Nhờ đó mà những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, chưa sử dụng trong xã hội được tập trung lại để phân phối cho những doanh nghiệp, cá nhân hay cả Ngân sách nhà nước đang có nhu cầu sử dụng vốn để mở rộng sản xuất, dịch vụ và lưu thông hàng hóa
Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, thì việc tập trung và phân phối lại vốn còn được thể hiện bằng các loại hình tín dụng đa dạng phong phú hơn như các loại hình tín dụng trực tiếp mua bán chịu hàng hóa của các tổ chức kinh tế hoặc nhà nước, hay các tổ chức kinh tế sẽ tự huy động vốn bằng việc phát hành các chứng từ có giá trị như tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu … trên thị trường chứng khoán, tạo điều kiện phân phối vốn một cách linh hoạt và có hiệu quả hơn
• Kiểm soát các hoạt động kinh tế
Nhờ thông qua quá trình tập trung và phân phối vốn nên tín dụng đã góp phần phản ánh tình hình thực trạng khối lượng tiền mặt nhàn rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn đầu tư cho sản xuất - kinh doanh dịch vụ của từng thời kỳ, và có cơ sở xây dựng những quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế như tích lũy và tiêu dùng
Trang 12Đồng thời, nhờ thực hiện quá trình theo dõi kiểm tra việc sử dụng vốn của các tổ chức kinh tế và thông qua việc tính toán không dùng tiền mặt, nên các hoạt động của Ngân hàng đã phản ánh và kiểm tra được các hoạt động kinh tế, góp phần phát huy vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước
1.1.3 Vai trò của tín dụng
Tín dụng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội
• Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
Tín dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn của doanh nghiệp tạm thời thừa cho những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời để bảo đảm cho quá trình sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn
Đồng thời, nhờ chức năng tập trung và phân phối vốn nên Ngân hàng có thể giúp cho những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có dự án tốt có vốn để đầu
tư mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh, rút ngắn được thời gian tự tích lũy
• Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ - ổn định giá cả
Với chức năng huy động vốn với lãi suất hợp lý để đầu tư cho sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, tín dụng đã trở thành công cụ điều tiết nhạy bén góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, bảo đảm cân đối tiền – hàng, góp phần ổn định tiền tệ, giá cả, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trang 13• Góp phần ổn định đời sống, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội
Tín dụng góp phần quan trọng trong đầu tư vốn sản xuất - kinh doanh một cách có hiệu quả nên tình hình kinh tế – xã hội giữ được ổn định và phát triển, nhờ vậy đời sống nhân dân được cải thiện
Đồng thời, các Ngân hàng và TCTD còn chú ý đầu tư cho các hộ gia đình phát triển sản xuất nhất là việc mở rộng các hình thức tín dụng với chính sách ưu đãi cho hộ nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định trật tự xã hội
1.1.4 Các nguyên tắc cho vay – thể loại cho vay của Ngân hàng
1.1.4.1 Các nguyên tắc cho vay
Cho vay là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của TCTD, không những có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế xã hội mà còn đối với bản thân NHTM,
vì nó tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu và lợi nhuận Ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động cho vay cũng mang tính rủi ro lớn, vì vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng, hiệu quả của bản thân ngành Ngân hàng và hiệu quả chung của nền kinh tế xã hội thì việc cho vay của Ngân hàng, kể cả cho vay ngắn hạn và dài hạn đầu tư phát triển phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết
Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu lấy từ nguồn huy động của khách hàng mà Ngân hàng có nghĩa vụ phải hoàn trả khi họ có yêu cầu và lợi nhuận của Ngân hàng cũng chủ yếu từ lãi vay, do đó, có thực hiện nguyên tắc vốn
Trang 14vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi thì mới bảo đảm cho Ngân hàng tồn tại, nâng cao chất lượng tín dụng và tín nhiệm của Ngân hàng Đồng thời bảo đảm Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho nền kinh tế quốc dân
• Sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả
Đó là nguyên tắc vốn có của tín dụng nhằm đáp ứng vốn thực hiện mục đích cụ thể của hoạt động sản xuất - kinh doanh, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả Tín dụng đúng mục đích và có hiệu quả không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng Hiệu quả của tín dụng trước hết là góp phần đẩy nhanh nhịp độ phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, lúc đó, vốn vay được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn cho Ngân hàng, như vậy đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng
• Vốn vay phải được đảm bảo bằng vật tư hàng hóa tương đương
Do tính chất vận động của vốn tín dụng ngắn hạn là gắn liền với vận động vật tư hàng hóa, sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nên phải bảo đảm giá trị vật tư hàng hóa tương đương với những khoản tín dụng đang thực hiện Đối với khoản vay trung và dài hạn thì khối lượng thi công và chi phí đầu tư theo luận chứng kinh tế kỹ thuật phải phù hợp với các khoản tín dụng đầu tư
• Nguyên tắc BĐTV
Là việc các TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngửa rủi ro, bảo đảm khả năng thanh toán, bằng việc tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản vốn đã cho khách hàng vay
Trang 151.1.4.2 Thể loại cho vay
TCTD xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển
- Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
tháng đến 60 tháng
- Cho vay dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BĐTV
1.2.1 Sự cần thiết và quá trình hình thành cơ chế BĐTV
Tuy nhiên cho vay cũng đầy rủi ro và dễ phát sinh rủi ro gây ra thất thoát cho Ngân hàng, ảnh hưởng đến nền kinh tế Để nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn vốn, thu hồi vốn và lãi đúng hạn thì phải có một cơ chế BĐTV Trong đó BĐTV bằng tài sản có vai trò rất lớn, nó là chỗ dựa tin cậy trong việc đưa ra
Trang 16quyết định cấp tín dụng và TSBĐ có tác dụng rất tốt trong việc giảm thiểu bất lợi
do thông tin bất cân xứng, ngăn ngừa sự xuất hiện của tâm lý ỷ lại sau khi cho vay, hơn nữa trong điều kiện thị trường tài chính chưa đạt được độ hoàn hảo cần thiết, đã đặt các TCTD vào lựa chọn coi tài sản BĐTV là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định cấp tín dụng Do vậy hiện nay chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản đang được xem là tiêu chuẩn quan trọng của các TCTD Trong khi về nguyên lý TSBĐ chỉ là một yếu tố có giá trị tham chiếu trong quyết định cấp tín dụng
Như vậy hiện nay các TCTD thực hiện tốt cơ chế BĐTV bằng tài sản là một trong những điều kiện pháp lý quan trọng tạo lập môi trường ổn định cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng
1.2.2 Mục đích – nguyên tắc BĐTV
1.2.2.1 Mục đích của BĐTV
Qua khái niệm BĐTV, ta nhận thấy TCTD yêu cầu khách hàng tín dụng thực hiện các biện pháp BĐTV nhằm các mục đích sau:
• Nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay
• Phòng ngừa rủi ro khi phương án trả nợ dự kiến của bên vay không thực hiện được, hoặc xảy ra các rủi ro không lường trước
• Phòng ngừa gian lận
1.2.2.2 Các nguyên tắc BĐTV
• Nguyên tắc đầu tiên để bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tín dụng là TCTD có quyền chủ động lựa chọn, quyết định biện pháp
Trang 17cho vay BĐTV bằng tài sản hay không bằng tài sản và tự chịu trách nhiệm, nếu Chính phủ chỉ định TCTD cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, khi có tổn thất do nguyên nhân khách quan thì được Chính phủ xử lý
trong quá trình sử dụng vốn vay khách hàng vi phạm cam kết thì TCTD có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước thời hạn
• TCTD có quyền xử lý tài sản BĐTV theo quy định của Pháp luật để thu hồi nợ khi khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết
thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết
1.2.3 Các biện pháp BĐTV
Căn cứ năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi và hiệu quả của khoản vay và tình hình thực tế, TCTD có thể lựa chọn áp dụng một hoặc một số biện pháp BĐTV sau:
1.2.3.1 Biện pháp BĐTV bằng tài sản:
• Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay
• Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: là việc bên bảo lãnh cam kết với TCTD về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của mình, đối với doanh nghiệp nhà nước là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Trang 18• Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD
1.2.3.2 Biện pháp BĐTV trong trường hợp cho vay không bảo đảm bằng tài sản:
tài sản
chức đoàn thể chính trị-xã hội
1.2.4 BĐTV bằng tài sản cầm cố, thế chấp và bảo lãnh của bên thứ 3
1.2.4.1 Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và phạm vi BĐTV của tài
sản:
• Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với TCTD Nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với TCTD bao gồm tiền vay
(nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, các khoản phí (nếu có)
• Giá trị TSBĐ được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm và phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm Mức chênh lệch phải dự kiến đủ để bù đắp phần mất giá tại thời điểm phát mãi so với lúc định giá (trừ trường hợp ngân hàng và khách hàng vay thoả thuận bảo đảm bằng tài sản như một biện pháp bổ
sung đối với khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản )
• Một nghĩa vụ trả nợ cho TCTD có thể được bảo đảm bằng một hoặc nhiều tài sản; bằng một hoặc nhiều biện pháp bảo đảm
Trang 19• Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm cho nhiều khoản vay khác nhau tại nhiều TCTD, khi đó các TCTD phải cùng thỏa thuận với nhau bằng văn bản cử đại diện giữ bản chính giấy tờ liên quan đến TSBĐ, việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ nếu khách hàng không trả được nợ theo nguyên tắc: TCTD nào có điều kiện thuận lợi hơn trong việc quản lý TSBĐ sẽ giữ bản chính giấy tờ liên quan đến TSBĐ, số tiền thu được từ việc xử lý TSBĐ sẽ được dùng để trả cho các khoản
nợ theo tỷ lệ dư nợ cho vay của các TCTD
• Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm cho nhiều khoản tín dụng khác nhau tại nhiều TCTD khác nhau; khi đó khách hàng vay, bên bảo lãnh phải có trách nhiệm thông báo cho TCTD nhận bảo đảm tiếp theo về các lần bảo đảm trước đó (riêng các TSBĐ là máy móc, thiết bị gắn liền với nhà xưởng, công trình xây dựng, các tài sản khác gắn liền với đất mà pháp luật chưa có quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì không được dùng đó bảo đảm cho nhiều khoản tín dụng khác nhau tại nhiều TCTD khác nhau); nếu không thông báo thì phải bồi thường như khi có thiệt hại xảy ra cho bên bị hại Khi có phát sinh nhu cầu
BĐTV như trên, TCTD thực hiện theo hướng dẫn dưới đây:
vay mới phải tính toán giá trị còn lại của tài sản có thể sử dụng để bảo đảm cho khoản vay tại TCTD, phải thoả thuận bằng văn bản với TCTD đã nhận bảo đảm về việc cử đại diện giữa bản chính giấy tờ liên quan đến TSBĐ và việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ nếu khách hàng không trả được nợ Đồng thời TCTD phải cùng với khách hàng vay, bên bảo lãnh và TCTD khác tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán TCTD phải theo dõi việc trả nợ của khách hàng đối với tất cả các khoản vay Trường hợp thời hạn cho vay của khoản vay trước (tại TCTD khác) ngắn hơn thời hạn cho vay của khoản vay tại TCTD, khi
Trang 20khách hàng trả hết nợ tại TCTD đó, TCTD phải yêu cầu các bên cùng thay đổi thứ tư ưu tiên thanh toán tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm
khách hàng dùng TSBĐ cho khoản vay tại TCTD khác sau khi có văn bản chấp thuận của Tổng giám đốc TCTD Trong trường hợp này, TCTD đã cho vay và TCTD đó phải thoả thuận bằng văn bản với nhau về việc cử TCTD nào làm đại diện giữ bản chính giấy tờ liên quan đến TSBĐ và việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ nếu khách hàng không trả được nợ Đồng thời các TCTD phải cùng với khách hàng vay, bên bảo lãnh tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, trong đó TCTD cho vay trước phải là tổ chức được ưu tiên thanh toán
• Trường hợp nhiều bên cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của khách hàng vay thì các bên bảo lãnh phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; TCTD nhận bảo lãnh có thể yêu cầu bất cứ một trong số các bên bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh Trường hợp TCTD nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với khách hàng vay được bảo lãnh thì bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
1.2.4.2 Các loại TS dùng để BĐTV
Các tài sản liệt kê sau đây theo quy định của pháp luật là những tài sản thuộc loại khách hàng có thể dùng làm BĐTV Tuy nhiên, căn cứ vào chính sách tín dụng của NHCT-VN nhằm nâng cao chất lượng TSBĐ, Các chi nhánh NHCT-
VN chủ yếu chỉ nhận những TSBĐ có tính thanh khoản cao, có giá trị và ít bị mất giá theo thời gian để khi cần xử lý phải đảm bảo thu hồi được gốc và lãi của khoản vay Đối với những loại tài sản khác không đáp ứng yêu cầu của chính sách tín
Trang 21dụng, các Chi nhánh chỉ nên áp dụng trong các trường hợp phải bổ sung TSBĐ Riêng một số loại tài sản đặc biệt các Chi nhánh chỉ được chấp nhận làm BĐTV khi có ý kiến phê duyệt của Tổng giám đốc NHCT-VN bao gồm: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, tàu bay, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp…
1.2.4.2.1 Các loại tài sản cầm cố:
• Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá trị khác;
• Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gởi tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ;
• Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gởi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ khác trị giá bằng tiền, cổ phiếu do TCTD khác phát hành;
• Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác;
vốn đầu tư nước ngoài;
• Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật;
của Luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố;
• Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận;
Trang 22• Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Lưu ý:
- Cần thỏa thuận trước với khách hàng về việc coi hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố nếu pháp luật không có quy định gì khác
- Tương tự, nếu tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản tiền phát sinh từ bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố
1.2.4.2.2 Các loại tài sản thế chấp
• Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà
ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất;
• Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp; theo luật đất đai năm 2003 quy định các đối tượng sau đây được quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại các TCTD được phép hoạt động tại Việt Nam
để vay vốn sản xuất, kinh doanh:
- Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
- Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/07/2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có quyền được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất
- Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
Trang 23- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất để vay vốn sản xuất, kinh doanh
mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có quyền thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất
dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được giao đất có thu tiền sử dụng đất
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế có quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất đối với trường hợp đã trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, thời gian thuê lại
đây chỉ được thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; không được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất:
- Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
- Tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
- Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất sau ngày 01/07/2004;
Trang 24- Tổ chức kinh tế đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
- Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất sau ngày 01/07/2004;
- Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê lại đất trong khu công nghiệp;
- Cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư có sử dụng đất;
dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm;
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam chỉ có quyền thế chấp nhà ở gắn liền
với đất (không được bảo lãnh)
của Luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp;
• Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà bên thế chấp có quyền nhận;
• Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Lưu ý:
thuộc tài sản thế chấp Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản
Trang 25có vật phụ, thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có sự thỏa thuận với khách hàng
+ Nếu tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền phát sinh từ bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp
1.2.4.2.3 Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Tài sản của bên thứ ba dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm các tài sản theo quy định tại mục 1.1.7.1 và 1.1.7.2
1.2.4.3 Điều kiện đối với TSBĐ
TCTD chỉ xem xét chấp nhận những tài sản đáp ứng các điều kiện sau làm BĐTV:
1.2.4.3.1 Thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý của khách
hàng vay hoặc bên bảo lãnh:
xuất trình các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản hoặc giấy chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định hiện hành của pháp luật (đó là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một số loại giấy tờ khác quy định tại khoản 1,2,5 điều 50 Luật đất đai năm 2003)
• Đối với giá trị quyền sử dụng đất, phải thuộc quyền sử dụng của khách hàng vay, bên bảo lãnh và được thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật về đất đai
• Đối với tài sản của doanh nghiệp nhà nước, thì phải là tài sản do nhà nước giao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để BĐTV theo quy định
Trang 26của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước Tổng công ty nhà nước được cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản mà nhà nước giao cho quản lý, sử dụng, sau khi trừ đi giá trị tài sản đã giao cho các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập Khi doanh nghiệp nhà nước cầm cố, thế chấp tài sản là toàn bộ dây chuyền công nghệ chính theo quy định của cơ quan quản lý ngành kinh tế-kỹ thuật, thì phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đó đồng ý bằng văn bản Việc cầm cố, thế chấp tài sản không phải là dây chuyền công nghệ chính thì do doanh nghiệp nhà nước và TCTD thoả thuận Đối với doanh nghiệp nhà nước mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định khoán kinh doanh hoặc cho thuê, thì việc cầm cố, thế chấp tài sản vay vốn tại TCTD phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản
• Đối với tài sản khác, thì phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bên bảo lãnh Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
1.2.4.3.2 Thuộc loại tài sản được phép giao dịch và có tính thanh khoản:
Tài sản được phép giao dịch và có tính thanh khoản là các loại tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khác và dễ mua bán, chuyển nhượng trong khoảng thời gian cho vay
1.2.4.3.3 Không có tranh chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm:
TCTD yêu cầu khách hàng vay, bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản về việc tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu tài sản đó và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của mình (đối với TSBĐ là quyền sử dụng đất thì phải cam kết
Trang 27đất không có tranh chấp về quyền sử dụng và Cán bộ thẩm định phải đi xác minh ở cơ quan liên quan để bảo đảm đất đó không nằm trong vùng quy hoạch giải tỏa)
1.2.4.3.4 Phải mua bảo hiểm nếu pháp luật quy định hoặc TCTD yêu cầu
• Đối với các tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì TCTD yêu cầu khách hàng vay, bên bảo lãnh xuất trình hợp đồng mua bảo hiểm trong thời hạn BĐTV với số tiền bảo hiểm tối thiểu bằng mức dư nợ cho vay, trừ những tài sản là sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu của các TCTD và Kho bạc nhà nước phát hành, số dư tài khoản tiền gởi, vàng, ngoại tệ bằng tiền mặt, kim khí quý, đá quý, quyền sử dụng đất
hiểm nhưng TCTD xét thấy cần phải mua bảo hiểm đối với TSBĐ để nâng cao tính an toàn thì TCTD có thể yêu cầu khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho TSBĐ đó
vay, bên bảo lãnh về việc chuyển tên người hưởng trong hợp đồng bảo hiểm cho TCTD trong trường hợp có rủi ro xảy ra Trường hợp không thoả thuận được điều này, TCTD buộc khách hàng phải cam kết bằng văn bản về việc chuyển toàn bộ số tiền được đền bù theo hợp đồng bảo hiểm để thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác tại TCTD
1.2.4.4 Xác định giá trị tài sản BĐTV
1.2.4.4.1 Nguyên tắc chung
năng chuyên môn thực hiện
Trang 28• Tài sản BĐTV phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm, ký kết văn bản thoả thuận tu chỉnh/bổ sung hợp đồng bảo đảm (trong trường hợp thoả thuận thay đổi nghĩa vụ được bảo đảm); việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ để làm cơ sở xác định mức cho vay và không áp dụng khi xử lý tài sản để thu hồi nợ
• Việc định giá phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế, đảm bảo tính khách quan, minh bạch Cán bộ thẩm định không được định giá TSBĐ trái với quy định của pháp luật và của TCTD
• Giá trị TSBĐ được xác định bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản đó Trong trường hợp tài sản thế chấp là toàn bộ bất động sản có vật phụ, thì giá trị của vật phụ cũng thuộc giá trị tài sản thế chấp; nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì giá trị vật phụ chỉ thuộc giá trị tài sản thế chấp khi các bên có thỏa thuận
• Trong trường hợp có thoả thuận với khách hàng về việc thế chấp quyền sử dụng đất đai và tài sản gắn liền với đất thì giá trị TSBĐ bao gồm giá trị quyền sử dụng đất cộng giá trị tài sản gắn liền với đất
của tất cả các thành viên
1.2.4.4.2 Xác định giá trị TSBĐ không phải là quyền sử dụng đất
• Tài sản là ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gởi tại TCTD bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ; giá trị TSBĐ bằng đúng với giá trị ngoại tệ bằng tiền mặt hoặc số dư tiền Việt Nam trên tài khoản
• Tài sản là giấy tờ có giá đã được các TCTD, cơ quan quản lý ngân sách nhà nước chấp nhận thanh toán hoặc bảo lãnh thanh toán, giá trị TSBĐ là giá trị được chấp nhận thanh toán hoặc bảo lãnh thanh toán
Trang 29• Giá trị TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ khá, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, thương hiệu được hướng dẫn taị quy định riêng của TCTD
• Tài sản là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng: Cán bộ thẩm định của TCTD căn cứ giá trị ghi trên hoá đơn mua hàng, giá trị còn lại ghi trên sổ sách sau khi đã trừ đi giá trị khấu hao, giá công bố trên báo chí, giá chào bán của các đại lý bán hàng, hoá đơn bán hàng qua đấu thầu, tham khảo giá thị trường cùng loại tại thời điểm định giá…để xác định giá trị TSBĐ; Cán bộ thẩm định cũng phải tính đến các yếu tố như:
- Đặc tính của tài sản: tuổi thọ kỹ thuật, giá trị sử dụng, khả năng sinh lời của tài sản, tốc độ hao mòn hữu hình và vô hình của tài sản
- Đặc tính thị trường của tài sản: khả năng bán, chuyển nhượng, sự biến động giá cả
- Hiện trạng của tài sản
- Giá trị có thể thu hồi khi phải xử lý TSBĐ
• Trường hợp năng lực và kỹ thuật của TCTD không đủ để xác định giá trị TSBĐ một cách chính xác, TCTD phải thuê một tổ chức chuyên môn có chức năng định giá độc lập để xác định giá trị TSBĐ Trong trường hợp này, bên bảo đảm phải chịu mọi chi phí do việc thuê tổ chức chuyên môn đó
1.2.4.4.3 Xác định giá trị TSBĐ làø quyền sử dụng đất
nghiệp, lâm nghiệp; đất ở; đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp; đất do nhà nước giao có thu tiền đối với tổ chức
Trang 30kinh tế; đất mà tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng đất hợp pháp thì giá trị quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh do TCTD và khách hàng vay, bên bảo lãnh thoả thuận theo giá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó tại thời điểm thế chấp TCTD xem xét, quyết định mức cho vay và tự chịu trách nhiệm
về rủi ro vốn cho vay
• Đất do nhà nước cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế thuê mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm, thì giá trị quyền sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh bao gồm tiền đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng khi được nhà nước cho thuê đất (nếu có), tiền thuê đất đã
trả cho nhà nước sau khi trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng
• Trường hợp thế chấp, bảo lãnh giá trị quyền sử dụng đất mà người thuê đất được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật, thì giá trị quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh được tính theo giá trị thuê đất trước khi miễn, giảm
• Đất được nhà nước giao cho tổ chức kinh tế không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất được nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê đã trả tiền thuê đất hàng năm hoặc đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời gian thuê đất đã trả tiền còn lại dưới 5 năm, thì giá trị tài sản thế chấp không tính giá
trị quyền sử dụng đất
1.2.4.5 Lập hợp đồng bảo đảm
Việc lập hợp đồng bảo đảm là một bước trong quá trình cho vay hoặc bảo lãnh
1.2.4.5.1 Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất:
Trang 31Hợp đồng này phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì chủ sử dụng đất được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất
Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng tín dụng, bên thế chấp, bên được bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký thế chấp, bảo lãnh tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, người đã thế chấp, đã được bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất gởi đơn xin xóa đăng ký thế chấp, bảo lãnh đến nơi đã đăng ký thế chấp, bảo lãnh;
1.2.4.5.2 Hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản :
Hợp đồng này phải được chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong trường hợp: đồng sở hữu TSBĐ bị mất năng lực hành vi hoặc khi khách hàng vay, bên bảo lãnh hoặc đồng sở hữu TSBĐ trên 65 tuổi Trong trường hợp khác, việc chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền đối với hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản được thực hiện theo thoả thuận giữa TCTD và khách hàng vay, bên bảo lãnh
Việc đăng ký, xoá đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện theo quy định của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm
1.2.4.6 Việc giữ tài sản và các giấy tờ của TSBĐ
Trang 32Sau khi ký hợp đồng bảo đảm, TCTD và bên bảo đảm thực hiện việc bàn giao tài sản, giấy tờ của tài sản, tuỳ theo từng loại tài sản, phương thức quản lý TSBĐ có thể được thực hiện theo 1 trong 3 phương thức sau:
• Bên bảo đảm quản lý tài sản, TCTD quản lý hồ sơ
trường hợp này TCTD, bên bảo đảm cùng bên thứ ba quản lý tài sản phải có hợp đồng tay ba ghi rõ việc giao, xuất tài sản phải có lệnh giải tỏa của TCTD
1.2.4.6.1 Đối với tài sản cầm cố
quản lý; hoặc giao cho bên thứ ba được TCTD chỉ định quản lý; Nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu, thì các bên có thể thỏa thuận bên bảo đảm được quản lý và sử dụng tài sản cầm cố hoặc giao cho người thứ ba quản lý, nhưng TCTD phải quản lý bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
• Đối với tài sản cầm cố không phải đăng ký quyền sở hữu: việc cầm cố bằng tài sản này phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm
• Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là phương tiện vận tải, phương tiện đánh bắt thủy hải sản có giấy chứng nhận đăng ký theo quy định của pháp luật, TCTD phải quản lý bản chính giấy chứng nhận đăng ký Khách hàng vay, bên bảo lãnh dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng nhà nước và xác nhận của TCTD để lưu hành phương tiện trong thời hạn cầm cố TCTD chỉ xác nhận vào một bản sao giấy chứng nhận đăng ký sau khi đã có chứng nhận của Công chứng nhà nước Nội dung xác nhận: “Bản chính đang lưu giữ tại…từ ….đến…” Bản sao giấy chứng nhận đăng ký có chứng nhận của Công chứng nhà nước và xác nhận của TCTD chỉ có giá trị lưu hành phương tiện trong thời hạn cầm cố,
Trang 33thế chấp kể cả thời hạn được gia hạn nợ (TCTD xác nhận gia hạn nợ trên Bản sao này) Vì vậy, khi hết hạn sử dụng bản sao giấy chứng nhận đăng ký hoặc khi trả hết nợ, thì bên bảo đảm phải nộp lại cho TCTD
tài khoản để cầm cố
• Trường hợp cầm cố số dư tiền gởi tại TCTD khác: TCTD yêu cầu bên bảo đảm làm các thủ tục phong toả tài khoản của mình và phải có xác nhận bằng văn bản của TCTD nơi gởi tiền
• Trường hợp cầm cố các giấy tờ có giá khác: việc phong toả cũng được thực hiện tương tự Riêng đối với các loại chứng khoán niêm yết, bên bảo đảm phải lấy xác nhận phong toả của Trung tâm giao dịch chứng khoán
• Tài sản cầm cố, bảo lãnh là tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên….TCTD phải giữ bản chính giấy tờ chứng minh về quyền tài sản
1.2.4.6.2 Đối với tài sản thế chấp
• Khi thế chấp tài sản, tài sản thế chấp do bên bảo đảm quản lý, trừ trường hợp các bên thoả thuận cho TCTD hoặc bên thứ ba quản lý Nếu tài sản thế chấp là tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì TCTD phải quản lý bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
giữ bản sao giấy chứng nhận đăng ký có chứng nhận của Công chứng nhà nước (bản chính chủ phương tiện giữ để lưu hành)
Trang 341.2.5 Cơ sở lý luận về xử lý TSBĐ tiền vay
1.2.5.1 Các nguyên tắc xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ
Việc xử lý tài sản BĐTV để thu hồi nợ đối với các khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
• Tài sản BĐTV sẽ được xử lý bao gồm cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản của bên bảo lãnh phải được xử lý tại thời điểm đến hạn mà khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ nhằm thu hồi nợ cho TCTD
• Tài sản BĐTV phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã thỏa thuận, khi các bên không xử lý theo phương thức đã thỏa thuận thì TCTD có quyền bán, chuyển nhượng tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ hoặc yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: nếu bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì xử lý tài sản của bên bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
• TCTD có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ và ủy quyền cho bên thứ 3 xử lý tài sản BĐTV và trong trường hợp này bên thứ 3 cũng có quyền xử lý tài sản như đối với TCTD
• Trong trường hợp một TSBĐ thực hiện nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ khi đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và xử lý tài sản để thu hồi nợ
• Việc xử lý tài sản phải nhanh chóng, công khai, bảo đảm lợi ích của các bên, nếu tài sản không xử lý được do không thỏa thuận được giá bán, thì TCTD có quyền quyết định giá bán tài sản để thu hồi nợ
• Các chi phí phát sinh trong xử lý tài sản do khách hàng, bên bảo lãnh chịu Tiền thu được từ xử lý tài sản BĐTV sau khi trừ chi phí xử lý thì TCTD thu nợ theo
Trang 35thứ tự gốc, lãi vay, lãi quá hạn, các khoản chi phí khác (nếu có) và sau khi xử lý tài sản, nếu không đủ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, nếu thừa thì trả lại cho khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh Nguyên tắc này đã khẳng định nghĩa vụ trả nợ đến cùng của khách hàng ghi trong hợp đồng tín dụng và phải ưu tiên việc thu hồi nợ có bảo đảm từ tiền xử lý TSBĐ
• Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện hỗ trợ các bên xử lý tài sản BĐTV để thu hồi nợ cho TCTD
• Việc xử lý tài sản BĐTV là biện pháp để thu hồi nợ, không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của TCTD
1.2.5.2 Các trường hợp TCTD có quyền xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ
Các quy định này trước hết tạo chủ động cho khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh nhưng đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của họ trong nghĩa vụ trả nợ nhằm trả nợ và xử lý tài sản nhanh chóng để thu hồi nợ kịp thời tránh ứ đọng vốn, nâng
cao chất lượng tín dụng
¾ Gồm có 4 trường hợp :
• Sau 60 ngày kể từ ngày đến hạn mà các bên không xử lý được tài sản theo các phương thức đã thỏa thuận
• Khách hàng vay phải thực hiện trả nợ trước hạn theo quy định của Pháp luật nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nghĩa vụ trả nợ
• Khách hàng vay là tổ chức kinh tế bị giải thể trước khi đến hạn trả nợ, nếu khách hàng không trả nợ và không xử lý tài sản để trả nợ thì TCTD có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ
Trang 36• Khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh là doanh nghiệp khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa … về nguyên tắc không bắt buộc phải trả nợ cho TCTD nhưng phải chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho các doanh nghiệp mới và chuyển giao TSBĐ cùng nợ, nếu không thực hiện được các giải pháp đó trước khi thay đổi thì phải trả nợ cho TCTD, nếu không trả nợ thì TCTD có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ trước khi doanh nghiệp này chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa …
1.2.5.3 Các phương thức xử lý TSBĐ tiền vay
bảo đảm
• TCTD được trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ bên thứ 3 trong trường hợp bên thứ 3 có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh
1.2.5.4 Thực hiện xử lý TSBĐ tiền vay
• Trên cơ sở các phương thức xử lý tài sản đã quy định, khi ký kết hợp đồng BĐTV, các bên thỏa thuận lựa chọn phương thức ghi vào hợp đồng
tài sản, khách hàng vay, bên bảo lãnh phải giao tài sản cho TCTD và TCTD thực hiện các phương thức xử lý như sau :
- Trực tiếp bán cho người mua
- Ủy quyền việc bán đấu giá tài sản cho Trung tâm bán đấu giá hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản theo quy định của Pháp luật về bán đấu giá
Trang 37- TCTD được ủy quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức có chức năng được mua bán tài sản để bán, ví dụ như Công ty mua bán nợ …
hiện nghĩa vụ của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh (còn gọi là gán nợ) nếu các bên có thỏa thuận, hoặc trong trường hợp tài sản không bán được thì tài sản đó được chuyển quyền sở hữu cho TCTD, TCTD có thể sử dụng hoặc bán tài sản đó Đây là một phương thức xử lý tài sản mà TCTD là người mua, nên tài sản phải được thỏa thuận định giá hoặc nhờ bên thứ 3 định giá dựa trên giá thị trường tại thời điểm xử lý
- Trong trường hợp bên thứ 3 có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh thì TCTD được quyền trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản của bên thứ 3
lý Số tiền thu được sau khi trừ chi phí hợp lý cho việc khai thác sử dụng sẽ được dùng để thu hồi nợ
Quy định này nhằm tạo điều kiện sử dụng tốt nhất tài sản, không để tài sản ứ đọng và sản xuất - kinh doanh bị ngừng trệ
• Trong trường hợp các bên có tranh chấp và khởi kiện thì tài sản BĐTV được xử lý theo bản án có hiệu lực Pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
BĐTV được xử lý theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp
1.3 CƠ CHẾ XỬ LÝ NỢ TỒN ĐỌNG
Trang 38Xử lý nợ tồn đọng lành mạnh hoá tài chính của NHTM là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chương trình tái cơ cấu hệ thống NHTM, bởi:
khủng hoảng tài chính tiền tệ
vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng và uy tín quốc tế đối với hệ thống ngân hàng
1.3.1 Xử lý nợ tồn đọng có TSBĐ
Việc xử lý theo hướng sử dụng các biện pháp thanh lý cho các khoản nợ tồn đọng có TSBĐ được thực hiện khi mà không thể áp dụng hoặc đã áp dụng các biện pháp xử lý tổ chức khai thác nhưng không hiệu quả
các TSBĐ nợ vay (tài sản thế chấp; cầm cố; tài sản gán nợ; tài sản Toà án giao cho ngân hàng) kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng theo các hình thức sau:
- Tự bán công khai trên thị trường;
- Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản;
- Bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước;
nhưng chưa giao tài sản cho NHTM: NHTM tập hợp trình các cấp có thẩm quyền yêu cầu cơ quan THA nhanh chóng giao cho Ngân hàng để xử lý Trường hợp Toà phán quyết giao cho cơ quan THA phát mãi tài sản trả nợ Ngân hàng,
Trang 39thì Ngân hàng có văn bản đề nghị cơ quan THA xử lý tài sản để bảo đảm THA trả nợ Ngân hàng
tranh chấp, các NHTM tập hợp trình các cấp có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục pháp lý để Ngân hàng bán nhanh tài sản thu hồi nợ
khai thác tài sản của NHTM áp dụng các biện pháp như: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê, khai thác kinh doanh, góp vốn, liên doanh bằng tài sản để thu hồi nợ
• Đối với những tài sản các NHTM để lại sử dụng thì phải có nguồn vốn tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành
• Giá bán các TSBĐ nợ vay có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn đọng (gốc và lãi) Trường hợp bán tài sản với giá thấp hơn giá trị nợ tồn đọng, phần chênh lệch được xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro của các NHTM và tiếp tục theo dõi thu hồi nợ Trường hợp bán tài sản với giá cao hơn giá trị nợ tồn đọng thì phần chênh lệch được xử lý theo quy định của pháp luật
1.3.2 Xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ và không còn đối tượng để thu hồi nợ
trình NHNN, Chính phủ xem xét cấp nguồn xử lý Những khoản nợ không được Chính phủ xử lý thì tập hợp trình xử lý rủi ro theo quy định hiện hành của NHTM
• NHTM cổ phần tự xử lý theo quy định hiện hành
1.3.3 Xử lý nợ tồn đọng không có TSBĐ nhưng con nợ còn tồn tại, đang hoạt
động
Trang 40• Trường hợp khách hàng có khả năng trả nợ, phải đôn đốc thu hồi nợ Trường hợp chây ỳ, đề nghị cơ quan pháp luật xử lý
• Trong trường hợp khách hàng không còn nguồn nào để trả được nợ, cần phải lập phương án xử lý cụ thể và trình cho cấp có thẩm quyền theo các văn bản pháp lý hiện hành hoặc theo quy định của NHTM Các biện pháp tổ chức khai thác có thể là chuyển nợ thành vốn góp kinh doanh, liên doanh, mua cổ phần, bán nợ để thu hồi vốn theo quy chế mua bán nợ
• Đối với DNNN, NHTM được thực hiện một số biện pháp xử lý như sau:
- Đối với doanh nghiệp thua lỗ triền miên, không thể khắc phục được thì tiến hành giải thể, phá sản, xử lý nợ tồn đọng theo quy định pháp luật về phá sản, giải thể và các khoản nợ tồn đọng được xử lý theo chỉ đạo của Chính phủ
- Bán lại nợ để thu hồi vốn theo quy chế mua bán nợ thông thường, đối với trường hợp doanh nghiệp đang thực hiện thủ tục cổ phần hoá, giao, bán, bán thì ngoài biện pháp khoanh nợ, giãn nợ
vốn góp này; trường hợp này, NHTM phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ tương ứng với phần nợ đã chuyển thành vốn góp vào doanh nghiệp và phải bảo đảm tỷ lệ vốn góp theo quy định của pháp luật;
- NHTM nhà nước được đánh giá lại khoản nợ tồn đọng của doanh nghiệp nhà nước để xác định giá trị thực còn của khoản nợ và xử lý theo hướng dẫn của Nhà nước;
- Căn cứ vào thực trạng và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, NHTM được
cơ cấu lại nợ bằng nhiều hình thức thích hợp như giãn nợ, miễn giảm lãi suất hoặc cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư thêm