Với hướng suy nghĩ từ thực tế trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ nội địa hóa sản phẩm của các công ty trong khu chế xuất Tân Thuận Th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHIÊM PHƯƠNG THẢO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2Lời nói đầu
Nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài đầu tư vốn, kỹ thuật và công nghệ tiến bộ vào khu công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác có hiệu quả nguồn lao động, thu hút kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước Ngày 18/10/1991 Nghị định số 322/HĐBT về việc ban hành Quy chế khu chế xuất tại Việt Nam đã được ký Chín năm qua các khu chế xuất được hình thành, phát triển và thật sự đã có những thành quả đáng kể trong vai trò phát triển kinh tế của đất nước, để lại dư âm tốt đẹp trên thương trường quốc tế và đang ngày càng hoàn thiện hơn Tuy nhiên trong quá trình tự khẳng định mình các khu chế xuất vẫn còn những khó khăn, tồn tại cần khắc phục nhất là quá trình nội địa hóa đối với các sản phẩm của các công ty Tỷ trọng nội địa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các khu chế xuất còn thấp, sử dụng nguyên vật liệu nội địa chưa nhiều, làm tăng giá trị nhập siêu, khu chế xuất chưa thật sự tác động đến sự phát triển kinh tế ngành và kinh tế vùng thành phố Hồ Chí Minh, mối giao lưu kinh tế giữa khu chế xuất và nội địa còn ít, lợi thế so sánh của thành phố chưa được khai thác có hiệu quả
Với hướng suy nghĩ từ thực tế trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ nội địa hóa sản phẩm của các công ty trong khu chế xuất Tân Thuận Thành phố Hồ Chí Minh” với mục tiêu đóng góp một
số ý kiến nhằm gia tăng tỷ trọng sử dụng nguyên vật liệu sản xuất trong nước của các doanh nghiệp trong khu chế xuất từ đó làm tăng thêm lợi ích của khu chế xuất đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình nội địa hóa của các công ty trong
khu chế xuất Tân Thuận – Thành phố Hồ Chí Minh (một khu chế xuất lớn nhất và thành công nhất ở Việt Nam)
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về các vấn đề có
liên quan đến khả năng sử dụng nguyên vật liệu nội địa để làm hàng xuất khẩu và vấn đề gia công của các doanh nghiệp nội địa cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất với mong muốn rằng những vấn đề nghiên cứu ở đây cũng là điển hình chung của các khu chế xuất khác ở Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở vận dụng đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu của các công ty trong khu chế xuất Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê và phương pháp nghiên cứu mô tả
Kết cấu luận văn: Đề tài được phân bố theo kết cấu như sau:
Trang 3Chương 1 Cơ sở lý luận về khu chế xuất và vấn đề nội địa hoá sản xuất
Chương 2 Thực trạng về tình hình nội địa hóa của các công ty trong khu chế xuất Tân Thuận
Chương 3 Giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ nội địa hóa của các công ty trong khu chế xuất Tân Thuận
Vì khả năng còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong Ban quản lý các khu chế xuất Việt Nam, Ban quản lý các khu chế xuất TP.HCM, quý tháày cô và những bạn đọc quan tâm đến đề tài đóng góp ý kiến bổ sung Xin chân thành cám ơn
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NỘI ĐỊA HÓA SẢN XUẤT TRONG KHU CHẾ XUẤT
1 KHÁI NIỆM VỀ KHU CHẾ XUẤT
1.1 Các loại tiền thân của khu chế xuất:
1.1.1 Cảng tự do (Free Port):
Cảng tự do là những cảng áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt, các thương nhân thông qua tàu biển có thể mang hàng hóa và tiền tệ vào cảng một cách tự do không phải đóng thuế, chỉ khi nào chuyển hàng hóa đó vào nội địa mới nộp thuế Từ năm 1229 hải cảng Marselle đã lập ra cảng tự do đầu tiên trên thế giới
1.1.2 Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Zone):
Thường được xây dựng gần cảng, hàng hoá mang vào khu mậu dịch một cách tự do không phải đóng thuế, chỉ bị kiểm soát y tế, an ninh công cộng, an toàn Khu mậu dịch tự do không nhất thiết phải là cảng tự do, nhưng ở đây có sẵn các cơ sở kỹ thuật và phương tiện bốc xếp, vận chuyển, chế biến, lắp ráp, các thiết bị phục vụ vận tải biển, vận tải bộ và hàng không, các nghiệp vụ trung chuyển hàng hoá Khu mậu dịch tự do đầu tiên là ở Newyork năm 1937
1.1.3 Đồng minh quan thuế:
Là nhóm liên kết các nước độc lập lại với nhau thỏa thuận xóa bỏ các sắc thuế hải quan, các hàng rào thuế quan Trong liên hiệp áp dụng một chính sách thuế quan thống nhất đối với mọi thành viên
1.1.4 Kho hay khu quá cảng (Bonded Warehouse Area):
Kho quá cảng và kho chứa quá cảng có mục đích tương tự kho mậu dịch tự do và mô hình gần gũi với cảng tự do Ở đây hàng hóa nguyên liệu đưa vào cảng để sơ chế, lắp ráp đơn giản, đóng gói bao bì, sau đó tái xuất khẩu mà không phải chịu bất cứ loại thuế nào
1.1.5 Khu công nghiệp tự do (Industrial Free Park):
Là một lãnh vực được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công cộng, phù hợp với sự phát triển của một liên hiệp các ngành công nghiệp
1.1.6 Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone):
Đặc khu kinh tế là mô hình áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc, mục tiêu hoạt động của đặc khu kinh tế không hoàn toàn hướng về xuất khẩu mà thực hiện
Trang 5mục tiêu mở cửa kinh tế từng phần nhằm thu hút vốn và kỹ thuật của nước ngoài với chế độ ưu đãi về thuế, về tiền thuê đất và giá nhân công lao động Đặc khu kinh tế không quy hoạch tách rời khỏi phần nội địa bởi hàng rào che chắn, không được miễn hoàn toàn thuế xuất nhập khẩu Trong đặc khu kinh tế có cả hoạt động công nghiệp lẫn hoạt động nông nghiệp và trong đặc khu kinh tế có dân cư sinh sống Sản phẩm của đặc khu kinh tế chẳng những phục vụ cho xuất khẩu mà còn phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của thị trường nội địa Cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu quá cảng, đặc khu kinh tế, khu công nghiệp tự do, đồng minh quan thuế… là những thiết chế đặc trưng có bản chất tương đồng với khu chế xuất, ở đó có môi trường đặc biệt của đầu tư nước ngoài, của liên hiệp công nghiệp – thương mại, dịch vụ, hải quan… đủ hấp dẫn tự do không hoàn toàn hoặc từng mặt phụ thuộc vào các thể chế kinh tế đồng thời của các nước chủ nhà
1.2 Các định nghĩa cơ bản về khu chế xuất:
1.2.1 Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc:
“Khu chế xuất là một khu vực tương đối phân cách về địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút các công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho công nghiệp này những điều kiện về vật tư, mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần còn lại của nước chủ nhà Trong đó đặc biệt là khu chế xuất cho nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế trên cơ sở kho quá cảng.”
1.2.2 Theo Tổ chức thương mại thế giới:
“Khu chế xuất là một khu cách biệt giữa một lãnh thổ quốc gia được quy hoạch riêng thường gần hải cảng, sân bay Các thiết bị, tài sản, nguyên vật liệu được nhập vào cũng như hàng hóa xuất đi từ khu vực này không phải chịu thuế quan, từ những sản phẩm hay thành phẩm tái chế nhập hay xuất vào ngay lãnh thổ quốc gia được bảo vệ của nước chủ nhà.”
1.2.3 Theo Hiệp hội khu chế xuất thế giới–WEPZA:
“ Khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu miễn thuế quan, khu công nghiệp tự do, khu ngoại thương tự do… Bất kỳ khu xuất khẩu tự do nào.” (Điều lệ WEPZA 28/02/1978)
1.2.4 Theo ủy ban kinh tế – xã hội Châu A Ù– Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc:
“ Khu chế xuất là khu công nghiệp nằm trong vùng tự do thương mại, các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở đây chủ yếu hướng về xuất khẩu.”
1.2.5 Căn cứ theo Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm theo nghị định số 36/CP ngày 24/04/1997 thì khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý
Trang 6xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo qui chế trên
Theo qui chế này thì khu chế xuất có những đặc trưng như sau:
- Khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với vùng lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra vào
- Hàng hóa, dịch vụ ngoại hối từ nước ngoài nhập khẩu vào khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất và từ khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, phải chịu sự kiểm tra giám sát về hải quan theo các qui định của pháp luật hải quan Việt Nam và phải nộp lệ phí hải quan nếu có
- Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong thị trường nội địa với các doanh nghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu và phải tuân thủ các qui định của pháp luật xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
Đây là 3 đặc trưng cơ bản dẫn đến tình trạng nội địa hóa sản phẩm của các công
ty trong KCX thấp và cũng là 3 đặc trưng để phân biệt sự khác nhau giữa KCX và KCN – Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập KCN không có tường rào và các doanh nghiệp KCN hoạt động bình thường như những doanh nghiệp khác trên lãnh thổ Việt Nam nghĩa là được tự do trao đổi mua bán, gia công… và chịu chung cơ chế pháp luật như những công ty khác
- Nộp thuế lợi tức với mức:
+ 10% và được miễn thuế lợi tức 4 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lợi nhuận đối với doanh nghiệp sản xuất
+ 15% và được miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lợi nhuận đối với doanh nghiệp dịch vụ
- Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài doanh nghiệp chế xuất phải nộp một khoản thuế là 5% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài
Tuy nhiên căn cứ vào nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì ngoài việc được miễn thuế lợi tức trong 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi còn được giảm thêm 50% trong 4 năm tiếp theo và được chuyển khoản lỗ của bất kỳ năm tính thuế nào sang năm tính thuế tiếp theo và được bù khoản lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng không được quá 5 năm
Tuy khu chế xuất có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung có những đặc trưng
cơ bản sau:
Trang 7- Là một mô hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
- Sản xuất các sản phẩm công nghiệp nhằm mục đích chủ yếu là xuất khẩu
- Các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được hưởng quy chế riêng của KCX: miễn thuế quan xuất nhập khẩu và các chính sách ưu đãi khác
- Có địa giới rõ ràng, cách biệt với lãnh thổ xung quanh
- Có kèm theo các hoạt động dịch vụ xuất khẩu
- Do chính phủ nước sở tại thành lập
Khu chế xuất là khu sản xuất công nghiệp tập trung, chuyên môn hoá các sản phẩm hướng về xuất khẩu, được xây dựng trên một khu tương đối cách biệt với hệ thống lãnh thổ, xung quanh có tường rào, nằm không xa các thành phố lớn, tiện lợi trong công việc giao dịch liên lạc với các hải cảng, sân bay và các cơ sở dịch vụ thông tin, tài chính thương mại trong và ngoài nước Quy mô khu chế xuất lớn hay nhỏ phụ thuộc vào khả năng phân bố kết hợp các nguồn vốn, dạng vốn và mức độ tham gia thị trường vốn thế giới của các nước mở khu chế xuất Bên cạnh đó địa điểm xây dựng khu chế xuất phải thể hiện nhiều lợi thế so sánh với các nước ngoài, đồng thời thể hiện nhiều ưu thế đối với các lãnh thổ trong nước như: địa chất công trình tốt, thiết lập hệ thống mặt bằng xây dựng ít tốn kém, tập trung và vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm thuận tiện, nhanh chóng, nguồn lao động rẻ và sẵn có Toàn bộ thành phẩm chủ yếu được xuất khẩu, tuy nhiên có thể bán lại một phần cho nước chủ nhà một phần dưới dạng “xuất khẩu tại chổ” tùy theo chính sánh của mỗi quốc gia
1.3 Vai trò của khu chế xuất đối với sự phát triển của đất nước:
- Với những qui chế riêng của mình như có những ưu đãi về thuế, chế độ khuyến khích đầu tư cùng với việc tập trung nhiều lợi thế nhất của nước chủ nhà, khu chế xuất đã thu hút phần lớn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm tốc độ đầu
tư tăng lên Từ đó gia tăng giá trị hàng xuất khẩu, góp phần vào sự gia tăng GDP của quốc gia
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao tay nghề, tiếp nhận khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các chủ đầu tư nước ngoài
- Góp phần làm đô thị hóa vùng nông thôn chậm phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, hình thành nên các thành phố mới Thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội trong vùng, làm thay đổi cảnh quan như cải tạo cơ sơ hạ tầng: đường xá, cầu cống, điện nước trong khu chế xuất và vùng lân cận, tạo ra phản ứng dây chuyền, kích thích các vùng và các ngành kinh tế khác phát triển
- Qui hoạch và sử dụng đất một cách có hiệu quả hơn
- Các nhà máy được phân nhóm một cách có hệ thống, góp phần bảo vệ môi sinh, môi trường mang lại lợi ích lâu dài cho quốc gia
- Góp phần đưa nền kinh tế quốc gia hội nhập với nền kinh tế thế giới
Trang 82 VẤN ĐỀ NỘI ĐỊA HÓA SẢN PHẨM
2.1 Định nghĩa về nội địa hóa sản phẩm:
Nội địa hóa sản phẩm (dịch vụ) tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài là việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong một chu trình sản xuất, có nguồn gốc xuất xứ từ các công ty nước chủ nhà, nơi mà các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đó đang tọa lạc và đầu tư
Nội địa hóa thể hiện trên nhiều lĩnh vực như:
1 Lao động sống (tổng quỹ lương dành cho người Việt Nam)
2 Cơ sở hạ tầng trong nước: điện nước, điện thoại
3 Chi phí dịch vụ như kiểm toán, xuất nhập khẩu, bảo hiểm…
4 Chí phí về quản lý (chi phí khác)
5 Nguyên vật liệu, vật tư sản xuất
6 Các máy móc, trang thiết bị
7 Vốn
8 Hợp đồng gia công trong nước
Các vấn đề trên là các yếu tố đầu vào chủ yếu để hình thành nên sản phẩm Tuỳ đặc điểm của từng yếu tố mà tiềm năng thực hiện nội địa hóa trong từng lĩnh vực có thể khác nhau, trong đó đối với các yếu tố 1, 2, 3, 4 hầu hết đều sử dụng nguồn tại Việt Nam từ khi khu chế xuất được thành lập cho đến nay nên mang tính chất nội địa hóa đương nhiên Các yếu tố 6,7 và cần được định hướng theo một chiến lược lâu dài và giải pháp hữu hiệu
Các loại máy móc, trang thiết bị thì Việt Nam chúng ta vẫn chưa cạnh tranh được nên tất cả những loại máy móc đều được nhập khẩu Hơn nữa trong quá trình thành lập dự án đầu tư, các chủ đầu tư nước ngoài ngoài lý do về chất lượng, trình độ kỹ thuật còn có những lý do khác, việc đưa trang thiết bị vào Việt Nam đã nằm trong dự án của họ
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào vấn đề nội địa hóa trong các lĩnh vực: sử dụng nguyên vật liệu trong nước và đẩy mạnh hợp đồng gia công trong nước
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nội địa hóa
- Nhân tố về chính trị – xã hội
- Nhân tố về kinh tế: giá cả, chất lượng
- Nhân tố về chính sách công ty
- Nhân tố về những rào cản chính sách thể chế ở tầm vĩ mô như : thuế, thủ tục
hành chính…
Trang 92.3 Vai trò của việc nội địa hóa ở các khu chế xuất
Thực hiện nội địa hóa sản phẩm là một việc làm có lợi cho cả hai bên: nước chủ nhà đầu tư xây dựng khu chế xuất và các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu
tư như:
2.3.1 Đối với nước chủ nhà:
- Thông qua các hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp nội địa sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước, nhất là đối với những ngành nghề sản xuất kinh doanh đang có trong khu chế xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu
- Tạo ra mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu chế xuất sẽ dễ dàng thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế trong nước thông qua hợp đồng mua bán, gia công
- Thông qua sự liên kết giữa khu chế xuất và nền kinh tế nội địa như tạo ra vùng nguyên liệu sản xuất nông nghiệp để cung cấp cho khu chế xuất góp phần giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập
2.3.2 Đối với các nhà đầu tư:
- Các doanh nghiệp trong khu chế xuất sẽ tiết kiệm được chi phí đầu vào do có lợi thế về giá cả, chi phí vận chuyển, phí bảo hiểm, thủ tục xuất nhập khẩu và các lệ phí khác…
- Thông qua hợp đồng gia công qua lại với nhau sẽ tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thay vì phải bỏ vốn đầu tư từ đầu, tận dụng các hạ tầng sẵn có của mỗi bên, nâng cao năng suất hoạt động
- Được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) khi xuất khẩu sang các nước công nghiệp phát triễn giành cho Việt Nam ưu đãi về thuế nhập khẩu
3 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ KHU CHẾ XUẤT Ở VIỆT NAM:
Phát triển các khu chế xuất từ lâu được coi là công cụ chính sách công nghiệp và là một khu công nghiệp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới
Lợi ích của nước chủ nhà thu được từ việc phát triển thành công các khu chế xuất là đẩy mạnh xuất khẩu ngoại tệ trên cơ sở tăng sản xuất hàng xuất khẩu tạo việc làm mới, thu hút trực tiếp vốn đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia, tiếp nhận kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhanh chóng hòa nhập và tăng sức cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp trên thị trường thế giới và khu vực
Song không phải nước nào cũng thành công trong việc phát triển khu chế xuất Theo ngân hàng thế giới, năm 1998 chỉ có khoảng 40-50% khu chế xuất được đánh giá thành công, 20-30% là thành công ở từng mặt và 30% là thất bại 50% khu chế xuất
Trang 10hoạt động có hiệu quả tập trung ở Châu á, phần lớn các khu chế xuất hoạt động không
hiệu quả nằm ở Châu phi, Đông phi và Trung đông Ở Châu Á nhiều khu chế xuất được
thành lập vào những năm đầu thập niên 70 đến những năm đầu thập niên 80 và đã
tương đối thành công
Ở Việt Nam năm 1991 chính phủ đã ban hành nghị định về việc thành lập khu
chế xuất, tính đến nay tại thành phố Hồ Chí Minh có 2 khu chế xuất là khu chế xuất
Tân Thuận và khu chế xuất Linh Trung với 132 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất và
đang triển khai xây dựng, đã tạo được việc làm cho 44.138 lao động ở thành phố cũng
như các tỉnh lân cận, tạo ra một lượng thu nhập hàng năm không nhỏ, nếu tính bình
quân lương 1 người là 60 USD/tháng thì tổng thu nhập của lượng lao động tạo ra hàng
năm ở hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung là 31.779.360 USD
Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu của các khu chế xuất tăng cao hơn tỷ lệ xuất khẩu
của cả nước, chẳng hạn bình quân hằng năm từ năm 1994-1998 tỷ lệ xuất khẩu của hai
khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung tăng 72%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ xuất khẩu
của thành phố là 18,25% và của cả nước là 25,7% chiếm tỷ trọng là 0,02% trong tổng
giá trị xuất khẩu của cả nước
Bảng1 : Kim ngạch xuất nhập khẩu của 2 khu chế xuất
Tân Thuận và Linh Trung
ĐVT: USD
(Nguồn: Ban Quản Lý các KCX và CN TP.HCM 1999)
Là một nước đi sau trong việc phát triển khu chế xuất, Việt Nam phải chấp nhận
sự cạnh tranh gay gắt về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, đặc biệt của các công ty
xuyên quốc gia Song với lợi thế của nước đi sau, Việt Nam có điều kiện phân tích
những bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của những nước đi trước để từ
đó rút ra những kết luận cần thiết cho việc hoạch định và thực thi một chiến lược đúng
đắn về phát triển và quản lý các khu chế xuất
Trang 11Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH NỘI ĐỊA HÓA CỦA CÁC CÔNG TY TRONG
KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN
1 GIỚI THIỆU VỀ KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN TP.HCM:
Khu chế xuất Tân Thuận TP.HCM được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng số 394/CT ngày 25/11/1991, chiếm diện tích khoảng 300 ha Việc kinh doanh xây dựng cơ sở hạ tầng khu chế xuất do công ty liên doanh xây dựng và kinh doanh khu chế xuất Tân Thuận hoạt động theo giấy phép đầu tư số 245/GP ngày 24/9/1991 của Ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư
Khu chế xuất Tân Thuận là KCX đầu tiên ở Việt Nam, là liên doanh giữa công
ty phát triển công nghiệp Tân Thuận trực thuộc UBND TP.HCM (gọi tắt là IPC) và công ty thương mại và đầu tư trung ương của Đài Loan (gọi tắt là CT&D) Tổng vốn đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng 88,92 triệu USD, vốn pháp định là 30 triệu USD trong đó IPC của Việt Nam góp 30% vốn bằng quyền sử dụng 300 ha đất trong 50 năm Khu chế xuất Tân Thuận chính thức khởi công xây dựng vào ngày 06/02/1992 dự định sau 7 năm sẽ hoàn chỉnh các công trình cơ sở hạ tầng và 12 năm sẽ cho thuê hết diện tích đất dành cho nhà xưởng (khoảng 210 ha)
Khu chế xuất Tân Thuận nằm gọn trên một bán đảo được bao quanh bởi sông Sài gòn cách trung tâm thành phố khoảng 4km là nơi có nguồn lao động dồi dào, có các dịch vụ văn hoá, thông tin nhanh nhạy
Khu chế xuất Tân Thuận có địa hình tương đối bằng phẳng, ba mặt Đông, Tây, Bắc giáp sông Sài gòn, phía Nam là trung tâm đô thị mới và khu thương nghiệp thuộc khu phát triển Nam Sài gòn tiếp giáp với tỉnh lộ 15 thông với các tỉnh phía nam, cách khu cảng TP.HCM (cảng Bến Nghé, cảng VICT – cảng container lớn nhất thành phố) một con đường rộng 30m, cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 13km
Theo dự kiến khu chế xuất Tân Thuận sẽ tiếp nhận khoảng 300 xí nghiệp với tổng số vốn đầu tư là 600-700 triệu USD, thu hút khoảng 70.000 lao động và tạo ra kim ngạch xuất khẩu khoảng 2 tỉ USD/năm Sau hai năm liền 1997, 1998 được tạp chí Coporate Location bình chọn đứng vị trí thứ ba của khu vực Châu Á Thái Bình Dương, năm 1999 vượt lên giữ vị trí số 1 Cuối tháng 10/1999 được Hiệp hội tiêu chuẩn Anh Quốc BSI cấp giấy chứng nhận ISO 9002
Tính đến ngày 31/12/1999 số giấy phép đầu tư còn hiệu lực tại KCXTT là 107 trong đó:
+ Số doanh nghiệp đang lắp đặt thiết bị, sản xuất thử : 5
+ Số doanh nghiệp đang làm thủ tục xin xây dựng công trình: 11
+ Số doanh nghiệp chưa có hoạt động sau giấy phép đầu tư: 1
Trang 12với tổng số vốn đăng ký là 522,25 triệu USD và diện tích đất cho thuê là 94,67 ha
Nếu tính cả diện tích đất đã được đặt tiền cọc để thuê thì mức độ lắp đầy ở KCX
TT là 57,7% (121,2 ha/210 ha)
1.1 Phân bố vốn đầu tư theo quốc gia trong KCXTT
Bảng 2: Phân bố vốn đầu tư theo quốc gia trong KCXTT
Nhật Bản 56,94%
Đài Loan 30,05%
Hongkong 6,69%
Hàn quốc 1,87%
Anh 1,68%
Singapore 0,96%
Mỹ 0,99%
Hình 1: Sơ đồ phân bố vốn đầu tư theo quốc gia
Theo sơ đồ phân bổ vốn đầu tư thì quốc gia có số vốn đầu tư cao nhất là Nhật
Bản với 297,35 triệu USD chiếm tỷ lệ 56,94%, kế đó là Đài Loan với tổng số vốn
156,94 triệu USD chiếm tỷ lệ 30,05%, thấp nhất là nước chủ nhà Việt Nam với 4,4 triệu
USD chiếm 0,84%, còn thiếu vắng sự đầu tư của nhiều quốc gia công nghiệp hàng đầu
Việc đầu tư vào Khu chế xuất Tân Thuận chỉ mới dừng lại ở 8 quốc gia, chưa
phong phú đa dạng, chưa hấp dẫn các quốc gia khác ngoài Châu á Tuy tốc độ đầu tư
của năm 1999 có tăng lên so với năm 1998 (số giấy phép đầu tư đã cấp năm 1999 là 8,
Trang 13năm 1998 là 4, vốn của giấy phép đầu tư năm 1999 là 18,85 triệu USD, năm 1998 là
5,25 triệu USD) nhưng vẫn còn ở mức rất chậm chạp và thấp hơn các năm trước khủng
hoảng kinh tế Châu á Ngoài lý do đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn chưa phục hồi
còn do khu chế xuất bị giảm sức hấp dẫn bởi các doanh nghiệp khu công nghiệp được
hưởng ưu đãi cao hơn từ sau khi có quyết định 53/1999QĐ-TTg (doanh nghiệp KCN
xuất khẩu 80% hàng hóa do mình sản xuất đã được hưởng ưu đãi bằng doanh nghiệp
KCX xuất khẩu 100% hàng hóa sản xuất ra)
1.2 Cơ cấu sản phẩm đầu tư vào KCXTT
Bảng 3: Cơ cấu sản phẩm đầu tư vào KCXTT
Trang 14Dụng cụ thể thao 2,46%
Thực phẩm, rượu 4,94%
Gỗ giấy, bao bì 7,43%
Các ngành khác 9,29%
Cơ khí 13,78%
Dệt may 20,16%
Điện, điện tử 29,84%
Nhựa, cao su 12,10%
Hình 2: Sơ đồ cơ cấu ngành
Ngành nghề có mức thu hút từ 50 triệu USD vốn đầu tư trở lên bao gồm ngành điện, điện tử (155,82 triệu USD); dệt may (105,31 triệu USD); cơ khí (71,99 triệu USD); và nhựa, cao su (63,19 triệu USD)
Các ngành nghề có nhiều doanh nghiệp được xây dựng và hoạt động là dệt, may (30 doanh nghiệp); cơ khí (16 doanh nghiệp); điện, điện tử (14 doanh nghiệp) Trừ các ngành điện, điện tử và cơ khí thuộc công nghiệp nặng, các ngành nghề còn lại thuộc công nghiệp nhẹ và công nghiệp tiêu dùng Các ngành sử dụng công nghệ cao như hóa dầu, công nghệ sinh học chưa thấy xuất hiện
1.3 Số người lao động trong KCXTT
Bảng 4: Số người lao động trong KCXTT
Trang 15182 1,395 4,298
9,543 16,000 20,000 24,672
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Số LĐ c
Hình 3: Sơ đồ về số lao động
Tổng cộng toàn bộ công nhân làm việc trong các xí nghiệp Khu chế xuất và trên các công trình xây dựng hiện đã vượt quá 25.000 người, trong đó lao động nữ chiếm 73% So với số lượng lao động dự tính thu hút trong qui hoạch là 60-70.000 lao động, đã đạt tỷ lệ 35,71%
2 TÌNH HÌNH NỘI ĐỊA HÓA VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU CỦA CÁC CÔNG TY TRONG KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN HIỆN NAY
Cơ cấu giá thành sản phẩm được hình thành từ những yếu tố sau: (với tổng chi phí được tính cho cả nguyên năm)
1 Nguyên vật liệu, vật tư nhập khẩu từ nước ngoài: là yếu tố nước ngoài
2 Nguyên vật liệu, vật tư mua từ nội địa trong năm: là yếu tố nội địa
3 Tồn kho : được xem là yếu tố nước ngoài vì những nguyên vật liệu mua trong nước không tồn kho hoặc tồn kho rất ít, sử dụng đến đâu mua đến đó Mặt khác số tồn đầu và tồn cuối năm của nguyên vật liệu mua trong nước xem như tương đương nhau
4 Tổng quỹ lương cho người nước ngoài: là yếu tố nước ngoài Mặc dù tỷ lệ người nước ngoài chỉ chiếm 0,75% nhưng tổng quỹ lương lại chiếm tỷ lệ đến 10,67% Tổng quỹ lương cho người Việt Nam: là yếu tố nội địa
5 Khấu hao tài sản cố định: đây được xem là yếu tố nước ngoài vì hầu hết các máy móc thiết bị được nhập khẩu từ nước ngoài khi bắt đầu thành lập công ty hay có phát sinh trong quá trình mở rộng sản xuất cũng đều được nhập khẩu
6 Trả lãi vay vốn lưu động: nếu vay tại các ngân hàng đặt tại Việt Nam thì được xem là yếu tố nội địa, còn nếu vay của các ngân hàng đặt ở nước ngoài, vay vốn của công ty mẹ, hoặc từ các hiệp hội tổ chức nước ngoài thì được xem là yếu tố nước ngoài
Trang 167 Các chi phí dịch vụ trong năm như: kiểm toán, xuất nhập khẩu, bảo hiểm: là các yếu tố nội địa vì các công ty KCX đều thực hiện các dịch vụ này với các công ty đóng trên lãnh thổ Việt Nam
8 Chi phí cho tiện ích công cộng như: điện, nước là yếu tố nội địa
- Điện của KCX Tân Thuận được công ty điện Hiệp Phước cung cấp đó là một công
ty nằm trong KCN Hiệp Phước do Công ty mậu dịch và phát triển Trung Ương đầu tư
- Nước do công ty khai thác hạ tầng của KCX là Công ty Liên doanh và xây dựng KCXTT (TTC) cung cấp được lấy từ nhà máy nước Thủ Đức
9 Các chi phí khác trong năm như: lệ phí, công tác phí, thuê xe, thuê nhà, chi phí gia công … đều là những yếu tố có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam
Như vậy tỷ lệ nội địa của sản phẩm được tính bằng tổng các yếu tố có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam như yếu tố 2,4,7,8,9 chia cho tổng số các yếu tố hình thành nên giá thành sản phẩm (yếu tố 1,2,3,4,5,6,7,8,9)
Tính bình quân tỷ lệ nội địa của KCXTT là 31,9%, so với KCX Linh Trung là 26% thì tỷ lệ này có cao hơn đôi chút, trong đó ngành chiếm tỷ lệ cao nhất là ngành thực phẩm (55,1%), kế đến là ngành nhựa (40,2%), ngành kim loại (31,1%), các ngành khác (30,8%), ngành may (27,2%), ngành cơ khí (21,6%) và thấp nhất là ngành điện, điện tử (17,1%)
Bảng 5 : Tỷ lệ nội địa của Khu chế xuất Tân Thuận năm 1999
(Nguồn: Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM 1999)
* Ngành thực phẩm: đây là ngành có nhu cầu mua nguyên vật liệu nội địa rất lớn,
trong đó tỷ lệ mua nguyên vật liệu nội địa chiếm 52,4% trong tổng số nguyên vật liệu dùng để sản xuất và chế biến Tỷ lệ nội địa của nhóm ngành này đứng cao nhất là 55,1%
Những nguyên liệu chính của nhóm ngành này bao gồm: gạo, tấm, nếp các loại; cồn, cơm rượu; bột khoai tây; các loại rau cải như cải bó xôi, hành, bắp, bắp cải, khoai mỡ, cà tím…;thực phẩm tươi các loại
Trang 17Đây là những mặt hàng mà ta có thể đáp ứng được nhu cầu của các công ty và giá cả tương đối cạnh tranh Những phần nhập khẩu chúng ta vẫn có thể sản xuất để đáp ứng được như bột khoai tây, dầu shortening, bắp, gạo… tuy nhiên các doanh nghiệp KCX cho rằng những mặt hàng này Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của họ nên họ chưa mạnh dạn thay thế nguồn hàng nhập khẩu
Hiện tại đối với các doanh nghiệp kinh doanh về ngành thực phẩm có hai vấn đề chính nhằm nâng cao khả năng mua nguyên vật liệu nội địa là:
- Nâng cao chất lượng hàng hóa
- Đơn giản hóa thủ tục hải quan và thuế VAT khi mua hàng từ nội địa vào KCX
* Ngành nhựa: Đây là ngành có tỷ lệ nội địa đứng thứ nhì trong KCX mà trong đó cao
nhất là công ty Đông Á (62,8%), tuy nhiên không phải do sử dụng nhiều nguyên vật liệu mua từ nội địa mà chủ yếu là do những chi phí khác cao nên dẫn đến tỷ lệ nội địa cao Đặc biệt công ty Daiwa Plastic không mua nguyên vật liệu từ thị trường nội địa, hầu hết các công ty còn lại chỉ đơn thuần sử dụng các phụ liệu và các loại sản phẩm nhựa thông dụng Tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu nội địa năm 1999 là 15,4%
Những nguyên liệu chủ yếu của ngành này là: nhựa PVC; mũ cao su đã qua chế biến; bột cao su; dung môi; túi nhựa …
Những khó khăn mà ngành này đang gặp phải là:
- Chất lượng sản phẩm nội địa còn thấp
- Thủ tục hải quan còn phức tạp
* Ngành kim loại: đây là ngành có nhu cầu mua nguyên vật liệu nội địa rất thấp, chiếm
7,9%, năm 1999 Tuy nhiên các yếu tố nội địa khác như: tổng quỹ lương, chi phí dịch vụ, chí phí tiện ích công cộng và chi phí khác chiếm tỷ trọng khá cao nên dẫn đến tỷ lệ nội địa cuả ngành này cao (31,1%)
Những nguyên liệu chính của ngành này bao gồm: vải các loại dùng để làm sản phẩm dùng cho đua ngựa; khoen, khoá, móc, nút; thép cuộn; hóa chất…
Đối với những nguyên liệu của ngành hàng này thì Việt Nam có thể sản xuất được nhưng giá thành còn cao, chưa mang tính cạnh tranh
* Ngành khác: chẳng hạn như sản xuất dây đồng hồ, sản xuất ống chịu nhiệt cấp
oxygen, sản xuất đồ dùng nhà bếp, sản xuất các chất tẩy rửa…
Đây là nhóm ngành có tỷ lệ nội địa tương đối cao nhưng không đồng đều ở các công ty, như công ty Đại Đồng tỷ lệ nội địa cao nhất là 49,8%, trong khi đó công ty Yamato chỉ có 14,4% Cũng phông phải do khả năng sử dụng các nguyên vật liệu nội địa trong nước nhiều mà chủ yếu là do các chi phí khác cao nên tỷ lệ này cao Tỷ lệ mua nguyên vật liệu nội địa bình quân chung của nhóm ngành này chỉ chiếm 6,6% năm
1999
Trang 18Những nguyên vật liệu chủ yếu của nhóm ngành này bao gồm: thép không rỉ; nhựa P.E; thanh niken, đồng, vàng xi mạ; đất sét; hoá chất; bao nylon…
Những khó khăn mà nhóm ngành này đang gặp phải là:
- Thông tin về các doanh nghiệp nội địa không nhiều
- Cải tiến thủ tục thuế VAT cho các doanh nghiệp nội địa bán hàng vào KCX với số lượng nhỏ
* Ngành may: đây là ngành hàng có nhiều tiềm năng nhất, ta có thể cung cấp khá đầy
đủ nhưng hiện tại hầu hết các doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên vật liệu nội địa còn rất ít, năm 1999 tỷ lệ mua nguyên vật liệu nội địa chỉ chiếm 7,7% trong tổng số nguyên vật liệu dùng để sản xuất, chủ yếu các doanh nghiệp chỉ mới sử dụng các phụ liệu như: thùng carton, túi nhựa đựng sản phẩm, nút, móc, keo, nhãn sản phẩm… những nguyên liệu chính như vải, chỉ, thun, dây kéo, sợi, lông nhân tạo, da nhân tạo, ren… vẫn phải nhập khẩu Có những công ty sản xuất hàng chất lượng cao như công ty SB Sàigòn, Muraya vẫn không sử dụng cả phụ liệu nội địa với lý do chất lượng kém Tỷ lệ nội địa của ngành này là 27,2%
Những khó khăn mà các công ty ngành may gặp phải là:
- Thiếu thông tin, chưa đánh giá hết tiềm năng về các doanh nghiệp nội địa
- Chất lượng hàng không đồng đều
- Thủ tục hải quan, thuế VAT đối với các lô hàng nhỏ còn phức tạp
Ngoài ra còn có nguyên nhân khách quan là hầu hết các công ty ngành may mặc đang hoạt động tại KCX đều có công ty mẹ hoặc hiệp hội doanh nghiệp ở nước ngoài lo bao tiêu vấn đề nguồn nguyên liệu Còn những công ty có chính sách tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu nội địa thay thế hàng nhập khẩu thì đòi hỏi chất lượng cao và giá cạnh tranh
* Ngành cơ khí: đa số các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chính xác, đòi
hỏi chi tiết kỹ thuật cao nên phần lớn họ không sử dụng nguyên vật liệu nội địa vì chất lượng không đạt yêu cầu hoặc nếu có hàng cung cấp thì cũng chỉ là bán lại hàng nhập từ nước ngoài nên giá cả không thể cạnh tranh và không đáp ứng được yêu cầu về thời gian giao hàng Duy chỉ có công ty MK Seiko là sử dụng nhiều gỗ, nước sơn nên tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu nội địa là 22,4%, do đó tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu nội địa bình quân chung năm 1999 là 7,6%
Những nguyên liệu chính của ngành này bao gồm: lõi sắt từ ; dây cảm biến; bạc đạn; dây điện, dây đồng; cao su từ; nhựa các loại; màng lọc khí; hợp kim Titanium; sườn nhôm; phuộc nhúng; gỗ …
Đây là ngành hàng mà ta ít có lợi thế cạnh tranh nhất, tuy nhiên vẫn có một số mặt hàng mà ta có thể cung cấp cho KCX được như: nhựa các loại, ống PVC, dầu mỡ các loại, ván gỗ ép, ống thép, vỏ ruột xe đạp… tuy nhiên đây chỉ là những phụ liệu cho các doanh nghiệp ở ngành hàng này
Trang 19* Ngành điện tử: do các doanh nghiệp trong KCX sản xuất sản phẩm có yêu cầu cao
về chất lượng nên hầu hết đều nhập nguyên liệu từ nước ngoài về Ngoài ra các doanh nghiệp nước ngoài được trang bị và đầu tư máy móc dây chuyền sản xuất hiện đại cộng với nguyên liệu chất lượng cao nên giá thành sản phẩm từ các nguồn nước ngoài thấp hơn nhiều so với mua từ nội địa Tỷ lệ mua nguyên vật liệu nội địa chiếm 4,4% năm
1999 trong tổng số nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng Tỷ lệ nội địa bình quân của ngành này thấp nhất 17,1%
Nguyên vật liệu chủ yếu của ngành này là: IC; biến điện; tăng sóng; điện trở; tụ điện; lõi từ; cảm ứng từ; dây cảm ứng; …
Những khó khăn của các doanh nghiệp nhóm ngành này là:
- Cần nhiều thông tin của các doanh nghiệp nội địa về khả năng cung ứng hàng
- Các doanh nghiệp nội địa chưa chú trọng nhiều vào việc đầu tư chất lượng sản phẩm (theo tiêu chuẩn ISO 9000) và chưa chú trọng vào các dịch vụ hậu mại
- Nhu cầu về hàng gia công của các doanh nghiệp nhóm ngành này rất lớn nhưng thủ tục trả lại hàng không đúng chất lượng quá phức tạp
2.1 Tình hình về việc mua hàng từ nội địa
Theo qui chế thành lập khu chế xuất ban hành kèm nghị định 36CP ngày 24/07/1997 điều 40 thì các doanh nghiệp KCX được mua nguyên vật liệu, vật tư hàng hóa từ thị trường nội địa vào KCX hoặc doanh nghiệp chế xuất Phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại của KCX hoặc doanh nghiệp chế xuất được tiêu thụ vào thị trường nội địa theo thủ tục hải quan đơn giản và thuận tiện
Quan hệ trao đổi hàng hoá giữa doanh nghiệp trong thị trường nội địa với các doanh nghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu và phải tuân thủ các qui định của pháp luật xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
Căn cứ vào qui chế này, chúng ta đã áp dụng một cách triệt để và cứng nhắc đối với việc mua hàng hóa từ nội địa Hàng hóa xí nghiệp KCX bán vào thị trường nội địa thì được coi như hàng doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu từ nước ngoài và hàng hóa xí nghiệp khu chế xuất mua từ thị trường nội địa được coi như là hàng Việt Nam xuất khẩu
ra nước ngoài, phải chịu sự điều chỉnh bởi chính sách xuất khẩu, nhập khẩu và pháp luật thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Đối với hàng hóa mua từ thị trường nội địa thì được chia ra làm hai nhóm:
- Nhóm 1: Lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm thiết yếu phục vụ cho sinh
hoạt hằng ngày trong KCX thì các xí nghiệp trong KCX được mua không cần phải mở tờ khai hải quan, hải quan cổng chỉ mở sổ theo dõi đối với những loại hàng hóa này
- Nhóm 2: Hàng hóa dùng làm nguyên liệu, vật tư, phụ tùng thay thế, máy móc
các loại dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì bắt buộc phải mở tờ khai hải quan dù trị giá hay số lượng hàng hóa nhiều hay ít đi chăng nữa
Trang 20Thủ tục mở tờ khai hải quan gồm có: Đơn xin phê chuẩn xuất nhập khẩu do HEPZA cấp, tờ khai hải quan, văn bản cho phép của bộ thương mại, bộ chuyên ngành (nếu có), hợp đồng thương mại, hoá đơn, bản kê chi tiết, bản sao giấy phép xuất nhập khẩu của công ty nội địa
Trung bình làm xong thủ tục phải mất khoảng 2 ngày, với một loạt các chứng từ và thủ tục phiền toái như vậy đã gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong KCX, để mua được hàng từ nội địa người mua phải tìm người bán có chức năng xuất nhập khẩu, nếu không lại phải thực hiện hợp đồng ủy thác Như vậy để mua một lô hàng từ Việt Nam đôi khi trị giá chỉ 1 hoặc 2 triệu đồng mà phải thực hiện đầy đủ một loạt các chứng từ trên thì rất mất thời gian và không mang lại hiệu quả cao cho cả hai phía, các doanh nghiệp Việt Nam cũng không mặn mà lắm trong việc bán hàng cho KCX và các doanh nghiệp KCX cũng không tích cực tìm kiếm các nhà cung cấp từ Việt Nam, thậm chí các thủ tục mua hàng từ Việt Nam còn phiền toái hơn việc nhập khẩu từ nước ngoài
Bảng 6: Trị giá hàng hóa mua từ nội địa
Trang 23Kết quả trị giá hàng mua từ thị trường nội địa năm 96 chỉ có 5.400.990,92 USD chiếm 6,7% trong tổng số lượng hàng nhập khẩu để sản xuất, tỷ lệ này rất thấp Mặt khác các chủng loại hàng mua vào cũng còn đơn điệu, khoảng 18 mặt hàng, trong đó
Trang 24mặt hàng lông vịt là chiếm tỷ lệ cao nhất 25,27%, kế đến là thùng carton chiếm 22,74%
Năm 1997 trị giá mua hàng từ nội địa của KCX tăng cao, tăng 163,72%, gần gấp
3 lần năm 1996 với dầu DO, FO chiếm tỷ lệ cao nhất 26,07% kế đến là lông vịt 20,44% Sở dĩ có sự gia tăng này phần lớn là do có thêm các công ty đầu tư vào KCX, nếu ở năm 1996 KCX Tân Thuận có 68 công ty có hoạt động xuất nhập khẩu thì năm 1997 đã tăng lên 84 công ty, tăng 16 công ty Mặt khác sau 4, 5 năm hoạt động các công ty bắt đầu tìm kiếm các nguồn hàng từ Việt Nam nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm, nhiều mặt hàng mới xuất hiện nâng tổng số các mặt hàng tăng lên đến 43, cũng vào năm này công ty Viva chuyên mua hàng lông vịt bị cháy kho nên phải mua lại một lượng mới làm trị giá mua mặt hàng lông vịt tăng gấp đôi mặc dù lượng xuất khẩu của Viva giảm đi, năm 1996 xuất 7.147.302 USD, năm 1997 xuất 5.586.670 USD
Tuy nhiên tỷ lệ của hàng hóa mua từ nội địa của năm 1997 cũng chỉ chiếm 7,6% trong tổng lượng nhập khẩu, có tăng hơn so với năm 1996 nhưng cũng không đáng kể và còn rất thấp so với lượng nhập khẩu
Năm 1998 mặc dù số công ty tăng lên 94 nhưng tình hình mua hàng hóa từ nội địa lại giảm sút một cách nghiêm trọng, chỉ chiếm 5% lượng hàng nhập khẩu từ nước ngoài
Ngày 15/05/1998 HEPZA đã có cuộc họp thông báo về việc tinh giản các thủ tục xuất nhập khẩu của KCX mà theo đó thì:
- Các công ty trong KCX được mua hàng của bất kỳ một doanh nghiệp nội địa nào nếu có giấy phép kinh doanh một cách hợp lệ Vậy sẽ không cần có giấy phép xuất nhập khẩu cũng như giấp phép 7 số của Bộ thương mại (trừ một vài mặt hàng hạn chế)
- Nếu trị giá lô hàng dưới 1.000 USD thì các doanh nghiệp trong KCX cũng không cần phải xin giấy phép HEPZA mà chỉ mang hóa đơn tài chiùnh của bên bán đến Hải quan KCX Tân Thuận để mở tờ khai hải quan
Như vậy về mặt thủ tục đã có thay đổi, tạo nên một sự thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư trong KCX đồng thời mở rộng diện cung cấp hàng hóa cho các công ty Đây là những điểm hợp lý trong cơ chế vận hành bởi vì thực tế chẳng hạn như đối với nhóm hàng nông sản các công ty mua trực tiếp của nông dân, họ làm sao có chức năng xuất nhập khẩu
Ngày 16/11/1998 HEPZA đã có văn bản số 1059/HD-BQL-KCN-HCM hướng dẫn thủ tục các doanh nghiệp KCX mua hàng và/hoặc sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp nội địa căn cứ theo văn bản 5160/KTTH của chính phủ cùng các văn bản liên ngành của hải quan và văn bản 3606/TCHQ-QSQL ngày 18/10/1998 thì :
+ Đối với nguyên liệu vật tư, phụ tùng linh kiện để phục vụ điều hành sản xuất của bản thân doanh nghiệp không thuộc danh mục hàng hóa cấm lưu thông thì các doanh nghiệp khu chế xuất được mua trên thị trường nội địa từ các hộ kinh doanh hợp pháp có phát hành hóa đơn tài chính, không tùy thuộc vào chính sách điều chỉnh mặt hàng và chính sách thuế áp dụng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trang 25Các doanh nghiệp không phải làm tờ khai hải quan đối với những lô hàng có trị giá dưới 1.000 USD, hải quan chỉ theo dõi bằng cách ghi sổ
Vậy với văn bản này đã giảm bớt đi một số thủ tục cho các doanh nghiệp KCX khi mua hàng từ nội địa, bất cứ lúc nào khi có nhu cầu là mua hàng được ngay (trước đây các thủ tục thường phải làm mất ít nhất 1 ngày)
+ Đối với loại gỗ tạp, gỗ thông thường để làm bục, kệ kê hàng, đồ gỗ trang trí nội thất thì: doanh nghiệp được mua bình thường trên thị trường nội địa nhưng phải có văn bản phê duyệt của Ban quản lý (HEPZA) và hải quan căn cứ vào văn bản của Ban quản lý để làm thủ tục vào KCX, không yêu cầu người bán phải xuất trình văn bản phân bổ hạn mức gỗ
Trước đây khi mua sản phẩm bằng gỗ hay gỗ tận dụng để làm pallet, các bục kê hàng… là điều vô cùng gian khổ cho các doanh nghiệp KCX vì chúng ta vẫn áp dụng theo quan điểm bán hàng cho KCX là bán hàng cho nước ngoài do đó việc xuất khẩu gỗ là mặt hàng cấm xuất khẩu
Các doanh nghiệp KCX vẫn than phiền rằng nhập khẩu gỗ từ thị trường Việt Nam còn nhiêu khê hơn cả nhập khẩu từ nước ngoài, nếu nhập khẩu từ nước ngoài chỉ cần làm kế hoạch một lần vào đầu mỗi năm, trình lên HEPZA và cứ thế mà nhập hàng, còn mua hàng từ Việt Nam phải làm giấy phép theo từng chuyến, rất mất thời gian Với văn bản này nhóm gỗ đã có một cơ chế thích hợp nên xuất hiện mặt hàng gỗ tận dụng các loại với trị giá lên đến 67.331 USD
Tuy nhiên theo văn bản này thì các thủ tục mua hàng tại Việt Nam đã tương đối thông thoáng hơn, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp khi cần hàng gấp và trị giá nhỏ, nhưng vẫn còn một số điểm giới hạn như khi mua phương tiện vận tải, máy móc thiết bị… để hình thành vốn đầu tư hoặc mua hàng hóa nói chung của các đơn vị liên doanh hay 100% vốn nước ngoài thì vẫn chịu sự điều chỉnh của nghị định 36/CP của chính phủ, cụ thể là: người bán nội địa phải có tư cách pháp lý cho hoạt động xuất khẩu; người bán nội địa làm thủ tục xuất khẩu; người mua trong KCX làm thủ tục nhập khẩu vào KCX Hoạt động này chịu sự điều tiết của luật pháp hiện hành về xuất nhập khẩu
Tuy giảm bớt gánh nặng về thủ tục cho các doanh nghiệp KCX nhưng trị giá hàng mua từ nội địa không tăng lên mà còn giảm đi mặt dù số lượng công ty hoạt động tăng lên 10, nguyên nhân:
- Văn bản hướng dẫn 1059 này được ban hành vào cuối năm 1998 (tháng 11) cho nên trong suốt 10 tháng của năm vẫn chịu cơ chế cũ
- Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu Á bắt đầu từ những tháng giữa năm 1997, tình hình hoạt động của các công ty cũng trở nên trì trệ, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ, mặt khác sự sụt giảm mạnh giá trị đồng tiền ở các nước làm cho giá hàng của họ mang tính cạnh tranh hơn tại Việt Nam, cộng với việc các thủ tục nhập khẩu từ nước ngoài vào còn dễ hơn mua từ trong nước nên các nhà đầu tư không ngần ngại gì mà không nhập hàng từ nước ngoài về
Trang 26Nếu cơ chế mới được ban hành ngày 16/11/1998 mà trong đó các thủ tục mua
hàng từ nội địa rất thông thoáng, chỉ cần có hóa đơn tài chính là có thể mang hàng vào
KCX không gặp bất cứ một trở ngại nào thì vào ngày 1/1/1999 chúng ta bắt đầu áp
dụng luật thuế giá trị gia tăng, mặc dù Bộ tài chính có ban hành thông tư số
34/1999/TT-BTC ngày 1/4/1999 (3 tháng sau khi áp dụng thuế GTGT) hướng dẫn thực
hiện luật thuế GTGT đối với các doanh nghiệp chế xuất qui định rõ:" Hàng hóa từ thị
trường nội địa xuất cho doanh nghiệp chế xuất được coi là hàng hóa xuất khẩu thuộc đối
tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất là 0%, đối tượng xuất khẩu phải có đầy đủ hồ
sơ, chứng từ minh chứng là hàng thực tế đã xuất khẩu theo qui định" có nghĩa là phải có
tờ khai hải quan để chứng minh là hàng đã đi vào KCX, như vậy để được hưởng thuế
suất 0% các doanh nghiệp chế xuất lại phải trở về với cơ chế thủ tục rườm rà như cũ:
dẫu một lô hàng nhỏ đến mấy cũng phải có tờ khai hải quan và như thế tổng cục thuế
mới chấp nhận thuế suất 0% mà việc mở tờ khai hải quan thì lâu (các công tác chuẩn bị
và hoàn thành phải mất ít nhất 1 ngày)
Mãi cho đến khoảng tháng 7, tháng 8/1999 thì cục thuế mới chấp nhận không
trình tờ khai Hải quan đối với những lô hàng có trị giá dưới 1.000 USD mà chỉ cần công
văn xin nhập hàng từ nội địa của các doanh nghiệp chế xuất gửi hải quan và hải quan
cổng KCX đóng dấu chứng thực là hàng đã nhập vào KCX (làm công văn nhanh và đơn
giản hơn mở tờ khai hải quan) nhưng không phải cục thuế của quận nào cũng thống
nhất như vậy Còn đối với những lô hàng trị giá cao hơn 1.000 USD vẫn phải mở tờ khai
hải quan
Như vậy vẫn chưa có sự thống nhất cao độ giữa hải quan và cục thuế, trong khi
hải quan thì rất thông thoáng trong vấn đề mua hàng từ nội địa, các doanh nghiệp vừa
mới thở phào nhẹ nhõm cho một đợt cải cách khá triệt để thì lại bắt đầu lo lắng vì phía
(Nguồn: Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM 1999)
Nhìn chung mối liên kết giữa trong và ngoài KCX đã được thiết lập, hiện tại có 4
nhóm hàng mà các công ty đang mua từ nội địa là: nhóm hàng nông sản nguyên liệu;
nhóm gỗ; nhóm bao bì giấy, vật liệu đóng gói; và nhóm hàng công nghệ
Trang 272.1.1 Nhóm nông sản nguyên liệu:
Hình 4: Giá trị hàng nhóm nông sản nguyên liệu xuất vào KCXTT
Đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các mặt hàng mua từ nội địa, cao nhất là lông vịt do công ty Viva mua để chế tạo các sản phẩm như gối, chăn, áo khoát… tuy nhiên lại biến động thất thường do tình hình hoạt động của công ty Viva Năm 1999 tuy trị giá mua của Viva giảm so với năm 1998 nhưng số lượng mặt hàng tăng, năm 1998 là 468,03 tấn, năm 1999 là 501 tấn, do đơn giá sản phẩm giảm
Một số mặt hàng có nhu cầu tăng vọt trong năm 1999 như cồn tinh luyện, da bò thuộc, mạch nha, bột mì dùng sản xuất thùng carton, gừng lát, đậu phụng… riêng mặt hàng bắp cải do công ty Asuzac mua để chế biến và xuất sang thị trường Nhật thì giảm mạnh do chất lượng của chúng ta chưa đạt yêu cầu, vì sau khi sấy khô bị mất đi màu xanh Còn đối với khoai mỡ mua từ vùng Long An thì trị giá năm 1999 lại thấp hơn năm
1998 do chất lượng kém vì kỹ thuật trồng trọt không đạt yêu cầu như Asuzac đưa ra
Đối với mặt hàng gạo, tuy chúng ta là một nước xuất khẩu gạo vào hàng nhất nhì thế giới nhưng yêu cầu về chất lượng đôi khi cũng không đáp ứng được yêu cầu của công ty Tanaka về tỷ lệ tinh lệ và hoá đường nên Tanaka đã phải nhập từ Thái Lan gạo và nếp chất lượng cao mỗi năm 200 tấn
Thực tế nhóm ngành nông sản này có nhu cầu mua nguyên vật liệu từ nội địa rất lớn Hiện tại Asuzac đang có nhu cầu rất cao về cải bó xôi nhưng loại này thường hay bị sâu lá và trứng ấu trùng trong gan lá, còn bắp Mỹ mà công ty đang nhập thì sản phẩm của Việt Nam chúng ta lại bị tình trạng hạt bắp và màu vàng không đều, nên mỗi năm công ty phải nhập từ nước ngoài đến 700 tấn Công ty cũng đã tiến hành trồng thử loại rau tía tô xanh nhưng không thành công do không được hổ trợ về mặt kỹ thuật (Việt Nam chỉ có loại rau tía tô đỏ và tím) Tôm sắt, nấm rơm… là những mặt hàng nằm trong kế hoạch chế biến sắp tới của công ty
Trang 28Hình 5: Giá trị hàng nhóm gỗ xuất vào KCXTT
Đây là nhóm hàng có nhu cầu tăng mạnh trong năm 1999, vì đây là mặt hàng cấm xuất khẩu của Việt Nam nên trước đây việc mua 1 cái bàn hay 1 cái pallet rất nhiêu khê, đa phần các công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài hoặc chuyển sang sử dụng các sản phẩm bằng nhựa Sau văn bản 1059 ngày 16/11/1998 của Hepza thì vấn đề đã được giải tỏa, các doanh nghiệp KCX có thể mua trực tiếp các sản phẩm bằng gỗ từ các doanh nghiệp nội địa do đó các sản phẩm bằng gỗ cũng như gỗ tận dụng các loại để làm pallet tăng rất mạnh chủ yếu là dùng để làm trang thiết bị văn phòng, kê hàng
2.1.3 Nhóm bao bì giấy, vật liệu đóng gói
Hình 6: Giá trị hàng nhóm bao bì giấy, vật liệu đóng gói xuất vào KCXTT
Thực tế đây là nhóm hàng mà ta có nhiều tiềm năng, chiếm tỷ trọng cao nhất là thùng carton tuy nhiên khả năng cung cấp của các doanh nghiệp nội địa bị hạn chế do sự cạnh tranh gay gắt từ công ty bao bì Gia Phú trong chính KCX Tân Thuận Năm 1996 Gia Phú mới bắt đầu hoạt động nên trị giá mua từ nội địa mặt hàng thùng carton cao, các năm sau lại giảm đi