Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp, thương mại lớn nhất của cả nước, là đầu mối giao lưu buôn bán với các vùng trong nước và quốc tế.. Trong sản xuất công nghiệp, Thành p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THIỆN DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 1995 – 1999 là 7,52% (1), Việt nam được xếp vào nhóm những quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh trên thế giới Từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, năng suất lao động, thu nhập bình quân thấp phải nhập khẩu lương thực từ nước ngoài đã chuyển sang tự túc được lương thực và xuất khẩu (trong nhiều năm liền xuất khẩu gạo của Việt Nam được xếp vào vị trí thứ ba trên thế giới) Tuy nhiên, đến nay vẫn còn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu (hơn 75% dân số ở nông thôn và được xếp vào nhóm những quốc gia nghèo trên thế giới) Vì vậy, để đưa đất nước phát triển đi lên, không có con đường nào khác hơn là chúng ta phải thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta vì chỉ có phát triển công nghiệp chúng ta mới có thể đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như các nước khác trên thế giới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Chính vì thế công nghiệp là vấn đề đặt lên hàng đầu ở nước ta Phát triển công nghiệp trong thời gian tới như thế nào?
Trong giai đoạn 1995 – 1999, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước có chiều hướng đi xuống (năm 1995 tăng 14,5%, năm 1996 tăng 14,2%, năm 1997 tăng 13,8%, năm 1998 tăng 12,5%, năm 1999 tăng 10,4%) (2) Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp, thương mại lớn nhất của cả nước, là đầu mối giao lưu buôn bán với các vùng trong nước và quốc tế Trong sản xuất công nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ cấu các ngành nghề tương đối hoàn chỉnh, quy mô doanh nghiệp đa dạng, có vị trí quan trọng trong cơ cấu công nghiệp của cả nước (1), (2) Nguồn : Niên giám thống kê thành phố năm 1999
Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 29% công nghiệp của cả nước, nhưng năm 1999 tốc độ tăng trưởng công nghiệp chỉ đạt 10,2% Đề tài: “Các giải pháp để phát triển Doanh nghiệp Công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” mà tôi chọn là nhằm đề xuất một số giải pháp để khai thác tốt nhất năng lực của các doanh nghiệp công nghiệp trong những năm tới góp phần phát
Trang 3triển kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và phát triển kinh tế Việt nam nói chung
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
- Khẳng định được vai trò chủ đạo của công nghiệp trong xây dựng và phát triển kinh tế thành phố hiện nay
- Phân tích thực trạng quá trình hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp thành phố trong những năm qua, để từ đó quy hoạch lại mạng lưới phát triển công nghiệp cũng như đề xuất các giải pháp để phát triển doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
- Về không gian: Nghiên cứu các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp từ sau năm
1975 đến nay, chủ yếu trong giai đoạn 1996 – 1999
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
- Nghiên cứu làm rõ hơn về vai trò của hai loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, doanh nghiệp quy mô lớn
- Nghiên cứu kinh nghiệm của Đài Loan, Nhật Bản; đánh giá quá trình hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng như chính sách quản lý của nhà nước, từ đó tìm ra giải pháp cơ bản để phát triển các doanh nghiệp công nghiệp cho thành phố
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
- Sử dụng phương pháp lịch sử logic để khảo sát, đánh giá hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh trong các năm qua
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống, diễn giải, mô hình hóa… để làm rõ các luận điểm đề cập trong luận án
6 KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 3 chương:
Trang 4Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
Chương II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương III: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đây là đề tài khá rộng, nhưng với trình độ chuyên môn có giới hạn, hơn nữa thời gian nghiên cứu ngắn, luận án ắt hẳn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin trân trọng đón nhận và cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu, chân thành của quý thầy cô và các anh chị để luận án ngày càng được hoàn thiện
Trang 51.2 Phân loại doanh nghiệp:
Căn cứ theo những tiêu thức khác nhau mà người ta có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp được phân loại như sau: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…
- Theo tính chất ngành nghề hoạt động: có các loại doanh nghiệp như sau: doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp vận tải…
- Theo mục đích hoạt động: có doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận và doanh nghiệp không vì mục tiêu lợi nhuận ( phục vụ công ích )…
- Theo tư cách pháp nhân: người ta phân chia doanh nghiệp thành hai loại: doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
nghiệp quy môn lớn, doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ
Việc phân loại như trên chỉ mang tính khái quát tương đối vì trong thực tế có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tổng hợp, đa ngành hoặc có sự đan xen nhiều chủ sở hữu về tư liệu sản xuất Điều đó cho thấy tính chất cấp thiết của việc nghiên cứu cơ chế quản lý sao cho linh hoạt, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp và từng loại doanh nghiệp với các quy mô khác nhau
Trang 62 SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP:
2.1 Khái niệm:
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội Công nghiệp bao gồm ba hoạt động chủ yếu:
- Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy
- Sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp khai thác và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội
- Khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt
2.2 Doanh nghiệp công nghiệp:
2.2.1 Định nghĩa:
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp
2.2.2 Đặc điểm doanh nghiệp công nghiệp:
- Sản phẩm sản xuất: Qua quá trình xử lý các yếu tố đầu vào doanh nghiệp công nghiệp tạo ra những sản phẩm mới, sản phẩm này đáp ứng cho nhiều loại nhu cầu khác nhau của con người và còn phục vụ cho các ngành khác với tư cách là tư liệu lao động
- Không gian hoạt động doanh nghiệp công nghiệp: doanh nghiệp công nghiệp chỉ cần một không gian sản xuất tương đối hẹp
- Tính chất sản xuất: Khác với nông nghiêïp, phương thức tác động vào đối tượng lao động của doanh nghiệp công nghiệp là tác động trực tiếp để hình thành nên sản phẩm ở đầu ra và không phụ thuộc lớn vào thiên nhiên
- Vốn sản xuất: doanh nghiệp công nghiệp đòi hỏi phải có một nguồn vốn khá lớn
vì phần lớn tư liệu sản xuất công nghiệp có hàm lượng chất xám tích lũy trong nó cao và cũng phải trả lương cao hơn
- Lao động: Không như các ngành nghề khác doanh nghiệp công nghiệp đòi hỏi lao động trong ngành phải có trình độ và kỹ năng nhất định, đôi khi rất cao
Trang 73 Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân:
3.1 Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ:
3.1.1 Vai trò của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân:
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các nước trên thế giới cũng như ở Việt nam: từ việc chiếm ưu thế về số lượng đến đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động và sự công bằng của xã hội Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện ở các điểm sau:
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm của xã hội
Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển cho thấy tiềm năng
to lớn trong việc thu hút lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ Số lượng lớn các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chiếm khoảng 97-98% trong tổng số doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động công nghiệp (62% - 67%)
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nguồn tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu góp phần tăng tổng sản phẩm quốc dân
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển thêm nhiều ngành nghề mới, làm cho công nghiệp phát triển dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tốt hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
3.1.2 Những ưu điểm: Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ có những đặc điểm thể
hiện thành các ưu điểm sau:
- Trong doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, người ủy nhiệm (chủ sở hữu) và người tác nghiệp ( người quản lý điều hành), đại đa số chính là một người, nội bộ thống nhất Đây là đặc điểm giúp doanh nghiệp thống nhất mục tiêu hoạt động, là tiền đề cho sự phát triển doanh nghiệp tốt nhất
- Số lượng người lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ không lớn, ít hơn 200 người ( theo nội dung văn bản hướng dẫn tạm thời của chính phủ số 681/CP-KTN ngày 20/06/1998 ) Vấn đề này tạo cho doanh nghiệp có đặc điểm: tổ chức quản lý sản xuất gọn nhẹ, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao trong quản lý, tiết kiệm
Trang 8chi phí, sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và người lao động không lớn tạo sự hòa đồng, gắn bó tập thể trong làm việc Qua đó tạo khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần một số vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ tương đối là có thể tham gia kinh doanh, sản xuất, dịch vụ Vì vậy số lượng doanh nghiệp được thành lập ngày càng đông đảo, hoạt động trong nhiều ngành nghề kích thích sự cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng, tạo sự phát triển cân bằng giữa các vùng và góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động
- Hoạt động kinh doanh rất năng động và nhạy bén với thị trường, khi nhu cầu thị trường thay đổi hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn thì dễ dàng thích nghi tốt nhất với tình thế mới như: chuyển hướng sản xuất kinh doanh, giảm bớt số lượng lao động…
3.1.3 Những hạn chế:
Nguồn vốn kinh doanh hạn chế, đặc biệt vốn tự có không nhiều Điều này sẽ gặp khó khăn khi mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tư thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng sản phẩm Công nghệ sử dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ đại đa số rất lạc hậu Trong đó hai yếu tố cấu thành của công nghệ là: công nghệ phần cứng (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và công nghệ phần mềm (trình độ quản lý, trình độ chuyên môn người lao động, kinh nghiệm…) Thiếu thông tin về thị trường trong và ngoài nước cũng như tình hình hoạt động không ổn định Điều này gây ảnh hưởng, đôi lúc xáo trộn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
3.2 Doanh nghiệp quy mô lớn:
3.2.1 Vai trò của doanh nghiệp quy mô lớn trong nền kinh tế quốc dân:
Doanh nghiệp quy mô lớn đóng góp vào GDP và ngân sách: Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số các đơn vị sản xuất kinh doanh nhưng doanh nghiệp quy mô lớn mang đến cho xã hội một khối lượng hàng hóa dịch vụ khổng lồ, đóng góp vào tổng giá trị xuất khẩu với một khối lượng sản phẩm xuất khẩu khá lớn
Doanh nghiệp quy mô lớn góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nhanh hơn, là lực lượng dẫn đầu trong nghiên cứu và thực hiện cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật
Trang 93.2.2 Những ưu điểm:
Doanh nghiệp có được điều kiện tốt nhất để mở rộng khả năng sản xuất, công nghệ được đổi mới nhanh hơn, năng lực cạnh tranh mạnh hơn giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển
Hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, từ đó nâng cao ưu thế của doanh nghiệp Công nghệ sử dụng trong doanh nghiệp lớn tiến bộ hơn hẳn doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Doanh nghiệp quy mô lớn có nhiều điều kiện để mua thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư các thiết bị hiện đại… tạo ra những sản phẩm chất lượng cao
3.2.3 Những hạn chế:
Công việc điều hành, quản trị doanh nghiệp phức tạp từ khâu tổ chức sản xuất đến điều hành nhân sự, kênh phân phối do quy mô quá lớn Khả năng thích nghi với sự biến động khách quan thấp và hạn chế trong đáp ứng được những nhu cầu nhỏ, đặc thù hoặc ở những vùng rất ít nguồn nguyên liệu
3.3 Mối quan hệ hỗ trợ giữa doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với doanh nghiệp
quy mô lớn
Mặc dù những mâu thuẫn giữa doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với doanh nghiệp quy mô lớn, tuy nhiên giữa hai loại hình doanh nghiệp này còn có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau, doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận của dây chuyền sản xuất chung của những doanh nghiệp quy mô lớn Mối quan hệ hỗ trợ giữa doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề, nhất là ở các ngành công nghiệp sử dụng hình thức gia công lắp ráp Hai loại hình doanh nghiệp này phối hợp với nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, doanh nghiệp lớn cung cấp, hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo ra sản phẩm có chất lượng
Tóm lại, cả hai loại hình doanh nghiệp quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Vì vậy trong quá trình định hướng phát triển kinh tế không nên tập trung hay đề cao vai trò của loại hình doanh nghiệp nào, mà cần phải biết kết hợp một cách tốt nhất thì mới sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế quốc dân
Trang 10BIỂU 1: BẢNG TỔNG HỢP ƯU ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP QUY MÔ LỚN VÀ DOANH NGHIỆP QUY MÔ VỪA VÀ
NHỎ
NHỎ
1 Khả năng áp dụng công nghệ
mới và phát triển công nghệ Có ưu thế trong phát triển công nghệ, có tiềm lực
vật chất, tài chính và lao động
Có khả năng nếu trình độ chuyên môn hóa cao
2 Sử dụng vốn đầu tư:
3 Chi phí sản xuất
- Chi phí quản lý trên đơn vị sản
phẩm
4 Thị trường
- Khả năng chuyển hướng sản
xuất
5 Đáp ứng nhu cầu
6 Kết hợp kinh tế với quốc phòng Khó phân tán và bảo vệ
khi chiến tranh
Dễ phân tán và bảo vệ khi
chiến tranh
7 Môi trường
Trang 114 Một số kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp ở một số nước châu Á
4.1 Kinh nghiệm Nhật Bản
4.1.1 Chính sách đối với doanh nghiệp quy mô lớn:
Thay đổi mạnh mẽ về bản chất cũng như đặc điểm của các tập đoàn lớn đang kiểm soát nền công nghiệp và tài chính Nhật Bản với tuyên bố “Mục tiêu toàn diện là loại bỏ tình trạng tập trung” (tháng 5/1946) Nhật Bản tiến hành việc thanh lọc kinh tế, trẻ hóa ban quản lý công ty và ban hành luật chống độc quyền (tháng 7/1947), luật loại trừ tập trung quá mức sức mạnh kinh tế (tháng 12/1947)
Nhật Bản tập trung thay đổi chính sách thuế với biện pháp giảm mức thuế của công ty, thuế suất cơ bản giảm từ 47% năm 1958 giảm còn 38% vào tháng 3.1965 và 37% và tháng 12.1965 và thực hiện các giải pháp về thuế như: thu nhập được giảm thuế, các sản phẩm đặc biệt không phải đóng thuế… Điều chỉnh cơ cấu cấp vốn từ các ngân hàng dành cho các doanh nghiệp quy mô lớn Ngân hàng trung ương, thành phố xem xét cấp vốn với tỷ trọng cao cho các doanh nghiệp quy mô lớn, tháng 9.1950 chiếm 75,1% tổng mức vay dành cho doanh nghiệp quy mô lớn, đến tháng 3.1963 lại chiếm đến 77,8% Đối với ngân hàng địa phương thì tỷ trọng cấp vốn của các ngân hàng này ngày càng giảm dần đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và ngày càng tăng đối với doanh nghiệp quy mô lớn (từ 36,4% của tháng 9.1950 tăng 48,6% của tháng 9.1973)
4.1.2 Chính sách đối với doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ:
Nhật Bản xây dựng Bộ luật riêng cho doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ vào năm 1963 và bổ sung chỉnh lý qua từng thời kỳ, xúc tiến thành lập các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hỗ trợ toàn diện của cục doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ và liên đoàn các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thông qua việc nâng cấp và hiện đại hóa cơ cấu, đào tạo chuyên gia, cung cấp dịch vụ thông tin, cải tiến kỹ thuật Cung cấpï thông tin và tư vấn: thông qua 47 trung tâm hỗ trợ thông tin ở các quận huyện
Hỗ trợ về mặt tài chính của công ty tài chính nhân dân (PFC) thành lập vào năm 1949 phục vụ cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, công ty tài chính Nhật Bản cho
Trang 12doanh nghiệp vừa và nhỏ (JFC) thành lập vào năm 1953, hội bảo lãnh tín dụng do chính quyền đầu tư vấn đề bảo lãnh mà không cần thế chấp tài sản và công ty bảo hiểm tín dụng doanh nghiệp nhỏ
4.2 Kinh nghiệm Đài Loan:
Đối với Đài Loan, tôi chỉ chọn phân tích kinh nghiệm về loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ vì:
- Đài Loan là vương quốc của doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Sự tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan gắn liền sự phồn vinh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Tạo môi trường kinh doanh ổn định
Chính phủ Đài Loan khuyến khích dự trữ để hạn chế mức tăng giá bằng cách phát hành “Công trái tiết kiệm yêu nước” và “Công trái yêu nước”, đồng thời các ngân hàng tìm mọi cách thu hút tiền gửi Nhờ vậy Đài Loan vừa giảm nhẹ được áp lực lạm phát, vừa tăng tích lũy vốn để mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh
Với sự viện trợ của Mỹ đồng thời chính sách cải cách ruộng đất đã kích thích sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ có liên quan đến nông nghiệp… phát triển giúp nền kinh tế khôi phục, hạn chế lạm phát, vật giá ổn định tạo môi trường kinh doanh tốt cho doanh nghiệp
- Chính sách bảo hộ thị trường:
Đài Loan thực hện chế độ nghiêm ngặt về quản lý nhập khẩu từ năm 1950, hàng nhập khẩu được chia làm 4 loại: loại được phép nhập: là những mặt hàng cần thiết cho sản xuất, tiêu dùng; loại hạn chế nhập; loại đang tạm ngưng nhập và loại cấm nhập khẩu là những hàng hóa xa xỉ
Ngoài ra, Đài Loan áp dụng biện pháp thuế quan cao, dùng hệ thống nhiều tỷ giá hối đoái và các biện pháp phi thuế quan khác bảo hộ thị trường nội địa để giúp các cơ sở công nghiệp có điều kiện và thời gian để phát triển
- Chính sách tự do hóa mậu dịch và khuyến khích xuất khẩu:
Sau khi thị trường trong nước bão hòa, công nghiệp Đài Loan chuyển từ thay thế nhập khẩu sang đẩy mạnh xuất khẩu với việc khuyến khích phát triển ngoại thương, xâm nhập thị trường quốc tế Trong những năm đầu thập kỷ 60, Đài Loan áp
Trang 13dụng phương châm “Hy sinh thuế cao, đẩy mạnh kinh tế, bồi dưỡng nguồn thuế”, liên tục ban hành pháp lệnh “khuyến khích đầu tư”, “đầu tư của nước ngoài”, “hợp tác kỹ thuật”… Về ngoại thương, Đài Loan xây dựng trạm mậu dịch quốc tế với hơn
50 nước trên thế giới, tham gia triển lãm và hội chợ quốc tế, thường xuyên mời khách và nhà kinh doanh nước ngoài đến tham quan Đài Loan
- Chính sách riêng của nhà nước đối với doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ:
Năm 1950, chính phủ thành lập cơ quan chuyên trách về doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thuộc viện hành chính Sau đó năm 1954, thành lập tổ công tác chỉ đạo các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ của chính phủ, đến năm 1957 đổi tên thành sở chỉ đạo các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, đến năm 1958, chính phủ giải thể sở chỉ đạo và chuyển giao công tác này cho cục công nghiệp thuộc bộ kinh tế
Năm 1970, chính thức thành lập Bộ Kinh tế của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, chuyên trách và chỉ đạo sự phát triển của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Ngoài ra, để phục vụ và quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, Đài Loan đã thành lập: Ngân hàng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, Trung tâm phát triển tài chính công nghiệp, viện nghiên cứu công nghiệp kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu công nghiệp dệt…
4.3 Bài học kinh nghiệm:
Qua nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp ở hai nước Nhật Bản và Đài Loan cùng với chính sách của hai chính phủ này, tôi rút ra những bài học kinh nghiệm cho nền kinh tế Việt nam như sau:
Một là, tạo môi trường kinh doanh ổn định cho các doanh nghiệp Đây là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào Có chính sách bảo hộ những ngành công nghiệp còn non trẻ của đất nước đối với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan Tuy nhiên chính sách này chỉ nên thực hiện trong một thời gian ngắn, trong tương lai dài cần phải thực hiện chính sách hướng thị trường ra nước ngoài
Hai là, Chính phủ cần xúc tiến, khuyến khích, hỗ trợ thành lập những doanh nghiệp quy mô cực lớn trong những ngành nghề thích hợp, những ngành nghề có tính
Trang 14hiệu quả theo quy mô, đủ sức cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài Trong điều kiện nguồn lực về tài chính, con người, tài nguyên, kỹ thuật có giới hạn của đất nước, vấn đề phát triển có chọn lọc với các doanh nghiệp cực lớn sẽ là giải pháp tốt nhất để thực hiện công nghiệp hóa nhanh nhất, là yếu tố quan trọng trong quá trình đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển khác
Ba là, trong khi chú trọng đến loại hình doanh nghiệp quy mô lớn, chính phủ không nên quên tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Phát triển loại hình doanh nghiệp này chính là phương thức tốt nhất để huy động mọi nguồn lực trong xã hội, đảm bảo phần nào sự công bằng trong xã hội… Do vậy cần có chính sách, chương trình, kế họach hành động cụ thể để hỗ trợ, khuyến khích loại hình kinh tế này
Bốn là, trong điều kiện nguồn lực kinh tế còn hạn hẹp, vấn đề quan trọng nhất cần phải hạn chế tối đa tình trạng cạnh tranh quá mức, doanh nghiệp quy mô lớn nuốt chửng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Cần thiết phải nghiên cứu hình thành cơ cấu kinh tế nhiều tầng, thiết lập mối liên hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Có như thế sẽ phát huy tốt nhất những ưu điểm của từng loại hình, hạn chế sự lãng phí của cải của xã hội
Năm là, để nhằm khuyến khích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và từng loại hình doanh nghiệp nói riêng Chính phủ nên thực hiện việc giảm thuế đối với doanh nghiệp, lấy phương châm “Hy sinh thuế cao, đẩy mạnh kinh tế, bồi dưỡng nguồn thuế” Đưa các chính sách khuyến khích hỗ trợ vào luật, cùng với việc thành lập những trung tâm hỗ trợ, ngân hàng chuyên trách… sẽ làm cho người kinh doanh
an tâm hơn trong sản xuất kinh doanh từ đó sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 15CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1 ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội:
Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước chiếm 0,6% diện tích đất tự nhiên và khoảng 6,5% dân số; thành phố được xác định là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, thương mại, dịch vụ của khu vực và cả nước, là hạt nhân của địa bàn trọng điểm phía Nam (bao gồm Bình Dương, Đồng Nai, Bà rịa – Vũng tàu) Trong khu vực địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.093,7km2 (chiếm 16,6%) và theo thống kê năm 1999 dân số trung bình 5.064.000 người (chiếm khoảng 69,2%)
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, thương mại… của phía Nam với đặc điểm:
- Là nơi tập trung nhiều cơ sở văn hóa, y tế, giáo dục lớn trong cả nước, hệ thống các ngân hàng, các cơ sở thương mại, du lịch, khách sạn
- Là địa bàn tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn và đa dạng
- Có nguồn lao động dồi dào và chất lượng cao
- Có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối khá so với cả nước, với hệ thống giao thông: đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đường sắt… hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp điện năng, nước sinh hoạt vào loại tốt nhất so với cả nước
Trang 16BIỂU 2: ĐẶC TÍNH VÀ DÂN SỐ
4 Tỷ lệ tăng dân số
5 Lao động trên địa bàn TPHCM
- Nội trợ và chưa
có việc làm
Người 552.174 570.220 584.889 591.398 600.853
6 Số người được sắp xếp việc làm
- Việc làm tạm
25 năm giải phóng, đã có được những thành quả to lớn sau:
Kinh tế thành phố đã có sự thay đổi căn bản cả về lượng và chất: GDP tăng
5,5 lần trong đó Nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,6 lần, công nghiệp – xây dựng
Trang 17tăng 9,6 lần, các ngành dịch vụ tăng 4,4 lần, kinh tế quốc doanh tăng 5,4 lần và
ngoài quốc doanh tăng 3,7 lần Sự tăng trưởng kinh tế thành phố ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển kinh tế chung của cả nước Trong mối quan hệ đó thì kinh tế thành phố
luôn có tốc độ tăng cao hơn tốc độ chung của cả nước
BIỂU 3: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THÀNH PHỐ QUA CÁC GIAI ĐOẠN
Đơn vị tính: %
TPHCM 2,7 10,1 10,3 11,7
Nguồn: Cục Thống kê TPHCM
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực: cơ cấu ngành
chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ,
ngược lại các ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng lớn
BIỂU 4: TỶ TRỌNG CƠ CẤU KINH TẾ Ở CÁC NGÀNH
Nguồn: Cục Thống kê TPHCM
Vị trí thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố cũng có sự thay đổi Từ
năm 1988, thành phố bắt đầu có các dự án đầu tư nước ngoài, vị trí của thành phần
kinh tế có vốn nước ngoài tăng nhanh, đã đóng góp 1/3 tổng giá trị tăng lên của GDP
toàn thành phố và làm giảm tỷ trọng các thành phần kinh tế khác, cụ thể qua bảng
số liệu sau:
Trang 18BIỂU 5: TỶ TRỌNG CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
Đơn vị tính: %
Nguồn: Cục Thống kê TPHCM
Lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi, quan hệ kinh tế đối ngoại được mở
rộng, đời sống người dân được cải thiện, xã hội công bằng và văn minh hơn Sự
nghiệp văn hóa giáo dục y tế được tăng cường An ninh chính trị và trật tự xã hội
được giữ vững
Trong những năm qua, thành phố đã đạt mức tăng trưởng kinh tế khá cao
Tuy nhiên, so với yêu cầu của một trung tâm kinh tế quan trọng của cả nước, thành
phố cũng đang đứng trước những khó khăn và thách thức, đó là :
Tiềm lực kinh tế còn non yếu, hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghệ còn lạc hậu
- GDP bình quân đầu người: 1350USD là mức thấp so với nhiều nước
- Cơ sở hạ tầng và dịch vụ chưa đáp ứng, không đủ sức cho sự phát triển kinh tế
trong trương lai
- Thiết bị máy móc còn lạc hậu Về trình độ kỹ thuật chỉ có 1,4% tự động, 36%
bán tự động, 20,8% cơ khí, 28,6% bán cơ khí và 12,7% ở trình độ thủ công Về
trình độ công nghệ, chỉ có 14% tiên tiến, 50,5% trung bình và 35,5 lạc hậu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, hàng hóa, dịch vụ thiếu sức cạnh tranh
- Ở góc độ doanh nghiệp: hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp, số doanh nghiệp bị lỗ
hàng năm khá lớn, thường trên 20%
- Ở góc độ xã hội: tỷ lệ tích lũy từ 25% - 35%, tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách
từ 20% - 25%
- Sự cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ yếu, thể hiện giá còn cao và chất lượng sản
phẩm phổ biến là thấp Bên cạnh đó xuất hiện các hiện tượng hàng giả, hàng
gian cũng như tệ nạn buôn lậu
Trang 19Bên cạnh đó còn bọc lộ cơ chế quản lý kinh tế chưa hoàn thiện và sự chậm trễ trong cải cách hành chính là yếu tố cản trở quá trình phát triển Đội ngũ cán bộ quản lý và tay nghề người lao động chưa theo kịp với nhu cầu phát triển Ngoài ra, thành phố còn đứng trước những khó khăn về tệ nạn xã hội, tình hình dân nhập cư tăng ở mức báo động, tỷ lệ người lao động chưa có việc làm cao (trên 20%)
1.2 Vị trí công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh:
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước Sản xuất công nghiệp đã từng bước thay đổi Sau năm 1975, có rất nhiều nguyên nhân, chính yếu nhất vẫn là việc thực hiện cơ chế kinh tế tập trung bao cấp đã khiến cho kinh tế nói chung và công nghiệp thành phố nói riêng đi vào con đường trì trệ, kém phát triển Từ sau năm 1986, nhà nước đã thực hiện xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại sự phát triển khởi sắc về kinh tế cũng như về công nghiệp của thành phố
Sau 25 năm, giá trị sản xuất công nghiệp thành phố đã tăng gấp 9,8 lần Trong đó quốc doanh tăng 6,7 lần, ngoài quốc doanh tăng 11,8 lần, công nghiệp khai thác tăng 3,9 lần, công nghiệp chế biến 10,6 lần, công nghiệp điện, nước tăng 3,5 lần…(1)
Nhiều sản phẩm công nghiệp thành phố được người tiêu dùng cả nước bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng cả nước, như sữa hộp 72%, thuốc lá 58%, xà phòng 52%, vải lụa 51%, bia 41%… giá trị các mặt hàng công nghiệp đã chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu.(2)
Dân số chỉ chiếm 6,5% dân số của cả nước nhưng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm tỷ trọng 29,6% (số liệu đầu năm 1999) trong tổng trị giá sản xuất công nghiệp của cả nước Đến nay, thành phố đã hình thành hai khu chế xuất và 10 khu công nghiệp tập trung tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, góp phần tích cực cho sự tăng trưởng của công nghiệp thành phố
Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng đối với công nghiệp của cả nước Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Trang 20việc đề ra các giải pháp phát triển công nghiệp thành phố sẽ là đầu tàu thúc đẩy các vùng khác phát triển theo
2 Hiện trạng phát triển các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua
2.1 Tình hình kinh tế thành phố trước năm 1975:
Theo thống kê năm 1973 – 1974 của chính quyền Sài Gòn, thành phố lúc đó có hơn 8000 cơ sở sản xuất công nghiệp bao gồm: 6.500 cơ sở dưới 10 công nhân, 1.500 cơ sở có 10 – 100 công nhân và 350 cơ sở có từ 100 – 1000 công nhân, trong đó có những nhãn hiệu nổi tiếng như thuốc là Basto, kem
(1), (2) Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh – “ 25 năm thành phố Hồ Chí Minh” đánh răng Hynos, nước ngọt Chương Dương, Pin con O,Ù Thiên hương….Có thể nói tiềm năng kinh tế của thành phố trước năm 1975 chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.2 Tình hình kinh tế thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến nay:
2.2.1 Giai đoạn 1975 - 1986: Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa nhằm xác lập hai loại hình
sở hữu về tư liệu sản xuất là toàn dân và tập thể Quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, trực tiếp và hành chánh bao cấp
Giai đoạn này nhằm chấm dứt quan hệ sản xuất cũ – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và xác lập các quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Quan điểm của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ này cho rằng việc hình thành các đơn vị kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể có quy mô lớn là nhân tố quyết định thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa Điều này biểu hiện trong nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976
Các đợt cải tạo này đã ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: sản xuất bị sa sút, tư liệu sản xuất sử dụng kém hiệu quả, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn, giá cả tăng bình quân 15%/tháng, chỉ tiêu tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thành phố đều giảm dần qua các năm (tốc độ giảm bình quân về tổng sản phẩm xã hội là 2,9%/năm, tốc độ giảm bình quân về thu nhập quốc dân là 1,6%/năm)
Trang 21Bắt đầu từ năm 1980, nước ta đã bước đầu nhìn nhận sự bất hợp lý của quy mô quá lớn trong nền kinh tế Vì vậy, nhà nước đã chủ trương khuyến khích thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới dạng các hợp tác xã, tổ hợp cá thể… để phát triển tiểu thủ công nghiệp nhằm tăng cường sản xuất các mặt hàng tiêu dùng cần thiết cho xã hội
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ V đã xác định 5 thành phần kinh tế, nhưng thực tế chưa có điều kiện để các thành phần kinh tế nhà nước phát triển Vì thế đã phát sinh các hiện tượng mượn danh nghĩa hoặc núp bóng doanh nghiệp nhà nước để hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Nhất là hình thức hợp doanh ở các quận huyện, loại hình này có mức giá trị sản lượng công nghiệp chiếm đến 70% tiểu thủ công nghiệp ở một số quận huyện Kết quả năm 1985, tổng sản phẩm xã hội kinh tế quốc doanh tăng 104%, giá trị sản lượng công nghiệp khu vực kinh tế nhà nước tăng 104,2%, chiếm 58,57% trong cơ cấu giá trị sản lượng công nghiệp cả nước
Giữa lúc đang nỗ lực xây dựng và củng cố các đơn vị kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo và nắm giữ những vị trí then chốt đối với nền kinh tế thì các chính sách đòn bẩy kinh tế mà chủ yếu là chính sách giá – luơng - tiền đã đưa nền kinh tế
đi vào khủng hoảng với mức độ lạm phát cao (lạm phát từ tháng 9.1985 đến 13.06.1986 là 478,2% và kéo dài đến năm 1989 với tỷ lệ lạm phát bình quân là 800%/năm)
Tuy nhiên trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều khó khăn là do kinh tế vẫn dựa trên cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp là chủ yếu Chủ trương sắp xếp lại sản xuất và cơ cấu đầu tư không được thực hiện đầy đủ, chủ yếu là nông nghiệp không được coi trọng đúng mức, công nghiệp nhẹ, công nghiệp hàng tiêu dùng còn bị xem nhẹ, công nghiệp nặng chưa phục vụ kịp thời cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
2.2.2 Giai đoạn 1986 - 1995: thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực thực
phẩm – hàng tiêu dùng – hàng xuất khẩu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã phân tích một cách sâu sắc những sai lầm trong chính sách cơ cấu, tổ chức sản xuất, cơ chế quản lý và đề ra chủ trương
Trang 22đổi mới toàn diện trong đó đổi mới quản lý kinh tế làm trọng tâm Cơ cấu phải chuyển dịch theo hướng ưu tiên phát triển nông nghiệp và một số ngành công nghiệp nặng cần thiết Điều này đã đem lại những kết quả rõ rệt trong phát triển kinh tế của thành phố giai đoạn 1986 – 1990:
- Tổng sản phẩm xã hội: Thành phần kinh tế quốc doanh tăng bình quân hàng năm là 7,2%, thành phần kinh tế tập thể giảm bình quân hàng năm là 6,9%, kinh tế cá thể tăng bình quân hàng năm là 16,38%
- Thu nhập quốc dân: tốc độ tăng thu nhập quốc dân tại thành phố trong giai đoạn này bình quân là 4,6%/năm (so với cả nước tăng bình quân hàng năm là 3,9%) Nếu xét theo góc độ thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nước tăng bình quân hàng năm là 4,8%, kinh tế tập thể gần như không tăng, kinh tế cá thể tăng trên 15%
- Giá trị sản lượng công nghiệp thành phố tăng bình quân hàng năm là 6,5%, như vậy là có sự giảm sút lớn chủ yếu là sau năm 1985 khi bắt đầu thực hiện chính sách giá – lương – tiền Đến năm 1986, thực hiện đổi mới quản lý kinh tế nên tăng trên 10% trong ba năm (1986 – 1987 – 1988) Đến năm 1989, do tình hình biến động ở Liên Xô và Đông Âu, nguyên vật liệu, thiết bị, viện trợ bị cắt đột ngột nên dã ảnh hưởng đến sản xuất, do vậy sản lượng sút giảm còn 2,16%
- Về cơ cấu giá trị sản lượng: công nghiệp khu vực kinh tế nhà nước năm 1986 chiếm tỷ trọng 59,36%, đến năm 1990 là 61,83% tăng 2,47%; công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh năm 1986 chiếm tỷ trọng 40,64%, đến năm 1990 là 38,17% giảm 2,47%; mức độ giảm này tập trung vào năm 1990 là do khủng hoảng kinh tế của cả nước và thành phố, nhà nước chỉ tập trung hỗ trợ vốn, nguyện vật liệu… cho khu vực kinh tế nhà nước Điều này cho thấy chưa đảm bảo được tính bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong chính sách của Đảng
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI, quan điểm đổi mới kinh tế đã được hình thành và khẳng định nền kinh tế nhiều thành phẩn ở nước ta có ý nghĩa chiến lược lâu dài Chủ trương đổi mới chính sách kinh tế đã được thể chế hóa bằng các luật của Quốc hội, các Nghị định của nhà nước và Chính phủ như: năm 1988 Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ban hành các nghị định số 27, 28, 29 quy định các chính sách đối với cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế tập thể và kinh tế gia đình; Quốc hội
Trang 23ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987, luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty năm 1990 Theo đó, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân, công ty tránh nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được hình thành và hoạt động tại Việt nam Việc thực hiện các chỉ tiêu giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn thành phố :
- Tốc độ phát triển giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn thành phố giai đoạn
1991 – 1995 (theo giá cố định 1989) tăng bình quân 17,4%/năm hơn gần gấp ba lần
so với giai đoạn 1986 – 1990 là 6,5% Riêng năm 1995, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố tăng 18,2%, trong đó công nghiệp khu vực kinh tế quốc doanh 11,3%, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 16,9% và liên doanh đầu tư nước ngoài tăng 64% Với tốc độ tăng như thế đã phản ánh được hiệu quả đổi mới về kinh tế của Đảng và nhà nước đối với thành phố công nghiệp trong giai đoạn 1991 – 1995
- Cơ cấu giá trị tổng sản lượng công nghiệp trên địa bàn thành phố giai đoạn 1991 – 1995: Tuy công nghiệp kinh tế quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng trên 60% nhưng chủ yếu là do công nghiệp trung ương với quy mô lớn lại được ưu đãi về vốn vay cũng như đầu tư đổi mới thiết bị nên sản lượng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao Còn công nghiệp kinh tế quốc doanh của địa phương kể từ khi xóa bao cấp không còn được đầu tư ngân sách, chủ yếu chỉ còn vốn vay lưu động của ngân hàng nên tốc độ phát triển và tỷ trọng trong cơ cấu công nghiệp của thành phố ngày càng giảm so với quốc doanh trung ương và kinh tế ngoài quốc doanh trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp
BIỂU 6: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (THEO GIÁ CỐ ĐỊNH 1989)
Đơn vị tính: tỷ đồng, %
1 Tổng số
- Kinh tế quốc doanh
- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
2 Cơ cấu giá trị
- Kinh tế quốc doanh
4602,0 3236,8 1365,28
100 70,0
5839,2 3795,0 1554.31 479,9 100 65
6852,3 4392,7 1908,2 551,4 100 64
8180,8 5169,7 2264,2 749,1
100
63
9629,357 5757,3 2648,9 1223,1 100 60
Trang 24- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
3 Tốc độ phát triển
- Kinh tế quốc doanh
- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
30,0
117 117 116
27 08 116,4 117,2 114,6
28 08 117,5 115,7 121,9 114,9
28
09 117,9 117,6 118,6 135,3
28 12 118,2 111,3 116,9 164.0Nguồn : Cục thống kê TP.HCM
2.2.3 Giai đoạn 1996 - 1999:
2.2.3.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GDP):
Giai đoạn 1996 – 1999 có ý nghĩa quan trọng đối với thành phố, không chỉ
vì là giai đoạn chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới mà còn là giai đoạn có nhiều khó khăn với tình hình thời tiết không thuận lợi, cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á… đã gây nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động sản xuất, đầu tư nước ngoài, giải quyết việc làm… song kinh tế của thành phố vẫn tiếp tục xu hướng tăng trưởng với giá trị tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn thành phố năm 1999 là 70.208 tỷ đồng – tăng gần gấp hai lần so với năm 1995 Sự tăng trưởng này đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng GDP chung của cả nước
Trang 25BIỂU 7 : TỔNG SẢN PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ (TÍNH THEO GIÁ THỰC
I.THEO THÀNH PHẦN VÀ KHU VỰC
1 KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
- Kinh tế quốc doanh
+ Trung ương
+ Địa phương
- Kinh tế ngoài quốc doanh
2 CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
II THEO NGÀNH
- Công nghiệp và xây dựng
- Nông, lâm, thủy sản
- Các ngành dịch vụ
B CƠ CẤU GDP:
TỔNG SỐ:
I.THEO THÀNH PHẦN VÀ KHU VỰC
1 KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
- Kinh tế quốc doanh
+ Trung ương
+ Địa phương
- Kinh tế ngoài quốc doanh
2 CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
II THEO NGÀNH
- Công nghiệp và xây dựng
- Nông, lâm, thủy sản
- Các ngành dịch vụ
47.243
40.943 22.581 13.817 8.764 18.362 6.300
19.994 1.163 26.086 100
86,7 47,8 29,3 18,5 38,9 13,3
42,3 2,5 55,2
55.140
46.887 25.946 15.810 10.103 20.941 8.253
22.844 1.332 30.964 100
85,0 47,1 28,7 18,4 38,0 15,0
41,4 2,4 56,2
63.577
52.918 29.288 18.251 11.037 22.630 10.639
26.822 1.386 35.349
100
83,3 46,1 28,7 17,4 37,2 16,7
42,2 2,2 55,6
70.208
57.482 31.837 19.388 12.449 25.645 12.726
31.152 1.536 37.520 100
81,9 45,4 27,6 17,8 36,5 18,1
44,4 2,2 53,4Nguồn : Cục thống kê TP.HCM
Trang 26Cơ cấu kinh tế của thành phố đang có xu hướng chuyển dịch từ cơ cấu dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp Hiện nay, mặc dù các ngành dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng giá trị GDP của thành phố nhưng ưu thế về tốc độ tăng về tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng qua các năm vẫn cao hơn ngành dịch vụ
2.2.3.2 Chỉ tiêu giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn thành phố:
BIỂU 8: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (THEO GIÁ CỐ ĐỊNH 1994)
- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
2 Cơ cấu giá trị
- Kinh tế quốc doanh
+ Trung ương
+ Địa phương
- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
3 Tốc độ phát triển
- Kinh tế quốc doanh
+ Trung ương
+ Địa phương
- Ngoài quốc doanh
- Đầu tư nước ngoài
34.71919.13814.3674.7718.8336.74810055,1241,3813,7425,4419,44117,7111,3112,2108,6115,6144,6
39.41020.30615.1035.2039.5969.50810051,5238,3213,2024,3524,13113,5106,1105,1109,1108,6140,9
44.327 22.382 17.163 5.219 10.339 11.606
100 50,49 38,72 11,77 23,32 26,18 112,5 110,2 113,6 100,3 107,7 122,1
48.866 24.260 18.665 5.595 11.502 13.104
100 49,65 38,20 11,45 23,54 26,82 110,2 108,4 108,7 107,2 111,3 112,9 Nguồn : Cục thống kê TP.HCM Trong giai đoạn 1996 – 1999, tốc độ phát triển giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn thành phố có chiều hướng giảm , mức giảm bình quân hàng năm là
Trang 271,1% Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố trong giai đoạn này vẫn chiếm 26,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đồng thời đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị phục vụ nhu cầu xuất khẩu Bên cạnh đó, thành phố cũng là địa phương đi đầu trong việc hình thành các khu công nghiệp, hiện đã có 10 khu công nghiệp tập trung được cấp giấy phép hoạt động, trong đó có 8 khu đã thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước góp phần tích cực cho sự tăng trưởng ổn định của công nghiệp thành phố
Tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố giai đoạn 1996 – 1999 ở khu vực kinh tế quốc doanh ngày càng giảm từ 60% của năm 1995 đến năm 1999 chỉ còn 49,65% Trong khi đó, tỷ trọng của cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp ở khu vực đầu tư nước ngoài ngày càng có chiều hướng tăng, từ 15,80% của năm 1995 tăng lên 23,54% vào năm 1999 Hiện nay, thế mạnh công nghiệp của thành phố tập trung vào ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, một số mặt hàng điện tử và cơ khí chế tạo máy
2.2.3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp trong nước : được tính theo chỉ tiêu giá trị sản xuất, chỉ tiêu lợi nhuận và thue.á
Dựa vào bảng phân tích ở biểu 9, ta thấy các doanh nghiệp quy mô lớn có tỷ trọng chiếm phần lớn trên 90% trong kết quả sản xuất của toàn bộ doanh nghiệp công nghiệp, còn lại các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiếm 8,52% giá trị sản xuất và 5,24% lợi nhuận
BIỂU 9: MỘT SỐ CHỈ TIÊU KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ NĂM 1997
nhỏ
Toàn bộ