1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp thu hút nhà đầu tư nhằm phát triển thị trường chứng khoán việt nam

68 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hơn 3 năm qua thị trường bước đầu đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ: các nhân tố cho Thị trường hoạt động đã hình thành và ngày càng hoàn thiện, các phiên giao dịch chứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ VƯƠNG HÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 05

Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 05

Mục đích nghiên cứu của luận văn 05

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 06

Phương pháp nghiên cứu 06

Kết cấu của luận văn 06

CHƯƠNG I 07

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 07

1.1 Lý luận chung về thị trường chứng khoán 07

1.1.1 Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán 07

1.1.1.1 Khái niệm 07

1.1.1.2 Bản chất 07

1.1.2 sơ lược quá trình hình thành và phát triển của TTCK 08

1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán 10

1.1.3.1 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức thị trường 10

1.1.3.2 Căn cứ vào mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán .12

1.1.4 Hàng hóa trên thị trường chứng khoán 12

1.1.4.1 Cổ phiếu 12

1.1.4.2 Trái phiếu 13

1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 14

1.1.5.1 Trung gian mua bán 15

1.1.5.2 Mang tính công khai 15

1.1.5.3 Theo phương thức đấu giá 15

1.1.5.4 Pháp chế hóa mọi giao dịch 15

1.1.6 Các chủ thể tham gia TTCK 15

1.1.6.1 Tổ chức phát hành 15

1.1.6.2 Các nhà đầu tư cá nhân 16

1.1.6.3 Các tổ chức tài chính 16

1.1.6.4 Nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán 16

Trang 3

1.1.6.5 Nhà tổ chức thị trường 17

1.1.6.6 Nhà nước 17

1.1.7 Vai trò của thị trường chứng khoán 17

1.1.7.1 Cầu nối tích lũy vốn đầu tư 17

1.1.7.2 Điều hòa vốn đầu tư 18

1.1.7.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán cổ phiếu 18

1.1.7.4 Cung cấp thông tin kinh tế,” phong vũ biểu của nền kinh tế” 18

1.1.8 Những mặt tích cực và tiêu cực của nền kinh tế 18

1.1.8.1 Tích cực 18

1.1.8.2 Tiêu cực 20

1.2 Sự cần thiết phải thành lập TTCK ở Việt Nam 21

1.3 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển TTCK ở một số nước 22

1.3.1 Hàn Quốc 22

1.3.2 Trung Quốc 22

1.3.3 Mỹ 23

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế các nước 24

Kết luận chương I .25

CHƯƠNG II 26

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 26

2.1 Sơ lược về quá trình ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam 26

2.2 Quá trình chuẩn bị cho sự hoạt động của TTCK 28

2.2.1 Về khung pháp lý cho TTCK 28

2.2.2 Về thành lập các công ty chứng khoán và các định chế tài chính trung gian tham gia thị trường 30

2.2.3 Về hàng hoá giao dịch tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán 30

2.2.4 Về cơ sở vật chất, hê thống giao dịch tại thị trường chứng khoán 31

2.3 Thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam trong thời gian qua 32

2.3.1 Đánh giá thị trường chứng khoán qua các nhân tố cấu thành 32

2.3.1.1 Hàng hóa niêm yết trên thị trường chứng khoán 32

2.3.1.2 Hoạt động của các công ty niêm yết 34

2.3.1.3 Các công ty chứng khoán và các tổ chức tài chính trung gian 35

2.3.1.4 Công tác quản lý và giám sát thị trường 36

Trang 4

2.3.2 Diễn biến thị trường chứng khoán trong thời gian qua 37

2.3.2.1 Cách tính chỉ số Việt Nam Index 37

2.3.2.2 Diễn biến của chỉ số VN Index 38

2.3.2.3 Khối lượng và giá trị giao dịch 39

2.3.3 Nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân 41

2.4 Thuận lợi và khó khăn của TTCK Việt Nam sau 3 năm hoạt động 42

2.4.1 Thuận lợi 42

2.4.2 Khó khăn 43

2.5 Nguyên nhân thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động chưa hiệu quả trong thời gian qua 43

Kết luận chương II 45

CHƯƠNG III 46

CÁC GIẢI PHÁP KÍCH CẦU – THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 46

3.1 Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 46

3.1.1 Phát triển TTCK tập trung theo mô hình từ TTGDCK lên Sở GDCK 46

3.1.2 Xây dựng thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) 47

3.1.3 Phát triển hàng hóa cho thị trường 47

3.1.3.1 Cổ phiếu 47

3.1.3.2 Trái phiếu 47

3.1.4 Phát triển các định chế tài chính trung gian 48

3.1.5 Chiến lược hội nhập quốc tế 48

3.1.6 Đào tạo nâng cao dân trí trong lĩnh vực chứng khoán 49

3.2 Các giải pháp kích cầu – thu hút nhà đầu tư để phát triển TTCK 49

3.2.1 Đối với Nhà nước .49

3.2.1.1 Thúc đẩy cổ phần hóa DNNN để cung cấp hàng hóa cho thị trường 49 3.2.1.2 Tăng số lượng và chất lượng hàng hóa niêm yết trên thị trường 49

3.2.1.3 Ưu đãi vể thuế với các đối tượng tham gia thị trường 50

3.2.1.4 Hoàn thiện các văn bản pháp lý 51

3.2.2 Uûy ban Chứng khoán Nhà nước – Đơn vị trực tiếp quản lý và điểu hành thị trường 53

3.2.2.1 Củng cố lại niềm tin của nhà đầu tư 53

3.2.2.2 Thu hút nhà đầu tư có tổ chứ và nhà đầu tư nước ngoài 56

Trang 5

3.2.2.3 Hoàn thiện hệ thống xử lý lệnh mua bán tại TTGDCK 58

3.2.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chứng khoán và đẩy mạnh công tác thông tin, tin truyền 59

3.2.3 Giải pháp từ phía các công ty chứng khoán 60

3.2.3.1 Đa dạng hóa các hình thức giao dịch và mở rộng mạnh lưới phục vụnhà đầu tư 60

3.2.3.2 Nâng cao chất lượng phục vụ 61

3.2.4 Đối với các công ty niêm yết 62

3.2.4.1 Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty 62

3.2.4.2 Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của TTGDCK 62

3.2.4.3 Không ngừng quãng bá về công ty .62

3.2.5 Lới khuyên cho các nhà đầu tư .63

3.2.5.1 Nhà đầu tư nên 63

3.2.5.2 Nhà đầu tư không nên 63

Kết luận chương III 64

KẾT LUẬN 66

Tài liệu tham khảo 67

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hệ thống tài chính nói riêng Khác với hai nguồn vốn từ ngân sách và ngân hàng, nguồn vốn từ Thị trường chứng khoán được phân phối theo đúng quy luật cung – cầu thị trường, thể hiện qua việc giá cả thị trường do công chúng tự đánh giá, thông tin trên thị trường được công khai Thông qua Thị trường chứng khoán, Nhà nước có thể điều hành chính sách tài chính cho nền kinh tế, các Doanh nghiệp có thể thu hút nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, công chúng và các nhà đầu tư - một bộ phận không thể tách rời của Thị trường chứng khoán – sẽ tham gia thị trường, cung cấp một lượng vốn đáng kể cho nền kinh tế đất nước

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nên rất cần một lượng vốn rất lớn đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần huy động tối đa mọi nguồn lực trong tất cả các thành phần kinh tế, sử dụng mọi phương thức huy động vốn Phát triển Thị trường chứng khoán là một phương thức đúng đắn trong giai đoạn hiện nay

Mục đích nghiên cứu của luận văn

Thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh, tính đến tháng 07/2003 đã hoạt động được hơn 3 năm Trong hơn 3 năm qua thị trường bước đầu đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ: các nhân tố cho Thị trường hoạt động đã hình thành và ngày càng hoàn thiện, các phiên giao dịch chứng khoán liên tục và ổn định, hình thành một kênh huy động vốn mới cho Doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, công chúng ngày càng hiểu biết hơn về chứng khoán và kinh doanh chứng khoán,… Tuy nhiên, bên cạnh đó Thị trường chứng khoán đã bộc lộ nhiều yếu kém cần phải được tháo gỡ: quy mô của thị trường còn nhỏ chưa thể hiện đúng là thước đo hàn vũ biểu của nền kinh tế, chất lượng hàng hóa niêm yết trên thị trường không cao, phần lớn dân chúng chưa am hiểm về Thị trường chứng khoán, sự điều hành thị trường đang còn lỏng lẻo và thiếu minh bạch làm cho lòng tin nơi nhà đầu tư ngày càng giảm, Kết quả là chỉ số VN Index giảm liên tục trong năm 2003, nhà đầu tư cũ ngày càng thờ ơ với thị trường, trong khi thu hút nhà đầu tư mới là rất khó khăn

Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đang thực sự gặp nhiều khó khăn và đang rất cần lối ra Đã có rất nhiều giải pháp đưa ra nhằm phát triển thị

Trang 7

trường tuy nhiên kết quả chưa khả quan cho lắm Theo chúng tôi, vấn đề mấu chốt nhất hiện nay là chúng ta phải đẩy mạnh công tác tăng nguồn cầu bằng cách thu hút các nhà đầu tư cũ cũng như mới tham gia thị trường, lấy lại niềm tin nơi nhà đầu tư, có như vậy thị trường mới sôi động trở lại kích thích các nhân tố khác phát triển,

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn sẽ nêu những vấn đề cơ bản về Thị trường chứng khoán, tình hình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua, các giải pháp phát triển thị trường trong đó tập trung vào các giải pháp thu hút nhà đầu tư

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, kết hợp với các phương pháp như phân tích, đánh giá và kế thừa một cách có chọn lọc và hệ thống tài liệu khoa học, thực tiễn có liên quan đến nội dụng luận văn

Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các công trình nghiên cứu của các tác giả liên quan đến đề tài, phần nội dung luận văn gồm ba chương như sau:

Chương I : Lý luận tổng quan về Thị trường chứng khoán

Chương II: Thực trạng hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam Chương III: Các giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư đến với Thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 8

Chương I LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm và bản chất của Thị trường chứng khoán

1.1.1.1 Khái niệm

Xung quanh khái niệm về Thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều ý kiến khác nhau

là cái ví đựng tiền

“Securities market is an organized market where securities are bought and sold under fixed rules” tức là “Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức, nơi các chứng khoán được mua bán theo những nguyên tắc đã được ấn định.”

Language, tác giả Dell – 1971” : “Securities is written evidence of ownership” tức là “Chứng khoán là bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu”

Trong thực tế, thuật ngữ “Thị trường chứng khoán” đã không còn giữ nguyên định nghĩa ban đầu của nó mà nó đã chứa đựng một nội dung rộng lớn hơn bao hàm tất cả các khái niệm từ ban đầu về nó Cụ thể, khái niệm “Thị trường chứng khoán” có thể được diễn đạt như sau: Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, tại đó diễn ra hoạt động mua bán các chứng khoán vốn và chứng khoán nợ trung và dài hạn theo nguyên tắc thị trường

Ngày nay, người ta phân biệt rõ hai thuật ngữ: Thị trường chứng khoán – Securities Market và Sở giao dịch chứng khoán – Stock Exchange “TTCK là từ ngữ chung để chỉ các giao dịch mua bán chứng khoán thông qua các thị trường khác nhau như thị trường tập trung, phi tập trung còn “Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là để chỉ một địa điểm cụ thể, một nơi có tổ chức, là nơi các chủ thể tham gia TTCK gặp nhau để thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán do các tổ chức và cá nhân giao cho”

1.1.1.2 Bản chất của Thị trường chứng khoán

Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, TTCK được xem là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn (chứng khoán nợ và chứng khoán vốn) có tổ chức, theo đúng luật pháp, giữa những tổ chức phát hành chứng khoán (cần vốn đầu tư) và những người mua chứng khoán hoặc kinh doanh chứng khoán Việc này được tiến hành ở thị

Trang 9

trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ tổ chức phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Các quan hệ mua bán chứng khoán trên TTCK phản ánh sự thay đổi các chủ thể sở hữu về chứng khoán Chủ thể tham gia TTCK với tư cách là người bỏ vốn đầu tư được gọi là chủ sở hữu tư bản, còn khi tham gia với tư cách là người sử dụng vốn đầu tư thì chủ thể đó thực hiện chức năng của tư bản kinh doanh Do đó, TTCK xét về bản chất, không phải chỉ phản ánh các quan hệ mua bán một số lượng nhất định các tư liệu sản xuất cơ bản và các khoản vốn bằng tiền mà còn phản ánh quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền Nói cách khác, TTCK là nơi mua bán quyền sở hữu về tư bản, tư bản hiện nay được lưu thông như một loại hàng hóa thông thường có giá trị và có giá trị sử dụng Như vậy, TTCK là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa

1.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán

Căn cứ vào các tài liệu lịch sử – kinh tế cho thấy ngay mầm mống sơ khai của hoạt động TTCK đã xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ 15 và hình thành đồng thời với sự hình thành của thị trường hối đoái và một số thị trường khác Và theo thời gian, thị trường chứng khoán cũng lần lượt xuất hiện ở các nước khác trên thế giới

Vào khoảng giữa thế kỷ 15 tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập ở các quán cà phê để thương lượng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa như nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán động sản Lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ, sau đó dần dần tăng lên và hình thành nên một khu chợ riêng Điều đặc biệt là trong những cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hóa, tiền hay bất kỳ loại giấy tờ nào Các cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các giao ước mua bán, trao đổi thực hiện ngay hoặc trong tương lai Đến thời Trung cổ (cuối thế kỷ 15), các phiên chợ này đã trở thành một “thị trường” với việc hình thành các quy tắc thống nhất có tính bắt buộc cho mọi thành viên tham gia “thị trường”, thị trường chứng khoán được hình thành từ đó Phiên chợ đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber Buerzo tại thành phố Bruges, nước Bỉ Tại đây các thương gia từ khắp đất nước, trong đó phần lớn là người Ý, đã thường xuyên gặp gỡ để mua bán các kỳ phiếu nước ngoài và trao đổi các thông tin về buôn bán hàng hóa.Tuy nhiên, đến năm 1547, mậu dịch trường tại thành phố Bruges mất đi sự phồn thịnh do eo biển Evin dẫn tàu bè vào thị trấn đã bị cát lấp mất Mậu dịch trường ở đây suy sụp và được chuyển sang thị trấn Auvers (Bỉ) Ở đây, thị trường phát triển rất

Trang 10

nhanh và từ kinh nghiệm của nó, các mậu dịch trường ở các nước khác cũng bắt đầu phát triển

Ở London: Vào khoảng giữa thế kỷ 18, một mậu dịch trường đã được thiết lập kiểu mậu dịch trường Anvers, gọi là Stock Exchange Cũng chính nơi đây, sau này được gọi là sở giao dịch chứng khoán London

Ở Hoa Kỳ: Vào năm 1789, lần đầu tiên quốc hội đã cho phép chính phủ phát hành đợt trái phiếu chính phủ với tổng mệnh giá 80 triệu USD để thanh toán các món nợ khổng lồ trong cuộc chiến tranh giành độc lập Vài năm sau, các loại trái phiếu ngân hàng, công ty bảo hiểm cũng đã bắt đầu được phát hành trên thị trường Trong giai đoạn này, vẫn chưa hình thành TTCK chính thức, người ta vẫn mua bán chứng khoán trực tiếp với nhau, giống như kiểu mua bán chứng khoán OTC ngày nay

Ngày 17/05/1792, để tạo điều kiện cho các giao dịch chứng khoán phát triển một cách thuận lợi và để ngăn chặn việc đầu cơ dịch vụ giá hạ, các nhà môi giới đã tụ họp dưới một gốc cây Khuy (Buttonwood) để cùng nhau ký kết thỏa ước “Thỏa ước gốc cây Khuy” (Button Tree Agreement)

Ngày nay, ngày ký thỏa ước trên được xem như là ngày khai sinh TTCK New York Cho tới năm 1817, với đà phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt động phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường, các nhà môi giới đã thỏa thuận với nhau về việc gặp gỡ giao dịch thường kỳ vào những ngày giờ đã được ấn định trước Đồng thời, người ta cũng xúc tiến việc soạn thảo điều lệ cho một TTCK ở New York đặt trụ sở tại Wall Street Sau này, vào năm 1862, nơi đây được người ta đặt tên là Sở giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange)

Ở Nhật Bản: TTCK Tokyo được thành lập năm 1878 Tuy nhiên, so với các TTCK cùng thời ở các nước khác trên thế giới, TTCK Tokyo chưa có gì nổi hơn Cho đến sau chiến tranh thế giới lần II, TTCK Tokyo mới được nhiều người chú

ý tới, khách hàng trên TTCK này không chỉ là những nhà đầu tư lớn, các ngân hàng, các đại công ty mà còn có rất nhiều nhà đầu tư nhỏ

Tóm lại, lịch sử phát triển TTCK các nước trên thế giới trải qua một quá trình mang tính thăng trầm Thời kỳ được xem là huy hoàng nhất là vào những năm 1875 – 1913, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế thế giới tư bản, TTCK cũng được mở rộng nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng Kế đến, ngày 29/10/1929, là ngày mở đầu cuộc khủng hoảng TTCK New York (ngày thứ Năm đen tối), kéo theo sự khủng hoảng dây chuyền đối với các TTCK Tây, Bắc Âu và Nhật Bản Hoạt động TTCK tạm thời lắng xuống sau chiến tranh thế giới lần

II, các TTCK được phục hồi và phát triển trở lại nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1987 một lần nữa lại làm cho các TTCK rơi vào tình trạng rối loạn

Trang 11

nghiêm trọng với các hậu quả được đánh giá là còn nghiêm trọng hơn cả cuộc khủng hoảng thời kỳ 1929 Tháng 7/1997, TTCK thế giới lại tiếp tục chao đảo bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan, cuộc khủng hoảng đã kéo dài hơn một năm và đã lan rộng sang Nhật Bản, Nam Mỹ

Cho đến nay, ở hầu hết các quốc gia được đánh giá là có nền kinh tế phát triển đều đã hình thành và có sự hoạt động của TTCK TTCK thực sự đã được xem như là một định chế tài chính quan trọng không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của các quốc gia quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường

1.1.3 Phân loại Thị trường chứng khoán

1.1.3.1 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của thị trường

a Thị trường sơ cấp

Còn gọi là thị trường cấp một hay là thị trường phát hành Đây là nơi mua bán các loại chứng khoán mới được phát hành bởi các công ty, tổ chức Nhà nước, Chính phủ Thị trường sơ cấp là thị trường tạo lập, tăng vốn, vay vốn cho các tổ chức phát hành chứng khoán Việc phát hành chứng khoán ở thị trường này được kiểm soát bởi Ủy Ban Chứng Khoán Việc xây dựng một thị trường sơ cấp vững chắc với các loại hàng hóa chứng khoán đa dạng, phong phú, hấp dẫn công chúng và các nhà đầu tư sẽ có ý nghĩa quyết định cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán thứ cấp

b Thị trường thứ cấp

Còn gọi là thị trường cấp hai, là nơi mua đi bán lại các chứng khoán đã được bán ở thị trường sơ cấp Trên thị trường thứ cấp, lợi nhuận thu được từ việc mua bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và những người mua bán chứng khoán chứ không thuộc về tổ chức phát hành chứng khoán

Chứng khoán được giao dịch trên thị trường thứ cấp không làm cho nguồn vốn của nhà phát hành tăng lên tuy nhiên việc giao dịch chứng khoán ở thị trường thứ cấp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp vì việc giao dịch ở thị trường thứ cấp làm cho chứng khoán có tính thanh khoản, nghĩa là nhà đầu tư có thể đễ dàng bán lại chứng khoán mà họ không thích để thu hồi vốn đầu tư vào lĩnh vực khác Thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho việc phát hành và mua bán ở thị trường sơ cấp được thuận lợi hơn và ngược lại thị trường sơ cấp là tiền đề của thị trường thứ cấp nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ không có thị trường thứ cấp Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thứ cấp chỉ mang tính lý thuyết vì trong thực tế thị trường chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, nghĩa là trong một thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp, vừa có

Trang 12

giao dịch của thị trường thứ cấp Đó cũng là lý do để nói hai thị trường này là cơ cấu của thị trường chứng khoán

C¤NG TY CK THμNH VI£N

Së GIAO DÞCH CHøNG KHO¸N

NHμ §ÇU T¦ C¸

Nhμ §ÇU T¦ Cã Tỉ CHøC TRONG Nưíc

(Quü BH, hưu trÝ, hç t¦¥ng)

Phßng ®¨ng ký-TTBT

thanh to¸n

Thμnh viªn lưu ký nưíc ngoμi

Sơ đồ mô hình thị trường chứng khoán thứ cấp

1.1.3.2 Căn cứ vào mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán

- Thị trường chứng khoán tập trung

Là thị trường hoạt động theo đúng các quy định pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được niêm yết Chứng khoán niêm yết là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép đảm bảo, phân phối và mua bán qua trung gian các định chế tài chính trên thị trường (công ty chứng khoán, quỹ đầu tư) TTCK tập trung có địa điểm và thời biểu mua bán cụ thể, rõ ràng và hoạt động theo thể thức đấu giá hay đấu lệnh công khai, hình thức của TTCK tập trung chính là Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)

Là thị trường mua bán chứng khoán bên ngoài SGDCK, còn gọi là thị trường OTC (Over The Counter)

Trang 13

Khác với TTCK tập trung, thị trường chứng khoán OTC không có sàn giao dịch Thay vào đó, các công ty chứng khoán buôn bán chứng khoán trên thị trường này tiến hành giao dịch với nhau thông qua điện thoại và mạng vi tính rộng lớn Các công ty chứng khoán trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi miền đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại chứng khoán nhất định Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo lập thị trường về các loại chứng khoán đó Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như: tự doanh, môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và bảo lãnh phát hành Tại một số nước mà thị trường OTC đã phát triển, tuy không có sàn nhưng để thuận tiện, hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia thường lắp đặt một hệ thống yết giá tự động cho các thành viên của mình

1.1.4 Hàng hóa trên Thị trường chứng khoán

Đối tượng giao dịch chính trên TTCK là chứng khoán Chứng khoán là một thuật ngữ dùng để chỉ các giấy tờ có giá, tức là giấy tờ ghi nhận khoản tiền tệ mà người sở hữu chúng bỏ ra sẽ được quyền hưởng những khoản lợi tức nhất định theo kỳ hạn Hay nói cách khác, chứng khoán là các loại công cụ tài chính dài hạn, bao gồm các loại cổ phiếu và trái phiếu Ngoài ra, trên TTCK còn giao dịch các loại giấy tờ có giá khác liên quan đến chứng khoán, được gọi là các chứng khoán phái sinh, đó là: chứng quyền (rights), chứng khế (warrants), quyền chọn (options), hợp đồng tương lai (future contracts)

Ở đây, do thực tế của TTCK Việt Nam, luận văn chỉ xin được trình bày 2 loại chứng khoán chủ yếu của TTCK Việt Nam trong giai đoạn đầu, đó là cổ phiếu và trái phiếu

1.1.4.1 Cổ phiếu

Cổ phiếu là một loại chứng từ, dưới hình thức chứng từ hay ghi trên hệ thống điện tử, do các công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có cổ phiếu hợp pháp, của người có cổ phiếu đối với tài sản của người phát hành

Cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty và lúc công ty gọi thêm vốn để phát triển sản xuất kinh doanh

Giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu được gọi là mệnh giá Mệnh giá của cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa Tùy theo kết quả sản xuất kinh doanh và phương thức phân phối, giá giao dịch cổ phiếu tăng hay giảm và ngày càng bỏ xa mệnh giá

Trang 14

Để phù hợp với tâm lý người đầu tư và tạo nên sự hấp dẫn hơn cho cổ phiếu, người ta chia cổ phiếu thành nhiều loại khác nhau:

a Cổ phiếu thường

Nếu một công ty chỉ có quyền phát hành một loại cổ phiếu thì công ty đó sẽ phát hành cổ phiếu thường Cổ phiếu thường thể hiện quyền sở hữu chủ yếu đối với một công ty, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có quyền kiểm soát lớn nhất đối với ban lãnh đạo công ty Cổ phiếu thường thụ hưởng cổ tức sau cùngso với tất cả các loại chứng khoán vốn và nợ khác của một công ty, cũng có nghĩa là khi một công ty giải thể (dù nguyên nhân nào) thì cổ phiếu thường được chia tài sản sau cùng

b Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi có lợi tức xác định giống như trái phiếu Lợi tức của cổ phiếu ưu đãi được hưởng trước khi chia lợi tức cho cổ phiếu thường Khi một công ty giải thể thì người giữ cổ phiếu ưu đãi được chia phần tài sản của công ty trước những người giữ cổ phiếu thường nhưng sau những người giữ trái phiếu Do đó, cổ phiếu ưu đãi cũng giống như một loại trái phiếu mà không được sự đảm bảo của một trái phiếu, đồng thời không hấp dẫn bằng một cổ phiếu

Cổ phiếu ưu đãi bao gồm nhiều loại tương ứng với nhiều hình thức ưu đãi khác nhau:

- Cổ phiếu ưu đãi tích lũy

- Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy

- Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần

- Cổ phiếu ưu đãi không tham dự chia phần

- Cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường

1.1.4.2 Trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ-gốc lẫn lãi-của trái chủ đối với các cá nhân hay tổ chức phát hành là người chủ sở hữu trái phiếu đó

Người mua trái phiếu hàng năm, hàng quý họ sẽ được trả một số tiền lời theo mức lãi suất đã định và khi đáo hạn họ sẽ nhận được tiền vốn gốc Tình hình lạm phát tiền tệ, hoặc có sự thay đổi trong chính sách tài chính tín dụng (tăng) cung có thể làm ảnh hưởng giá trị trái phiếu trên thị trường

Mệnh giá: Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu khi phát

hành, số tiền này sẽ được hoàn lạicho trái chủ khi đáo hạn Trái phiếu phát hành lần đầu, thường được mua bán đúng mệnh giá của nó Tùy theo tình hình thị trường, mức sinh hoạt tại từng khu vực, từng nước mà trái phiếu có nệnh giá tương xứng Nhưng có một điểm chung nhất là mệnh giá ghi trên trái phiếu

Trang 15

thường được cơ cấu theo cơ cấu tiền như 1, 2, 5, 10, 20, 50, 100 để thuận tiện trong việc mua bán trao đổi

Ngày đáo hạn: Trái phiếu lưu thông trên thị trường chứng khoán là trái

phiếu dài hạn Thời hạn trái phiếu rất khác nhau giữa các công ty, tùy theo mục đích và thời gian sử dụng vốn phát hành Chẳng hạn như trái phiếu có mục đích là trái phiếu phát hành để huy động vốn cho mục đích đầu tư như là xây dựng cơ sở hạ tầng có thời gian thu hồi vốn lâu thường thường từ 15-30 năm

Lãi suất: Mỗi trái phiếu có giá trị cam kết của công ty hay chính phủ thanh

toán cho người có trái phiếu một số tiền lãi cố địnhvào một ngày xác định Lãi suất thường được công bố trên tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu Thông thường trái chủ sẽ nhận lãi vào một ngày định kỳ của mỗi 6 tháng hay một năm

Các loại trái phiếu:

Phân theo hình thức phát hành, bao gồm:

- Trái phiếu vô danh

- Trái phiếu ký danh

Phân theo hình thức sở hữu, bao gồm:

- Trái phiếu công ty

- Trái phiếu chính phủ

- Trái phiếu đô thị

Phân theo thời gian, bao gồm:

- Trái phiếu ngắn hạn

- Trái phiếu trung hạn

- Trái phiếu dài hạn

Phân theo tính chất, bao gồm:

- Trái phiếu không có tài sản thế chấp

- Trái phiếu có khả năng chuyển đổi

- Trái phiếu có quỹ mua lại

- Trái phiếu thế chấp bất động sản

- Trái phiếu ủy thác thiết bị

- Trái phiếu trả lãi theo lợi tức

- Trái phiếu có lãi suất thả nỗi

- Trái phiếu có vật thế chấp bảo đảm

- Trái phiếu thế chấp ủy thác

- Trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phần

1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của Thị trường chứng khoán

Trang 16

TTCK là một định chế tài chính phát triển cao trong nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế riêng biệt được tiêu chuẩn hóa và mang tính quốc tế TTCK hoạt động theo những nguyên tắc sau đây:

1.1.5.1 Trung gian mua bán

Việc giao chứng khoán được thực hiện thông qua môi giới, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, bảo đảm các chứng khoán lưu thông trên thị trường đều là chứng khoán hợp pháp, tránh cho người mua bị lừa gạt do thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu thông tin chính xác

1.1.5.2 Mang tính công khai:

Tất cả hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được tiến hành công khai cho mọi thành viên và công chúng biết như: các hoạt động của các nhà phát hành, các loại chứng khoán được giao dịch, giá cả và số lượng chứng khoán được mua bán…

1.1.5.3 Theo phương thức đấu giá:

Việc mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua đấu giá giữa những nhà môi giới với nhau Giá chứng khoán hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu, không một ai hay một tổ chức nào có quyền áp đặt hoặc định giá chứng khoán theo ý muốn chủ quan của mình được

1.1.5.4 Pháp chế hóa mọi giao dịch:

Các nghiệp vụ giao dịch đều được quy định bằng các văn bản mang tính pháp luật cao nhằm bảo vệ các nhà đầu tư Nhiệm vụ chính của hành động pháp chế hóa là tạo ra một thị trường trung thực, trật tự, hạn chế tới mức thấp nhất các tiêu cực có thể có do việc lừa đảo, đầu cơ thao túng trên thị trường gây ra

1.1.6 Các chủ thể tham gia Thị trường chứng khoán

Một cách tổng quát, các chủ thể tham gia vào TTCK có thể được chia thành

6 chủ thể chính như sau:

1.1.6.1 Tổ chức phát hành

Các tổ chức phát hành tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hóa cho thị trường sơ cấp và mua bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp Tổ chức phát hành là công ty cổ phần chiếm vị trí quan trọng nhất vì nó tạo

ra một khối lượng hàng hóa lớn thông qua việc phát hành cổ phiếu để bán lần đầu ở thị trường sơ cấp nhằm tạo vốn cho công ty mới thành lập hoặc phát hành bổ sung chứng khoán nhằm tăng vốn cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh của

Trang 17

công ty Không chỉ bán chứng khoán, công ty cổ phần cũng có thể là người mua chứng khoán do các công ty khác phát hành với nhiều mục đích khác nhau như sáp nhập, thủ tiêu đối thủ cạnh tranh, hoặc khống chế, thao túng nhằm nắm quyền kiểm soát công ty hoặc với chỉ mục đích đơn giản là tìm kiếm lợi nhuận

1.1.6.2 Các nhà đầu tư cá nhân

Là chủ thể tham gia thị trường với tư cách là người mua bán chứng khoán quan trọng, họ là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư số tiền của mình vào chứng khoán để được hưởng lợi tức hàng năm Họ cũng là người bán lại các chứng khoán của mình trên thị trường chứng khoán để rút vốn trước thời hạn hoặc để hưởng chênh lệch giá Họ tham gia thị trường bằng nhiều cách khác nhau, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp

1.1.6.3 Các tổ chức tài chính

- Các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ hỗ tương đều tham gia TTCK với

tư cách vừa là người mua vừa là người bán để tìm kiếm lợi nhuận từ cổ tức, lãi trái phiếu, khoản thặng dư giá hay tìm kiếm tính thanh khoản Vai trò của các tổ chức này ngày càng trở nên quan trọng ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển

cách là người phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung, hay là phát hành trái phiếu để huy động vốn

Các doanh nghiệp khi muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu có thể nhờ các NHTM làm các dịch vụ như: tư vấn phát hành, làm đại lý phát hành để hưởng phí hoa hồng hay là bảo lãnh phát hành toàn bộ để hưởng phí bảo lãnh Ngoài ra, các NHTM còn thực hiện các dịch vụ khác với tư cách là một trung gian môi giới chứng khoán như mua bán chứng khoán hộ cho khách hàng để thu phí hoa hồng,lưu giữ chứng khoán, nhận và trả cổ tức cho khách hàng, làm dịch vụ thanh toán bù trừ chứng khoán…

1.1.6.4 Nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán:

Nhà môi giới là những người trung gian thuần túy, họ hoạt động như các đại lý cho những người mua bán chứng khoán Họ tham gia TTCK nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường là chứng khoán thực và thị trường hoạt động lành mạnh liên tục, hợp pháp, bảo vệ được lợi ích của nhà đầu tư

Người kinh doanh chứng khoán là người đứng ra mua chứng khoán của người bán sau đó bán lại cho người mua khác với giá cao hơn để hưởng chênh

Trang 18

lệch giá Đây là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro lớn, nếu giá các chứng khoán tăng thì người kinh doanh có lời còn ngược lại thì bị lỗ

1.1.6.5 Nhà tổ chức thị trường

Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc mua bán chứng khoán, đó chính là Sở giao dịch chứng khoán

1.1.6.6 Nhà nước

Nhà nước là đối tượng tham gia TTCK với hai tư cách khác nhau:

định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, đảm bảo cho thị trường hoạt động công bằng, công khai, trật tự, tránh những tiêu cực có thể xảy ra

thường Nhà nước tạo hàng hóa cho TTCK thông qua việc Chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành trái phiếu vay nợ người dân và các tổ chức kinh tế trong cũng như ngoài nước ở thị trường sơ cấp để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế chính trị và xã hội cũa Nhà nướcho6

Ở thị trường thứ cấp, Nhà nước đóng vai trò là người mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp trong các trường hợp như: Nhà nước muốn nắm một tỷ lệ cổ phần chi phối ở mức nào đó đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước muốn quản lý hay ngược lại

1.1.7 Vai trò của Thị trường chứng khoán

TTCK là một định chế tài chính tất yếu của nền kinh tế thị trường phát triển, là chiếc cầu nối vô hình giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế Với một TTCK lành mạnh, hoạt động có hiệu quả sẽ tạo điều kiện khai thác tốt các tiềm năng của nền kinh tế, giúp cho việc thu hút và phân phối vốn trong nền kinh tế có hiệu quả nhất Chính vì vậy, TTCK có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế thị trường, các vai trò đó là:

1.1.7.1 Cầu nối tích lũy với đầu tư:

Thị trường chứng khoán hoạt động như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ từ các hộ dân cư, các doanh nghiệp đến các nhà đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương thức khác không làm được Thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận nhiều hơn, đồng thời giúp nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua thị trường trái phiếu

Trang 19

1.1.7.2 Điều hoà vốn đầu tư

Do tác dụng của quy luật cung cầu, thị trường chứng khoán tự động điều hòa các luồng vốn trong nước từ nơi thừa đến nơi thiếu, giải quyết linh hoạt, nhanh chóng mâu thuẫn giữa thừa và thiếu vốn đầu tư giữa các nước, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế

1.1.7.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chứng khoán

Với phương tiện phục vụ và kỹ thuật thông tin hiện đại, thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên của thị trường giao dịch với nhau được nhanh chóng, dễ dàng, giảm được nhiều tổn thất do chênh lệch thời gian và chênh lệch giá

1.1.7.4 Cung cấp thông tin kinh tế, là “phong vũ biểu của nền kinh tế”

Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp kịp thời, vô tư và chính xác những nguồn thông tin cần thiết có liên quan đến việc mua bán chứng khoán của thành viên tham gia thị trường Chính vì vậy, khi TTCK hoạt động hiệu quả với nhiều Doanh nghiệp đại diện cho tất cả các ngành trong nền kinh tế đất nước tham gia thì TTCK còn là “phong vũ biểu” của nền kinh tế Với phương pháp chỉ số hóa thị giá các loại chứng khoán chủ yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cứu phân tích một cách khoa học, có hệ thống chỉ số giá chứng khoán trên các TTCK ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường thế giới cho phép dự đoán trước được sự biến động kinh tế, dự đoán được tương lai kinh tế của một hay hàng loạt các nước trên thế giới

1.1.8 Những mặt tích cực và tiêu cực của thị trường chứng khoán

đa số dân chúng có thể tham gia được vào công cuộc đầu tư bằng số vốn ít ỏi của mình

Ngoài ra, bên cạnh việc được hưởng cổ tức và sự tăng giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu còn có thể kiểm soát được công ty nếu họ có được một lượng cổ phiếu có ý nghĩa… Đây chính là các tác nhân kích thích ý thức tiết kiệm trong công chúng

Trang 20

b Thị trường chứng khoán là điều kiện tiền đề cho việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước

TTCK là nơi tập trung được toàn bộ cung cầu về vốn và cũng là nơi tập trung nhiều nhất các nhà đầu tư do đó nó có tác động rất lớn trong việc nhanh chóng chuyển các doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần một cách hiệu quả nhất Với nguyên tắc hoạt động trung gian, đấu giá, công khai và là nơi mà hoạt động mua bán chứng khoán diễn ra hàng ngày hàng giờ, TTCK chính là

cơ sở, là tiền đề vật chất làm cho quá trình cổ phần hóa theo đúng pháp luật và phù hợp tâm lý của người đầu tư Chỉ có thông qua TTCK Nhà nước mới có thể thực hiện được cổ phần hóa đối với bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào

c Thị trường chứng khoán là công cụ giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Để có vốn chi tiêu vào các chương trình ổn định, phát triển kinh tế xã hội, ngoài việc thu thuế để tạo ngân sách, Nhà nước sẽ tìm kiếm nguồn thu khác đó là phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc đề ra các hình thức khác để vay tiền dân chúng Về mặt kinh tế, Nhà nước vay tiền dân chúng là thiết thực và lành mạnh

vì Chính phủ sẽ không phải thông qua ngân hàng để phát hành thêm tiền giấy vào trong lưu thông, dễ tạo nên áp lực lạm phát Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia, việc Nhà nước phát hành trái phiếu thông qua TTCK để vay tiền của dân là biện pháp thường xuyên và mang tính kỹ thuật tiên tiến Có TTCK tập trung, có việc phát hành, có việc mua đi bán lại trái phiếu theo đúng tính chất thị trường thì việc phát hành trái phiếu của Nhà nước sẽ rất tiện lợi

d Thị trường chứng khoán thực hiện lưu động hóa mọi nguồn vốn trong nước Các cổ phiếu, trái phiếu tượng trưng cho một số vốn đầu tư được mua đi bán lại trên TTCK như một thứ hàng hóa Do đó, người có vốn sẽ không sợ bị chôn vốn vì bất cứ lúc nào cần họ đều có thể bán lại chứng khoán này trên TTCK để mua lại chứng khoán khác hoặc thu hồi tiền mặt dùng vào mục đích khác

e Thị trường chứng khoán tạo thói quen đầu tư trong dân chúng

TTCK không những khuyến khích đầu tư mà còn là nơi tạo điều kiện thực hiện mọi sự mua bán dễ dàng khi cần thiết, vì thế TTCK rất hấp dẫn công chúng đầu tư và qua tham gia trên TTCK dần dần sẽ tạo thành thói quen đầu tư cho dân chúng

f Thị trường chứng khoán tạo động lực cho các Doanh nghiệp niêm yết kinh doanh hiệu quả hơn

Nhờ có TTCK, các doanh nghiệp mới có thể phát hành và đem bán các cổ phiếu, trái phiếu của công ty mình SGDCK chỉ chấp nhận niêm yết trên TTCK các cổ phiếu, trái phiếu hội đủ những điều kiện theo quy định và công chúng

Trang 21

cũng chỉ mua chứng khoán của các công ty thành đạt Với sức ép thường xuyên của thị trường, với quyền tự do lựa chọn mua chứng khoán của dân chúng, đòi hỏi các nhà quản lý công ty phải biết tính toán, làm ăn đàng hoàng và hiệu quả hơn

g Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát nguồn vốn đầu tư nước ngoài

TTCK là công cụ cho phép vừa thu hút vừa kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài một cách tốt nhất vì nó hoạt động theo nguyên tắc công khai Mọi đối tượng tham gia mua bán chứng khoán phải công khai hóa và cập nhật hóa toàn bộ những thông tin liên quan đến chứng khoán và phải công khai khả năng tài chính trong các giao dịch mua bán chứng khoán Thông qua TTCK, Chính phủ sẽ kiểm soát được việc tham gia đầu tư của các định chế, cá nhân nước ngoài vào các ngành, các công ty hay là các loại chứng khoán vào từng thời điểm cụ thể nhất định

1.1.8.2 Mặt tiêu cực

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, TTCK cũng có những mặt tiêu cực cần hạn chế để tạo điều kiện cho nó phát huy hết vai trò của mình, các mặt tiêu cực đó là:

a Yếu tố đầu cơ

Đầu cơ là yếu tố có tính toán của những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro Yếu tố đầu cơ dễ gây những tác động dây chuyền làm cho cổ phiếu có thể tăng hoặc giảm giá giả tạo từ đó gây ra tình trạng thừa hoặc thiếu khiến cho giá cổ phiếu biến động đột ngột theo ý đồ của họ

Hoạt động kinh doanh chứng khoán không cấm đầu cơ nhưng cấm sự cấu kết để đầu cơ dưới mọi hình thức

b Mua bán nội gián

Là hành vi một cá nhân nào đó nắm được các thông tin nội bộ trong một đơn vị kinh tế và sử dụng những thông tin đó để mua hay bán cổ phiếu một cách bất thường nhằm thu lợi cá nhân, làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu đó trên thị trường

c Phao tin đồn thất thiệt hoặc sai sự thật

Phao tin đồn thất thiệt hoặc sai sự thật về một tổ chức kinh tế nào đó để làm cho giá cổ phiếu thay đổi đột ngột nhằm mua bán hưởng lợi bất hợp pháp

d Thao túng thị trường

Lũng đoạn doanh nghiệp: thông qua TTCK, người ta có thể mua chứng khoán của một doanh nghiệp tới mức có thể khống chế hoạt động của doanh nghiệp đó bằng vốn của một người nhưng đứng tên nhiều người Những cổ đông

Trang 22

này là người nhà của người có vốn hoặc là những người chịu ảnh hưởng của người đó

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÀNH LẬP THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Trong sự nghiệp CNH - HĐH, vấn đề lớn nhất được đặt lên hàng đầu, đó là vấn đề vốn cho nền kinh tế TTCK chính là giải pháp cho vấn đề này TTCK là nơi huy động và phân phối vốn dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế thông qua các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Thực tế nước ta trong thời gian qua, đã tồn tại nhu cầu mua bán, trao đổi, chuyển nhượng các chứng khoán đang lưu hành trên thị trường Vì thế, nếu không có một thị trường công khai thì việc mua bán này sẽ phải được thực hiện qua thị trường ngầm Hơn nữa, việc Chính phủ đã và đang thực hiện quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, nếu không thông qua thị trường chứng khoán thì việc cổ phần hóa có nguy cơ diễn ra một cách không công khai, thiếu lành mạnh và sẽ dẫn đến thất thoát tài sản Nhà nước

Chính vì thế, có thể khẳng định việc thành lập TTCK ở Việt Nam vừa qua là một tất yếu khách quan của nền kinh tế bởi lẽ xu hướng phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là điều không thể đảo ngược được

TTCK là một kênh quan trọng thu hút vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển ở các khu vực kinh tế quan trọng, phục vụ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh trong một nền kinh tế hàng hóa đang phát triển nhanh ở nước

ta

Mặt khác, thị trường chứng khoán cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra một hệ thống tài chính đủ mạnh, cung cấp các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn cho nền kinh tế Có thể nói nguồn vốn huy động được qua thị trường chứng khoán là một nguồn vốn có tính linh hoạt cao nhất, nó đáp ứng được các đòi hỏi về hình thức đầu tư, thời gian đáo hạn cũng như số vốn cần thiết để tham gia thị trường của các nhà đầu tư khác nhau

Hơn thế nữa, trên phương diện chính trị và ngoại giao, việc xây dựng thị trường chứng khoán còn có tác động rất tích cực đến tiến trình hội nhập của nước

ta vào cộng đồng khu vực và thế giới

Trang 23

1.3 NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC RÚT RA

1.3.1 Ở Hàn Quốc

Hiện nay, biên độ giao động giá cổ phiếu trên TTCK Hàn quốc là 15% so với giá đóng cửa của ngày hôm trước, cao hơn rất nhiều các mức trước đây từng áp dụng Tương tự như ở Mỹ, TTCK Hàn Quốc cũng áp dụng hệ thống nhằm ngăn chặn những biến động giá bất thường dựa trên cơ sở biến động của chỉ số chứng khoán KOSPI Khi đó hệ thống sẽ ngưng giao dịch trong thời gian 30 phút Điều này sẽ bảo vệ TTCK không bị những biến động xấu ảnh hưởng đến thị trường

Hoạt động giao dịch trên TTCK cũng được vi tính hóa vào tháng 09/1997, cho đến nay, mọi giao dịch mua bán chứng khoán trên TTCK tại sàn chấm dứt và thay vào đó là nhà đầu tư tự đặt lệnh qua hệ thống vi tính

Để phân bổ rộng rãi quyền sở hữu vốn, Hàn Quốc đã tiến hành việc bán cổ phiếu với tỷ lệ giảm giá cao cho công chúng sử dụng để phân phối lại của cải cho các nhóm công chúng có thu nhập thấp Phương pháp này thích hợp nhất đối với các nước có thị trường vốn và tài sản tương đối phát triển Năm 1987, Hàn Quốc thực hiện chương trình sở hữu rộng rãi với tên gọi là “Chương trình cổ phiếu của nhân dân” (PSP), với 2 mục tiêu chủ yếu là phân phối lại sở hữu và của cải cho nhóm người có thu nhập thấp và phân bổ quyền sở hữu càng rộng rãi càng tốt Từ năm 1988 đến năm 1992 cổ phần của 7 doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả được phân phối thông qua các phân bổ ưu tiên chiếm 95% số tài sản đưa ra (20% dành cho những người làm trong doanh nghiệp và 75% dành cho những người có thu nhập thấp) Cổ phiếu chiếm 5% được đưa ra mời chào công chúng Ngoài ra một số biệt đãi về tài chính đã khích lệ sự tham gia vào PSP: những người làm công trong các doanh nghiệp là đối tượng của chương trình này được hưởng hoặc 30% thấp hơn giá đã định hoặc là một kế hoạch trả dần trong 5 năm không tính lãi; những người có thu nhập thấp cũng được hưởng sự giảm giá và hưởng lãi suất thấp đối với các khoản vay dùng để mua cổ phần

Kết quả của chương trình này rất đáng khích lệ, chẳng hạn năm 1988 có 34% tài sản của các doanh nghiệp trên đã được bán ra công chúng với khoản 3,2 triệu người tham gia Những người này đã nhận được khoản khấu trừ là 60% so với giá thị trường và những người thuộc nhóm có thu nhập thấp sau vài tháng đã bán lại cổ phần của họ để hưởng gần 100% lãi trên khoản tiền đã bỏ ra

Trang 24

1.3.2 Ở Trung Quốc

Việc phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng trở nên phổ biến từ năm

1984 và thị trường sơ cấp không chính thức được bắt đầu từ đó, nhưng nó chỉ phát triển thật sự vào năm 1988 khi chính phủ cho phép giao dịch tính phiếu kho bạc nhà nước Việc giao dịch cổ phiếu được hợp pháp hóa bằng sự ra đời Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến năm 1990, 1991 và hàng loạt các thị trường giao dịch trước đó Trên nhiều khía cạnh, thị trường vốn ở Trung Quốc phát triển rất nhanh

Thị trường cổ phiếu ở Trung Quốc phát triển nhanh do đẩy mạnh việc cơ cấu lại quan hệ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là phương pháp cổ phần hóa Đầu năm 1996, trong 118.000 doanh nghiệp nhà nước, số còn giữ lại 100% vốn nhà nước chỉ có 2000 doanh nghiệp, số còn lại là các doanh nghiệp cần cơ cấu lại quan hệ sở hữu hoặc giải thể

Trung Quốc là một điển hình về các định chế đa dạng tham gia quản lý và giám sát việc phát hành trái phiếu Đối với các trái phiếu do các định chế tài chính và quỹ đầu tư phát hành, thì Ngân hàng Trung ương Trung Quốc có nhiệm vụ kiểm tra và chấp thuận Đối với các trái phiếu do các công ty đầu tư nhà nước phát hành thì Uûy ban Kế hoạch chịu trách nhiệm Bộ tài chính chịu trách nhiệm về việc phát hành trái phiếu kho bạc nhà nước

Việc phát hành trái phiếu có những khó khăn trong thời kỳ đầu, do việc yêu cầu công nhân mua trái phiếu mang tính hành chính, cưỡng ép Năm 1991, Bộ Tài chính đã áp dụng phương pháp tổ hợp bảo lãnh phát hành để phát hành trái phiếu lần đầu tiên Tổ hợp bảo lãnh này đã được cho bảo lãnh 2,5 tỷ nhân dân tệ trong tổng số 19,9 tỷ nhân dân tệ trái phiếu kho bạc phát hành đợt đó Kết quả có 58 tổ chức tài chính, đại lý tư nhân nhận hoa hồng 0,15% tổng số trái phiếu bảo lãnh và bán hết trái phiếu cho tất cả các nhà đầu tư tự nguyện Qua đợt phát hành này, Bộ Tài chính thấy rằng phương pháp tổ hợp bảo lãnh tạo ra nhiều thuận lợi cho việc bảo lãnh phát hành trái phiếu, ví dụ như đã tạo cho các nhà bảo lãnh chủ động chào giá, thu hoa hồng cũng như các điều kiện khác Phương pháp bảo lãnh phát hành ở Trung Quốc rất thành công trong việc bán một số lượng lớn trái phiếu kho bạc, khi loại trái phiếu này có tỷ lệ lãi suất khá hấp dẫn so với các loại đầu tư khác

Việc phát hành trái phiếu công ty ở Trung Quốc cũng được quản lý chặc chẽ Riêng các công ty trách nhiệm hữu hạn muốn phát hành trái phiếu ra công chúng phải là công ty có 2 cổ đông là pháp nhân nhà nước Các công ty trước khi phát hành trái phiếu phải là các công ty được niêm yết trên Sở giao dịch và phải hội đủ các điều kiện về báo cáo tài chính và công bố thông tin cập nhật

Trang 25

Như vậy, Trung Quốc có một thị trường chứng khoán phát triển nhanh, trong quá trình đi lên có nhiều vấp váp và đó cũng là những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chúng ta trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng

khoán

1.3.3 Ở Mỹ

Thị trường chứng khoán mỹ có lịch sử lâu đời và đã đạt trình độ cao về mọi mặt, từ hệ thống luật chứng khoán cho đến hệ thống giao dịch chứng khoán và đặc biệt đã xây dựng cơ quan quản lý Nhà nước mạnh Chính vì vậy mà mô hình chứng khoán Mỹ đã được nhiều nước học tập, áp dụng, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng nước Thị trường chứng khoán Mỹ xuất hiện từ năm

1792 và đến năm 1800 đánh dấu sự ra đời của sở giao dịch chứng khoán đầu tiên Thị trường chứng khoán Mỹ đã có nhiều lúc thăng trầm tưởng như phá sản như trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1930 Tuy nhiên, để tăng cường Thị trường chứng khoán, năm 1933 Nhà nước Mỹ đã thành lập Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) Uỷ ban chứng khón Mỹ là cơ quan quản lý cao nhất đối với Thị trường chứng khoán Mỹ, trực thuộc tổng thống và chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ thị trường Đồng thời với việc thiết lập nhiều cơ chế quản lý chặt chẽ dưới sự điều hành của cơ quan quản lý Nhà nước Mỹ, quốc hội Mỹ đã thông qua nhiều luật về chứng khoán như “ Luật chứng khoán” năm 1933, “ Luật giao dịch chứng khoán” năm 1934, các luật liên quan như Luật Công ty, Luật bảo vệ các nhà đầu

tư chứng khoán,… Với sự ra đời của SEC và hệ thống pháp luật chứng khoán tương đối hoàn chỉnh thì Thị trường chứng khoán Mỹ đã ổn định và không ngừng phát triển

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước

Từ những mô hình và cách thức điều hành Thị trường chứng khoán ở một số nước nói trên, chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học cho việc xây dựng và phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội ở mỗi nước là khác nhau cho nên chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc, rập khuôn mà phải áp dụng khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta Cụ thể ở một số điểm sau:

- Thị trường chứng khoán cần quản lý tập trung ở trung ương, không nên giao cho các địa phương quản lý dù ở lĩnh vực nào Cần chú trọng xây dựng một

cơ quan quản lý Nhà nước thật mạnh, đó là Ủy ban chứng khoán Nhà nước, có thể điều hành Thị trường chứng khoán có hiệu quả Việc phân chia trách nhiệm

Trang 26

quản lý Ủy ban chứng khoán nên quy về một mối, tránh tình trạng có nhiều cơ quản quản lý một lúc nên chồng chéo nhau, kém hiệu quả

- Xây dựng các luật về chứng khoán nhằm giúp cho hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra thuận lợi hơn

- Thị trường chứng khoán phải được sự hỗ trợ của Nhà nước, nhất là trong giai đoạn thị trường mới thành lập Cần có một cơ quan quản lý chuyên trách việc giám sát, thanh tra, xử lý các vi phạm hoạt động chứng khoán chẳng hạn như Ủy ban Giám sát chứng khoán độc lập

- Thị trường tập trung chính thức phải là thị trường cho các loại chứng khoán có chất lượng, phải có hệ thống giao dịch tốt, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, không thể coi giao dịch chứng khoán như giao dịch một loại hàng hóa bình thường được

- Việc chuyển đổi sở hữu từ các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cần có một chương trình đồng bộ để khuyến khích rộng rãi công chúng tham gia mua cổ phần, đáng lưu ý là mệnh giá của các chứng khoán phải nhỏ, phù hợp với thu nhập của người lao động; có một định chế quỹ đầu tư mạnh để thu hút vốn, tích lũy vốn để từ đó có thể tham gia vào công cuộc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước một cách có hiệu quả

nhóm người có thu nhập thấp, có các chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho họ tham gia mua được cổ phiếu của các công ty làm ăn có hiệu quả, có cổ tức cao

Kết luận chương I

Ởû chương này, tác giả đã trình bày khái quát các nhân tố của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi huy động và phân phối vốn có hiệu quả nhất cho nền kinh tế, hoạt động dưới các nguyên tắc công khai, trung gian, đấu giá và pháp chế hóa mọi giao dịch Các vấn đề cơ bản của hàng hóa chủ yếu của thị trường chứng khoán là trái phiếu và cổ phiếu, cấu trúc của thị trường như thị trường thứ cấp, điều kiện phát hành, Sở giao dịch chứng khoán, thị trường phi tập trung đều được phân tích; các chủ thể tham gia thị trường như các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại đều được cấu trúc ở chương trình này

Chương này cũng đề cập đến sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán cho Việt Nam; kinh nghiệm và những bài học rút ra ở một số quốc gia về xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra chiện lược phát triển thị trường chứng khoán cho Việt Nam một cách chuẩn xác và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta

Trang 27

Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG

Trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà TTCK Việt Nam chỉ hoạt động giao dịch với hàng hóa chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu nên trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ tập trung chủ yếu nói về hai hàng hóa này

2.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NƯỚC TA

Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển Việc xây dựng TTCK ở VN đã trở thành nhu cầu bức xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ở trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng: “…phát triển thị trường vốn, thu hút các nguồn vốn… chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng TTCK phù hợp với điều kiện VN và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước…”

Xuất phát từ yêu cầu nói trên và thực tiển đòi hỏi của nền kinh tế cần có một “sân chơi” phù hợp cho các giao dịch chứng khoán trong bối cảnh các điều kiện làm tiền đề cho TTCK đang ở dạng sơ khai, và nhu cầu cấp bách cho một thị trường chuyển nhượng các cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, ngay từ năm 1993, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thành lập Ban nghiên cứu và phát triển thị trường vốn nhằm xây dựng đề án khả thi trình Chính phủ cho phép thành lập một cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK Và ngày 28/11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/CP về thành lập Uûy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) có chức năng quản lý Nhà nước về tổ chức và quản lý hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại VN Ngay sau đó, UBCKNN đã xây dựng bộ máy tổ chức tương đối hoàn chỉnh và bắt tay vào xây dựng khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của TTCK Kết quả của các nỗ lực ban đầu đã được ghi nhận bằng việc ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết định thành lập 2 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

Trong hơn 3 năm kể từ đấy đến khi TTGDCK đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh mở phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000, dưới sự chỉ đạo và

Trang 28

quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, với sự phối hợp hoạt động liên ngành trên phạm vi cả nước, UBCKNN đã tiến hành chuẩn bị những tiền đề

cơ bản cho sự ra đời và vận hành của TTCK Những tiền đề đó liên quan đến việc xây dựng:

- Các yếu tố cấu thành nội tại của TTCK, thường được gọi là hàng hóa (đối tượng giao dịch) và con người (chủ thể giao dịch) chứng khoán

- Môi trường pháp lý – hành chính – tổ chức và cơ chế – bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động của TTCK

- Các quan hệ quốc tế trong lĩnh vực hoạt động chứng khoán

- Cơ sở con người và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ hoạt động của TTCK

Chỉ 4 loạt tiền đề thôi, song bao hàm trong đó hàng loạt các điều kiện cụ thể mà việc tạo ra chúng đòi hỏi phải kết hợp các nỗ lực chủ quan trên cơ sở nắm bắt logic khách quan của tiến trình phát triển các thể chế thị trường Giải quyết bài toán đặt ra rõ ràng là không dễ dàng, nhất là trong tình huống mới nhập cuộc và còn nghèo nàn như nước ta

Để cho ra đời thành công TTGDCK, các điều kiện thiết yếu nhất thuộc các loại tiền đề trên đã được xác lập Trong số này, có thể kể đến “Nghị định về chứng khoán và TTCK” – cơ sở pháp lý hàng đầu của TTCK đã được Chính phủ ban hành; đến số lượng ngày càng tăng của các doanh nghiệp cổ phần – nguồn cung cấp hàng hóa chính và cũng là các chủ thể đích thực của TTCK Còn phải kể đến hàng trăm cán bộ tác nghiệp và quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán được đào tạo cả ở trong nước lẫn ngoài nước ở những trình độ khác nhau, đến các mối liên hệ đã được thiết lập và phát huy tác dụng giữa UBCKNN và các Bộ, ngành, địa phương cũng như với các đối tác quốc tế nhằm mục tiêu xây dựng TTCK Việt Nam

Có thể nói việc thành lập các TTGDCK là một giải pháp cấp bách trước mắt, không những tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, thúc đẩy tiến trình đổi mới doanh nghiệp mà còn hướng các hoạt động giao dịch chứng khoán

đi vào quỹ đạo có tổ chức ngay từ đầu, và đây cũng là bước chuẩn bị về mặt tâm lý xã hội cho việc ra đời Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) Việt Nam sau này Vì, TTCK, dù ở mức độ nào cũng sẽ góp phần thúc đẩy xã hội hóa vốn đầu

tư phát triển Sự quan tâm của xã hội đối với đầu tư vào TTCK sẽ giúp các doanh nghiệp có thể thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong phạm vi toàn xã hội một cách hiệu quả hơn

TTGDCK được xây dựng trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc và quan điểm chỉ đạo về xây dựng TTCK ở VN, đó là Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức, quản lý và vận hành TTCK, khuyến khích và tạo điều kiện

Trang 29

cho thị trường phát triển theo đúng đường lối và định hướng của Đảng và Nhà nước TTGDCK là một thị trường giao dịch chứng khoán tập trung, thuộc sở hữu Nhà nước có quy mô phù hợp diều kiện hiện tại và khả năng phát triển trong tương lai; có cơ chế vận hành và các thiết chế quản lý, giám sát thích hợp, đảm bảo cho thị trường vận hành hiệu quả, tránh được những trở ngại ban đầu, hạn chế thấp nhất các yếu tố tiêu cực và rủi ro trong quá trình hoạt động của TTCK

TTGDCK là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc UBCKNN, TTGDCK hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Kinh phí hoạt động do Ngân sách Nhà nước cấp, biên chế làm việc thuộc biên chế UBCKNN TTGDCK thực hiện các chức năng, nhiệm vụ: tổ chức quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán; thực hiện đăng ký thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán; công bố các thông tin về hoạt động giao dịch chứng khoán; kiểm tra, giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán tại TTGDCK; thu phí niêm yết chứng khoán, phí thành viên, phí giao dịch, phí dịch vụ cung cấp thông tin và các loại phí dịch vụ khác theo quy định của pháp luật; lập và quản ý quỹ hỗ trợ thanh toán; làm trung gian hòa giải cho các thành viên khi có yêu cầu… Ngoài các chức năng nêu trên, TTGDCK còn làm đại lý cho Bộ Tài chính trong việc tổ chức đấu thầu trái phiếu Chính phủ để giao dịch trên TTCK tập trung

Việc xác định như vậy cho thấy sự đúng đắn về tầm nhìn, tính chính xác của cách lựa chọn bước đi chiến lược và quyết tâm xây dựng TTCK của Đảng và Chính phủ trong việc thiết kế và thực hiện chương trình đổi mới tổng thể theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện đại Về chủ quan, có thể coi đây là nguyên nhân chính giải thích tại sao với một khoảng thời gian chuẩn bị không dài, mặc dù tri thức lẫn kinh nghiệm xây dựng và vận hành TTCK còn thiếu thốn, đến nay chúng ta đã cho ra đời thành công và bước đầu vận hành hiệu quả,

an toàn TTCKVN

2.2 QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.2.1 Về khung pháp lý cho Thị trường chứng khoán

Ngoài các văn bản do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành như: Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và TTCK, Nghị định số 17/2000/NĐ-CP ngày 25/05/2000 về tổ chức và hoạt động của thanh tra chứng khoán, Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thành lập TTGDCK, và Quyết định 139/1999/QĐ-TTg ngày 10/06/1999 của Thủ tướng

Trang 30

Chính phủ về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCKVN, UBCKNN đã triển khai ban hành một số văn bản hướng dẫn sau:

UBCKNN về tổ chức và hoạt động của TTGDCK; Thông tư số UBCK ngày 13/10/1998 của UBCKNN hướng dẫn Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng; Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của Chủ tịch UBCKNN về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán; Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của Chủ tịch UBCKNN về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ; Quyết định số 04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27/03/1999 của Chủ tịch UBCKNN về việc ban hành Quy chế thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán (sau này sửa đổi thành Quyết định số 79/2000/QĐ-UBCK1 ngày 29/12/2000); Quyết định số 05/1999/QĐ-UBCK3 ngày 27/03/1999 của Chủ tịch UBCKNN về việc ban hành Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán; Quyết định số 31/1999/QĐ-UBCK ngày 12/10/1999 của Chủ tịch UBCKNN về việc ban hành Quy chế giám sát, thanh tra hoạt động chứng khoán và TTCK; Thông tư số 01/1999/TT-UBCK1 ngày 30/12/1999 của Chủ tịch UBCKNN hướng dẫn Quyết định 139/1999/QĐ-TTg ngày 10/6/1999 của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCKVN; Công văn số 109/1999/UBCK2 ngày 12/8/1999 của UBCKNN về việc hướng dẫn đăng ký niêm yết tại TTGDCK; Quyết định số 39/2000/QĐ –TTg ngày 27/03/2000 của thủ tướng Chính phủ về ưu đãi thuế tạm thời với các hoạt động kinh doanh chứng khoán; Quyết định số 26/2000/QĐ-UBCK2 ngày 05/04/2000 của Chủ tịch UBCKNN ban hành Quy định về việc lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập cho các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán; Thông tư số 01/2000/TT-UBCK1 ngày 17/04/2000 về hướng dẫn tạm thời chế độ thu phí đối với khách hàng của các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán; Nghị định số 22/2000/NĐ-CP ngày 10/07/2000 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK

nay đến 2010, quy mô thị trường sẽ không ngừng mở rộng, đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010

quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của UBCKNN và đã trao cho UBCKNN những quyền hạn nhất định trong điều hành thị trường

144/2003/NЍCP thay thế nghị định 48/CP tạo môi trường thuận lợi cho việc

Trang 31

phát hành và kinh doanh chứng khoán và khuyến khích nguồn vốn dài hạn trong và ngoài nước Nghị định này cũng nhằm đảm bảo cho TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, công khai, công bằng và hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu

Ngoài các văn bản đã ký ban hành, hiện nay UBCKNN đã ban hành các văn bản hướng dẫn các thông tư về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng; Quy chế thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán; Quy chế tổ chức và hoạt động cuả các Công ty chứng khoán; Quy chế đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ; Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán UBCKNN cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các chính sách về thuế, phí, lệ phí, quản lý ngoại hối đối với hoạt dộng trên TTCK Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 144/2003/NĐ-

CP, dự thảo nghị định thay thế Nghị định 22/CP về xử lý phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán

2.2.2 Về thành lập các công ty chứng khoán và các định chế tài chính trung gian tham gia thị trường

Theo quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, thành viên của TTGDCK là công ty chứng khoán do UBCKNN cấp giấp phép hoạt động, và đã đăng ký làm thành viên của TTGDCK Công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH và hoạt động trên các mặt nghiệp vụ môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục đầu tư Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, bước đầu nhằm tận dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ, Việt Nam chủ trương cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài được tham gia vào TTCK Việt Nam Tuy nhiên, để hạn chế sự thâu tóm và thao túng thị trường, các công ty chứng khoán nước ngoài sẽ không được hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài, mà chỉ được tham gia vốn vào các đối tác trong nước dưới hình thức công ty chứng khoán liên doanh Hiện nay, Chính phủ đã cho phép các công

ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với các đối tác trong nước với tỷ lệ vốn tham gia không quá 40% vốn điều lệ liên doanh

2.2.3 Về hàng hóa chứng khoán giao dịch tại TTGDCK

Các chứng khoán muốn được niêm yết, giao dịch trên TTGDCK phải đáp ứng được các tiêu chuẩn phát hành ra công chúng và do UBCKNN cấp phép phát hành Các tiêu chuẩn phát hành (định tính, định lượng) được quy định cho từng loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư) Tiêu chuẩn đối với cổ phiếu: vốn điều lệ tối thiểu khoảng 10 tỷ đồng; hoạt động kinh doanh

Trang 32

có lãi 2 năm liên tục; tối thiểu 20% vốn cổ phần của đợt phát hành phải do trên

100 nhà đầu tư bên ngoài tổ chức phát hành nắm giữ; cổ đông sáng lập phải nắm giữ tối thiểu 20% vốn cổ phần của đợt phát hành và trong vòng 3 năm không được phép chuyển nhượng Đối với trái phiếu công ty, ngoài các tiêu chuẩn về vốn pháp định, lợi nhuận và tỷ lệ phát hành ra công chúng tương tự như cổ phiếu, thì tổ chức phát hành phải ký hợp đồng với đại diện người sở hữu trái phiếu và phải có bảo lãnh phát hành (trừ tổ chức phát hành là tổ chức tín dụng)

Đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện cổ phần hóa, các tổ chức phát hành chứng khoán không theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, nay muốn niêm yết giao dịch tại TTGDCK thì phải làm thủ tục đăng ký lại với UBCKNN để được cấp giấy phép phát hành ra công chúng

Hiện nay, UBCKNN đã cấp phép đăng ký lại và chấp thuận niêm yết cổ phiếu cho 22 công ty Đối với hàng hóa trái phiếu, các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đang được giao dịch trên

TTGDCK

Được sự giúp đỡ của các cấp Bộ, ngành và chính quyền TP.HCM, trụ sở làm việc và sàn giao dịch của TTGDCK tại TP.HCM đã được xây dựng, cải tạo khá hoàn chỉnh và hiện đang hoạt động tốt Hệ thống giao dịch tại TTGDCK được cài đặt bởi phần mềm giao dịch do SGDCK Thái Lan tài trợ Đây là phần mềm giao dịch tương đối hiện đại, có công suất giao dịch lớn, đáp ứng được các yêu cầu giao dịch hiện nay và xu hướng phát triển thị trường từ 3 – 5 năm tới Hệ thống giao dịch được thực hiện với mô hình bán tự động, lệnh giao dịch của khách hàng được chuyển đến TTGDCK và nhập vào hệ thống giao dịch thông qua các đại diện giao dịch tại sàn Sau khi khớp lệnh, kết quả giao dịch sẽ được thông báo trên các màn hình máy tính (thiết bị đầu cuối) của thành viên, và thành viên có trách nhiệm thông báo kết quả giao dịch cho khách hàng Các giao dịch được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch theo 2 phương thức: khớp lệnh (cho các giao dịch lô chẵn) và thỏa thuận (cho các giao dịch lô lớn) Các giao dịch lô lẻ sẽ được thực hiện trực tiếp giữa khách hàng với công ty chứng khoán

Hệ thống giao dịch được kết nối với hệ thống đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán do công ty FPT thiết kế, đảm bảo việc thanh toán cho các giao dịch chứng khoán trong vòng 4 ngày kể từ ngày giao dịch (T+3), và đưa ra hệ thống công bố thông tin (bảng điện tử) của TTGDCK

Việc khai trương và hoạt động suôn sẻ của TTCKVN đến nay là bước khởi đầu tốt đẹp cho giai đoạn phát triển mới của ngành chứng khoán Việt Nam, đảm bảo sự hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển ổn định, bền vững của thị trường cả nước trước mắt và lâu dài

Trang 33

2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.3.1 Đánh giá tình hình Thị trường chứng khoán qua các nhân tố cấu thành

2.3.1.1 Hàng hoá niêm yết trên Thị trường chứng khoán (Trung tâm Giao dịch chứng khoán tại T.p Hồ Chí Minh)

a Cổ phiếu

Khi mới hoạt động, Trung tâm GDCK tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có

2 Công ty niêm yết Sau hơn 3 năm, đến nay TTCK đã có 22 công ty cổ phiếu tham gia niêm yết Sau đây là bảng cho biết tên Công ty niêm yết, ký hiệu, vốn điều lệ, giá trị niêm yết và ngày niêm yết

DANH SÁCH CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN TTCK

(Đến 31/12/2003)

Đơn vị : 1000 đồng

Stt Tên công ty cổ phần Ký hiệu Vốn điều lệ Giá trị NY Ngày NY

Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 34

TÌNH HÌNH NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN QUA 3 NĂM HOẠT ĐỘNG

Chính phủ

Trái phiếu công trình

Toàn thị trường

Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy trong 22 Công ty chỉ có 3 Công ty thuộc có quy mô vốn hơn 100

tỷ là REE, SAM và GMD Còn lại là các công ty có quy mô nhỏ hơn 100 tỷ, mà

chủ yết là dưới 50 tỷ Giá trị niêm yết đạt hơn 1.100 tỷ (tương đương 70 triệu

USD)

Trong 3 năm qua, UBCKNN cũng đã cấp giấy phép phát hành thêm cổ

phiếu cho 5 Công ty với tổng giá trị trên 155,4 tỷ đồng

b Trái phiếu

Trong 3 năm qua, TTGDCK tại thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với

Bộ tài chính tổ chức đấu thầu 58 đợt trái phiếu Chính phủ với 59.036.330 trái

phiếu, giá trị đạt 5.903.633.000.000 đồng Hai đợt đấu thầu trái phiếu công trình

với 1.577.050 cổ phiếu, đạt giá trị 157.705.000.000 đồng Trái phiếu chủ yếu do

Bộ tài chính, Quỹ hỗ trợ phát triển và Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam

phát hành có thời hạn từ 5 năm đến 15 năm, lãi suất thấp nhất là 6,5%

Trong năm 2003, được xem là năm được mùa của giao dịch trái phiếu, với

24.839.550 trái phiếu tương đương với giá trị là 2.483.429.235.569 đồng ( chiếm

83,2% giá trị toàn thị trường) Con số này cao gấp 12 lần so với khối lượng giao

dịch của cả 3 năm 2000, 2001 và 2002

Tuy nhiên, hoạt động giao dịch trái phiếu chỉ thực sự khởi sắc vào 6 tháng

cuối năm, với trên 23 triệu trái phiếu, chiếm tới trên 90% Tình hình này phù

hợp với những biến chuyển khởi sắc của thị trường trong nước và thế giới, lãi

suất tiết kiệm giảm, giá vàng và một số ngoại tệ mạnh biến đổi thát thường,…

Khối lượng giao dịch trong phiên cao nhất là trên 2,5 triệu trái phiếu vào

ngày 19/12/2003 Phần lớn các trái phiếu được giao dịch trong năm chủ yếu là

mới niêm yết, trong đó trái phiếu được giao dịch nhiều nhất là CP4A3303 theo

giao dịch thỏa thuận, còn trái phiếu được giao dịch khớp lệnh nhiều nhất là

Ngày đăng: 09/01/2018, 08:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w