Luận văn được kết cấu gồm 3 chương chính: — Chương I - DNNN và sự cần thiết phải sắp xếp, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả DNNN ở nước ta hiện nay — Chương II - Thực trạng của việc sắp xế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
X W
VÕ THÀNH THỐNG
Chuyên ngành: Quản trị Kinh Doanh
Mã số: 5.02.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ THANH HÀ
CẦN THƠ 09/2002
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I - DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DNNN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 9
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 9
1.1 Khái niệm về Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) 9
1.2 Phân loại DNNN 10
1.2.1 Căn cứ vào mức độ đầu tư vốn và chi phối của nhà nước 10
1.2.2 Căn cứ vào cấp quản lý .11
1.2.3 Căn cứ vào qui mô của DNNN 11
1.3 Định hướng phát triển và một số chính sách đổi mới DNNN trong giai đoạn hiện nay 12
2 CÁC HÌNH THỨC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN 13
2.1 DNNN nắm giữ 100% vốn 13
2.1.1 Đối với DN hoạt động kinh doanh 13
2.1.2 Đối với DN hoạt động công ích 13
2.2 DNNN cần tiến hành CPH 14
2.2.1 Khái niệm CPH DNNN 14
2.2.2 Mục tiêu cổ phần hoá DNNN 14
2.3 DNNN cần thực hiện các hình thức đa dạng sở hữu khác 15
2.3.1 DNNN cần thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê 15
2.3.2 Chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên 16
2.3.3 Các hình thức sắp xếp khác 23
3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN 3.1 Những cơ sở để thực hiện việc sắp xếp, đổi mới DNNN 18
3.1.1 Những cơ sở lý luận khoa học 18
3.1.2 Những cơ sở pháp lý 18
3.2 Quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN ở nước ta trong thời gian qua 20
3.2.1 Các giai đoạn sắp xếp 20
3.2.2 Các thành tựu đạt được 21
3.2.3 Các mặt hạn chế yếu kém 22
3.3 Sự cần thiết phải sắp xếp, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN 23
Trang 3CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN
TRONG THỜI GIAN QUA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CẦN THƠ 26
1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN TẠI TỈNH CẦN THƠ 26
1.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tỉnh Cần thơ 26
1.2 Đặc điểm quá trình hoạt động của các DNNN tỉnh Cần thơ 27
1.3 Tình hình hoạt động của các DNNN tỉnh Cần thơ 29
2 QUÁ TRÌNH SẮP XẾP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DNNN Ở TỈNH CẦN THƠ 30
2.1 Các chủ trương 30
2.2 Quá trình tiến hành sắp xếp, đổi mới DNNN 31
2.2.1 Diện hợp nhất 31
2.2.2 Diện sáp nhập 31
2.2.3 Diện giải thể 32
2.2.4 Diện đổi tên 32
2.2.5 Công tác CPH 32
2.2.6 Công tác giao DNNN cho tập thể lao động 33
2.3 Hiệu quả quá trình sắp xếp, đổi mới hoạt động DNNN 33
3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC THỰC HIỆN SẮP XẾP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN Ở TỈNH CẦN THƠ 35
3.1 Những mặt tích cực đã đạt được .35
3.2 Những khó khăn tồn tại 37
3.3 Nguyên nhân tồn tại yếu kém trong DNNN 46
CHƯƠNG III – MỘT SỐ GIẢI PHÁP SẮP XẾP, ĐỔI MỚI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CẦN THƠ 44
1 TRIỂN KHAI SÂU RỘNG CHỦ TRƯƠNG SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN 44
1.1 Làm cho các cấp, các ngành, các DNNN quán triệt sâu sắc và có nhận thức đúng đắn về chủ trương, chính sách 44
1.2 Kiện toàn công tác chỉ đạo sắp xếp, đổi mới DNNN 44
2 XÂY DỰNG ĐỀ ÁN SẮP XẾP VÀ PHÁT TRIỂN DNNN TRÊN PHẠM VI TOÀN TỈNH 46
2.1 Về đào tạo bố trí cán bộ quản lý DN 46
2.2 Về cơ cấu chính sách 47
Trang 42.4 Về tăng cường quản lý nhà nước đối với các DN 47
2.5 Về công tác thanh tra, kiểm tra DN 48
3 CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DNNN CẦN NẮM 100% VỐN 48
3.1 DNNN hoạt động công ích 49
3.2 DNNN hoạt động kinh doanh 49
3.3 DNNN đặc thù 49
3.4 DNNN cần duy trì củng cố, khi đủ điều kiện sẽ tiến hành CPH 50
3.5 DNNN cần thực hiện công ty hóa 50
4 ĐẨY MẠNH TIẾN TRÌNH CPH DNNN 50
4.1 Các nguyên tắc lựa chọn DNNN tiến hành CPH 50
4.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình CPH DNNN ở tỉnh Cần thơ 52
4.3 Phương án cụ thể CPH DNNN tỉnh Cần thơ 53
5 NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HÌNH THỨC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN 54
5.1 Đa dạng hóa sở hữu DNNN 54
5.2 Phương án cụ thể thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê DNNN 56
5.2.1 Giao doanh nghiệp 56
5.2.2 Bán doanh nghiệp 56
5.2.3 Khoán doanh nghiệp 56
5.2.4 Sáp nhập trước khi CPH 56
5.2.5 Hợp nhất trước khi CPH 56
5.2.6 Gia nhập Tổng công ty 56
5.2.7 Giải thể doanh nghiệp .57
5.2.8 Phá sản doanh nghiệp 57
5.2.9 DNNN chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu 57
6 TĂNG CƯỜNG NỘI LỰC CHO CÁC DNNN ĐÃ ĐƯỢC SẮP XẾP 57
6.1 Đối với DN 57
6.2 Đối với Nhà nước 58
7 NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN CHO CÁC DNNN 59
7.1 Nâng cao năng lực vận dụng và triển khai cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước .59
7.2 Các giải pháp cụ thể của Tỉnh nhằm nâng cao trình độ Cán bộ 60
KẾT LUẬN 61
Trang 5CÁC BIỂU BẢNG THỐNG KÊ
BẢNG 1 – TÌNH HÌNH CPH VÀ CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU
DNNN TỪ 1990 - 2001 63 BẢNG 2 - MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ TỔNG HỢP - TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ DỰ KIẾN CHO NHỮNG NĂM TỚI 64 BẢNG 3 - THỐNG KÊ NGUỒN ĐÀO TẠO CHÍNH QUY CỦA CẦN THƠ QUA CÁC NĂM 65 BẢNG 4 - TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN NĂM 1976-1980 66 BẢNG 5 - BẢNG TỈ TRỌNG GIÁ TRỊ SẢN XUẤT, GÍA TRỊ TĂNG THÊM VÀ THU NGÂN SÁCH CỦA DNNN 67 BẢNG 6 - THỐNG KÊ TỔNG HỢP TÌNH HÌNH CPH DNNN 68 BẢNG 7 - BẢNG TÌNH HÌNH SXKD NĂM 2001 CỦA CÁC CTCP 69 BẢNG 8 - BÁO CÁO TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2000 70
CÁC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 – NHỮNG HÌNH THỨC CPH DNNN 71 PHỤ LỤC 2 – CÁC VĂN BẢN LUẬT VÀ DƯỚI LUẬT VỀ VIỆC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN 73 PHỤ LỤC 3 – BẢN ĐỒVỊ TRÍ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH TỈNH CẦN THƠ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện Đại hóa
DNNN Doanh nghiệp Nhà Nước
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
HĐCĐ Hội đồng Cổ Đông
HĐQT Hội đồng Quản trị
TNHH Trách Nhiệm Hữu Hạn
SXKD Sản xuất kinh doanh
TTCK Thị trường Chứng khoán
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mang tính khách quan và cấp bách Chủ trương đổi mới và hội nhập của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã đưa đất nước đạt những thành tựu đáng kể trên các lãnh vực Kinh tế - Xã hội Tuy nhiên với sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới, nhất là sự phát triển mang tính quốc tế hóa, sự hình thành các khu vực tự do thương mại, vừa hợp tác vừa tự do cạnh tranh lẩn nhau, cũng như những yêu cầu mới đặt ra trong thời kỳ Công Nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước đã bộc lộ những yếu kém trong điều hành vĩ mô nhà nước, đặc biệt là trong các DNNN
Qua hơn mười năm đổi mới, DNNN đã vượt qua nhiều thử thách đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển Đất nước; đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng Kinh tế - Xã hội chuyển sang thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN Tuy nhiên doanh DNNN còn nhiều hạn chế, yếu kém như qui mô nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa tập trung vào những ngành lĩnh vực then chốt, trình độ công nghệ lạc hậu quản lý còn yếu kém, … kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự đầu tư của nhà nước Vì vậy, Nghị quyết hội nghị lần 3 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá IX đã
khẳng định “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
DNNN”
Thật vậy kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng XHCN, ổn định và phát riển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Vì vậy việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới DNNN là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm biến DNNN thành lực lượng nồng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, để chủ lực hội nhập kinh tế thế giới Xuất phát từ
quan điểm trên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp sắp xếp, đổi mới DNNN trên
địa bàn tỉnh Cần thơ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế, với mục đích tìm
Trang 8ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ở tỉnh Cần thơ hiện nay
Nhìn chung tiến trình, sắp xếp đổi mới DNNN trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Cần thơ nói riêng diễn ra tương đối chậm, làm ảnh hưởng đến quá trình thực thi các chính sách Kinh tế - Xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực trạng này đã thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tập trung nghiên cứu, và đặc biệt được nhà nước quan tâm chỉ đạo trực
tiếp, cụ thể thông qua các nghị định 103/1999/NĐ-CP về “Biện pháp giao, bán,
khoán kinh doanh, cho thuê DNNN”, và nghị định 64/2002/NĐ-CP “Về việc chuyển DNNN thành Công ty cổ phần”
Trên cơ sở pháp lý của các Nghị định chính phủ, phối hợp với cơ sở lý luận khoa học thực tiển, luận văn đã đi sâu nghiên cứu đến các hình thức đa dạng sở hữu DNNN và toàn bộ quá trình sắp xếp đổi mới DNNN ở Việt Nam, nghiên cứu tình hình sắp xếp, đổi mới DNNN ở tỉnh Cần Thơ, nghiên cứu các nguyên nhân làm giảm tốc độ sắp xếp và từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương chính:
— Chương I - DNNN và sự cần thiết phải sắp xếp, đổi mới nhằm nâng cao
hiệu quả DNNN ở nước ta hiện nay
— Chương II - Thực trạng của việc sắp xếp, đổi mới DNNN trong thời gian
qua trên địa bàn tỉnh Cần Thơ
— Chương III - Một số giải pháp sắp xếp, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của DNNN trên địa bàn tỉnh Cần thơ
Với phạm vi nêu trên, số liệu trong luận văn được thu thập từ niên giám thống kê, Ban đổi mới doanh nghiệp, Sở Kế họach – Đầu tư, Sở Tài chính Cần thơ và sách báo, tạp chí, nghị quyết Đại hội Đảng khóa VII, VIII, IX Đồng thời để làm nổi bật tầm quan trọng của việc tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới DNNN, đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận của phép duy vật biện chứng phối hợp với phương pháp phân tích, so sánh
Trang 9CHƯƠNG I
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DNNN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
1.1 Khái niệm về Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN):
Hiện nay trên thế giới, DNNN được sử dụng bằng nhiều tên khác nhau như
xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp quốc hữu, Doanh Nghiệp công cộng… trong đó thuật ngữ doanh nghiệp (DN) công được sử dụng phổ biến trên sách báo kinh tế của nhiều nước Mặt khác định nghĩa về DNNN cũng còn có những điểm khác nhau giữa một số nước, chủ yếu là do sự qui định khác nhau về mức độ sở hữu của nhà nước trong DNNN
Tuy nhiên, cơ bản thì quan niệm về DNNN đều có nét tương đồng trong đa
số các nước, biểu hiện qua định nghĩa của Liên hiệp quốc: “DNNN là những
DN do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của DN”
Ở Việt Nam, theo luật DNNN ban hành ngày 20/4/1995, điều 1 của luật
quan niệm: “DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập, tổ
chức và quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội (KTXH) do nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn DN quản lý”
Trong điều 3 của luật qui định: Vốn của nhà nước trong DN là “vốn ngân
sách cấp và vốn của DNNN tự tích lũy” DNNN có tên gọi, có con dấu riêng, có
trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam Như vậy, DNNN là loại hình chịu trách nhiệm hữu hạn (TNHH) về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của
Trang 10mình Nếu căn cứ vào tính chất hoạt động và mục tiêu nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho DN, thì DNNN có hai dạng sau:
— DNNN hoạt động công ích: Gồm các DN hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng theo giá, khung giá hay phí mà Nhà nước qui định DNNN dạng này hoạt động không mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện các mục tiêu KTXH, nhiệm vụ an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng … Chính vì vậy mà Nhà nước không đòi hỏi phải đạt hiệu quả kinh tế cần thiết hoặc phải thực hiện các khoản nộp ngân sách khác như các DNNN hoạt động kinh doanh
— DNNN hoạt động kinh doanh: Là DNNN tiến hành các hoạt động sản xuất, thương mại hoặc cung ứng dịch vụ cho thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận Đối với các DNNN dạng này, Nhà nước đòi hỏi phải tổ chức quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả và phải nộp các khoản thu ngân sách một cách nghiêm ngặt
Có thể thấy rằng, mặc dù còn có một vài điều chưa rõ ràng (về tính chất trách nhiệm của các khoản nợ, nguồn vốn) nhưng nhìn chung khái niệm DNNN trong luật DNNN là một định nghĩa phù hợp với quan niệm của thế giới, đáp ứng yêu cầu cơ bản trong giai đoạn đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay
Sự ra đời và phát triển của DNNN không phải là ý muốn chủ quan tùy tiện của một cá nhân hay tổ chức nào, mà đó là một tất yếu khách quan do điều kiện KTXH chi phối
1.2 Phân loại DNNN:
1.2.1 Căn cứ vào mức độ đầu tư vốn và chi phối của nhà nước: Có 2 loại
— Loại DNNN nắm 100% vốn nhà nước, gồm các nhóm:
ª Các Tổng công ty 91 do Chính phủ quyết định thành lập, gồm 7 đơn vị thành viên trở lên và có vốn từ 1000 tỷ đồng trở lên theo quyết định 91/TTg ngày 07/3/1994
ª Các tổng công ty 90 do Chính phủ ủy quyền cho các bộ, cơ quan ngang bộ quyết định thành lập, gồm từ 5 đơn vị thành viên trở lên và có vốn từ
500 tỷ đồng trở lên theo quyết định 90/TTg ngày 07/3/1994
Trang 11ª Các DNNN là thành viên hạch toán độc lập hoặc hạch toán phụ thuộc trong các tổng công ty 91 và 90
ª Các DNNN độc lập do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập
— Loại DNNN nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước nắm cổ phần (CP) chi phối hoặc CP đặc biệt, loại này có các dạng như:
ª Công ty cổ phần (CTCP) mà trong đó CP của Nhà nước chiếm trên 50% tổng số CP của công ty
ª CTCP mà trong đó CP của nhà nước ít nhất gấp 2 lần CP của cổ đông (CĐ) lớn nhất khác trong công ty
ª CTCP mà trong đó nhà nước không có CP chi phối nhưng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của công ty theo thỏa thuận trong điều lệ công ty
ª Các công ty liên doanh được thành lập do liên doanh giữa DNNN với các DN, các thành phần kinh tế khác, trong công ty này có phần sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối (trên 50% tổng số vốn điều lệ của công ty)
1.2.2 Căn cứ vào cấp quản lý : Có 2 loại
— DNNN trung ương: trực thuộc các bộ ngành trung ương và do nhà nước trung ương thành lập và quản lý DNNN trung ương có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu KTXH mang tầm quốc gia và đóng góp trực tiếp ngân sách Nhà nước trung ương
— DNNN địa phương: do Uûy Ban Nhân Dân (UBND) các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý nhằm phục vụ các mục tiêu KTXH cũng như tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương
1.2.3 Căn cứ vào qui mô của DNNN:
Qui mô DN là khái niệm tổng quát phản ánh mức độ và trình độ sử dụng của các nguồn lực (lao động, vốn) và khả năng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội
Ở Việt Nam hiện nay hệ thống DNNN được phân chia làm 2 loại:
— DNNN có qui mô vừa và nhỏ: Là những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ
Trang 12— DNNN có qui mô lớn: Là những DNNN không thuộc diện trên
1.3 Định hướng phát triển và một số chính sách đổi mới DNNN trong giai đoạn hiện nay
Nhằm phát huy vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước; đồng thời tạo điều kiện cho DNNN cũng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường với các thành phần kinh tế khác trong nước, cũng như có đủ sức mạnh để đối mặt với sự xâm nhập của đối thủ nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc đổi mới DNNN cho phù hợp với xu thế phát triển mới
Việc đổi mới DNNN luôn gắn liền với quá trình tổ chức và sắp xếp lại DNNN, trong đó một mặt phải cũng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của DNNN, mặt khác phải giảm thiểu số lượng DNNN hiện có thông qua việc giải thể, sáp nhập hoặc Cổ phần hóa (CPH) toàn bộ hoặc một phần DNNN nằm trong diện sắp xếp lại
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, sau khi đã tổng kết đánh giá thành quả 10 năm đổi mới, rút ra bài học kinh nghiệm về những gì đã làm được và chưa làm được của thành phần kinh tế Nhà nước, Đại hội đã thống nhất đề ra các chủ trương phát triển cho thành phần kinh tế nhà nước như sau:
— Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả thành phần kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, làm đòn bẩy đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề về KTXH mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, làm lực lượng vật chất chủ yếu để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới phát triển
— Đổi mới và tăng cường hiệu quả hoạt động của thành phần kinh tế nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông, phát huy vai trò trọng tâm kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa – xã hội của DNNN trong nông, lâm, ngư nghiệp, chú trọng đến DNNN hoạt động ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người
Trang 13— Triển khai tích cực và vững chắc việc CPH các DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực để DN làm ăn có hiệu quả và đủ sức cạnh tranh, làm cho tài sản của Nhà nước ngày càng tăng lên Bên cạnh các DN có 100% vốn Nhà nước, cần có nhiều DN mà Nhà nước chỉ nắm đa số hoặc cổ phần (CP) chi phối Gọi thêm CP hoặc bán CP cho những người lao động trong DN, các tổ chức, cá nhân ngoài DN theo các mức độ khác nhau tùy vào từng trường hợp cụ thể Tiền huy động được từ nguồn CPH DNNN phải được dùng vào việc đầu tư mở rộng qui mô sản xuất
— Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng, hệ thống tài chính ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ quan trọng, một số DN thực hiện mục tiêu công ích, quốc phòng, an ninh, DN có qui mô lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu chủ yếu và cơ bản cho ngân sách
2 CÁC HÌNH THỨC SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN
2.1 DNNN nắm giữ 100% vốn
2.1.1 Đối với DN hoạt động kinh doanh
— Nhà nước giữ 100% vốn đối với DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước, bao gồm: vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, hệ thống truyền tải điện quốc gia, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế, sản xuất thuốc lá điếu
— Nhà nước giữ CP chi phối hoặc giữ 100% vốn đối với DNNN hoạt động kinh doanh trong các ngành và lĩnh vực: bán buôn lương thực, bán buôn xăng dầu, sản xuất điện, khai thác các khoáng sản quan trọng, sản xuất một số sản phẩm cơ khí …; chủ yếu là các DN có quy mô lớn, có đóng góp lớn cho ngân sách, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao và góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô Những DN hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn, đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa
2.1.2 Đối với DN hoạt động công ích
Trang 14— Nhà nước giữ 100% vốn đối với các DN công ích hoạt động trong các lĩnh vực: in bạc và chứng chỉ có giá; điều hành bay; bảo đảm hàng hải; kiểm soát và phân phối tầng số vô tuyến điện; sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang
bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; DN được giao thực hiện nhiệm vụ quốc phòng đặc biệt và các DN tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Chính phủ Các DN của quân đội và công an được sắp xếp và phát triển theo định hướng này
— Nhà nước giữ 100% vốn hoặc CP chi phối đối với những DN công ích đang hoạt động trong các lĩnh vực: kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông
cơ giới lớn; xuất bản sách giáo khoa, … , sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ khác theo quy định của Chính phủ
2.2 DNNN cần tiến hành CPH
2.2.1 Khái niệm CPH DNNN
CPH DNNN là quá trình chuyển một số DNNN thành CTCP Đây là quá trình chuyển một phần quyền sở hữu tài sản của Nhà nước thành sở hữu của các Cổ đông (CĐ) nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của DN, tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ DN CPH DNNN không phải là tư nhân hóa DNNN CTCP Nhà nước là công ty mà Nhà nước nắm CP chi phối hay CP đặc biệt, có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán DNNN khi tiến hành CPH có thể chọn 1 trong 4 phương thức
(Phụ lục 1 – Những hình thức CPH DNNN)
Với những đặc tính trên, thực hiện CPH DNNN đúng đắn sẽ là một giải pháp tốt, khắc phục những vấn đề yếu kém trong khu vực DNNN hiện nay
2.2.2 Mục tiêu cổ phần hoá DNNN
Nhằm tạo ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển SXKD; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của CĐ và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với DN; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động
Trang 15Đối tượng CPH là những DNNN hiện có, mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, không phụ thuộc vào thực trạng kết quả SXKD Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào định hướng sắp xếp, phát triển DNNN và điều kiện thực tế của từng DN mà quyết định chuyển DNNN hiện có thành CTCP, trong đó Nhà nước có CP chi phối, CP đặc biệt, CP ở mức thấp, hoặc Nhà nước không giữ
CP
2.3 DNNN cần thực hiện các hình thức đa dạng sở hữu khác
2.3.1 DNNN cần thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê
Đối với DN quy mô nhỏ có vốn nhà nước dưới 5 tỉ đồng Nhà nước không cần nắm giữ và không CPH được, tùy thực tế của từng DN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định một trong các hình thức: giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê Khuyến khích DNNN đã giao, bán được chuyển thành CTCP của người lao động
Mục tiêu của việc giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê toàn bộ hay một DNNN nhằm:
— Tạo điều kiện cơ cấu lại DNNN, nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế Nhà nước Giảm bớt chi phí và trách nhiệm điều hành kinh doanh của Nhà nước; đảm bảo lợi ích chung của cả Nhà nước và người lao động
— Bảo đảm việc làm cho người lao động; thay đổi phương thức quản lý
DN, tạo động lực để phát huy quyền làm chủ của người lao động; sử dụng có hiệu quả hơn số tài sản đã đầu tư, khai thác mọi tiềm năng trong các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển SXKD
2.3.1.1 Giao DNNN cho tập thể người lao động
Là việc chuyển DNNN và tài sản nhà nước tại DN thành sở hữu của tập thể người lao động có điều kiện ràng buộc Các điều kiện cụ thể sau:
— Tập thể người lao động trong DN do Ban chấp hành Công Đoàn đại diện hoặc người được Đại hội toàn thể công nhân viên chức trong DN bầu làm đại diện tự nguyện đăng ký nhận giao DN
Trang 16— Cam kết đầu tư thêm để phát triển SXKD, bảo đảm việc làm tối thiểu từ 3 năm trở lên, đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao động trong DN
— Kế thừa phần công nợ luân chuyển (trừ nợ khó đòi) của DN theo thoả thuận giữa bên giao và bên nhận DN
— Cam kết không cho thuê, chuyển nhượng, tự giải thể DN trong thời hạn tối thiểu là 3 năm sau khi giao
— Khi đủ điều kiện chuyển nhượng phải thanh toán lại cho Nhà nước 30% giá trị CP tại thời điểm được giao DN
2.3.1.2 Bán DNNN
Là việc chuyển đổi sở hữu có thu tiền toàn bộ tài sản của DNNN sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác Căn cứ vào quyết định phê duyệt bán DN của cấp có thẩm quyền, Giám đốc DN thông báo cho toàn thể người lao động trong DN và trên phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức đăng ký danh sách người mua DN trong thời hạn 30 ngày, theo 2 hình thức:
— Tổ chức bán DN theo phương thức đấu thầu
— Tổ chức bán DN theo phương thức trực tiếp
2.3.1.3 Khoán kinh doanh đối với DNNN
Là phương thức quản lý DNNN mà bên nhận khoán được giao quyền quản lý DN, có nghĩa vụ thực hiện một số chỉ tiêu, bảo đảm các điều kiện và được hưởng các quyền lợi theo hợp đồng khoán
— Căn cứ vào đặc điểm của từng ngành, kết quả kinh doanh của DN, cấp có thẩm quyền ra quyết định khoán kinh doanh quy định nội dung, chỉ tiêu và điều kiện khoán kinh doanh nhưng phải xem xét các yêu cầu: Bảo toàn vốn Nhà nước, giải quyết việc làm và đóng đủ bảo hiểm cho người lao động, tăng lợi nhuận hoặc giảm lỗ DN và thực hiện các chính sách của Nhà nước và các hợp đồng đã ký
— Nội dung khoán kinh doanh, các điều kiện khoán, quyền và trách nhiệm cụ thể của các bên trong giao nhận khoán; nội dung hợp đồng phải được trao đổi và thoả thuận giữa người nhận khoán và người giao khoán kinh doanh
2.3.1.4 Cho thuê DNNN
Trang 17Là hình thức chuyển giao cho người nhận thuê quyền sử dụng tài sản và lao động trong DN theo các điều kiện ghi trong hợp đồng thuê Người thuê có thể lựa chọn thuê DN theo các hình thức sau:
— Thuê tài sản của DN
— Thuê DN hoạt động
2.3.2 Chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên
Đó là việc chuyển đổi các DNNN còn 100% vốn sở hữu Nhà nước thuộc lĩnh vực kinh doanh thành Công ty TNHH một thành viên, nhằm để DNNN được hoạt động trong môi trường pháp lý bình đẳng với những DN khác DNNN Sau khi chuyển sang hình thức Công ty TNHH một thành viên, DN vẫn duy trì sở hữu Nhà nước và hoạt động của Công ty vừa chịu tác động của luật DNNN và chịu tác động của luật DN
Các DNNN, DN của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có đủ các điều kiện sau đây được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên:
— Là DN hoạt động kinh doanh, do Nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội quyết định nắm giữ 100% vốn điều lệ
— Không thuộc diện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể, phá sản DN hoặc không nằm trong kế hoạch CPH
Việc Công ty hóa DNNN nhằm xác lập trách nhiệm đại diện sở hữu những nguồn vốn tại DN, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong DNNN, bảo đảm công bằng tương đối giữa người lao động trong DNNN với người lao động trong các DN khác
2.3.3 Các hình thức sắp xếp khác
Các DNNN không thực hiện được các hình thức nói trên, có thể thực hiện các hình thức sắp xếp như sáp nhập, giải thể, phá sản
2.3.3.1 Sáp nhập:
— Đối với các DNNN kinh doanh có những ngành nghề giống nhau thì thực hiện giải pháp sáp nhập, nhằm tránh tình trạng kinh doanh chồng chéo, mặt
Trang 18— Đối với các DNNN vừa và nhỏ kinh doanh kém hiệu quả, thực hiện giải pháp gia nhập các Tổng công ty nhằm tăng nội lực và phát huy thế mạnh kinh doanh của ngành
2.3.3.2 Giải thể:
DNNN thuộc đối tượng xem xét giải thể trong các trường hợp sau:
— Hết thời hạn kinh doanh ghi trong quyết định thành lập và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà DN không xin gia hạn
— Việc tiếp tục duy trì DN là không cần thiết theo quy hoạch, sắp xếp, tổ chức lại DN của các bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty
— Kinh doanh thua lỗ 03 năm liên tiếp và có số lỗ luỹ kế bằng ¾ vốn Nhà nước tại DN trở lên nhưng chưa rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả đến hạn, tuy đã áp dụng các biện pháp tài chính
— DN công ích không thực hiện được các nhiệm vụ do Nhà nước giao 02 năm liên tiếp tuy đã được áp dụng các biện pháp cần thiết
2.3.3.3 Phá sản:
Đối với những DNNN kinh doanh thua lỗ kéo dài và tình hình công nợ lớn không có khả năng thanh tóan thì kiên quyết thực hiện hình thức phá sản DN
3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DNNN
3.1 Những cơ sở để thực hiện việc sắp xếp, đổi mới DNNN
3.1.1 Những cơ sở lý luận khoa học
Sau khi đất nước thống nhất, nước ta đứng trước những khó khăn để xây dựng và phát triển Vì xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Trình độ, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng phổ biến lạc hậu Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng của một số nước nông nghiệp kém phát triển, duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và sự bất ổn trong quan hệ với một số nước Tuy nhiên công cuộc đổi mới nền kinh tế đã được Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) cụ thể hóa và triển khai thực hiện, mang lại những thành tựu to lớn và rất quan trọng mà chúng ta đã đạt được trong thời gian vừa qua là:
Trang 19Moôt laø, ñaât nöôùc ñaõ thoaùt khoûi khụng hoạng KTXH, vöôït qua khoù khaín
nhaât laø trong thôøi kyø khụng hoạng taøi chính tieăn teô ôû Chađu AÙ, neăn kinh teâ taíng tröôûng toâc ñoô cao, naím 2000 taíng hôn gaâp ñođi so vôùi naím 1990 Neăn kinh teâ töø choê sạn xuaât khođng ñaùp öùng ñöôïc nhu caău, keơ cạ nhu caău thieât yeâu, thì nay löông thöïc, thöïc phaơm, nhieău maịt haøng tieđu duøng khođng nhöõng bạo ñạm ñụ nhu caău vaø chieâm lónh ñöôïc thò tröôøng trong nöôùc maø coøn taíng ñöôïc xuaât khaơu
Hai laø, cô cheâ quạn lyù kinh teâ ñaõ coù nhöõng thay ñoơi cô bạn Töø cô cheâ quạn
lyù taôp trung quan lieđu bao caâp ñaõ chuyeơn sang cô cheâ thò tröôøng theo ñònh höôùng XHCN; töø choê chụ yeâu chư coù hai thaønh phaăn kinh teâ nhaø nöôùc vaø kinh teâ taôp theơ ñaõ chuyeơn sang neăn kinh teâ nhieău thaønh phaăn, trong ñoù kinh teâ nhaø nöôùc ñoùng vai troø chụ ñáo
Ba laø, töø choê bao vađy, caâm vaôn, chuùng ta ñaõ töøng böôùc hoôi nhaôp coù hieôu
quạ vôùi kinh teâ quoâc teâ, môû roông quan heô vôùi caùc toơ chöùc taøi chính quoâc teâ, phaùt trieơn quan heô kinh teẩ vôùi haău khaĩp caùc nöôùc, gia nhaôp vaø coù vai troø ngaøy caøng tích cöïc trong nhieău toơ chöùc quoâc teâ vaø khu vöïc Cú theơ laø cho ñeân nay nöôùc ta ñaõ coù quan heô ngoái giao vôùi 167 ngöôùc; quan heô buođn baùn song phöông vôùi 154 nöôùc; coù 70 nöôùc vaø khu vöïc laõnh thoơ ñaău tö vaøo Vieôt Nam Hieôn nay nöôùc ta laø thaønh vieđn cụa khoâi ASEAN, gia nhaôp caùc caùc toơ chöùc AFTA, APEC, OPEC vaø chuaơn bò gia nhaôp WTO
3.1.2 Nhöõng cô sôû phaùp lyù
Chụ tröông saĩp xeâp, ñoơi môùi vaø nađng cao hieôu quạ DNNN cụa Ñạng vaø Nhaø nöôùc ta laăn ñaău tieđn ñöôïc theơ hieôn roõ raøng tái Nghò quyeât Hoôi nghò laăn thöù 2 cụa BCH Trung öông Ñạng khoùa VII (thaùng 11/1991)
“Chuyeơn moôt soâ DN Quoâc doanh coù ñieău kieôn thaønh CTCP vaø thaønh laôp moôt soâ cođng ty Quoâc doanh CP môùi, phại laøm thí ñieơm, chư ñáo chaịt cheõ, ruùt kinh nghieôm chu ñaùo tröôùc khi môû roông trong phám vi thích hôïp”;
chụ tröông ñoù ñöôïc tieâp túc khaúng ñònh vaø thöïc hieôn kieđn quyeât hôn ôû Nghò quyeât Ñái hoôi ñái bieơu toaøn quoâc laăn thöù VIII, IX
Tređn cô sôû ñoù, Chính phụ ñaõ trieơn khai, thöïc hieôn töøng böôùc caùc
Trang 20các bộ có liên quan để triển khai công tác sắp xếp, đổi mới DNNN ở nước ta
(Phụ lục 2 - Các văn bản luật và dưới luật về công tác sắp xếp, đổi mới DNNN)
Đặc biệt với quyết định số 111/1998/QĐ-TTg ngày 29/06/1998 của
Thủ Tướng chính phủ “Về việc thành lập ban đổi mới quản lý DN Trung
ương”, nghị định 103/1999/NĐ-CP về “biện pháp giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN” và Nghị định 64/2002/NĐ-CP của chính phủ ban
hành“Về việc chuyển DNNN thành CTCT” và đã tỏ rõ quyết tâm đẩy
mạnh tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN của chính phủ
3.2 Quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN ở nước ta trong thời gian qua
3.2.1 Các giai đoạn sắp xếp
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hơn mười năm qua, từ năm 1991 đến nay, Chính phủ đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới và tiến hành ba đợt sắp xếp lớn để các DN hoạt động có hiệu quả hơn là:
Đợt thứ nhất (1990 – 1993): Đây là giai đoạn thực hiện các giải pháp có
tính chất tình thế nhằm tập trung giải quyết về tổ chức xây dựng cơ chế, chính sách và tài chính để sắp xếp các đơn vị cơ sở Căn cứ pháp lý cho đợt này là quyết định số 315 – HĐBT (ngày 01/9/1990) về chấn chỉnh và tổ chức lại SXKD trong khu vực kinh tế quốc doanh và nghị định số 388 – HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày (20/11/1991) ban hành qui chế về thành lập và giải thể DNNN Đây là lần đầu tiên tiến hành “kiểm kê” toàn bộ DNNN, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động, trên cơ sở đó đưa ra những quy định tối thiểu về vốn pháp định, ngành nghề kinh doanh, qui mô sản xuất, luận chứng về thị trường, tiêu thụ sản phẩm trong việc thành lập DNNN
Đợt thứ hai (1994 – 1997): Thực hiện các quyết định số 90/TTg, số 91/TTg
ngày 07/3/1994, chỉ thị số 500/TTg ngày 28/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục sắp xếp tổng thể để hình thành hệ thống DNNN, giải thể những liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty có tính chất hành chính trung gian, đồng thời qua lần sắp xếp này tạo điều kiện thực hiện một bước tập trung hóa bằng việc tổ
Trang 21chức những tổng công ty có qui mô lớn (TCT91) và qui mô vừa (TCT 90) phù hợp với yêu cầu khách quan, nâng cao khả năng tích tụ của các tổng công ty trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Trong tổ chức quản lý, bỏ dần chế độ chủ quản và các cấp hành chính chủ quản, phân biệt quản lý nhà nước và quản lý SXKD, vừa nâng cao hơn nữa tính chủ động, tự chủ, vừa tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý của chính quyền các cấp Cũng trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 07/5/1996 về chuyển một số DNNN thành CTCP
Đợt thứ ba: thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung
ương Đảng khóa VIII từ giữa năm 1998 đến nay Chính phủ đã ban hành nghị định số 44/1998/NĐ-CP về việc chuyển DNNN thành CTCP, nghị định số 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN Tiến hành phân loại và sắp xếp DNNN, xác định danh mục DNNN chưa tiến hành CPH,
DN CPH mà nhà nước nắm CP chi phối; thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê những DNNN qui mô nhỏ, thua lỗ kéo dài hoặc không cần duy trì sở hữu nhà nước; củng cố và hoàn thiện tổng công ty nhà nước; thực hiện các biện pháp lành mạnh hóa tài chính; lập kế hoạch đổi mới DN, hoàn thiện quản lý, nâng cao sức cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của DNNN
3.2.2 Các thành tựu đạt được
Qua hơn 10 năm sắp xếp, chuyển đổi, hệ thống DNNN từng bước được củng cố và đóng góp tích cực vào thành tựu của quá trình đổi mới nền kinh tế Như vậy, qua ba đợt sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống DNNN, đã đạt một số thành tựu như sau:
Thứ nhất, quá trình thực hiện cơ chế chính sách thời gian qua đã bước đầu
hình thành được khung pháp lý tương đối cơ bản để chuyển DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, xác lập dần quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD, xóa dần bao cấp và bảo đảm các chính sách xã hội Trong quá trình sắp xếp lại DNNN, nhiều DNNN đã từng bước được củng cố, phát triển và thích ứng trong kinh tế thị trường, đã chủ động huy động vốn đầu tư mở rộng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, sử dụng có hiệu
Trang 22quả tiền vốn và tài sản, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh ổn định, tăng việc làm và cải thiện đời sống của người lao động
Thứ hai, một trong những kết quả khả quan quan trọng đạt được trong quá
trình sắp xếp lại DNNN trong những năm qua là số DNNN đã giảm đáng kể, từ 12.084 DN hạch toán độc lập tại thời điểm 31/12/1989 xuống còn 5.605 DN vào thời điểm 31/12/1999 Tính chung từ năm 1990 đến 12/2000 số lượng DNNN là 5.280, trong đó có 732 DN công ích và 4.548 DN kinh doanh Như vậy số lượng DNNN đã giảm xuống trên một nữa, trong đó 48% là sáp nhập vào các DN lớn hơn, hiệu quả hơn, 52% giải thể (chủ yếu là các DN do tỉnh và huyện quản lý)
Thứ ba, đến nay cả nước có 17 tổng công ty 91 và 77 tổng công ty 90 đang
hoạt động Các tổng công ty được thành lập chủ yếu ở các ngành và các lĩnh vực như công nghiệp, xây dựng, thủy sản, thương mại dịch vụ, ngân hàng, bảo hiểm… các tổng công ty này có 1.605 DN thành viên, chiếm 28,4% tổng số DN cả nước và chiếm 66% về vốn nhà nước, 61% về lao động
Thứ tư, hiện có 732 DNNN hoạt động công ích chiếm 13% tổng số DNNN,
trong đó 184 DN công ích của các bộ, ngành, tổng công ty nhà nước và 548 DN của các địa phương DNNNø công ích sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của nhà nước, do nhà nước giao kế hoạch đặt hàng và qui định giá, khung giá hoặc phí, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận
Thứ năm, về tiến trình CPH DNNN, tính đến tháng 12/2001 có 727 DNNN
đã CPH chiếm 13% tổng số DNNN Trong tổng số các DNNN đã CPH thì 50,6% thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; 34,7% là thương mại, dịch vụ, khách sạn, nhà hàng; 9,9% là giao thông và 4,7% thuộc nông, lâm, ngư nghiệp và thủy sản Hiện nay sau khi CPH hầu hết các DN đều hoạt động có hiệu quả hơn Theo kết quả sơ bộ của hơn 200 CTCP hoạt động trên một năm cho thấy doanh thu tăng 43%, lợi nhuận tăng hơn 100%, nộp ngân sách tăng 18%, lao động tăng 5%, thu nhập tăng 22% Ngoài ra cùng với việc CPH DNNN, thì việc thực hiện theo nghị định 103/1999/NĐ-CP về biện pháp giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, đến nay kết quả đã thực hiện đựơc 81 DN
(Bảng 1 - Tình hình CPH và chuyển đổi sở hữu DNNN 1990 - 2001)
Trang 23Nhìn chung quá trình sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan đó là do đường lối đúng đắn của Đảng, sự điều hành kiên quyết, sâu sát của Chính phủ, cho nên nhiều DN có tinh thần chủ động, sáng tạo, học hỏi vươn lên, mạnh dạn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ trang thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập
3.2.3 Các mặt hạn chế yếu kém
Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua, DNNN cũng đã để lại một số hạn chế và yếu kém đòi hỏi phải tiếp tục xử lý các vấn đề sau đây:
Một là, sau khi sắp xếp và tổ chức lại, hiệu quả SXKD và sức cạnh tranh
của DNNN còn thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được; tốc độ tăng trưởng của DNNN có biểu hiện giảm dần; nợ khó đòi ngày càng lớn; không
ít DNNN vẫn còn ỷ lại vào sự bảo hộ, bao cấp của nhà nước Theo số liệu đánh giá của Ban đổi mới DN Trung Ương, đến tháng 02/2000 số DNNN có lãi thực sự chiếm 40%, số DN bị lỗ chiếm 20%, số DNNN còn lại nằm trong tình trạng không ổn định, khi lỗ, khi lãi và lãi cũng không lớn DNNN nộp ngân sách chiếm 39,2%, nhưng phần thuế thu nhập DN chỉ có 14,2%
Hai là, đầu tư đổi mới công nghệ chậm, trình độ công nghệ lạc hậu đang
là cản trở lớn đối với quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh các sản phẩm trên thương trường Hiện nay máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất của ta lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 năm; mức độ hao mòn hữu hình từ 30% đến 50% Hậu quả là, chưa tạo được nhiều sản phẩm quốc gia, sản phẩm mũi nhọn có hàm lượng chất xám và công nghệ cao trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh nội lực của đất nước, với sử dụng có hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước của sản phẩm các DNNN làm ra thấp
Ba là, lao động dôi dư, thiếu việc làm và trình độ chuyên môn thấp kém
của lao động, cán bộ quản lý đang là một khó khăn lớn, ảnh hưởng đến quá trình đổi mới và phát triển DNNN Theo số liệu Bộ lao động – Thương binh và xã
Trang 24hội, hiện nay số lao động không có việc làm thường xuyên và mất việc làm ở các DN khoảng 20%, có DN lên tới 40%
Bốn là, việc CPH, đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong DN, với mô hình
CTCP có vốn của nhà nước chi phối hoặc tham gia còn nhiều vướn mắc về cả nhận thức và cơ chế tiến hành
Nhìn chung việc CPH DNNN tiến hành rất chậm và không đều, ở một số Bộ, Tổng công ty và địa phương, số DNNN CPH còn rất ít Tính chung cả nước hiện có 212 DN đã CPH chiếm 13,7% tổng số DNNN hiện có và thực hiện biện pháp giao, bán, khoán, cho thuê (theo nghị định 103/1999/NĐ-CP) chỉ được 81
mạnh “tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN” Đây
là một chủ trương lớn của Đảng cần được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, cơ sở quán triệt và tổ chức thực hiện Mục tiêu này vừa thể hiện tính
cơ bản, vừa thể hiện tính chiến lược lâu dài
Tính cơ bản của mục tiêu thể hiện ở việc xác định rõ vị trí, chức năng của DNNN đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Điều này giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn hơn về DNNN không chỉ cần thiết cho đời sống dân sinh, cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, mà còn là nhân tố nồng cốt đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Trang 25Tính chiến lược của mục tiêu thể hiện ở việc xác định DNNN là nền tảng cho quá trình CNH-HĐH theo định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta, nhằm
xây dựng nước ta trở thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”
Cho nên vấn đề đặt ra là trong giai đoạn hiện nay, vì sao phải sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ở nước ta
Trước tiên, phải xuất phát từ vị trí, vai trò của DNNN trong nền kinh tế
quốc dân Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đó là nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu Vì thế, kinh tế nhà nước, mà nòng cốt là DNNN phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế này
Đánh giá về vai trò của DNNN trong những năm qua, Đại hội IX chỉ rõ:
“DNNN đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển KTXH, tăng thế và lực của đất nước”
Cụ thể năm 2000, DNNN sản xuất chiếm 39,9% GDP, đóng góp 39,2% thu ngân sách nhà nước, 50% xuất khẩu như vậy xét cả về lý luận và thực tiễn, DNNN đã giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta
Bên cạnh những thành tựu, DNNN cũng còn những mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như: Quy mô sản xuất nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn kém chưa thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD; kết quả SXKD chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ đầu tư của nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả
Trang 26Hai laø, Xuaât phaùt töø yeđu caău chụ ñoông hoôi nhaôp kinh teâ quoâc teâ cụa neăn
kinh teâ nöôùc ta Ñái hoôi IX cụa Ñạng xaùc ñònh “chụ ñoông hoôi nhaôp kinh teâ quoâc
teâ vaø khu vöïc theo tinh thaăn phaùt huy toâi ña noôi löïc, nađng cao hieôu quạ hôïp taùc quoâc teâ, ñạm bạo ñoôc laôp töï chụ vaø ñònh höôùng XHCN, bạo veô lôïi ích dađn toôc, giöõ vöõng an ninh quoâc gia, giöõ gìn bạn saĩc vaín hoùa dađn toôc, bạo veô mođi tröôøng”
Chụ ñoông hoôi nhaôp kinh teâ laø moôt chụ tröông lôùn cụa Ñạng, chụ tröông naøy ñoøi hoûi taât cạ caùc caâp, caùc ngaønh, caùc lónh vöïc hoát ñoông KTXH tham gia, nhöng DNNN phại giöõ vai troø noøng coât trong quaù trình naøy
Ñeơ hoôi nhaôp ñöôïc, ñoøi hoûi mói DN phại ñạm bạo caùc yeâu toâ cô bạn ñoù laø voân, cođng ngheô vaø trình ñoô toơ chöùc quạn lyù Ñöùng tröôùc ñoøi hoûi naøy, roõ raøng DNNN cụa chuùng ta coøn chöa ñaùp öùng ñöôïc
Thöù ba, toaøn caău hoùa laø xu höôùng khaùch quan cụa neăn kinh teâ theâ giôùi
Ñaùnh giaù veă boâi cạnh quoâc teâ hieôn nay, Ñái hoôi IX cụa Ñạng khaúng ñònh: “Toaøn
caău hoùa laø xu theâ khaùch quan, lođi cuoân caùc nöôùc, bao truøm heât caùc lónh vöïc, vöøa thuùc ñaơy hôïp taùc, vöøa taíng söùc eùp cánh tranh vaø tính tuøy thuoôc laên nhau giöõa caùc neăn kinh teâ”
Neăn kinh teâ nöôùc ta khođng theơ ñöùng ngoaøi quaù trình naøy Chụ tröông hoôi nhaôp kinh teẫ quoâc teâ cuõng chính laø quaù trình chuùng ta töøng böôùc tham gia quaù trình toaøn caău hoaù Hieôn nay, chuùng ta ñaõ tham gia AFTA, APEC saĩp tôùi seõ gia nhaôp WTO Loô trình cụa caùc quaù trình ñoøi hoûi neăn kinh teâ nöôùc ta phại nađng cao trình ñoô cođng ngheô, trình ñoô toơ chöùc quạn lyù sạn xuaât vaø huy ñoông mói nguoăn löïc ñeơ ñạm bạo söùc cánh tranh cụa neăn kinh teâ ñoâi vôùi caùc nöôùc trong khu vöïc vaø tređn theâ giôùi
Trang 27Tất cả các lý do trên, đòi hỏi DNNN cần phải được đổi mới, sắp xếp lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, để phù hợp với quá trình phát triển của đất nước
(Niên giám thống kê năm 2000 – Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)
Tỉnh Cần Thơ có 9 đơn vị hành chánh gồm 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố (đô thị loại 2); 114 xã, phường và thị trấn Tỉnh Cần Thơ có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp của cả nước, đó là một trong những vựa lúa, mía, nguyên liệu, trái cây, thủy sản của vùng ĐBSCL Cần Thơ nằm trên trục lộ giao thông thủy bộ quan trọng, quốc lộ 1A chạy suốt chiều dài của tỉnh, quốc lộ 91 nối các huyện phía Bắc, cảng Cần Thơ, sân bay Trà Nóc,
Trang 28nối liền với các tỉnh, các vùng, các nước trong khu vực và quốc tế Thế mạnh phát triển dịch vụ du lịch và công nghiệp đang từng bước được khẳng định, với 2 khu công nghiệp–chế xuất, khu công nghiệp–tiểu thủ công nghiệp, hệ thống trung tâm thương mại–dịch vụ, bến cảng–sân bay
(Bảng 2 - Một số chỉ tiêu Kinh tế tổng hợp - tình hình phát triển và dự kiến cho những năm tới)
Cần Thơ nằm giữa một vùng nguyên liệu nông, thủy hải sản lớn đã và sẽ cung cấp 50% sản lượng thóc, xuất khẩu hơn 80% lượng gạo, 50% lượng thủy sản và cây ăn trái của cả nước Đồng thời là vùng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ lớn của cả nước
Cần Thơ cách không xa TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam Đây là một thị trường lớn, là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh doanh và chuyển giao công nghệ, thông tin Yếu tố này vừa là lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư Song đây cũng là một thách thức lớn trong điều kiện cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút chất xám và chiếm lĩnh thị trường trong vùng
(Phụ lục 3 - Bản đồ Kinh tế - Hành chính Tỉnh Cần thơ)
Ngoài ra Cần Thơ còn có hệ thống giáo dục, khoa học và tỷ lệ đô thị hóa lớn nhất vùng ĐBSCL, tạo cho tỉnh một khả năng lớn trong việc khai thác tiềm năng nhân lực làm động lực, thúc đẩy toàn bộ sự nghiệp phát triển KTXH của tỉnh
(Bảng 3 -Thống kê nguồn đào tạo Chính quy của Cần Thơ các năm)
Với vị trí địa lý thuận lợi, đã tạo điều kiện cho Cần Thơ phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng giao lưu KTXH với các tỉnh trong cả nước và quốc tế Trên địa bàn tỉnh Cần Thơ có nhiều DNNN qui mô khá lớn so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL bao gồm các DNNN do Trung ương và địa phương quản lý
1.2 Đặc điểm quá trình họat động của các DNNN tỉnh Cần thơ
Năm 1976 toàn tỉnh có 202 DNNN, trong đó có 3 đơn vị do Trung ương quản lý Số lượng DNNN tăng lên so với ban đầu là do kết quả của quá trình cải
Trang 29tạo công thương nghiệp, đến cuối năm 1980 số lượng và tình hình hoạt động của các DNNN được thể hiện trong
(Bảng 4 - Tình hình hoạt động của DNNN năm 1976-1980)
Từ năm 1981 đến 1991 là một quá trình phát triển dài của các DNNN trực thuộc huyện, thị xã, các cơ sở ban ngành tỉnh Cần Thơ
Trong thời kỳ này tại mỗi huyện, thị, thành có đầy đủ các loại hình DNNN hoạt động trên các lãnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ – thương nghiệp, xuất nhập khẩu,… sự gia tăng DNNN và hợp doanh gắn liền với việc phân cấp kế hoạch và ngân sách cho huyện, thị
Dự kiến phát triển các DNNN theo ngành kinh tế của huyện, thị từ năm
1980 trở về sau xuất phát từ những nguyên nhân sau:
— Trong phân cấp quản lý của hệ thống chính quyền, Nhà nước xây dựng cấp ngân sách kế hoạch, chịu trách nhiệm tự cân đối thu – chi đối với các nhu cầu xã hội về y tế, giáo dục, an ninh,… cho nên UBND huyện, thị trở thành đơn vị chủ quản lập ra các đơn vị SXKD với bất kỳ một điều kiện nào mà mình có được, tự tạo ra nguồn vốn cho hoạt động kinh tế với mọi hình thức như đi vay, hợp tác, liên doanh,… với mục đích duy nhất tạo nguồn thu nhiều để đáp ứng và phục vụ cho nhu cầu chi tại địa phương
Kết quả, sau một thời gian các DNNN cấp huyện, thị được thành lập và phát triển tràn lan đưa đến hoạt động chồng chéo, nợ nần lẫn nhau đến khi giải thể hoặc không còn khả năng hoạt động đã để lại rất nhiều khoản nợ vô chủ trong thanh toán mà ngân sách Nhà nước phải gánh chịu
— Nhà nước thiếu quy định mang tính chất pháp lý trong việc giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể đối với các cấp được phép thành lập DN, không quy định những điều kiện tối thiểu về vốn, trách nhiệm vật chất của người quản lý và điều hành DN
— Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ V xác định sự tồn tại 5 thành phần kinh tế Nhưng trên thực tế Nhà nước thiếu những hướng dẫn, qui định và tạo ra môi trường pháp lý đối với thành phần kinh tế tư nhân Vì vậy họ thường có
Trang 30khuynh hướng mượn danh nghĩa quốc doanh che đậy cho hoạt động SXKD của mình
Sự phát triển nhanh chóng của DNNN cấp huyện, thị trong giai đoạn đầu tạo được sự đa dạng, phong phú Nhưng về sau đã nảy sinh tình trạng phân tán chồng chéo trong hoạt động sản xuất, thiếu đồng bộ kinh doanh xuyên suốt trong chính sách quản lý kinh tế thống nhất của Nhà nước từ cấp Trung ương đến cấp địa phương Trước tình trạng này, đến năm 1990 UBND Tỉnh Cần Thơ đã có chủ trương xóa bỏ các công ty thương nghiệp cấp huyện thị bằng cách giải thể hoặc sáp nhập vào các DNNN cấp tỉnh và cho đến nay tại huyện, thị chỉ còn các công ty thương mại trực thuộc Sở Thương Mại Tỉnh Cần Thơ, cấp huyện trở thành cấp dự toán ngân sách, không còn làm nhiệm vụ quản lý kinh tế nữa
1.3 Tình hình họat động của các DNNN tỉnh Cần thơ
Thực hiện Nghị quyết của Đại Hội lần thứ VII của Đảng, Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh đã triển khai đầy đủ chính sách, chủ trương nhằm từng bước hình thành cơ cấu quản lý mới trong quá trình chuyển sang “Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước XHCN”
Các DN, kể cả DNNN hoạt động trong cơ chế thị trường tại Tỉnh Cần Thơ có khả năng tự điều chỉnh và thích nghi với thị trường, phát huy tính năng động sáng tạo trong SXKD Tuy nhiên, do bị hạn chế về thông tin thị trường và yếu tố cạnh tranh, các DN của Tỉnh khó tránh khỏi sự phát triển tự phát, lãng phí, phá sản, nhất là làm suy giảm hiệu quả kinh tế của toàn tỉnh, gây bất ổn chung trong nền kinh tế
Song, các DNNN trên địa bàn tỉnh Cần Thơ cũng đạt được một số kết quả như sau:
Tỉ trọng của kinh tế quốc doanh trong tổng sản phẩm xã hội hàng năm đều tăng ở nhiều ngành sản xuất – thương mại như chế biến lương thực – thực phẩm,
xi măng, cơ khí chế tạo, bia nước giải khát,… lĩnh vực ngân hàng và xuất nhập khẩu hầu hết do kinh tế Nhà nước nắm giữ
Hàng năm khối DNNN đã đóng góp một phần lớn trong tổng giá trị tăng thêm (GDP) và kinh tế Nhà nước vẫn là nguồn thu ngân sách đáng kể, chiếm tỉ
Trang 31trọng khoảng 6% đến 20% trong tổng thu ngân sách Nhà nước của tỉnh Cần thơ.
(Bảng 5 - Tỉ trọng giá trị sản xuất, gía trị tăng thêm và thu ngân sách của DNNN Tỉnh Cần thơ)
Tuy nhiên, nếu so với khối lượng vốn đầu tư cho DNNN: 188,781 tỷ đồng và khoản tín dụng ưu đãi của ngân hàng: 627,452 tỷ đồng, nếu phân tích rõ hơn trong cơ cấu nộp thuế của các DNNN thì mức độ đóng góp trên chưa tương xứng, cho thấy hoạt động SXKD của các DNNN chưa thật sự đem lại hiệu quả và đồng vốn chưa được bảo toàn
2 QÚA TRÌNH SẮP XẾP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DNNN Ở TỈNH CẦN THƠ
2.1 Các chủ trương
Vấn đề sắp xếp lại các DNNN là một chủ trương, chính sách lớn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt coi trọng, nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ rõ “Tiếp tục thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN và công dân đầu tư và phát triển SXKD” Việc tiếp
tục sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN hiện nay được nghị
quyết trung ương 3 khóa IX khẳng định “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển và
nâng cao hiệu quả DNNN”
Quán triệt được đường lối của đại hội IX, xuất phát từ thực tiễn của địa phương, đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cần thơ lần thứ 10 đã xác định: Tiếp tục củng cố các DNNN theo hai loại hình, DN công ích và DN SXKD Đối với các DNNN làm ăn có hiệu quả cần được kiện toàn công tác quản lý, tổ chức và cán bộ, tài chính và tiếp thị, ưu tiên bổ sung vốn lưu động, cho vay ưu đãi để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Tập trung đầu tư xây dựng một số DNNN đầu đàn của tỉnh Đối với
DN làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ kéo dài cần sắp xếp theo hướng sáp nhập, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản… Tiếp tục CPH một số DN có đủ điều kiện theo sự chỉ đạo của trung ương Với tinh thần trên UBND tỉnh đã lập
Trang 32ngành căn cứ vào chủ trương của nhà nước, tiến hành sắp xếp lại các DNNN trong ngành mình quản lý, báo cáo ban quản lý đổi mới DNNN tỉnh để tập hợp, báo cáo về Ban đổi mới DN trung ương, nhằm sắp xếp lại các DN để củng cố hoàn thiện hơn nữa quan hệ sản xuất, củng cố kinh tế nhà nước vững mạnh, làm vai trò chủ đạo trong các thành phần kinh tế
Việc tổ chức sắp xếp lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện theo hướng chỉ giữ lại, củng cố phát triển những DNNN có qui mô vừa và lớn ở những ngành và lĩnh vực quan trọng, kinh doanh có hiệu quả để thực hiện vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước, còn những DN làm ăn không hiệu quả nhưng nằm ở vị trí then chốt của nền kinh tế thì chuyển đổi bằng nhiều hình thức khác nhau như là sáp nhập, giải thể, phá sản DNNN yếu kém thua lỗ kéo dài mà nhà nước không cần nắm giữ, để khu vực DNNN có cơ cấu và qui mô hợp lý
2.2 Quá trình tiến hành sắp xếp, đổi mới DNNN
Vào cuối năm 1995, tỉnh Cần Thơ đã lập Phương án sắp xếp DNNN từ
1996 – 2000 trình Chính phủ theo hướng hợp nhất, sáp nhập một số DN nhỏ hiệu quả thấp hoặc khó khăn thua lỗ để tập hợp vốn, giảm bớt đầu mối, CP một bộ phận DNNN để tăng cường vốn và hiệu quả kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ
Quá trình sắp xếp lại, đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh có 56 DN do địa phương quản lý, trong đó có 08 DN công ích, 05 DN Đảng và Đoàn thể, 43 DN SXKD Cụ thể như sau:
2.2.1 Diện hợp nhất: đã hợp nhất thành 03 DN mới:
— Công ty Thương nghiệp Tổng hợp thành phố Cần Thơ hợp nhất với Công ty Dịch vụ Tổng hợp thành phố Cần Thơ thành Công ty Thương nghiệp Cần Thơ
— Xí nghiệp Tấm lợp gạch bông hợp nhất với Xí nghiệp Bê tông thành Công ty SXKD vật liệu xây dựng số 2
— Công ty Xây dựng số 1 hợp nhất với Công ty Xây dựng số 2 thành Công ty Xây dựng Cần Thơ
2.2.2 Diện sáp nhập: đã củng cố và sáp nhập được 05 DN:
Trang 33— Đã sáp nhập bộ phận cầu đường thành phố Cần Thơ thuộc Công ty Công trình đô thị thành phố Cần Thơ vào Công ty Xây dựng và Phát triển nhà Cần Thơ và đổi tên thành Công ty Xây dựng và Phát triển đô thị thành phố Cần Thơ
— Xí nghiệp Gạch ngói 1 sáp nhập với Công ty SXKD vật liệu xây dựng số 2
— Công ty Bảo vệ Thực vật sáp nhập vào Công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ
— Công ty Vận tải thủy gia nhập Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
— Công ty Lương thực gia nhập vào Tổng Công ty Lương thực Miền nam
2.2.3 Diện giải thể: đã giải thể 03 DNNN, cụ thể:
— Công ty Lâm sản Cần Thơ
— Công ty Thương nghiệp Tổng hợp ÔMôn
— Công ty khai thác thủy sản xuất nhập khẩu Cần Thơ
2.2.4 Diện đổi tên: đã củng cố và đổi tên 07 DNNN, cụ thể:
— Công ty Xây dựng và Phát triển khu chế xuất thành Công ty Phát triển khu công nghiệp Cần Thơ
— Công ty Quản lý và Kinh doanh nhà thành Công ty Phát triển Kinh doanh nhà Cần Thơ
— Xí nghiệp Chế biến thủy hải sản Cần Thơ thành Công ty Chế biến thực phẩm Cần Thơ
— Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi thành Công ty Khai thác công trình thủy lợi Cần Thơ
— Xí nghiệp xây dựng thủy lợi thành Công ty Xáng, Xây dựng và Phát triển nông thôn Cần Thơ
— Công ty Chiếu bóng Cần Thơ thành Công ty Phát hành phim và Chiếu bóng Cần Thơ
— Xí nghiệp Nhựa thành Công ty Nhựa Cần Thơ
Trang 34Thực hiện Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/1998 của Chính phủ về chuyển DNNN thành CTCP Tỉnh Cần Thơ đã thực hiện công tác CPH DNNN từ nữa cuối năm 1998 đến tháng 12 năm 2001 đã thực hiện được 10 đơn vị, tuy nhiên vốn CĐ ngoài DN còn thấp và số lao động được giải quyết việc làm chưa cao, cụ thể số liệu được trình bày ở bảng 6
(Bảng 6 - Thống kê tổng hợp tình hình CPH DNNN
CPH DNNN là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển, đẩy mạnh SXKD, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân lao động, tạo thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Tiến trình CPH diễn ra còn chậm, kết quả còn hạn chế, vì đây là một công việc mới mẻ, các chính sách liên quan chưa có sức hấp dẫn cần thiết, thủ tục CPH còn rườm rà đã được khắc phục sửa đổi bằng Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày
19/06/2002 “Về việc chuyển DNNN thành CTCP” Trưởng ban chỉ đạo đổi mới
quản lý DN tỉnh Cần Thơ đã nhận định về vấn đề CPH DNNN là thúc đẩy cung cách làm ăn, chứ không phải thua lỗ, thiếu vốn mới CPH, CPH là tạo kênh thu hút vốn từ các thành phần kinh tế Nhà nước chỉ nắm giữ những DN đáp ứng mục tiêu công ích và tỉ lệ nhất định trong các DN được CPH
2.2.6 Công tác giao DNNN cho tập thể lao động:
Theo tinh thần Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ, năm 2000 tỉnh Cần Thơ giao được 01 DNNN cho tập thể lao động là Xí nghiệp Chế biến thực phẩm Cần Thơ Theo quy định, đơn vị đã đăng ký kinh doanh theo luật DN với tên gọi là CTCP Chế biến thực phẩm Cần Thơ Sau khi hoạt động với hình thức mới, công ty hoạt động có hiệu quả ngay với doanh thu tăng 38,7%, thu nhập DN tăng 22%, lao động tăng 9,1%, thu nhập người lao động tăng 40%, nộp thuế tăng 2,42 lần so với năm 1998
2.3 Hiệu quả quá trình sắp xếp, đổi mới hoạt động DNNN:
Bước đầu quá trình sắp xếp các DNNN cho thấy, hiệu quả SXKD khá rõ nét qua việc tăng quy mô, giảm chi phí quản lý, giảm sự cạnh tranh trong nội bộ DNNN cùng ngành nghề, số DN bị lỗ từ 13 DN năm 1996 giảm xuống còn 7 DN vào năm 1997 Tuy nhiên tiến độ sắp xếp còn chậm, số DN làm ăn kém hiệu
Trang 35quả và thua lỗ kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm Việc sắp xếp chậm nhằm mục đích kéo dài sự tồn tại của DN chỉ làm cho tài sản của Nhà nước bị tổn thất nhiều hơn, đời sống người lao động trong DN ngày càng gặp khó khăn, phương hướng hoạt động của DN càng ngày càng lúng túng thêm
Trong chương trình hành động của Tỉnh Ủy Cần Thơ, trong việc thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) đã khẳng định “Tiếp tục đổi mới, phát
triển và quản lý có hiệu quả qua các loại hình DN” Đồng thời UBND Tỉnh
cũng khẳng định với tinh thần dám chịu trách nhiệm trong quá trình sắp xếp, CPH DNNN, đã mạnh dạn đưa ra những những giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình này Cụ thể việc sắp xếp DNNN tỉnh Cần thơ đạt được những hiệu quả sau:
Một là, thực hiện nghị định 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ về CPH một bộ
phận DNNN không cần nắm giữ 100% vốn, để huy động thêm vốn tạo thêm động lực thúc đẩy kinh doanh phát triển Với kết quả đạt được của các CTCP đã cho thấy chủ trương CPH DNNN là đúng đắn, có tác dụng là phát huy tinh thần làm chủ của người lao động với tư cách là CĐ tại DN và là người quản lý DN, bước đầu thu hút một phần vốn, tăng thu nhập cho người lao động trong các DNNN đã CPH, đồng thời tạo động lực phát triển KTXH của địa phương
Hai là, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã thực hiện nghị định số
103/1999/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê kinh doanh những DNNN qui mô nhỏ, thua lỗ kéo dài để sử dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, bảo đảm việc làm và thu nhập của người lao động
Thực tế cho thấy việc áp dụng các hình thức giao, bán, khoán, cho thuê các DNNN là tránh được việc giải thể, phá sản DN, bán phát mại bản của nhà nước, khắc phục được tình trạng người lao động mất việc làm, đời sống khó khăn thường thấy ở các DN giải thể, phá sản; năng lực sản xuất của DN được phát huy; xóa bỏ bao cấp, bù lỗ của nhà nước, tạo điều kiện để nhà nước tập trung nguồn lực vào DNNN cần được củng cố phát triển
Ba là, về tổ chức củng cố và phát triển các DNNN nhằm tập trung nguồn
lực của nhà nước vào các ngành then chốt mà nhà nước cần chi phối
Trang 36phối, gồm Công ty xăng dầu, Công ty thương nghiệp tổng hợp, Công ty tư vấn thiết kế xây dựng, Công ty xây dựng và phát triển Đô thị, Công ty cấp thoát nước, Công ty sách thiết bị trường học, Công ty Hội chợ Triển lãm Quốc tế… nhằm tập trung, củng cố và xây dựng những DNNN này có đủ tiềm lực để thực hiện vai trò chủ đạo trong hoạt động SXKD và làm đối tác trong liên doanh, liên kết, thực hiện bán buôn vật tư, nguyên liệu sản xuất, đối tác trong hợp đồng mua bán sản xuất, mua bán hàng hóa nông sản, thủy sản với tổ chức và cá nhân Ngoài ra các DN này cũng đã bảo toàn và tích tụ được vốn ngày càng tăng, huy động nhiều nguồn lực, đầu tư đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất, hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên Bên cạnh đó đối với các DN này cũng đã góp phần tích cực vào việc thực hiện chính sách xã hội và an ninh Quốc phòng, như chương trình xóa đói giảm nghèo, phong trào uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng các công trình công cộng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Bốn là, trong quá trình sắp xếp lại DNNN, thì vấn đề đổi mới thực hiện cơ
chế, chính sách trong thời gian qua đã thu được kết quả đáng kể Bước đầu hình thành được khung pháp lý tương đối cơ bản để chuyển DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước; xác lập quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD, xóa dần bao cấp và bảo đảm các chính sách xã hội trong quá trình sắp xếp lại DNNN Đồng thời còn khuyến khích hỗ trợ đầu tư vốn cho các DN làm ăn có hiệu quả, trong đó ưu tiên các lĩnh vực nuôi trồng và chế biến nông sản, thủy sản Do đó nhiều DNNN được củng cố phát triển và thích ứng trong nền kinh tế thị trường, đã chủ động huy động vốn đầu tư mở rộng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, sử dụng có hiệu quả tiền vốn và tài sản, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh, ổn định việc làm và cải thiện đời sống của người lao động
Trang 37Như vậy đến nay các DNNN sau khi sắp xếp lại đã đi vào hoạt động có hiệu quả, một số DN đã biết khai thác thế mạnh của DN mình vào thị trường, sản phẩm, chất lượng hàng hóa, giá cả kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, đổi mới tổ chức quản lý…
Do đó các DN cơ bản đã thoát khỏi những khó khăn, không còn lỗ và có chiến lược phát triển kinh tế Điều đó chứng tỏ việc sắp xếp đổi mới DN theo phương án của tỉnh đến nay đã phát huy được hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong phát triển KTXH của địa phương
3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC THỰC HIỆN SẮP XẾP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN Ở TỈNH CẦN THƠ
3.1 Những mặt tích cực đã đạt được
Từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường hầu hết các DN đều thích nghi với cơ chế mới; để thực hiện lộ trình gia nhập AFTA, APEC và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - My,õ các DN đều năng nổ, sáng tạo, nhạy bén, nắm bắt thông tin thị trường, mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường; nhiều DN đạt chuẩn ISO như CAFATEX, Công ty May Tây Đô, Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang, Công
ty Liên doanh xi măng Hà Tiên II, Công ty Mía đường; có DN đạt chuẩn GMP của ASEAN như Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang; sản phẩm các DN có mặt nhiều nước trên thị trường thế giới, đặc biệt thị trường EU, Nhật, Mỹ
DNNN đã góp phần quan trọng để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần; chi phối được các ngành lĩnh vực then chốt; là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng kinh tế trong xuất khẩu và đóng góp cho ngân sách nhà nước; bảo đảm các cân đối lớn và góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, là lực lượng chính trong việc bảo đảm các sản phẩm và dịch vụ công ích chủ yếu của xã hội
Các DNNN bước đầu thực hiện được vai trò nòng cốt trong các thành phần
Trang 38động có hiệu quả chiếm 80-90%; nộp ngân sách năm 2001 đạt 188,9 tỉ đồng, góp phần quan trọng trong việc ổn định nguồn thu ngân sách tỉnh
Giá trị sản xuất công nghiệp quốc doanh năm 2001 tăng 25%, nhiều DN giá trị sản xuất tăng cao như thủy sản đông lạnh tăng 89%, nước giải khát tăng 23%, bao bì tăng 23%, giày dép tăng 65%, xi măng tăng 26%…
Các đơn vị DNNN sau khi CPH nhìn chung hoạt động tốt, ổn định, có kết quả khả quan, SXKD năm 2001 so với trước khi CPH có doanh thu bình quân tăng 19,5% (cá biệt CTCP Thương nghiệp tổng hợp và Chế biến lương thực Thốt Nốt doanh thu tăng 43,3%), lợi nhuận tăng 16%, lao động sử dụng tăng 18,9%, thu nhập của người lao động tăng 18,9%
(Bảng 7 - Bảng tình hình SXKD năm 2001 của các CTCP)
Việc sắp xếp lại các DNNN đã góp phần làm thay đổi cơ cấu vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật; có tác động nhất định đến việc tích tụ và tập trung vốn kinh doanh, lao động có tay nghề đạt được một số thành tích khả quan Cụ thể
— Hiệu quả SXKD trong một số DNNN ngày càng tăng Số DNNN này đã tăng cường tập trung đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại để sản xuất ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh, tạo thị trường ổn định và mở rộng xuất khẩu
— Qua quá trình sàng lọc, tuyển chọn đã xuất hiện nhiều nhà quản lý giỏi, cán bộ khoa học kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm và sáng tạo, công nhân có tay nghề cao nên bước đầu đã thích nghi được với nền kinh tế thị trường góp phần tăng dần hiệu quả sử dụng vốn, tăng mức nộp ngân sách mặc dù lợi nhuận còn rất thấp so với yêu cầu tích lũy để phát triển
— Có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, trong đó một bộ phận lao động có trình độ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm SXKD giỏi Nguồn lao động tỉnh Cần Thơ sẵn sàng đáp ứng cao cho nhu cầu tại chỗ và hoàn toàn đủ khả năng tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về lao động và đầu tư
Đạt được những thành tựu nói trên là do Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành chức năng đã điều hành kiên quyết; sâu sát các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước Thực tế cho thấy nhiều cơ chế chính sách đã ban hành và hoàn
Trang 39thiện để DNNN tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường Nhiều DN đã có tinh thần chủ động, sáng tạo, học hỏi vươn lên, mạnh dạng đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh Ngoài ra tỉnh cũng đã tích cực tháo gỡ những DN khó khăn như huy động vốn, mở rộng thị trường, hỗ trợ xuất khẩu… nhờ đó mà môi trường kinh doanh của các DN được cải thiện Như vậy qua những thành tựu trên đã chứng tỏ việc sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN đến nay đã phát huy được hiệu quả và đóng vai trò quan trọng trong phát triển KTXH của địa phương
Trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, Nhà nước sửa đổi luật và ban hành nhiều văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý cho các DN hoạt động, nhiều cơ chế chính sách thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư vào SXKD Đặc biệt luật DN, luật Khuyến khích đầu tư trong nước, luật Thống kê tác động mạnh mẽ đến quá trình SXKD của các DN
3.2 Những khó khăn tồn tại
Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được trong quá trình vận hành cơ chế mới Quản lý vĩ mô của Nhà nước vẫn còn nhiều thiếu sót, sơ hở tạo nên những hạn chế nhất định làm cho hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước còn thấp và chưa đáp ứng được những mục tiêu phát triển KTXH của tỉnh Mặt khác, môi trường pháp lý vẫn chưa hoàn thiện, cơ chế vĩ mô còn nhiều điểm chưa phù hợp, DNNN chưa thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ, chưa chấp hành đúng chế độ kế toán và kiểm toán, hiệu quả hoạt động SXKD còn thấp chưa tương xứng với nguồn lực đã có
— Nhiều DN công nợ nặng nề, DNNN khó khăn thua lỗ chiếm 18-20%, trong đó 12% thua lỗ năm 2001, một vài DN thua lỗ kéo dài chưa có hướng xử lý dứt khoát Tình trạng máy móc thiết bị lạc hậu chiếm tỉ lệ khá cao, phần lớn các
DN thiếu vốn đầu tư đổi mới thiết bị, làm cho sản phẩm mang tính cạnh tranh không cao, thị trường tiêu thụ không ổn định, một số DN thiếu năng động, chưa mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị Mặt khác, số lượng DNNN nhiều nhưng quy mô nhỏ tập trung chủ yếu ở thành phố Cần Thơ, ở các nơi khác không đáng kể,
Trang 40— Việt Nam chuẩn bị tiến tới gia nhập WTO và thu hẹp thuế quan trong lộ trình gia nhập AFTA với thuế suất giảm dần đến 2003 và bằng 0-5% (2006), chắc chắn các DN sẽ chịu sự cạnh tranh gay gắt Mặt khác, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả còn nhiều, gây không ít khó khăn trong hoạt động các DN
— Công tác CPH thực hiện còn chậm so với kế hoạch đề ra do sự chuyển động trong đội ngũ cán bộ chưa mạnh và do chưa làm tốt khâu tư tưởng trong các DN, mặt khác do công nợ còn kéo dài và mất rất nhiều thời gian trong xác định giá trị thực tế của các DN Một số DN chấp hành chế độ báo cáo kế toán, hạch toán chưa nghiêm, chưa thực hiện tốt chế độ kiểm toán định kỳ làm cho độ tin cậy không cao Trong 10 đơn vị CPH cá biệt có 01 đơn vị là CTCP Bao Bì PP thua lỗ do công tác quản lý và điều hành không tốt, cần tiếp tục củng cố
Những DN chưa thực hiện CPH được theo phương án số 1349/UB ngày 19/05/2000 do nhiều nguyên nhân khách quan, gồm những đơn vị sau đây:
ª Công ty Bia nước giải khát Cần Thơ: do phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nên lợi nhuận không cao
ª Công ty Nhựa Cần Thơ: do nội bộ chưa thống nhất cao
ª Công ty Xây dựng Cần Thơ: công ty này do sự sáp nhập từ 2 Công
ty Xây dựng số 1 và Công ty Xây dựng số 2, hoạt động còn khó khăn, công nợ khó thu hồi còn lớn, thua lỗ, có khắc phục nhưng chưa dứt điểm
ª Công ty Thiết kế Tư vấn Xây dựng: do công nợ của công ty còn nhiều, khó xử lý CPH và lợi nhuận không cao
ª Công ty Liên doanh Du lịch Sài Gòn: do Sở du lịch chưa làm việc với Tổng công ty Du lịch Sài Gòn nên chưa thống nhất được việc CPH công ty này
— Nhiều DNNN chưa xác định được vị trí, phương hướng trong nền kinh tế thị trường, nên chưa có phương thức kinh doanh cho sản phẩm của mình và chưa tìm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Một số DN chưa có kinh nghiệm làm ăn trong cơ chế thị trường nên trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp tác kinh doanh thường bị thua thiệt, dẫn đến việc bị chiếm dụng vốn tràn lan không thu hồi được