1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu tôm của tỉnh sóc trăng

60 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 519,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế cả nước, ngành Thủy Sản cả nước, vượt qua những khó khăn thử thách, ngành tôm của Sóc Trăng đã không ngừng phát triển, đạt thành tích năm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN VĂN PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2002

Trang 2

MỤC LỤC

*********

MỞ ĐẦU : ……… 1

Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÔM THẾ GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA CON TÔM TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ……….……3

1.1 Tổng quan về thị trường tôm thế giới ……….……3

1.1.1 Tình hình nhập khẩu tôm thế giới ……….………3

1.1.1.1 Thị trường Mỹ……….3

1.1.1.2 Thị trường Nhật ……… 4

1.1.1.3 Thị trường Châu Âu ……….6

1.1.1.4 Thị trường khác ……….………7

1.1.2 Tình hình xuất khẩu tôm thế giới ……… ……….…… …….7

1.1.2.1 Tình hình xuất khẩu tôm của Thái Lan……… …….8

1.1.2.2 Tình hình xuất khẩu tôm của Inđônêxia ……….………….… ….8

1.1.2.3 Tình hình xuất khẩu tôm của Ấn Độ……… … ……9

1.1.2.4 Tình hình xuất khẩu tôm của Trung Quốc……….….……9

1.2 Vai trò của con tôm trong nền kinh tế Việt Nam………… ……….….……….10

Chương 2 : HIỆN TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÔM XUẤT KHẨU TỈNH SÓC TRĂNG ……… ………14

2.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng ảnh hưởng đến sự phát triển thuỷ sản của tỉnh ……… ……….… ….……14

2.1.1 Vị trí địa lý ………….……… ……….………14

2.1.2 Tiềm năng diện tích nuôi thủy sản tỉnh Sóc Trăng …… ………14

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm của tỉnh Sóc Trăng ……….15

2.2.1 Tình hình sản xuất tôm của tỉnh Sóc Trăng ……….………….…….… 15

2.2.1.1 Tình hình nuôi tôm ……….…15

2.2.1.2 Cơ sở và công nghệ chế biến ………17

Trang 3

2.2.2 Thị trường tiêu thụ tôm của tỉnh Sóc Trăng ………….………20

2.2.2.1 Thị trường tiêu thụ trong nước ……… ….20

2.2.2.2 Thị trường tiêu thụ tôm thế giới ……… … … 21

2.3 Đánh giá chung ……….….……25

Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG

XUẤT KHẨU TÔM ………28

3.1 Quan điểm phát triển,……… ….…….……28

3.1.1 Quan điểm……….………28

3.1.2 Mục tiêu ……… ………… …….29

3.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu tôm ….… ……29

3.2.1 Giải pháp về thị trường ………29

3.2.1.1 Xây dựng chiến lược thị trường xuất khẩu tôm …… ……… 29

3.2.1.2 Các giải pháp để mở rộng thị trường ……… ….31

3.2.2 Giải pháp về nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu ….…34 3.2.3 Giải pháp về chế biến ……….………36

3.2.4 Giải pháp về nguồn nhân lực ………43

3.2.5 Giải pháp về khoa học - công nghệ ……….………45

3.2.6 Giải pháp về vốn ……… ……47

3.2.7 Giải pháp về quy hoạch và phát triển ……….……49

3.3 Một số kiến nghị ……… …… …50

KẾT LUẬN ………53

Trang 4

MỞ ĐẦU

***********

Sóc Trăng là tỉnh có diện tích đất nông nghiệp, mặt nước biển, điều kiện tự nhiên và xã hội rất thuận lợi cho phát triển nuôi, chế biến và xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là con tôm

Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế cả nước, ngành Thủy Sản cả nước, vượt qua những khó khăn thử thách, ngành tôm của Sóc Trăng đã không ngừng phát triển, đạt thành tích năm sau cao hơn năm trước về sản lượng nuôi trồng, chế biến và kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế tỉnh, ngành tôm Sóc Trăng đang đứng trước những khó khăn và thách thức lớn Đó là tình hình tôm giống đang ngày càng khan hiếm trước đòi hỏi mở rộng nhanh chóng diện tích nuôi tôm; là môi trường tự nhiên cho nuôi trồng có khuynh hướng bị phá hủy; là nguồn nhân lực cho ngành trở nên khan hiếm, bất cập cho cả nuôi trồng và chế biến; tình hình cạnh tranh thiếu lành mạnh diễn ra ngày càng nhiều dẫn đến chất lượng và uy tín có dấu hiệu thiếu tích cực ngày gần đây Nhưng bao trùm và quyết định hơn hết vẫn là yêu cầu phải mở rộng thị trường xuất khẩu nhanh hơn nữa trong điều kiện sản lượng nuôi trồng tại một số nước gia tăng, hàng rào phi thuế quan các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều và tình hình chiến tranh và suy thoái kinh tế diễn ra nhiều nơi trên thế giới

Từ thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu tôm của tỉnh Sóc Trăng”, làm đề tài luận văn cao học Đề tài dựa trên cơ sở đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển và thị trường tôm của tỉnh Sóc Trăng và của Việt Nam trong thời gian qua bằng các phương pháp tiếp cận thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh,

Trang 5

phân tích số liệu thống kê, vận dụng kiến thức các môn học chuyên ngành kinh tế, kết hợp hệ thống hóa các lý thuyết, từ đó gợi ý một số giải pháp để mở rộng thị trường xuất khẩu, góp phần phát triển ngành Thủy Sản xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Sóc Trăng

Nội dung của luận văn được trình bày bao gồm ba chương :

Thị trường tôm trên thế giới rất rộng, được hình thành rất lâu và rất phức tạp Công trình này chỉ tập trung nghiên cứu ngành tôm ở tỉnh Sóc Trăng và một số nước xuất nhập khẩu ở những nét chủ yếu liên quan đến đề tài Do khả năng và thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những sai sót Kính mong được quý Thầy, Cô đóng góp bổ sung để đề tài được hoàn thiện và có giá trị trong thực tiễn

Trang 6

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÔM THẾ GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA CON TÔM TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về thị trường tôm thế giới

1.1.1 Tình hình nhập khẩu tôm thế giới

Tôm là sản phẩm thủy sản phổ biến trên toàn thế giới Ngày nay, người ta trở nên quan tâm hơn về sức khỏe và tôm có thể dễ dàng được xem là một trong các món ăn kiêng, nhờ tôm có thể cung cấp các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe Hàm lượng cholesterol “có lợi” cao và tỷ lệ thấp đối với cholesterol “có hại”

Thị trường tôm thế giới rất rộng lớn, bao gồm nhiều nước Tuy nhiên tập trung nhất là các nước và khu vực như Mỹ, Nhật, châu Âu và các nước như Úc, Hàn quốc, Nga và các nước châu Á khác Dưới đây là những thị trường cụ thể

1.1.1.1 Thị trường Mỹ

Nước Mỹ được coi là nước nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới Nước Mỹ có khoảng 280 triệu người với thu nhập bình quân cao và rất thích ăn hải sản Theo Hiệp Hội Chế Biến và Xuất khẩu Thủy Sản Việt Nam, người dân Mỹ tiêu thụ khoảng 2,8 pao tôm trên một người trên một năm Từ năm

1998, thị trường Mỹ đã trở thành nước thu hút các nguồn cung cấp tôm từ nhiều châu lục và nêu kỷ lục nhập khẩu cả về khối lượng và giá trị Nền kinh tế mạnh, đồng tiền có giá trị cao và ổn định đi đôi với thị hiếu tiêu thụ tôm “bùng nổ”, nhập khẩu tôm vào Mỹ hầu như tăng liên tục từ năm 1991 đến nay với giá trị nhập khẩu năm 2001 khoảng 2,3 tỷ USD và nhập khẩu năm 2002 là 429.303 tấn với trị giá 3,42 tỷ USD Trong đó, nguồn cung cấp tôm từ các nước châu Á chiếm 50% tổng lượng tôm nhập khẩu Ngược lại, sản lượng tôm khai thác tại Mỹ hầu như giảm liên tục Sản lượng khai thác

Trang 7

năm 2002 giảm 10,5% so với 2001 và chỉ đáp ứng khoảng 12% nhu cầu dân Mỹ Tôm nhập vào thị trường Mỹ bao gồm nhiều loại và kích cỡ, nhưng nhiều nhất là tôm sú và thẻ dưới dạng luộc chín và đông lạnh Thuế nhập khẩu của Mỹ đối với tôm đông lạnh làø 0% nên mặt hàng tôm dễ cạnh tranh với một số thực phẩm khác Thị trường này khắc khe về chất lượng, đặc biệt là tiêu chuẩn vi sinh và ngày gần đây là dư lượng kháng sinh cloramphenical và nutralphural Các nhà máy cung cấp tôm cho thị trường này phải thực hiện chương trình quản lý chất lượng HACCP Tôm nhập vào Mỹ phải được FDA, cơ quan kiểm tra chất lượng về an toàn thực phẩm của Mỹ chấp thuận Kế đến, tiêu chuẩn về bao bì cũng cao và phải phù hợp với pháp luật rất phức tạp của Mỹ quy định Hơn nữa, thương hiệu hàng hóa rất quan trọng đối với thị trường này Mặt khác, thị trường Mỹ rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị xã hội Đặc biệt ngày gần đây, để bảo vệ ngành tôm trong nước Liên Minh tôm Miền Nam nước Mỹ đã kêu gọi chính phủ Mỹ có biện pháp trước sự tràn ngập của tôm nhập khẩu từ nước ngoài, điều này đang đe dọa các nhà xuất khẩu, trong đó có Việt Nam Nhìn chung, Mỹ có thị trường tôm rất lớn và hấp dẫn, nhưng khá khó tính và luôn chứa đựng những rủi ro

1.1.1.2 Thị trường Nhật

Đây là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ hai trên thế giới Người Nhật từ lâu đã thích tiêu dùng hải sản và tôm là mặt hàng rất phổ biến, có mặt khắp nơi từ siêu thị đến các nhà hàng và cho mọi tầng lớp dân cư Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nhu cầu tiêu thụ tôm của Nhật giảm đến mức thấp nhất và phải mất một thời gian mới có thể phục hồi Theo tạp chí Thương Mại Thủy Sản, mức tiêu thụ trung bình của các hộ gia đình năm 2002 khoảng 2.348 g tôm và xếp thứ tư sau mực ống, cá ngừ và cá hồi Thị trường Nhật tiêu thụ nhiều loại tôm, nhưng số lượng

Trang 8

lớn nhất là tôm sú Tất cả các cở tôm lớn nhỏ đều tiêu thụ được trên thị trường này Nhật nhập khẩu nhiều loại sản phẩm tôm từ dạng nguyên liệu đến những sản phẩm ăn liền Các sản phẩm cao cấp có kênh phân phối khá ổn định và giá cả dao động ít, còn tôm ít qua chế biến ảnh hưởng nặng bởi mùa vụ tôm về giá cả và sản lượng Các sản phẩm ăn liền, ăn nhanh từ tôm nhập khẩu phần lớn được nhập từ Thái Lan, Ấn Độ xuất sang thị trường này phần lớn là dạng thô, nguyên liệu

Do tình hình kinh tế suy thoái Nhật chưa thoát khỏi hẳn nên sức mua của người dân Nhật kém và một bộ phận người Nhật có xu hướng chuyển sang tiêu dùng một số sản phẩm thủy sản khác có giá thấp hơn như cá chình, cá hồi Tuy nhiên, nhìn chung sản lượng tiêu thụ tôm vẫn tăng Mặt khác, ngày nay người tiêu dùng Nhật còn đòi hỏi tăng cường tính an toàn, bổ dưỡng và ngon lành đối với mặt hàng tôm Trước tình hình đó, nhà nhập khẩu cũng bắt đầu đòi hỏi áp dụng chương trình HACCP đối với các nhà máy cung cấp Đồng thời, kiểm tra vi sinh và dư lượng kháng sinh trước khi đưa ra tiêu thụ ở thị trường Nhật cũng được thực hiện khắc khe Trước đây, tôm được nhập khẩu thông qua nhà nhập khẩu, sau đó được bán qua nhiều nhà phân phối, nhà chế biến lại mới đến nhà bán lẻ và đến nhà tiêu dùng Nhưng gần đây để giảm giá bán và tăng sức tiêu thụ, các nhà nhập khẩu Nhật tiến hành đơn giản hóa các kênh phân phối, loại bỏ bớt trung gian không cần thiết, nâng tỷ trọng nhập khẩu các mặt hàng giá trị gia tăng, chín hay chế biến sẳn để giảm chi phí chế biến ở Nhật Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tăng cường các mặt hàng cao cấp Mặc dù nhập khẩu thị trường Nhật tăng chậm nhưng vẫn là nước nhập khẩu lớn và các mặt hàng cao cấp tăng tương đối nhanh, đặc biệt là nhập từ các nước Đông Nam Á Có thể kết luận rằng thị trường Nhật là thị trường tôm lớn, ổn định hơn thị

Trang 9

trường Mỹ, có hệ thống pháp luật không nghiêm ngặt rất thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tôm, đặc biệt là các mặt hàng cao cấp

1.1.1.3 Thị trường Châu Âu

Liên minh Châu Âu là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ ba, chiếm một phần ba về giá trị và khối lượng tiêu thụ tôm trên thế giới Thị trường này gần như được chia thành hai khối có phương thức tiêu thụ tương đối khác nhau, mỗi khối có những nhu cầu đặc thù đối với các loài tôm, đó là : khối các nước Địa Trung hải và khối các nước Bắc Âu Các nước Địa Trung Hải ưa chuộng tôm nước ấm hay tôm nguyên con cở lớn, thường chế biến dưới dạng chín hay nướng Tôm nước lạnh có nhu cầu rất ít Các nước Bắc Âu ưa các loài tôm nước lạnh, mặc dù tôm nước ấm nhiều hơn trên thị trường

Nhu cầu tôm nước ấm ở châu Âu rất đa dạng, bao gồm cả tôm biển, tôm nước lợ và tôm nước ngọt Thực tế cho thấy tất cả các kích cở tôm đều tiêu thụ được trên thị trường này với giá cả tương đối ổn định Tôm nhập vào thị trường này phần lớn là tôm còn sống đông rời, mặt hàng cao cấp chiếm tỷ trọng thấp

Theo tạp chí thương mại thủy sản, từ năm 1984 đến 2000 nhập khẩu tôm của các nước EU đã tăng 4 lần, các năm tiếp theo đều cao hơn nhưng mức tăng chậm dần Tiêu thụ tôm trên đầu người trên năm tăng gấp 3 lần : từ 400 g lên 1.200 g Tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế ở Nhật và châu

Á cuối năm 1997 đã dẫn đến sự sa sút của thị trường tôm thế giới Kể từ đó, giá tôm ở thị trường này cũng ảnh hưởng và hiện nay vẫn chưa được cải thiện nhiều Tuy nhiên, kể từ năm 2000 thị trường châu Âu rất quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm, đặc biệt về vi sinh và dư lượng kháng sinh (cloramphenicol, neutrophural,…) Từ năm 2001 đến nay EU thực hiện chế độ kiểm soát nghiêm ngặt đối với hàng thủy sản nhập vào EU Nếu tôm bị

Trang 10

phát hiện có nhiễm vi sinh hay dư lượng kháng sinh sẽ bị thiêu hủy hay trả

về Điều này buộc các nhà xuất khẩu phải thật thận trọng đối với chất

lượng của mình

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản, EU là thị trường

tương đối lớn sau Mỹ và Nhật, còn tiềm năng khá lớn, các nhà xuất khẩu

có thể mở rộng và có hiệu quả nếu tình hình kiểm tra an toàn vệ sinh được

nới lỏng hoặc các doanh nghiệp có biện pháp đảm bảo an toàn chất lượng

1.1.1.4 Thị trường khác

Bên cạnh các thị trường lớn được nêu trên, một số nước như Hàn

Quốc, Đài Loan, Nga, Singapore cũng là những nước thị trường tiềm năng

trong những năm tới Hiện tại các nước này có thu nhập bình quân đầu

người tương đối cao Nhập khẩu tôm ngày càng tăng, việc kiểm soát chất

lượng và an toàn vệ sinh không khắt khe như các thị trường Mỹ và EU,

nhưng giá cả thấp hơn các thị trường chính Trong những năm qua, các nước

này đang nhập khẩu thủy sản ngày càng tăng và bắt đầu mua tôm của Việt

Nam

Tóm lại, tôm là một trong những mặt hàng ngày càng được ưa

chuộng trên thế giới Thị trường tiêu thụ tôm còn rất lớn, có tính ổn định

lâu dài Mặc dù bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, thiên

tai,… nhưng nhu cầu thế giới trong những năm qua vẫn gia tăng Tuy nhiên,

chất lượng sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao và giá cả ngày càng cạnh

tranh

1.1.2 Tình hình xuất khẩu tôm thế giới

Hiện nay trên thế giới có nhiều nước khai thác, nuôi và xuất khẩu

tôm Nhưng tập trung nhất và chi phối thị trường tôm là các nước Thái Lan,

Inđônêxia, Trung quốc, Việt Nam, Ấn Độ Tổng sản lượng tôm thế giới từ

năm 1990 đến 2002 (xem bảng 1)

Trang 11

Bảng 1 : Sản lượng tôm thế giới từ năm 1990 - 2002

Nguồn : Tạp chí thương mại thủy sản tháng 01/2003

Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng sản lượng tôm trên thế giới tăng khoảng 5%/năm, trong đó sản lượng tôm nuôi tăng tương đối mạnh trong các năm từ 1998 trở về sau Sản lượng khai thác có mức tăng nhẹ do nguồn lợi đã được khai thác gần như triệt để Cụ thể một số nước xuất khẩu tôm lớn như sau :

1.1.2.1 Tình hình xuất khẩu tôm của Thái Lan

Thái Lan là nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới và chủ yếu là tôm sú, năm 2002 ước đạt khoảng 340.000 tấn Thái Lan là nước nuôi tôm sú lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong nuôi tôm công nghiệp Nhưng từ năm

1999 trở lại đây, năng suất giảm dần do dịch bệnh và môi trường bị xuống cấp khá nặng Tôm sú Thái Lan hiện nay chủ yếu là tôm cở nhỏ từ 40 con trên một kg trở xuống Hiện nay Thái Lan đã đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi thử nghiệm để thay thế một phần tôm sú vốn gặp nhiều khó khăn

trong nuôi

Tỉ trọng xuất khẩu tôm của Thái Lan rất lớn : năm 2002 ước tính 206.900 tấn xuất khẩu so với 60.000 tấn tiêu thụ nội địa Thị trường chính của Thái Lan là Mỹ, Nhật và EU Tỉ lệ hàng chế biến giá trị gia tăng cao nhất trong tất cả các nước xuất khẩu tôm Thái Lan có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định tại các nước trên về mặt hàng cao cấp

1.1.2.2 Tình hình xuất khẩu tôm của Inđônêxia

Trang 12

Inđônêxia là nước có điều kiện địa lý giống với Việt Nam, cũng là nước nuôi trồng thủy sản lớn trên thế giới Tiềm năng nuôi tôm của Inđônêxia còn khá lớn Ngành nuôi tôm của nước này phát triển nhanh từ năm 1994 Thị trường tôm chính của Inđônêxia cũng giống như Việt Nam là Nhật, Mỹ và EU Xuất khẩu tôm của Inđônêxia năm 2002 là 142.116 tấn, giá trị 1.009 triệu USD Đối với mặt hàng tôm Inđônêxia đã xây dựng được uy tín đối với khách hàng nhờ vào chất lượng sản phẩm ưu việt hơn, cung cấp với khối lượng lớn và đều đặn hơn một số nguồn cung cấp khác Giá tôm sú của Inđônêxia trước kia cao hơn tôm của Việt Nam nhưng hiện nay tương đương với tôm của Việt Nam và có lúc thấp hơn giá tôm Việt Nam Tôm sú nuôi của Inđônêxia giống tôm Việt Nam về kích cở (chủ yếu là cở trung và lớn), màu sắc đẹp hơn tôm Việt Nam Tóm lại, đây là một trong những đối thủ cạnh tranh mạnh đối với nhà sản xuất tôm Việt Nam

1.1.2.3 Tình hình xuất khẩu tôm của Ấn Độ

Ấn Độ là quốc gia xuất khẩu tôm khá lớn và có kinh nghiệm gần

50 năm Ấn Độ có nhiều loại tôm nhưng chủ yếu vẫn là mặt hàng tôm sú và thẻ Năm 2002 xuất khẩu 120.897 tấn, với giá trị 837,82 triệu USD Thị trường chủ yếu của Ấn Độ vẫn là Mỹ, Nhật và EU Ấn Độ có vùng nuôi tôm khá lớn nằm ở phía Đông và Tây Mặc dù ngành nuôi tôm Ấn độ có từ lâu nhưng chủ yếu là nuôi quảng canh, năng suất thấp Cơ cấu tôm giống như tôm Việt Nam Mặt hàng giá trị gia tăng chiếm tỉ trọng rất thấp trong sản lượng Phần lớn sản phẩm là mặt hàng nguyên liệu dạng block Chất lượng tôm của Ấn Độ không ổn định, nhiễm vi sinh cao Giá sản phẩm cùng loại thấp hơn so với tôm Việt Nam Tuy nhiên, Ấn Độ đang trong quá trình cải tiến chất lượng và có giải pháp tăng cường thị trường xuất khẩu Hiện nay Ấn Độ đang chiếm mạnh thị trường tôm đông khối nhờ giá rẻ

1.1.2.4 Tình hình xuất khẩu tôm của Trung Quốc

Trang 13

Trung Quốc đang từng bước chứng tỏ ưu thế ngày càng áp đảo trên thị trường tôm quốc tế Mức tăng trưởng sản lượng khá nhanh Năm

2002 sản lượng ước đạt 310.750 tấn tăng gần 17% so với năm 2001 và xuất khẩu ước đạt 105.000 tấn chiếm 33,8% sản lượng, đó là nhờ Trung Quốc đang ra sức đổi mới và nâng cấp công nghệ nuôi, áp dụng thả giống mật độ cao và chuyển mạnh sang nuôi tôm thẻ chân trắng Trung Quốc có thị trường chính giống như Việt Nam đó là Nhật Bản, Mỹ, EU và Hàn Quốc Mặt hàng tôm của Trung Quốc không phong phú, hàng giá trị gia tăng chiếm tỉ trọng thấp Trung Quốc có lợi thế giá rẻ nhờ vào công nghệ nuôi tốt và giá nhân công thấp

1.2 Vai trò của con tôm trong nền kinh tế Việt Nam

Con tôm có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, thể hiện trên một số mặt như sau :

Một là: là nguồn nguyên liệu quan trọngï cho chế biến xuất khẩu, đem lại ngoại tệ cho đất nước

Việt Nam là một trong những nước phát triển thủy sản khá nhanh Theo số liệu Bộ Thủy Sản, diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2002 là 950.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm khoảng 470.000 ha Sản lượng đánh bắt ở biển và nội địa cũng khá lớn Xuất khẩu tôm Việt Nam tăng nhanh trong các năm qua cả về sản lượng và kim ngạch Kết quả xuất khẩu

tôm Việt Nam từ năm 1997 đến 2002 (xem bảng 2)

Bảng 2 : Tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 1997 - 2002

Trang 14

Qua bảng trên cho thấy giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam tăng khá nhanh, bình quân tăng trên 20%/năm về giá trị xuất khẩu Trước đây Việt Nam chủ yếu xuất tôm sang thị trường Nhật, Hồng Kông và Đài Loan, đến

năm 2002 Việt Nam đã xuất sang 47 quốc gia và lãnh thổ (Xem phụ lục số

4 và phụ lục số 5)

Gần đây thị trường xuất khẩu được khai thông, với nguồn nguyên liệu từ con tôm đã đưa doanh số xuất khẩu thủy sản ngày càng tăng và đã kéo theo kinh tế cả nước phát triển trên nhiều lĩnh vực, thúc đẩy việc phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, nhiều cơ sở chế biến được hình thành và ngày càng mở rộng, đa dạng hóa hình thức chế biến, phong phú về mặt hàng Đối với kinh tế thế giới, thủy sản Việt Nam được xếp thứ 5 về sản lượng nuôi tôm và đứng đầu về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta hiện nay chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đứng hàng thứ ba sau dầu khí, dệt, may Nhờ vào xuất khẩu tôm, hàng năm nước ta đã thu về một lượng đáng kể ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thương mại, ổn định nền kinh tế đất nước

Hai là, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu đã kích thích và thúc đẩy năng lực sản xuất của từng khu vực, trong đó ngành tôm đã và đang phát triển rất nhanh, giải quyết việc làm với thu nhập ngày càng cao cho hàng chục vạn lao động, đã chuyển đổi dần cơ cấu sản xuất vùng nông thôn ven biển, vùng sâu vùng xa, nông dân nghèo khó có điều kiện vươn lên có thu nhập cao nhờ sản xuất hàng xuất khẩu giá trị cao Đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật cũng dần được trưởng thành, trình độ tay nghề ngày một nâng cao, đội ngũ giai cấp công nhân được gia tăng về số lượng lẫn chất lượng, góp phần tích cực trong thực hiện chiến lược công nghiệp hóa đất nước

Trang 15

Địa bàn và diện tích mặt nước nuôi tôm gắn chặt với 5 triệu dân sống

ở vùng triều, vùng đầm phá và đặc biệt gắn bó với 12 triệu hộ nông dân Sau 7 năm thực hiện nghị quyết 5 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa VII, ngoài chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa có giá trị kinh tế cao, các địa phương trong cả nước đã chuyển gần 160.000 ha ruộng trũng gieo cấy lúa năng suất thấp, bấp bênh, giá trị kinh tế thấp sang nuôi trồng tôm, chiếm gần 30% diện tích ruộng trũng Từ thực tế này, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 10, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Quốc hội và đề nghị Chính phủ xem xét cho chuyển những diện tích lúa bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất những cây, con hiệu quả kinh tế cao Ở nông thôn hiện nay, xuất hiện nhiều mô hình kết hợp nông nghiệp và thủy sản như mô hình lúa và cá, tôm và lúa hàng triệu nông dân đứng ra nhận thầu, thuê, thậm chí cả mua mặt nước ao hồ nhỏ, sông cụt, kênh rạch để tổ chức nuôi tôm theo hướng kết hợp nông nghiệp và thủy sản, thu hút lao động nhàn rỗi, lao động thời vụ trong nông nghiệp Những hộ này phần lớn đã thoát nghèo, trở thành giàu, triệu phú Đến nay, trên phạm vi cả nước đã có gần 90.000 ha mặt nước ao hồ nhỏ đưa vào nuôi tôm hiệu quả kinh tế cao, chiếm 70% diện tích mặt nước loại này của cả nước, trong đó tập trung nhiều nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long Các mô hình nuôi tôm đã tạo điều kiện góp phần phân công, phân bổ và tổ chức lại cho 30 triệu lao động nông nghiệp hiện đang tham gia sản xuất ở nông thôn

Ba là, phát triển con tôm tạo điều kiện thực hiện đường hướng phát triển thủy sản của Đảng và nhà nước

Chính sách phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng phát triển ngành Thủy Sản và con tôm Trong định hướng phát triển ngành

ở Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã nêu “Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực” Đồng thời Đảng cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế, các doanh

Trang 16

nghiệp đầu tư phát triển ngành thủy sản Cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng, nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ 10 đã chủ trương “Tiếp tục xây dựng và phát triển ngành thủy sản, coi đây là khâu đột phá thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới Ra sức đẩy mạnh phát triển nuôi trồng ở cả 3 vùng : nước ngọt, nước lợ và nước mặn Trong đó đặt biệt chú trọng phát triển nuôi tôm sú, nâng lên trình độ mới, từng bước đưa phương thức nuôi bán thâm canh trở thành phổ biến, kết hợp với mở rộng các mô hình nuôi thâm canh năng suất, chất lượng cao Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh khai thác biển, gia tăng năng lực đánh bắt xa bờ, từng bước hiện đại hoá phương tiện máy móc, nâng cao hiệu quả hoạt động Gắn nuôi trồng, khai thác đánh bắt với chế biến, xuất khẩu; bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của tỉnh”

Trong những năm gần đây, nhà nước đã đề ra nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển ngành, đặc biệt là chính sách đầu tư hạ tầng cơ sở, chính sách cho vay vốn, khuyến khích xuất khẩu,… đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế đất nước

Trang 17

Vinh ở phía Đông Bắc và giáp biển Đông ở phía Đông (xem phụ lục 1)

Tỉnh Sóc Trăng có đường Quốc lộ 1A chạy qua bốn huyện và thị xã Sóc Trăng với tổng chiều dài 60 km (Kế Sách, thị xã Sóc Trăng, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị) Có Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với TP Hồ Chí Minh, Tân

An, Mỹ Tho, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau Có Sông Hậu chạy qua nối với hệ thống kênh rạch chằng chịt, có thể giao lưu được với các tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Có cảng Đại Ngãi và cảng cá Trần Đề Đặc biệt có bờ biển dài 72 km rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển như : Thủy

hải sản, thương cảng, cảng cá, dịch vụ biển, xuất nhập khẩu(xem phụ lục 2)

2.1.2 Tiềm năng diện tích nuôi thủy sản tỉnh Sóc Trăng

Tỉnh Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, chiếm trọn vùng cửa sông phía nam sông Hậu, có 72km bờ biển chạy dài đến địa phận tỉnh Bạc Liêu Theo số liệu thống kê năm 2002 diện tích đất sản xuất nông nghiệp 256.607 ha Trong đó đất trồng lúa bằng 74% đất nông nghiệp có khả năng kết hợp nuôi trồng thủy sản, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Đất ngập mặn chiếm 7,38% so với đất nông nghiệp, dọc theo bờ biển thuộc địa phận hai huyện Vĩnh Châu và Long Phú

Trong đất liền có hệ thống sông rạch chằng chịt, nên có tiềm năng tương đối lớn để phát triển nuôi thủy sản cả ba vùng sinh thái khác nhau

Trang 18

như : mặn, lợ và ngọt Theo quy hoạch ngành, tiềm năng diện tích đất nuôi thủy sản khoảng 76.000 ha, kể cả nuôi xen canh và luân canh với lúa, chiếm 24% diện tích tự nhiên của tỉnh, bằng 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp

Dự kiến năm 2003, diện tích nuôi trồng thủy sản là 53.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 43.000 ha, năm 2005 là 60.000 ha và 2010 là 80.000 ha Những năm tới nguồn tôm biển đánh bắt tăng không đáng kể

Tóm lại, Sóc Trăng là tỉnh có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản Trong những năm qua ngành thủy sản phát triển không ngừng qua các năm, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu Bên cạnh đó, ngành tôm còn giải quyết việc làm cho trên 60.000 lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho tỉnh Ngoài ra còn góp phần thúc đẩy nhiều ngành nghề và dịch vụ khác phát triển như ngân hàng, công nghiệp, thương nghiệp Theo quy hoạch những năm tới, ngành Thủy Sản nói chung và đặc biệt là con tôm phải tiếp tục phát triển một cách bền vững và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tỉnh Để thực hiện được điều đó, trong

xu thế hội nhập và cạnh tranh, trong những năm tới vấn đề mở rộng thị trường là một trong những yếu tố quyết định cần phải quan tâm đúng mức 2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm của tỉnh Sóc Trăng

2.2.1 Tình hình sản xuất tôm của tỉnh Sóc Trăng

2.2.1.1 Tình hình nuôi tôm

Sóc Trăng tiến hành nuôi tôm khá sớm so với các vùng khác trong cả nước Trong những năm qua con tôm Sóc Trăng không ngừng được đầu tư phát triển mở rộng diện tích cả chiều rộng lẫn chiều sâu Diện tích nuôi tôm tăng liên tục từ năm 1996 đến 2002 Song song với nuôi tự nhiên, bán thâm canh, diện tích nuôi thâm canh, công nghiệp cũng tăng lên đáng

Trang 19

kể, đóng góp sản lượng với tỷ trọng ngày càng tăng trong sản lượng tôm của tỉnh, năm 2003 ước tính khoảng 40% Hiện tỉnh hình thành và phát triển tốt hai khu nuôi công nghiệp là Mỏ Ó và huyện Vĩnh Châu nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi cho tưới tiêu Trình độ canh tác của người nuôi tăng lên nhanh chóng Kết quả năng suất nuôi tôm tại Sóc Trăng tăng nhanh hơn tăng diện tích Diện tích tăng bình quân 19,33%, năng suất tăng

bình quân 64,66% (Xem phụ lục số 3)

Hiện nay, tôm nuôi ở Sóc Trăng chủ yếu là tôm sú và một phần không đáng kể tôm càng Chủ yếu tôm giống được nhập từ các tỉnh Miền Trung Nguồn giống tại chỗ chỉ mới bắt đầu chưa đáng kể, dẫn đến chất lượng giống chưa đảm bảo, năng suất chất lượng chưa đều Tỉnh đang nghiên cứu nuôi thêm tôm thẻ chân trắng, trong những năm tới đây sẽ là mặt hàng khá triển vọng

Các dịch vụ cho nuôi tôm như thức ăn nuôi tôm, thuốc thú y, dịch vụ thủy lợi phát triển nhanh chóng hỗ trợ khá tích cực cho nuôi tôm của vùng Kiến thức nuôi tôm được chuyển giao nhanh chóng từ trung tâm khuyến ngư cho bà con nông dân như cách chọn giống, chăm sóc, thu hoạch, đã làm giảm rủi ro trong nuôi tôm, nâng cao được hiệu quả

Tuy nhiên sản lượng tôm từ nuôi trồng và đánh bắt trong tỉnh chỉ mới cung cấp được khoảng 70% sản lượng nguyên liệu cần thiết cho chế biến Các nhà máy phải mua thêm nguyên liệu các vùng khác như Bạc liêu, Cà Mau, Trà Vinh Trong tương lai, theo tốc độ phát triển như hiện nay, nguồn nguyên liệu tại chỗ sẽ đáp ứng đủ cho các nhà máy Sóc Trăng theo kế hoạch đã đề ra

Bên cạnh đó, trình độ canh tác trong lĩnh vực nuôi mới chỉ dừng lại ở trình độ thấp, phần lớn bà con nông dân theo kinh nghiệm, học tập từ thực tế là chính, chưa đi vào chiều sâu, còn tự phát, chưa nắm vững và ứng

Trang 20

dụng khoa học kỹ thuật mạnh vào sản xuất, chưa đảm bảo sự phát triển nhanh, ổn định và bền vững của con tôm

2.2.1.2 Cơ sở và công nghệ chế biến

Công nghệ được xem là khâu cực kỳ quan trọng trong quá trình sản xuất, nó góp phần quyết định năng suất lao động, chủng loại hàng hóa, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm và ảnh hưởng đến khâu tiêu thụ

Cùng với tốc độ phát triển của diện tích và sản lượng tôm, các cơ sở chế biến tôm công nghiệp tăng trưởng nhanh trong thời gian qua Đến năm 2002 Sóc Trăng có năm doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tôm đông lạnh chủ yếu nằm trên quốc lộ 1A và khu Trà Men Năm doanh nghiệp thuộc đủ các thành phần kinh tế khác nhau : Stapimex thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước, Fimex thuộc công ty cổ phần, ba doanh nghiệp còn lại là Kim Anh, Phương Nam và Út Xi thuộc doanh nghiệp tư nhân

Năng lực chế biến ở Sóc Trăng tăng lên rõ rệt, chỉ có một nhà máy chế biến nhỏ từ năm 1978 đến nay đã có năm doanh nghiệp chế biến với thiết bị hiện đại so với trong nước, có công suất hơn 25 ngàn tấn mỗi năm Theo đánh giá của các nhà chuyên môn và khách hàng, các doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh Sóc Trăng thuộc vào loại mạnh của cả nước Về trình độ công nghệ và thiết bị, các doanh nghiệp Sóc Trăng đầu

tư khá nhanh Các thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện có thuộc vào loại mới và tiên tiến của cả nước và hơn một số nước như Ấn Độ, Inđônêxia Phần lớn các nhà máy có những máy đông rời siêu tốc và máy luộc tiên tiến Đa số thiết bị nhập từ Bắc Âu, cho phép các doanh nghiệp giảm nhiều chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm về mẫu mã cũng như hương vị và

an toàn thực phẩm, xuất được vào thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU

Trang 21

Vừa qua Fimex và Kim Anh đi đầu trong đổi mới thiết bị, nhờ đó đi đầu trong sản phẩm cao cấp, thị trường và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, thiết bị của các nhà máy được đầu tư hầu như giống nhau về tính năng và tập trung vào việc sản xuất một số mặt hàng như tôm đông rời, tôm luộc, nobashi, tôm tẩm bột mà chưa đáp ứng việc sản xuất các mặt hàng cao cấp hơn, khác biệt nhau, dẫn đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau và chưa đáp ứng hết nhu cầu đa dạng về mặt hàng cho khách hàng

Về điều kiện sản xuất, cùng với đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, các doanh nghiệp cũng quan tâm cải thiện điều kiện sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn 28 TCN 130 – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và phù hợp với chỉ tiêu quy định của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm Theo đánh giá của Trung tâm Kiểm Tra Chất Lượng và Vệ Sinh Thủy Sản, các nhà máy của năm doanh nghiệp Sóc Trăng đạt yêu cầu quy định sản xuất hàng cho EU, Mỹ Trong đó bốn doanh nghiệp được phép xuất hàng vào EU và một đạt tiêu chuẩn và chờ quyết định của EU Bên cạnh đó, các doanh nghiệp áp dụng chương trình quản lý chất lượng theo HACCP từ năm

1996, đây cũng là chương trình quản lý chất lượng bắt buộc áp dụng khi doanh nghiệp xuất hàng vào Mỹ Nhờ vậy, so với các đơn vị trong nước, các nhà máy Sóc Trăng có uy tín và tăng lượng hàng bán trên các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật và EU Những năm gần đây, khách hàng trở nên khắc khe với chất lượng, đặc biệt Mỹ và EU Các nước này tăng cường kiểm tra nghiêm ngặt chất lượng tôm nhập khẩu về tiêu chuẩn vi sinh và

dư lượng kháng sinh Các nhà máy luôn phải đương đầu với những khó khăn, cải tiến liên tục chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, cũng xảy ra một số trường hợp bị khiếu nại hoặc trả hàng về, gây khó khăn cho nhà doanh nghiệp

Trang 22

Về nguồn lao động, trong chế biến tôm đông lạnh sử dụng nguồn lao động khá lớn Hiện nay trong lĩnh vực chế biến tôm Sóc Trăng sử dụng gần 10.000 ngàn lao động, trong đó công nhân chiếm 80%, cán bộ kỹ thuật khoảng 15% và cán bộ quản lý 5%, phần lớn lực lượng công nhân được đào tạo từ thực tế sản xuất, không qua trường dạy nghề Tay nghề trong chế biến rất quan trọng trong việc tiết kiệm nguyên liệu, hình dáng bên ngoài của sản phẩm, năng suất Lực lượng công nhân ở đây được đánh giá là lực lượng mạnh, có tay nghề cao trong ngành, đây cũng là một lợi thế của các doanh nghiệp Sóc Trăng Phần lớn cán bộ kỹ thuật và quản lý trẻ, được đào tạo chính quy và năng động

Nhìn chung, có thể nhận định rằng sản xuất tôm ở Sóc Trăng giai đoạn năm 1996 đến năm 2002 đạt được tốc độ tăng trưởng lớn so với giai đoạn trước và so với cả nước Phát triển sản xuất đã gắn liền với việc hình thành vùng nguyên liệu tại chỗ trên cơ sở tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động của địa phương Việc áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu

tư thiết bị nhanh chóng, đúng hướng đã tạo được lợi thế so với địa phương khác nhờ nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí Đào tạo được đội ngũ cán bộ công nhân lành nghề, năng động, sáng tạo Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại một số yếu kém như sau :

- Việc mở rộng diện tích nuôi quá nhanh, mang tính tự phát, hạn chế về kỹ thuật của nông dân làm cho năng suất một số vùng còn hạn chế, hiệu quả chưa cao và môi trường thiên nhiên bị đe dọa, thiếu bền vững

- Trong nuôi tôm còn ảnh hưởng nặng tính thời vụ, trong điều kiện thiếu kho trữ và vốn, dẫn đến tình trạng bị khách hàng ép giá làm giảm hiệu quả của ngành

- Công suất nhà máy trong tỉnh phát triển vượt khả năng cung cấp nguyên liệu tại địa phương, dẫn đến việc cạnh tranh khốc liệt trong mua

Trang 23

nguyên liệu làm cho chất lượng nguyên liệu vào những tháng trái vụ không được đảm bảo

- Chất lượng sản phẩm có được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, trong thời gian tới cần phải có giải pháp nâng cao hơn nữa, đặc biệt là vấn đề an toàn thực phẩm mới có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực và giữ vững được khách hàng

- Đa số công nhân có trình độ thấp, khó tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật Lực lượng kỹ thuật và quản lý còn thiếu, một bộ phận chưa có kinh nghiệm thực tế nhiều Trong những năm tới, nguồn lao động khó đáp ứng được nhu cầu của ngành về chất lượng

- Một số nhà máy do tận dụng nguyên liệu không triệt để, trình độ kỹ thuật chế biến còn thấp làm cho giá thành cao so với một số nhà máy khác trong nước và các nước lân cận như Thái Lan, Inđônêxia

- Việc cạnh tranh thiếu tổ chức giữa các doanh nghiệp ở địa phương trong tiêu thụ dẫn đến giá cả bị hạ thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả của các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của tôm Sóc Trăng

2.2.2 Thị trường tiêu thụ tôm của tỉnh Sóc Trăng

2.2.2.1 Thị trường tiêu thụ trong nước

Ở Việt Nam, đối với mặt hàng tôm, cho đến nay sản lượng tiêu thụ nội địa còn rất thấp Riêng Sóc Trăng, sản lượng tôm tiêu thụ tại địa phương và các tỉnh, thành phố khác không đáng kể Năm 2002 doanh số tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệp Sóc Trăng không quá 3 tỉ đồng và phần lớn là tôm loại rất nhỏ và chất lượng không cao Nguyên nhân của vấn đề này là do thu nhập bình quân của người dân còn thấp và không quen dùng hàng đông lạnh Theo dự báo của một số doanh nghiệp thị trường nội địa trong những năm tới vẫn tiếp tục thấp, không đáng kể

Trang 24

2.2.2.2 Thị trường tiêu thụ tôm thế giới

Sóc Trăng là một trong những tỉnh xuất khẩu tôm mạnh của cả nước,

tình hình xuất khẩu tôm từ năm 1996 đến năm 2002 như sau (xem bảng 3)

Bảng 3 : Tình hình xuất khẩu tôm của Sóc Trăng

Chỉ Tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Sản phẩm chế biến

xuất khẩu (tấn)

Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm ở Sóc Trăng vừa qua khá thành công trong công tác thị trường, thị trường chính của tôm Sóc

Trăng là Mỹ, Nhật và Châu Âu ( xem bảng 4)

Trang 25

Bảng 4 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu tôm của Sóc Trăng

Mục 1999 2000 2001 2002 Thị trường xuất khẩu (%)

(Theo giá trị xuất khẩu)

Nguồn số liệu : Sở Thủy Sản Sóc Trăng

Trên thực tế tôm của Sóc Trăng đã được xuất sang nhiều nước, nhưng tập trung lớn nhất là ba khu vực : Nhật, Mỹ và EU, số còn lại chiếm tỷ trọng không đáng kể Điều này cho thấy thị trường tôm Sóc Trăng mang tính tập trung cao vào một số khách hàng thường xuyên, trong đó khách hàng lớn nhất là Nhật và Mỹ có tốc độ phát triển khá cao và nhu cầu này sẽ còn tăng nếu tình hình kinh tế phát triển tốt hoặc giá tôm hạ vì người dân những nước này rất ưa thích tôm Thị trường EU, từ năm 1998 đến

2001, mặc dù cơ cấu giảm từ 8,26% xuống 5,38% nhưng sản lượng tăng lên đáng kể từ 647 tấn năm 2000 tăng lên 914,6 tấn năm 2001 Tuy nhiên, năm

2001 EU áp dụng rào cản về dư lượng kháng sinh gây khó khăn cho tôm Việt Nam Do đó, năm 2002 giá trị và sản lượng xuất sang thị trường này giảm đáng kể Trong tương lai nếu vấn đề trên được giải quyết đây sẽ là một trong những thị trường quan trọng của Sóc Trăng Các thị trường khác như Canada, Úc, Hàn Quốc, Nga, Singapore hiện nay tiêu thụ tôm Sóc

Trang 26

Trăng còn ít nhưng sẽ là thị trường tiềm năng khi nguồn nguyên liệu dồi dào Đối với từng thị trường chính, có thể rút ra nhận xét như sau :

- Về thị trường Nhật : Đây là thị trường truyền thống và lớn nhất của

các doanh nghiệp Sóc Trăng kể từ khi tách tỉnh năm 1992 Từ 1992 đến

1999 phần lớn tôm sú và tôm thẻ, chì được xuất sang thị trường này Sản phẩm xuất sang thị trường này chủ yếu là tôm đông block, sơ chế, chủ yếu dùng làm nguyên liệu cho các nhà máy tại Nhật Tuy nhiên, do ảnh hưởng suy thoái kinh tế Nhật và Mỹ bắt đầu chuyển các đơn đặt hàng từ Thái Lan sang Việt Nam, năm 2000 mặt hàng này không thể cạnh tranh với thị trường Mỹ về giá Để giữ vững thị trường này các doanh nghiệp Sóc Trăng chuyển sang chế biến mặt hàng cao cấp như tôm duỗi, tôm tẩm bột Nhờ tận dụng nguồn nhân công rẻ và tay nghề cao, cung cấp cho thị trường Nhật Đi đầu trong lĩnh vực này là Fimex và Kim Anh và đã thu được nhiều lợi nhuận Thành công này một phần cũng nhờ trong tình trạng suy thoái kinh tế, sức mua ở Nhật kém, các nhà kinh doanh tôm ở Nhật muốn bỏ bớt những công đoạn tái chế tôm ở Nhật với chi phí nhân công cao để tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường Hiện nay, trong tổng lượng tôm các doanh nghiệp Sóc Trăng cung cấp cho thị trường này, khoảng 70% là hàng cao cấp Những mặt hàng này cung cấp cho các nhà hàng, siêu thị và được nấu chín trước khi dùng Các mặt hàng có giá cạnh tranh nhưng đòi hỏi rất cao về vi sinh, tính thẩm mỹ và kỹ thuật Trong xu hướng tới tỷ lệ mặt hàng cao cấp sẽ tăng lên Riêng sản phẩm chín ăn liền của thị trường này Sóc Trăng còn bỏ ngõ do điều kiện về vi sinh, thiết bị Uy tín của tôm Sóc Trăng đối với thị trường này ngày càng được nâng cao

- Về thị trường Mỹ: Đây cũng là thị trường lớn của tôm Sóc Trăng

và Việt Nam nói chung Năm 2002 Sóc Trăng xuất khẩu 44,53% giá trị sang thị trường này Tốc độ phát triển khá nhanh và tiềm năng còn rất lớn

Trang 27

Đây là thị trường có mức doanh lợi rất cao Thị trường này chủ yếu nhập khẩu tôm luộc chín và tôm dạng sống đông rời Trong đó tôm luộc chiếm khoản 40% và tôm lạnh đông rời khoảng 50%, còn lại là dạng khối Cho đến nay tôm Sóc Trăng sang thị trường này chủ yếu là tôm sú với các cở lớn và trung bình có giá trị cao Một đặc điểm của thị trường này là thích tôm có ngâm tẩm hóa chất tăng trọng Tuy nhiên, giá tôm thị trường Mỹ rất biến động và khó lường trước Kế đến, thị trường Mỹ yêu cầu chất lượng sản phẩm rất cao Các nhà máy cung cấp sản phẩm cho thị trường này phải thực hiện chương trình quản lý chất lượng HACCP và được khách hàng thừa nhận Sản phẩm phải được cơ quan FDA kiểm tra vi sinh và chấp nhận trước khi tiêu thụ ở nội địa Một số khách hàng lớn thường kiểm tra, đánh giá tình trạng vệ sinh của nhà máy trước khi mua hàng

Mức tập trung khá lớn vào thị trường này cũng tạo ra những áp lực khá lớn từ phía khách hàng trong quá trình đàm phán về giá và các mặt khác Thị trường Mỹ và Nhật đóng vai trò rất quan trọng trong quyết định giá cả đối với tôm Sóc Trăng và Việt Nam, đặc biệt là vào vụ thu hoạch chính của tôm sú Điều này làm cho con tôm của Sóc Trăng phụ thuộc khá nhiều vào thị trường này, có lúc bị ép giá Mặt khác hàng rào về kỹ thuật và hàng rào phi thuế quan khác luôn là mối đe dọa đối với mặt hàng tôm

Vì vậy Sóc Trăng phải có biện pháp hạn chế áp lực này của khách hàng

- Về thị trường EU: Đây cũng là nước nhập khẩu tôm khá quan trọng

của Sóc Trăng Năm 1999 cơ cấu thị trường này chiếm 8,26% Thị trường này tiêu thụ hầu như tất cả các loại tôm biển và tôm nước ngọt như tôm sú, thẻ, chì, sắt và tôm càng, chủ yếu dưới dạng tôm đông lạnh đông rời và đông khối Trong thực tế cho thấy rằng tôm xuất sang thị trường này phần lớn là tôm cở vừa và nhỏ, chất lượng về mặt cảm quan thấp hơn thị trường Nhật và Mỹ, giá tương đối ổn định và thấp hơn hai thị trường này Theo

Trang 28

đánh giá VASEP nhu cầu tôm thị trường này còn khá lớn và tốc độ phát triển thị trường này khá cao, nhưng đến năm 2001 EU áp dụng chế độ kiểm tra nghiêm ngặt dư lượng kháng sinh làm cho sản lượng vào thị trường này giảm đáng kể và cho đến nay chưa khôi phục Sắp tới cần có giải pháp khôi phục thị trường tiềm năng này

- Thị trường khác: Các thị trường khác của Sóc Trăng như Canada,

Úc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, nhưng với số lượng còn ít Các nước này nhập khẩu chủ yếu tôm loại vừa và nhỏ, dưới dạng block và đông rời Yêu cầu chất lượng không cao lắm và giá cả cạnh tranh yếu Thông thường các doanh nghiệp Sóc Trăng cung cấp tôm cho thị trường này vào mùa vụ chính, tôm sú có giá hạ Ngược lại, vào tháng trái vụ tôm ở mức giá cao nên không thể tiêu thụ tại thị trường này Một số công ty cũng đã thăm dò sang thị trường Nga và đây cũng là thị trường có nhu cầu tôm tương đối lớn Các thị trường này đang còn tiềm năng khá lớn và các doanh nghiệp đang hướng đến

2.3 Đánh giá chung

Thị trường tôm xuất khẩu tỉnh Sóc Trăng có một số thuận lợi như sau:

Một là, thị trường xuất khẩu tôm của tỉnh Sóc Trăng tăng trưởng khá

nhanh về sản lượng, giá trị và số lượng mặt hàng Chất lượng sản phẩm bước đầu có uy tín, chủng loại sản phẩm đa dạng, mẫu mã bao bì đạt yêu cầu của khách hàng Một số mặt hàng được đưa ra bán ở siêu thị, nhà hàng, không qua chế biến lại Bước đầu tạo dựng được uy tín của con tôm đối với một số khách hàng lớn ở Nhật, Mỹ và EU Khoảng cách chênh lệch giá tôm so với các nước trong vùng được rút ngắn

Hai là, việc phát triển thị trường xuất khẩu dựa trên những lợi thế

của tỉnh gắn với vùng nguyên liệu tỉnh nhà là chính và nguồn lao động dồi

Trang 29

dào của địa phương, tạo cơ sở phát triển bền vững ngành tôm của Sóc Trăng

Ba là, có chiến lược đầu tư đúng đắn và áp dụng dược những tiến bộ

khoa học công nghệ vào lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ làm tăng năng suất, chất lượng, giảm chi phí khai thác thị trường tiêu thụ Doanh nghiệp đã tạo được kênh tiêu thụ tương đối ổn định cho một số sản phẩm, giá cả và kế hoạch sản xuất ít biến động

Bốn là, thị trường tiềm năng còn rất lớn, đặc biệt là thị trường mặt

hàng cao cấp, các sản phẩm ăn nhanh Đây là thị trường rất hấp dẫn và có thể mang lại doanh lợi lớn cho doanh nghiệp Khá nhiều nhà nhập khẩu Mỹ, Nhật và EU đã quen thuộc với các doanh nghiệp ở Sóc Trăng Đây là kết quả có ý nghĩa lâu dài và là thuận lợi lớn cho việc mở rộng thị trường Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên, thị trường tôm xuất khẩu của tỉnh gặp phải một số khó khăn, đó là :

Thứ nhất, thị trường xuất khẩu phát triển nhanh nhưng nhìn chung

chưa giữ được thế chủ động trong khâu tiêu thụ, chưa đầu tư đúng mức cho khâu tiếp thị, chưa tạo được kênh phân phối ổn định, chưa có nhãn hiệu riêng của mình

Thứ hai, nguyên liệu tại Sóc Trăng phát triển khá nhanh trong những

năm qua nhưng chưa đáp ứng đủ yêu cầu chế biến của các nhà máy Đây sẽ là vấn đề lớn khi bùng nổ phong trào đầu tư xây dựng nhà máy tại các vùng khác và khi hệ thống giao thông giữa các nước trong khu vực thông suốt Chất lượng nguyên liệu chưa thật sự ổn định, bảo quản sau thu hoạch chưa được chú trọng ở các khâu ngoài xí nghiệp chế biến Giá nguyên liệu thường xuyên biến động do tranh mua giữa các nhà máy, gây ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm

Trang 30

Thứ ba, nguồn lao động dồi dào nhưng thiếu đội ngũ công nhân lành

nghề, cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý nên không đáp ứng đủ nhu cầu tăng lên quá nhanh của ngành, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả

Thứ tư, hiện nay nguồn vốn khá dồi dào nhưng vẫn chưa đáp ứng

nhu cầu cho sản xuất và kinh doanh, ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất và kinh doanh của ngành

Thứ năm, các doanh nghiệp chưa có sự liên kết, thiếu sự điều tiết

chung trong kinh doanh dẫn đến việc cạnh tranh vô tổ chức trong tiêu thụ và thu mua, làm giảm hiệu quả chung của các doanh nghiệp Sóc Trăng

Thứ sáu, thông tin cần thiết cho kinh doanh chưa đầy đủ, chính xác

và kịp thời, có lúc làm cho các doanh nghiệp lúng túng, khó quyết định kịp thời và đúng đắn

Thứ bảy, tình hình kinh tế, chính trị thế giới luôn biến động bất

thường, các rào cản thương mại được dựng lên ngày càng nhiều đang là những thách thức đối với các doanh nghiệp và nghề nuôi tôm

Ngày đăng: 09/01/2018, 07:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w