1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp thành phố hồ chí minh

58 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 856,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc tập trung các nhà máy thành từng cụm theo qui hoạch chung là điều cần thiết, đây cũng là vấn đề đặt ra đối với Ban ngành, làm thế nào để các doanh nghiệp tập trung về một đầu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÂM BÍCH NGỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2002

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ

VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở

VIỆT NAM 1.1/ CÁC KHÁI NIỆM 1

1.1.1 Khu công nghiệp 1

1.1.2 Khu chế xuất 2

1.1.3 Khu công nghệ cao 4

1.1.4 Khu kinh tế tự do 4

1.1.5 Khu mậu dịch tự do 4

1.1.6 Đặc khu kinh tế 4

1.2/ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN _ KCX Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á 6

1.2.1 Các Khu công nghiệp Thái lan 6

1.2.2 Các Khu công nghiệp_Khu chế xuất Đài Loan .9

1.2.3 Các Khu công nghiệp Malaisia 12

1.2.4 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào KCN ở các nước châu Aù cho việt nam 14 1.3/ VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC PHÁT

TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM .15

1.3.1 Tạo công ăn việc làm cho người lao động 15

1.3.2 Các khu công nghiệp tạo sự tác động trở lại đối với sự phát triển trong nước 16

1.3.3 Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu 16

1.3.4 Khu công nghiệp là công cụ quan trọng để thu hút vốn đầu tư 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TP.HCM TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY 19

2.1/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 19

2.1.1 Tình hình chung về phát triển Khu công nghiệp cả nước 19

2.1.2 Đặc điểm chung của TP.HCM .22

Trang 3

2.2/ THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CỦA CÁC KHU CÔNG

NGHIỆP TP.HCM TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY 24

2.2.1 Phân tích tình hình triển khai và xây dựng cơ sở hạ tầng 24

2.2.2 Phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư _tình hình cấp giấy phép đầu tư .26

2.2.2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài 26

2.2.2.1.1 Tình hình chung 26

2.2.2.1.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở từng KCN 28 2.2.2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước 29

2.2.2.2.1 Tình hình chung 29

2.2.2.2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước ở từng KCN 29 2.2.3 Phân tích tình hình cho thuê đất 30

2.2.4 Phân tích giá thuê đất 31

2.2.5 Kim ngạch xuất khẩu 33

2.2.6 Doanh thu đạt được qua các năm .33

2.2.7 Các hình thức đầu tư vào KCN TP.HCM 34

2.2.8 Các ngành nghề được thu hút đầu tư vào KCN TP.HCM 34

2.2.9 Tình hình thu hút lao động tại các KCN TP.HCM .37

2.3/ CÁC CHÍNH SÁCH ĐIỀU PHỐI HOẠT ĐỘNG KCN 39

2.4/ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KCN TP.HCM 40

2.4.1 Các chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chưa có đủ vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm để xây dựng hoàn chỉnh cùng một lúc 10 KCN 41

2.4.2 Việc qui định ngành nghề đầu tư tại các KCN chưa hợp lý 42

2.4.3 Lực lương lao động làm việc tại các KCN chưa an tâm công tác 43

2.4.4 Nhà nước chưa thực hiện đồng bộ các công trình bên ngoài rào KCN 44

2.4.5 Nhà nước chưa có những biện pháp hữu hiệu để di dời các cơ sở sản xuất trong nội thành ra các KCN 44

2.4.6 Cơ sở pháp lý chưa rõ ràng và đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư .45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3 : CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TP.HCM. 47

Trang 4

3.1/ QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU ĐỀ RA GIẢI PHÁP 47

3.1.1/ Mục tiêu 47

3.1.2/ Quan điểm 47

3.2/ CÁC GIẢI PHÁP 48

3.2.1/ Giải pháp 1: Hợp nhất các công ty phát triển hạ tầng thành Tổng công ty phát triển hạ tầng 48

3.2.1.1/ Mục tiêu đề ra giải pháp 48

3.2.1.2/ Nội dung giải pháp 48

3.2.1.3/ Hiệu quả của giải pháp mang lại 50

3.2.2/ Giải pháp 2: Phân nhóm ngành nghề đầu tư cho các khu công nghiệp………50

3.2.2.1/ Mục tiêu đề ra giải pháp 50

3.2.2.2/ Nội dung giải pháp 51

3.2.2.3/ Hiệu quả của giải pháp mang lại 51

3.2.3/ Giải pháp 3: Xây dựng nhà trong khu vực lân cận khu công nghiệp 52

3.2.3.1/ Mục tiêu đề ra giải pháp 52

3.2.3.2/ Nội dung giải pháp 52

3.2.3.3/ Hiệu quả của giải pháp mang lại 53

3.2.4/ Giải pháp 4: Chính quyền Thành Phố cần sớm có chủ trương xây dựng và hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng

bên ngoài hàng rào KCN53

3.2.4.1/ Mục tiêu đề ra giải pháp 53

3.2.4.2/ Nội dung giải pháp 53

3.2.4.3/ Hiệu quả của giải pháp mang lại 53

3.3/ KIẾN NGHỊ 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 55

KẾT LUẬN CHUNG .56

PHỤ LỤC .57

LỜI MỞ ĐẦU *******

Trang 5

1/ Sự cần thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới, Việt Nam đã đón nhận đầu tư nước ngoài của nhiều quốc gia trên thế giới, tiếp nhận đầu tư nước ngoài dưới dạng thành lập mới hoặc mở rộng qui mô các Xí nghiệp là điều cần thiết, vì nó tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tiêu thụ được nguồn nguyên vật liệu trong nước, tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới Song các nhà máy mọc tràn lan không theo một qui hoạch chung sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, do các chất thải công nghiệp Do đó việc tập trung các nhà máy thành từng cụm theo qui hoạch chung là điều cần thiết, đây cũng là vấn đề đặt ra đối với Ban ngành, làm thế nào để các doanh nghiệp tập trung về một đầu mối, vưà phù hợp với qui hoạch đô thị vừa phát triển được kinh tế của địa phương và đất nước Tuy nhiên việc khai thác cơ sở hạ tầng và xây dựng các nhà máy tại các Khu công nghiệp để thu hút đầu tư nước ngoài là việc làm còn mới mẽ, các đơn vị khai thác hạ tầng vừa làm vừa rút kinh nghiệm Vì những lý do trên nội dung

“ Thực trạng và các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ’’ được chọn làm đề tài nghiên cưú của luận án

2/ Mục tiêu của đề tài

Đề tài tập trung vào phân tích, đánh giá tình hình thu hút vốn đầu trong và ngoài nước vào Khu công nghiệp TP.HCM, nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp TP.HCM Từ đó đề xuất các giải pháp thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp

3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về Khu công nghiệp Việt Nam và một số Khu công nghiệp ở các nước Châu Á, luận án sẽ tập trung vào phân tích thực trạng hoạt động của các Khu công nghiệp TP.HCM

4/ Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu trong luận án chủ yếu là phép duy vật biện chứng có kết hợp với việc thống kê, so sánh, đối chiếu để phân tích và tổng hợp dựa trên các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Nguồn số liệu chủ yếu được thu thập từ báo cáo tổng kết qua các năm từ 1996 đến tháng 12/2001 của Ban quản lý KCX_KCN TP.HCM, các Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Kinh tế & phát triển, Phát triển kinh tế, Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, Nghiên cứu kinh tế quốc tế và các văn bản của nhà nước có liên quan đến hoạt động của Khu công nghiệp _ Khu chế xuất

5/ Bố cục đề tài

Trang 6

Luận án bao gồm 59 trang, trong đó có 12 biểu bảng Ngoài phần mở đầu,

mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3

chương như sau :

Chương I : Những vấn đề cơ bản về Khu công nghiệp và vai trò

của nó đối với công cuộc phát triển kinh tế ở Việt Nam Những bài học

kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào KCN-KCX của

các nước ở Châu Á

Chương II : Thực trạng hoạt động của các Khu công nghiệp TP.HCM

Trong chương này tác giả sẽ tập trung vào việc phân tích đánh giá tình hình

khai thác cơ sở hạ tầng, tình hình thu hut vốn đầu tư trong và ngoài nước,

tình hình cấp giấy phép đầu tư, tình hình cho thuê đất_ giá thuê đất, tình

hình thu hút lao động, doanh thu đạt được qua các năm,kim ngạch xuất

khẩu, cơ cấu ngành nghề đầu tư vào Khu công nghiệp, tình hình thu hút vốn

theo quốc gia

Chương III : Từ thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp, những tồng

tại chưa tháo gỡ được, tác giả sẽ đề ra các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu

tư nước ngoài vào Khu công nghiệp TP HCM

Trang 7

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG

CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

1.1/ CÁC KHÁI NIỆM

Ngay từ đầu thập kỷ 90, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy rằng việc bỏ vốn vào các Khu công nghiệp có sẵn cơ sở hạ tầng thường có hiệu quả hơn nhiều so với đầu tư ở những vùng đất mới, do mất nhiều thời gian cũng như tiền bạc cho việc giải phóng mặt bằng và các thủ tục hành chánh nhiêu khê Từ đó gây nên ý tưởng khát vọng thu hút đầu tư nước ngoài của các địa phương đã tạo nên làng sóng phát triển các Khu công nghiệp

Tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội, vị trí địa lý cũng như chính sách kinh tế của từng quốc gia, từng khu vực mà chính phủ các nước sẽ chọn mô hình kinh tế thích hợp cho quốc gia mình

Ở nước ta mô hình Khu công nghiệp- Khu chế xuất được đưa vào nghiên cứu đầu tiên từ năm 1989, qua các tài liệu thu thập được cũng như khảo sát thực tế tại một số nước và khu vực như : Đài Loan, Thái Lan tháng 9 năm 1991 Khu chế xuất Tân Thuận đầu tiên được thành lập tại TP.HCM với diện tích 300 ha đánh dấu bước ngoặc quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển Khu công nghiệp - Khu chế xuất ở Việt Nam Để hiểu thêm vấn đề này, dưới đây tôi xin nêu những khái niệm cơ bản về Khu công nghiệp- Khu chế xuất- Khu công nghệ cao- Khu vực kinh tế tự do

1.1.1/ Khu công nghiệp / Industrial Processing Zone

Ngày 28 tháng 12 năm 1994 Chính phủ ra Nghị Định 192/CP về việc Ban hành qui chế Khu công nghiệp, theo Nghị Định này Khu công nghiệp được định nghĩa như sau :

“ Là Khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hổ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống

Trong Khu công nghiệp có các loại doanh nghiệp sau đây:

- Doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế

- Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Trong Khu công nghiệp có thể có Khu chế xuất, xí nghiệp chế xuất “

Trong Khu công nghiệp, các nhà đầu tư được đầu tư vào các lãnh vực sau:

Xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng

Trang 8

- Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trường trong nước

- Thực hiện dịch vụ hổ trợ sản xuất công nghiệp

Ngày 24 tháng 4 năm 1997 Chính phủ ban hành Nghị Định 36_CP về Qui chế Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, theo qui chế này Khu công nghiệp được định nghĩa như sau :

“ Là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong Khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất, các doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp tuân theo những qui định riêng khác với các doanh nghiệp nằm ngoài khu công nghiệp.”

1.1.2/ Khu chế xuất / Export Processing Zone

Ngày 18 tháng 10 năm 1991 Hội dồng Bộ trương nay là chính phủ Ban hành Qui chế Khu chế xuất tại Việt Nam kèm theo Nghị Định 322 HĐBT, theo Qui chế này khu chế xuất được định nghĩa như sau:

“ Khu chế xuất là Khu công nghiệp tập trung chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo qui chế này

Khu chế xuất do chính phủ việt Nam thành lập ở những địa bàn có vị trí thuận lợi cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu, có ranh giới địa lý được ấn định theo quyết định thành lập

* Trong khu chế xuất các nhà đầu tư được hoạt động trong các lãnh vực :

- Sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm xuất khẩu

- Kinh doanh các dịch vụ cho các hoạt động nói trên và cho xuất khẩu

Đối tượng được đầu tư vào khu chế xuất bao gồm :

• Các tổ chức kinh tế và cá nhân Việt Nam ở nước ngoài

• Người Việt Nam định cư nước ngoài ( bao gồm các cá nhân và tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân )

• Các tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế “

Theo Nghị Định 36/CP ngày 24/04/1997 thì khu chế xuất được định nghĩa như sau :

Trang 9

“ Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.”

Theo Hiệp hội khu chế xuất Thế giới ( World Export Processing Zone Association viết tắt là WEPZA ) thì khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ cho phép như : cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu miễn thuế quan, khu công nghiệp tự do, khu ngoại thương tự do… hoặc bất kỳ các loại khu xuất khẩu tự do nào

Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc ( United Nations Industry Development Organization viết tắt là UNIDO ) theo tài liệu công bố tháng 8/1940 : khu chế xuất là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặt biệt so với phần còn lại của nước chủ nhà

Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển : Khu cế xuất là vùng cách biệt giữa một lãnh thổ quốc gia, được qui hoạch riêng, thường gần hải cảng, sân bay Các thiết bị tài sản được nhập vào cũng như hànghóa xuất

đi từ khu vực này không phải chịu thuế hải quan, trừ những sản phẩm_

thành phẩm tái chế nhập hay xuất khẩu vào ngay lãnh thổ quốc gia được bảo vệ của nhà nước

1.1.3/ Khu công nghệ cao / High_Tech Industrial Zone

Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu _ triển khai khoa học _ công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

1.1.4/ Khu vực kinh tế tự do ( Free Economic Zone : FEZ )

Khu vực kinh tế tự do thường không có diện tích lớn, nhưng các loại hình kinh tế ở đây rất phong phú và đa dạng Bên cạnh công nghiệp chế tạo, còn có các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, vận tải loại hình này đã được Trung Quốc áp dụng để thử nghiệm mô hình kinh tế thị trường mở tại quốc gia mình

Khác với Khu công nghiệp- Khu chế xuất là những khu vực không có

dư cư sinh sống, còn Khu vực kinh tế tự do có diện tích lên đến hàng trăm Km2 với hàng triệu dân cư sinh sống, tức là ngang với qui mô của một tỉnh

1.1.5/ Khu vực mậu dịch tự do ( Free Trade Zone : FTZ )

Trang 10

Loại hình này thường áp dụng cho các tỉnh có diện tích tương đối nhỏ, nhưng có vị trí địa lý đặc biệt Trước đây Khu vực mậu dịch tự do thường chỉ có chức năng phát triển quan hệ thương mại tự do với các nước khác; nhưng hiện nay các hoạt động khác như : tài chiánh, bảo hiểm, vận tải, nghiên cứu và phát triển ( R & D ) cũng trở thành chức năng quan trọng của nó

1.1.6/ Đặc khu kinh tế

Đây là một khu vực địa lý nhất định, có dân cư sinh sống, được chính phủ dành cho những qui chế đặc biệt so với các vùng khác của đất nước Qui chế này bao gồm các điều khoản ưu đãi về thuế, hải quan, giá thuê đất, về sử dụng cơ sở hạ tầng và ngoại tệ, về cung ứng lao động Khác với các mô hình khác , đặc điểm của đặc khu kinh tế là mặc dù vẫn có ranh giới hành chính, nhưng sự phát triển của khu vực không bị giới hạn bởi ranh giới này Việc phát triển kinh tế đặc khu đã tạo điều kiện cho việc tăng cường mối quan hệ kinh tế với các vùng khác của quốc gia và phát huy tối đa tác động tích cực về đầu tư Mô hình đặc khu kinh tế có một cơ cấu kinh tế đa ngành dựa vào một cấu trúc đô thị hiện đại với các dịch vụ và cơ sở hạ tầng hiện đại Các nước phát triển tận dụng các điều kiện thuận lợi của mô hình này để thực hiện chuyển giao công nghệ, tăng hiệu quả đầu tư, tăng tính cạnh tranh của hàng hóa

Đặc điểm của Khu công nghiệp

ƒ Là khu vực được qui hoạch riêng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào hoạt động để sản xuất và chế biến hàng công nghiệp

ƒ Hàng hoá của Khu công nghiệp không chỉ phục vụ cho xuất khẩu trong nước mà còn phục vụ cho nhu cầu nội địa

ƒ Hàng hóa nhập khẩu vào Khu công nghiệp và từ đây xuất khẩu ra nước ngoài phải nộp thuế theo luật hiện hành

Các loại hình khu công nghiệp tại Việt nam

Hiện nay các khu công nghiệp ở Việt nam được hình thành dưới các dạng sau đây :

Khu công nghiệp được thành lập trên khuôn viên đã có một số doanh nghiệp đang hoạt động, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển khu công nghiệp theo đúng qui hoạch mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho việc phát triển Khu công nghiệp, có điều kiện xử lý chất thải với những thiết bị hiện đại

Khu công nghiệp được hình thành nhằm đáp ứng cho việc di dời các nhà máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành, các đô thị lớn, do nhu cầu chỉnh trang đô thị và bảo vệ môi trường, môi sinh phải di dời vào khu công nghiệp

Trang 11

Việc hình thành các Khu công nghiệp phục vụ nhu cầu di dời là yêu cầu khách quan của quá trình đô thị hóa

Các Khu công nghiệp có qui mô nhỏ gắn liền với nguồn nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản được hình thành ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu

Long, đồng bằng trung du Bắc bộ và duyên hải miền Trung là nơi có nguồn nguyên liệu, nông sản , nhưng công nghiệp chế biến chưa phát triển

Khu công nghiệp hiện đại được xây dựng mới hoàn toàn mới nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam có thế mạnh phát triển công nghiệp

So sánh khu công nghiệp và khu chế xuất

Theo qui chế khu công nghiệp của Chính phủ Việt Nam thì khu công nghiệp và khu chế xuất có những điểm giống và khác nhau như sau :

™ Khu công nghiệp và khu chế xuất là khu vực riêng biệt dành riêng cho sản xuất hàng công nghiệp, phần lớn là hàng tiêu dùng, áp dụng qui chế quản lý đơn giản, trong đó không có dân cư sinh sống Khu công nghiệp không có tường rào ngăn cách với địa phận của nước sở tại

™ Khu công nghiệp khác với khu chế xuất là 100% sản phẩm của khu chế xuất dùng để xuất khẩu, trong khi đó sản phẩm sản xuất từ khu công nghiệp được sử dụng một phần thị trường trong nước

1.2/ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN_KCX Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á

1.2.1/ Các khu công nghiệp tại Thái Lan

Thái Lan là một nước láng giềng với Việt Nam, có những lợi thế so sánh tương đối giống Việt Nam như : có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp có lực lượng lao động rẽ Tuy nhiên, khi nói về kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp thì Thái Lan đã có hơn 40 năm hình thành và xây dựng mô hình này, trong khi đó ở Việt Nam thì mô hình này chỉ phát triển được gần 10 năm Vì thế qua những thành công về phát triển khu công nghiệp Thái Lan cho phép chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị đối với việc phát triển khu công nghiệp – Khu chế xuất

Ý tưởng xây dựng khu công nghiệp ở Thái Lan được hình thành từ 40 năm về trước, nét đặc biệt ở Thái Lan là trong số các khu công nghiệp thì có 7 khu công nghiệp do cục quản lý khu công nghiệp Thái Lan đầu

tư ( gọi tắt là IEAT ), 1 KCN IEAT liên doanh với tư nhân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, 32 KCN do các tập đoàn lớn và tư nhân đầu tư Tất cả các khu công nghiệp ở Thái Lan hoạt động theo luật khu công nghiệp và IEAT trực tiếp quản lý 29 khu công nghiệp

Trang 12

Các khu công nghiệp ở Thái Lan được chia làm 3 vùng, mỗi vùng được hưởng chế độ ưu đãi riêng về tài chính ( xét trong 29 KCN do IEAT quản lý )

Vùng 1 : 6 tỉnh xung quanh Bangkok

Vùng 2 : 10 tỉnh xung quanh vùng 1

Vùng 3 : 60 tỉnh còn lại của Thái Lan

Những bài học rút ra từ thực tiễn hoạt động của các khu công nghiệp ở Thái Lan như sau :

Bài học 1 : Tổ chức bộ máy quản lý hợp lý và hiệu quả

Trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài đến Thái Lan tự mua đất để xây dựng nhà máy nên nhà nước không quản lý được, nhất là về mặt bảo vệ môi trường Từ năm 1972, IEAT được thành lập, việc xác định chức năng và quyền hạn của IEAT là một cuộc đấu tranh và phải mất nhiều cuộc hợp bàn về việc tách một phần chức năng – nhiệm vụ mà các Bộ ngành đang đảm trách để giao cho IEAT Cuối cùng nhằm mục tiêu phát triển công nghiệp cân bằng ở Thái Lan, chính phủ đã chính thức giao chức năng cho IEAT như ngày nay IEAT được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước thống nhất về phát triển khu công nghiệp Thái Lan, ngoài ra Cục còn có chức năng kinh doanh

Vì vậy IEAT được xem như một doanh nghiệp nhà nước, từ 2 chức năng trên IEAT được tiến hành các hoạt động sau :

™ Điều tra, xây dựng kế hoạch, thiết kế xây dựng khu công nghiệp

™ Cấp giấy phép đầu tư

™ Qui định ngành nghề và qui mô của sở công nghiệp sẽ được cấp giấy phép vào khu công nghiệp

™ Quản lý các nhà đầu tư trong khu công nghiệp ( bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, dịch vụ,… ) , quản lý việc sử dụng đất, các vấn đề liên quan đến vệ sinh, y tế, môi trường

™ Qui định giá mua, giá bán và cho thuê động sản, bất động sản

™ Được quyền phát hành các loại tín phiếu, ngân phiếu nhằm mục đích phục vụ đầu tư Nhờ tổ chức bộ máy của IEAT gọn , nhẹ, tập trung và trực tiếp nên công việc dược giải quyetá nhanh chống và hiệu quả

Bài học 2 : Dịch vụ “ Một cửa “

Mọi khách hàng muốn đầu tư vào khu công nghiệp chỉ cần đến IEAT là có được những thông tin cần thiết, họ sẽ được giới thiệu mạng lưới khu công nghiệp, ngành nghề khuyến khích đầu tư, vị trí các Khu công nghiệp, các ngành nghề được ưu đãi, các thủ tục giấy tờ cần thực hiện Sau một ngày

Trang 13

được hướng dẫn chu đáo và làm xong mọi thủ tục, một tuần sau họ sẽ nhận được giấy phép đầu tư để bắt tay vào việc xây dựng nhà xưởng

Trong trường hợp ở xa, nhà đầu tư có thể thông qua mạng Internet tìm hiểu về Khu công nghiệp cần quan tâm, lô đất sẽ lựa chọn Sau đó Fax cho IEAT, khi được IEAT chấp thuận, họ sẽ đến Bangkok để ký hợp đồng

Thực tế cho thấy để đi đến dịch vụ “ một cửa “ là một quá trình phấn đấu liên tục kể từ khi thành lập IEAT đến khi ban hành luật Khu công nghiệp, trong đó qui định chế độ dịch vụ một cửa phải mất hết 7 năm Mặc dù có qui định chế độ dịch vụ một cửa nhưng IEAT luôn đặt ra nhiệm vụ tự hoàn thiện để giải quyết nhanh những yêu cầu của khách hàng Bởi vì một cửa mà để nhà đầu tư phải chờ đợi lâu cũng có nghĩa là nhiều cửa Từ đó IEAT tự khẳng định vị trí và vai trò của mình trong việc thu hút các nhà đầu

tư và hoàn thành nhiệm vụ phát triển công nghiệp cân bằng ở Thái Lan

Bài học 3 : Tạo môi trường trong sạch tại Khu công nghiệp

Trong 5 mục tiêu xây dựng Khu công nghiệp Thái Lan là bảo đảm môi trường trong sạch, thông qua luật Khu công nghiệp và qui chế bắt buộc để bảo vệ môi trường trong sạch Thái Lan đưa ra nguyên tắc công bằng “ Người gây ô nhiễm môi trường phải đền bù thiệt hại “ Do vậy, khi thành lập Khu công nghiệp phải có dự án thiết kế xây dựng hệ thống xử lý nước thải và được cơ quan có thẩm quyền về môi trường xem xét và phê duyệt Mọi chất thải phải được xử lý và giải phóng triệt đề, nhà đầu tư phải chi trả cho phí xử lý chất thải

IEAT là cơ quan được đặt đại diện tại Khu công nghiệp để giám sát, kiểm tra môi trường Theo định kỳ, lấy mẫu chất thải để phân tích và có các quyết định kịp thời khi phát hiện các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường bị vi phạm

Vì vậy các Khu công nghiệp ở Thái Lan được mệnh danh là các Khu công nghiệp xanh sạch đẹp

Bài học 4 : Các chính sách ưu đãi về tài chính

Đối với việc xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, nhà nước không

ưu đãi cho vay vốn, tuy nhiên nhà nước đứng ra bảo lãnh cho các công ty nhà nước vay mà không phải thế chấp, mọi ưu tiên được dành cho các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Với mục tiêu lấp đầy Khu công nghiệp và phát triển công nghiệp cân bằng trong cả nước, Thái Lan phân chia Khu công nghiệp thành 3 vùng phát triển với những ưu đãi khác nhau để khuyến khích đầu tư vào những vùng khó khăn, những vùng xa trung tâm Thành phố

Trang 14

Tóm lại : nhờ các chính sách đúng đắn của chính phủ về qui chế hoạt động

Khu công nghiệp cùng các qui định hấp dẫn về tài chính, các Khu công nghiệp Thái Lan đã tạo được những nét đặc trưng riêng, nổi tiếng với các điểm : xanh, sạch, đẹp nên dễ dàng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên sự thành công cho các Khu công nghiệp ở Thái Lan

1.2.2/ Các Khu công nghiệp – Khu chế xuất tại Đài Loan

Đài Loan là 1 trong những nơi đầu tiên ở Châu Á sáng lập ra khu chế biến hàng xuất khẩu gọi tắt “ Khu chế xuất “, vào những năm 60 kinh tế Đài Loan thuộc loại chậm phát triển, đây cũng là thời kỳ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh trên Thế giới; các nước Mỹ, Nhật và Tây Aâu đều mở rộng cánh cửa nhập hàng tiêu dùng Vì vậy, đây là thời cơ rất thuận lợi cho các nước đang phát triển đi vào thị trường thế giới, chớp lấy thời cơ này chính quyền Đài Loan tranh thủ lấy ý kiến của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước, ngày 30/01/1965 Đài Loan ban hành “ Điều lệ xây dựng và phát triển khu chế xuất “, đến 3/12/1966 khu chế xuất Cao Hùng nằm ở cực nam Đài Loan ra đời, tiếp theo là tháng 1/1969 là khu chế Nam Tử và tháng 8/1969 là khu chế xuất Đàm Tử Cả 3 khu chế xuất này đều nằm sát các hải cảng lớn rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa

Cơ quan quản lý và điều hành là cục quản lý KCN_KCX thuộc Bộ kinh tế Cục quản lý gồm nhiều chuyên gia kinh tế giỏi, được giao toàn quyền giải quyết các vấn đề có liên quan đến KCX như : xây dựng cơ bản, thẩm định đầu tư, xét duyệt đất đai, cấp giấy phép xây dựng, kiểm tra nhà xưởng, xét duyệt hợp đồng, chứng nhận nơi sản xuất, cung cấp điện nước, thuê mướn nhân công, cấp thị thực xuất nhập cảnh, thủ tục bưu điện, kho tàng giao thông vận tải……, liên quan đến công việc của cục quản lý còn có chi nhánh của cục điện tín, hải quan, thuế vụ, ngân hàng…., đều có văn phàng làm việc trong nội khu Với cơ cấu tổ chức như vậy, các khu chế đều có “ Vương quốc độc lập “ tách biệt với đời sống xã hội bên ngoài

Từ những thành công của Đài Loan, tôi xin nêu ra những bài học kinh nghiệm, nhờ những bước đi đúng đắn của chính phủ Đài Loan trong việc xây dựng và phát triển mô hình Khu công nghiệp- Khu chế xuất; chúng ta xem đây là bài học kinh nghiệm và vận dụng nó một cách thích hợp để phát triển công nghiệp cân bằng ở Việt Nam

Bài học 1 : Tổ chức bố trí xây dựng KCN-KCX hoàn chỉnh, tiện nghi bảo đảm an toàn tuyệt đối

Mỗi khu có cục quản lý và các đơn vị phục vụ như : hải quan, ngân hàng, bưu điện, thuế vụ, kho tàng, xăng dầu, y tế và các công trình công cộng

Trang 15

khác chiếm khoảng 22% tổng diện tích các khu chế xuất, toàn bộ khu chế xuất chỉ có một cổng cho xe cộ ra vào để tiện kiểm soát và quản lý Để ngăn chặn buôn lậu và trộm cắp xung quanh khu chế xuất được xây dựng tường rào cao từ 2,5m đến 3m ( khu chế xuất Cao Hùng còn chằng dây thép gai trên tường rào cao thêm 1m ) Xung quanh mỗi khu chế xuất còn có 10 tháp canh để quan sát, tuần tra; ngoài ra còn có hệ thống phòng cháy chữa cháy, bảo vệ

an ninh… ; tất cả đều được bố trí thỏa đáng để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khu chế xuất

Bài học 2 : Phát triển nền kinh tế theo cơ chế hướng ngoại dựa vào phát triển công nghiệp

Từ cuối những năm 50, các nhà hoạch định chính sách kinh tế ở Đài Loan đã nhận thức được vị thế của đất nước mình trong hệ thống kinh tế Thế giới và khu vực Theo họ, Đài Loan thuộc nền kinh tế hải đảo, đất hẹp, người đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, mức độ phụ thuộc của nền kinh tế trong nước vào hoạt động ngoại thương rất lớn Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì việc hình thành một “ cơ cấu kinh tế hướng ngoại

“ mang ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế, xuất phát từ đặc điểm bên trong và tình hình Thế giới thời kỳ cuối những năm 50 và đầu những năm

60 Đài Loan chủø trương phát triển mạnh những ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động Các xí nghiệp có qui mô nhỏ và vừa là phổ biến và được xây dựng tập trung ở những khu vực nhất định như Khu công nghiệp – Khu chế xuất, … các xí nghiệp ở trong khu công nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi như hạ tầng cơ sở hoàn chỉnh, được hưởng một số ưu đãi về tài chánh như : được miễn thuế, giảm thuế một số năm, được hưởng thuế suất thấp, trong một số trường hợp được vay vốn với điều kiện ưu đãi Việc tập trung các xí nghiệp vào Khu công nghiệp xét về phương diện quản lý kinh tế vĩ mô có nhiều lợi ích, trước hết các khu đất dành cho xây dựng Khu công nghiệp có thể chủ động xây dựng hạ tầng kỹ theo các tiêu chuẩn quốc tế Với những điều kiện thuận lợi như vậy, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ sẵn sàng đầu tư vào khu vực này xây dựng nhà máy sản xuất hàng xuất hàng khẩu Đây là một lợi thế để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhờ bố trí sản xuất tập trung nên việc tổ chức sản xuất ( cung cấp điện, nước, vận tải nguyên liệu cho sản xuất, xử lý chất thải … ) cũng thuận lợi, tạo điều kiện để giảm chi phí cho các xí nghiệp trong Khu công nghiệp Cuối cùng nhờ có các Khu công nghiệp nên đã giảm dần và tiến tới chấm dứt việc xây dựng nhà máy riêng lẻ và phân tán trong nội thành, hoặc chiếm đất

Trang 16

nông nghiệp, ngư nghiệp đặc dụng để xây dựng nhà máy, góp phần sử dụng hiệu qủa quỹ đất nông nghiệp vốn rất eo hẹp của Đài Loan

Bài học 3 : Phát triển phổ biến mô hình KCN-KCX trên cả nước, không giới hạn qui mô, số lượng KCX-KCN

Từ năm 1966 đến nay Đài Loan đã có hơn 95 Khu công nghiệp, trong đó 58 khu là do nhà nước đầu tư, số còn lại do tư nhân hay các tổ chức đoàn thể đầu tư xây dựng Hiện nay Bộ kinh tế thống nhất quản lý đối với các Khu công nghiệp và có phân cấp như sau : chính quyền trung ương trực tiếp quản lý 12 khu có tầm quan trọng, các khu còn lại do địa phương hoặc tư nhân quản lý ( theo hình thức lập Ban điều hành Khu công nghiệp do các xí

nghiệp trong khu cử đại diện tham gia ) Qua cách phân bổ này ta thấy rõ một điều : hầu như huyện nào cũng có Khu công nghiệp, mỗi Khu công nghiệp là một “ hạt nhân “ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong vùng

Trong những năm tới, cùng với việc phát triển khoa học công nghệ, Đài Loan sẽ tiếp tục xây dựng thêm những Khu công nghiệp mới, nâng cấp các Khu công nghiệp cũ để phát triển bền vững nền kinh tế Đài Loan

Tóm lại qua những bài học nêu trên, chúng ta thấy rằng muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với tốc độ nhanh và hiệu quả, nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp Tuỳ theo điều kiện cụ thể mỗi tỉnh nên có ít nhất một Khu công nghiệp, điều quan trọng là phải làm tốt công tác qui hoạch công nghiệp nói chung và qui hoạch hình thành các Khu công nghiệp trong phạm vi cả nước, bảo đảm tính thống nhất và mối quan hệ liên hoàn, tương hỗ trong phát triển giữa các Khu công nghiệp với hoạt động sản xuất và quá trình đô thị hóa ở những vùng hình thành Khu công nghiệp

1.2.3/ Các Khu công nghiệp ở Malaysia

Malaysia là một quốc gia có diện tích rất hẹp người đông, phần lớn là đất nông nghiệp, sản xuất không đạt hiệu quả, lực lượng lao động dồi dào và người dân có việc làm trong các nhà máy; do đó chính phu Malaysia quyết tâm phát triểncông nghiệp có hệ thống, đó chính là Khu công nghiệp, khu mậu dịch tự do

Liên bang Malaysia gồm 13 tiểu bang, mỗi bang đều có Ban quản lý Khu công nghiệp để tạo điều kiện phát triển Khu công nghiệp cho bang mình, Ban quản lý các bang là nơi hướng dẫn trực tiếp và đề nghị với Ban quản lý Trung ương giải quyết sự việc bị ách tách, chứ không được sự ủy quyền của các Bộ_ngành để giải quyết các sự việc Như vậy, cơ chế này sẽ không linh động bhư cơ chế “ một cửa “ Tuy nhiên, để khắc phục tình

Trang 17

trạng này họ đã thành lập Phòng xúc tiến ở Ban quản lý các địa phương, chuyên tiếp xúc với các nhà đầu tư, tiếp nhận hồ sơ và các vụ việc cần khiếu nại, các doanh nghiệp không cần phải gặp một cơ quan nào khác, Phòng xúc tiến có trách nhiệm trao đổi lại để các phòng khác có trách nhiệm đề nghị lên cấp trên giải quyết một cách thỏa đáng Các công ty phát trển hạ tầng Khu công nghiệp ở Malaysia có tiềm lực tài chánh rất mạnh , có nhiều kinh nghiệm xây dựng và kinh doanh phát triển cơ sở hạ tầng để có thể phát triển nhiều Khu công nghiệp cùng một lúc mà trong đó nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ cấp từ 10% đến 20%, phần vốn còn lại các công ty phát triển hạ tầng phải tự trang trải

Những bài học kinh nghiệm về phát triển Khu công nghiệp ở Malaysia :

Bài học 1 : Lựa chọn địa điểm xây dựng khu công nghiệp thích hợp

Điều kiện để thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp là biết chọn lựa đúng địa điểm, xa dân cư tránh ô nhiễm, có vị trí giao thông thuện lợi, đất đai có giá trị kinh tế thấp, chuẩn bị sẵn mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng xong rồi mới mời các doanh nghiệp vào thuê, như thế các nhà đầu tư có thể xây dựng nhà máy ngay khi có giấy phép Để thu hút các nhà đầu tư vào Khu công nghiệp hàng tháng, quí Ban quản lý Trung ương đề xướng và tổ chức đoàn cán bộ đi tham quan, tiếp thị và mở hội nghị, hội thảo ở nước ngoài có sự tham gia của Ban quản lý địa phương Đối với các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp cần di dời thì có chính sách ưu tiên đặc biệt, khuyến khích và vận động đầu tư đến tận cơ sở

Chủ kinh doanh hạ tầng xác định: Hợp đồng cho các doanh nghiệp thuê đất chỉ là điểm khởi đầu, cần phải tiếp tục lo các dịch vụ khác cho các doanh nghiệp như: giấy phép xây dựng, giấy phép sản xuất kinh doanh, giấy phép ưu đãi… Công khai hướng dẫn những qui định, các thủ tục, biết tôn trọnh và đối xử công bằng tránh sự hiểu lầm giữa nhà đầu tư và cơ quan quản lý Phương châm thường xuyên của họ là : Nhất quán, rõ ràng, đơn giản và hiệu quả “ Tức là các chính sách ưu đãi phải nhất quán, văn bản hướng dẫn phải rõ ràng, các thủ tục phải đơn giản và tất cả phải hướng tới đạt hiệu quả Ngoài ra, chính phủ Malaysia còn coi trọng công tác đào tạo cán bộ_nhân viên, quan tâm đến các vấn đề nhà ở, các công trình phúc lợi như: trường học, trạm xá, chợ, đặt biệt chú ý đến điều kiện sinh hoạt của các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Khu công nghiệp và cả người thân củ họ

Trang 18

Bài học 2 : Nhà nước áp dụng chính sách tự do hóa đối với đầu tư nước ngoài

Chính phủ Malaysia cho xây dựng 50 khu mậu dịch tự do mời các nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động nhằm mục đích tạo việc làm cho người lao động, đào tạo công nhân nâng cao tay nghề và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh cho những người làm việc cho công ty nước ngoài Trước đây ở Malaysia không có Luật đầu tư nước ngoài, sau nhiều năm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước đến năm 1968 thì Malaysia mới ban hành luật đầu tư nước ngoài, trong bộ luật này có nhiều điểm ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài như : nhà nước bảo đảm không quốc hủ hóa tài sản của nhà đầu

tư, nhà đầu tư được tự do chuyển lợi nhuận ra nước ngoài v.v… Ngoài ra , các tiểu Bang được sự yểm trợ của Liên bang về mọi phương diện, mọi tiểu bang được xem như một vương quốc tự trị trên phương diện hành chánh và pháp luật, nếu các chính sách này không đi ngượclại hiến pháp của Liên bang

1.2.4/ Những bài học rút ra từ kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào khu công ngiệp ở các nước châu Aù cho việt nam

Qua những thành công mà các Khu công nghiệp của các nước gặt hái được , cũng như của các nước khác trên thế giới, chúng ta rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau :

™ Chính phủ cần mạnh dạn trao quyền quản lý cho địa phương mà cụ thể là Ban quản lý KCN-KCX cấp Tỉnh _ Thành Phố, đồng thời thực hiện cơ chế “ một cửa “ để việc quản lý được dễ dàng và hiệu quả mà không gây phiền hà, ắch tắc cho các nhà đầu tư Ngoài ra, nhà nước cần có chính sách hổ trợ vốn cho địa phương để đầu tư xây dựng Khu công nghiệp như

ở Thái Lan

™ Không nên giới hạn số lượng KCN-KCX trong cả nước như Đài Loan Thật vậy, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước với tốc độ nhanh và đạt hiệu quả, nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp Mỗi Tỉnh _Thành nên có ít nhất một Khu công nghiệp để phát huy và khai thác lợi thế của địa phương mình Tuy nhiên việc qui hoạch và phát triển các Khu công nghiệp cần phải được cân nhắc và nghiên cứu kỹ lưỡng để không gây lãng phí về vốn cũng như sử dụng quỹ đất đai, đồng thời phải bảo đảm tính thống nhất trong phát triển giữa các Khu công nghiệp với hoạt động sản xuất và quá trình đô thị hóa ở những vùng hình thành Khu công nghiệp Để thu hút nhiều

doanh nghiệp sử dụng công nghệ kỹ thuật cao phù hợp với trình độ phát

Trang 19

triển của từng vùng các Khu công nghiệp cần có những điều kiện sau :

♦ Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và thuận lợi ( cầu cảng, sân bay, đường cao tốc, diện , nước, thông tin liên lạc… )

♦ Có các dịch vụ cơ bản phục vụ sản xuất kinh doanh : Dịch vụ ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, khách sạn, nhà ở, trường học quốc tế, chợ, cửa hàng

♦ Có hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, an toàn, hấp dẫn

♦ Giá cả và thời gian thuê đất hợp lý

1.3/ VAI TRÒ CỦA KCN-KCX ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Khác với các nước trong khu vực, ở nước ta do vốn ngân sách còn

eo hẹp, nên việc đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dưới hình thức 100% vốn nước ngoài, hoặc dưới hình thức liên doanh với nước ngoài hoặc các chủ đầu tư trong nước là các doanh nghiệp nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn và các thành phần kinh tế khác Việc xây dựng Khu công nghiệp và đưa vào hoạt động mang lại những lợi ích to lớn sau :

1.3.1/ Tạo công ăn việc làm cho người lao động

Trong số hơn 280 ngàn lao động đang làm việc tại khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài thì có 1/3 lao động làm việc tại khu chế xuất_khu công nghiệp Khu công nghiệp tạo ra công ăn việc làm cho người lao động ở nước sở tại, là những trung tâm tạo việc làm mới, đào tạo và nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động xã hội qua việc chuyển giao công nghệ tiên tiến của các nước được hình thành từ đây Trong điều kiện tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam còn cao và có xu hướng gia tăng như hiện nay thì việc thu hút hàng chục vạn lao động vào các khu công nghiệp, chủ yếu là lao động nông thôn

dư thừa từ lao động nông nghiệp là một đóng góp mạnh mẽ cho xã hội

1.3.2/ Các khu công nghiệp tạo tác động trở lại đối với sự phát triển trong nước thông qua việc sử dụng nguyên vật liệu trong nước, thực hiện lắp ráp chế biến lại trong khu công nghiệp

Thật vậy, các Khu Công nghiệp tác động đến đầu tư , đến sản xuất công nghiệp để xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng trong nước, làm tăng thu ngoại tệ cho đất nước thông qua việc thu các dịch vụ : điện nước, thông tin liên lạc, tiền cho thuê mặt bằng, nhà xưởng, tiền thuê sử dụng đất đai, thuế môn bài, thuế xuất nhập khẩu do có hoạt động mua bán giữa khu công nghiệp và nội địa Thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội trong vùng, thay đổi cảnh quang của một vùng lãnh thổ như : cải tạo hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, điện nước.v.v trong khu công nghiệp và các vùng lân cận,

Trang 20

tạo ra phản ứng dây truyền kích thích các vùng và các ngành kinh tế khác phát triển Ngoài ra, kho công nghiệp còn là nơi tiếp cận kỹ thuật và công nghệ mới, học được kinh nghiệm phương cách quản lý hiện đại của các nhà đầu tư nước ngoài Tài nguyên thiên nhiên được khai thác có hiệu quả, phát triển khu công nghiệp còn tạo ra sự tác động trở lại đối với phát triển trong nước thông qua việc sử dụng vật liệu trong nước, thực hiện việc lắp ráp và chế biến lại cho khu công nghiệp

1.3.3/ Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại tệ cho đất nước do việc phát triển sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu

Qua hơn 10 năm phát triển mô hình khu chế xuất và 8 năm phát triển mô hình Khu công nghiệp của cả nước, kết quả hoạt động của các khu công nghiệp này đã góp phần đúng đẩy phát triển các ngành công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến và phục vụ xuất khẩu Ở nước ta, kim ngạch xuất khẩu mà các Khu công nghiệp cả nước đạt được trong những năm qua đều tăng, cụ thể là : năm 1996 đạt 320 triệu USD, năm 1997 đạt 848 triệu USD, năm

1998 đạt 1.300 triệu USD, năm 1999 đạt 1.600 triệu USD, năm 2000 đạt 2.200 triệu USD

1.3.4/ Khu công nghiệp là công cụ quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài

Như chúng ta thấy đầu tư vào Khu công nghiệp nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi đặc biệt hơn so với đầu tư ở ngoài Khu công nghiệp, từ đó giúp các nước chủ nhà tăng thêm vốn, tiếp cận kỹ thuật và công nghệ mới, học hỏi được phương cách quản lý hiện đại Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, các dự án thực hiện trong Khu công nghiệp hầu hết

do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài thực hiện Do vậy các Khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Ví dụ như ở Malasia, Đài Loan … , trong những năm đầu phát triển mô hình này thì Khu công nghiệp thu hút khoản 60% vốn đầu tư nước ngoài

Ngoài những lợi ích nêu trên, việc hình thành Khu công nghiệp, Khu chế xuất tại Việt nam còn góp phần giúp Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới Cùng với xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa thương mại, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Aù( ASEAN ), APEC và trong tương lai sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO ), việc phát triển

Trang 21

công nghiệp, sử dụng công nghệ cao sẽ hạn chế những thua thiệt cho Việt Nam, bảo đảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế và trước hết là các nươc trong khu vực

Kết luận : chương 1

Qua những khái niệm về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu mậu dịch tự do, đặc khu kinh tế ; ta thấy việc phát triển các mô hình này rất đa dạng và phong phú ở trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng như các nước khác trên Thế giới Ở nước ta do điều kiện về tự nhiên, tình hình chính trị_xã hội có khác các nước khác, nên hiện nay ở nước ta chỉ mới phát triển 3 mô hình chính đó là : KCN_KXC và KCNC Nhận thức được vai trò quan trọng của mô hình phát triển công nghiệp ở các nước, nhất là các nước ở lân cận Việt Nam như : Đài Loan, Thái Lan, Malaisia……, ta thấy cần học hỏi các nước láng giềng về tổ chức bộ máy quản lý cũng như thành lập cục quản lý IEAT và tách một phần chức năng _ nhiệm vụ của các Bộ _ ngành cho cơ quan này quản lý là một điều đúng đắn Bên cạnh đó nhà nước còn phải quan tâm đến các chính sách khác như các ưu đãi về tài chính, thực hiện dịch vụ “ một cửa “ , chọn địa điểm thích hợp để phát triển KCN_KCX, không nên giới hạn số lượng các Khu công nghiệp,… Để hiểu rõ thêm về hoạt động của Khu công nghiệp Việt Nam, tôi xin trình bày phần tiếp theo về thực trạng thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp TP.HCM và những thành qủa mà nó mang lại trong thời gian qua

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ

CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Trang 22

TẠI TP.HCM

2.1/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KCN TP HCM

2.1.1/ Tình hình chung về phát triển KCN cả nước

Sau khi có luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã mở rộng quan hệ hợp

tác với nhiều nước trên thế giới, việc thu hút đầu tư nước ngoài luôn là mối

quan tâm hàng đầu của Chính phủ Việt Nam, qua bài học của các nước đi

trước, chúng ta nhận thức được ý nghĩa to lớn của nó đối với sự phát triển

kinh tế _xã hội của Việt Nam Theo báo cáo của Ban quản lý Khu công

nghiệp Việt Nam đến tháng 7 năm 2001 chúng ta có 68 Khu công nghiệp_

Khu chế xuất_ Khu công nghệ cao Trong đó có 64 KCN, 3 KCX và 1 khu

công nghệ cao phân bổ trên khắp 28 Tỉnh_ Thành , trong đó miền Bắc có 14

khu, miền nam có 41 khu, miền Trung có 13 khu; tổng diện tích của các khu

công nghiệp là 11.000 ha ( không kể khu công nghiệp Dung Quất, một khu

kinh tế tổng hợp nằm trên 2 tỉnh Quãng Nam và Quảng Ngãi rọâng 14.000

ha), như vậy bình quân một khu công nghiệp có diện tích bình quân là 160

ha Khu công nghiệp có qui mô lớn nhất là khu công nghiệp Phú Mỹ 1 nằm

tại Bà Rịa _ Vũng Tàu có diện tích 954,4 ha và khu công nghiệp có qui mô

nhỏ nhất là khu công nghiệp Bình chiểu tại Thành Phố Hồ Chí Minh với

diện tích 28 ha Các khu công nghiệp được thành lập chủ yếu tại 3 vùng

kinh tế trọng điểm , trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu,

với tổng diện tích 1.307 ha; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 33 khu,

với tổng diện tích 7.110 ha; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 7 khu

với diện tích 628,6 ha Trong hơn 10 năm xây dựng hình thành và phát triển

KCN_KCX_KCNC gọi chung là KCN, ta thấy mạng lưới Khu công nghiệp

được phân bố rộng khắp 3 miền, dưới đây là bảng phân tích quá trình thành

lập các Khu công nghiệp ở Việt Nam

Bảng số 1 : Quá trình thành lập các KCN-KCX -KCNC qua các năm

Trang 23

Về qui mô ( không kể Khu công nghiệp Dung Quất _ Khu công nghiệp Biên Hoà ) bình quân mỗi Khu công nghiệp có diện tích 161 ha, với vốn đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng ước tính là 32 triệu USD Các Khu công nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xây dựng có qui mô bình quân 127 ha,

ít hơn diện tích bình quân của Khu công nghiệp do doanh nghiệp trong nước xây dựng hạ tầng là 177 ha, nhưng lại được đầu tư với số vốn lớn hơn 63 triệu USD so với 22,7 triệu USD Do vậy, các Khu công nghiệp do nước ngoài xây dựng có cơ sở hạ tầng hiện đại hơn nhiều so với Khu công nghiệp do doanh nghiệp trong nước xây dựng

Từ năm 1999 trở lại đây, việc xây dựng và phát triển khu công nghiệp đã được điều chỉnh, tính toán hợp lý và thực tế hơn, các biện pháp thu hút đầu tư đang được đẩy mạnh Đến nay các khu công nghiệp đã cho thuê được hơn 2600 ha, chiếm gần 30% tổng diện tích đất của các Khu công nghiệp; trong đó gần 20 khu đã cho thuê được trên 50% diện tích như : Khu công nghiệp Biên Hòa II ( Đồng Nai ), khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất Linh Trung ( TP Hồ Chí Minh ), khu công nghiệp Singapore ( Bình Dương ), khu

Trang 24

công nghiệp Sài Đông ( Gia Lâm )… và nhiều khu công nghiệp khác đất đã cho thuê gần hết diện tích

Ngành nghề trong Khu công nghiệp rất đa dạng với các ngành :công nghiệp nhẹ, hoá chất, điện tử, chế biến thực phẩm nông sản, thuỷ sản, phục vụ sản xuất nông nghiệp Công nghiệp nặng gắn với cảng nước sâu ở các vùng kinh tế trọng điểm, công nghiệp chế biến khí trên cơ sở cơ cấu ngành nghề gắn liền với lợi thế từng vùng Đến nay tháng 7 năm 2001 đã có trên

850 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động trong các Khu công nghiệp, với tổng số vốn đăng ký gần 8 tỉ USD Các khu này đều sản xuất hàng công nghiệp, phần lớn là hàng tiêu dùng, áp dụng cơ chế quản lý đơn giản, thuận tiện trong khu vực không có dân cư sinh sống Các khu chế xuất phải xuất khẩu 100% sản phẩm, quan hệ giữa Khu chế xuất và nội địa là quan hệ ngoại thương, do đó không có sự tranh chấp sản phẩm với thị trường trong nước Mặc khác các khu chế xuất còn có quan hệ hữu cơ với thị trường trong nước, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhất là việc mua nguyên vật liệu_bán thành phẩm từ thị trường nội địa vào Khu chế xuất Riêng Khu công nghiệp được sử dụng một phần thị trường trong nước

Theo qui hoạch đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt thì trong năm

2000 cả nước có từ 70 đến 80 Khu công nghiệp nằm trên địa bàn của 30 Tỉnh_ Thành Phố với diện tích ước chừng 10.000 ha, sau năm 2000 cả nước có khoản 100 Khu công nghiệp Theo ý kiến của một số chuyên gia thì số lượng Khu công nghiệp ở nước ta chưa phải là nhiều so với các nước trong khu vực ( theo số liệu của Tổ chức môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP, đến cuối năm

1996 thì ở Malaysia có đến 166 Khu công nghiệp ) Tuy nhiên, trên thực tế số lượng của các Khu công nghiệp phải cân đối với tốc độ phát triển kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa _hiện đại hóa đất nước, vấn đề không phải là số lượng Khu công nghiệp được cấp giấy phép đầu tư, mà

cái chính là khả năng lấp đầy các Khu công nghiệp bằng các dự án Phát triển hợp lý Khu công nghiệp là việc làm cần thiết nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng : xây dựng một Khu công nghiệp ít doanh nghiệp đến thuê mướn, gây lãng phí nghiêm trọng về vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng và đất đai, kế đến là sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các Khu công nghiệp làm giảm mạnh tiền thuê đất, nhà xưởng làm cho nhà nước thất thu thuế, các doanh Khu công nghiệp làm ăn kém hiệu quả

2.1.2/ Đặc điểm chung của TP.HCM

Thành Phố Hồ Chí Minh cùng với các tỉnh Đồng Nai_Vũng Tàu_Bình Dương là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, riêng TP.HCM là trung tâm kinh tế, tài chánh, ngân hàng lớn của cả nước, có vị trí địa lý thuận tiện cho giao

Trang 25

lưu quốc tế ( gần cảng và sân bay quốc tế ), cảng lớn Sài Gòn có thể cho tàu cập bến trên 5 vạn tấn , nhà máy điện Hiệp Phước_ khu công nghiệp Hiệp Phước sẽ là khu công nghiệp có qui mô lớn nhất ở miền Nam, có hệ thống trường học và bệnh viện, các nơi vui chơi giải trí, các kỹ năng về giao dịch kinh doanh, nguồn lao động dồi dào, có tay nghề, có trình độ… với những tiềm năng này sẽ đưa TP.HCM trở thành trở thành Thành Phố hiện đại ở Châu Á Vào năm 1898 diện tích Thành Phố Sài Gòn chỉ vỏn vẹn 750 ha với dân cư 113.000 người; đến năm 1939 diẹân tích được mở rộng ra 3.000 ha với khoản chừng 540.000 người Hiện nay, Thành phố được mở rọâng ra trên 209.000 ha với trên 5 triệu dân.Với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Thành Phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước nói chung là mối quan tâm hàng đầu Như chúng ta biết Thành Phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế văn hóa của cả nước, để bảo đảm là một Thành Phố văn minh – hiện đại thì việc bảo vệ môi sinh môi trường cần được quan tâm đúng mức Vì vậy, Thành phố cần sắp xếp lại các doanh nghiệp sản xuất, chuyển các ngành sản xuất công nghiệp nhất là các ngành gây ô nhiễm ra ngoại thành, hình thành các khu công nghiệp, giải quyết nhanh chống tình trạng gia tăng dân cư Thành phố, thực hiện giãn dân để giải tỏa những ách tách về lưu thông, vận chuyển, giảm mật độ dân cư

2.1.3/ Quá trình hình thành và phát triển các Khu công nghiệp TP.HCM

Ở TP.HCM mô hình Khu công nghiệp được hình thành và phát triển sau Khu chế xuất Tuy ra đời muộn nhưng mô hình này lại phát triển rầm rộ và tập trung ra đời hàng loạt vào các năm 1996, 1997 và 1998 Đây cũng chính là thời điểm các Khu chế xuất trong cả nước bộc lộ những khó khăn, mà hạn chế của mô hình này là việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, việc thu hút đầu tư nước ngoài, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, việc chuyển đổi một số KCX thành KCN được xem như là giải pháp tất yếu để tháo gỡ những vướng mắc cho các nhà kinh doanh hạ tầng lúc bấy giờ

Tính đến tháng 7/2001 TP.HCM có 10 KCN được thành lập, địa phương có nhiều KCN nhất là Thủ Đức ( 3 KCN ), nhưng hiện nay Huyện Thủ Đức đã được tách thành Quận 9, Quận 2 và Huyện Thủ Đức Huyện Bình Chánh có 3 KCN, dưới đây là bảng kê danh sách các Khu công nghiệp đã có giấy phép thành lập

Bảng số 2 : Số liệu tổng quát về các KCN TP.Hồ Chí Minh

Số

TT Tên KCN

Tổng DT ( ha )

Vốn đ/ tư(triệu USD)

Đ.tư/ha(triệu USD )

Chủ đauà tư XD & KD Cơsở hạ tầng

Trang 26

1 Bình Chiểu 27,30 3,50 0,13 Công Ty Sunimex

2 Hiệp Phước 332,00 59,00 0,18 CTy phát triển IPC

3 Tân Tạo 181,80 45,00 0,25 Cty Itaco

4 Tân Bình 250,00 64,00 0,26 Cty Tanimex

5 Vĩnh Lộc 200,00 35,00 0,18 Cty Cholimex

6 T/Bắc C/Chi 215,70 36,00 0,17 Cty Thương Mại Củ Chi

7 T/Thới Hiệp 215,40 48,96 0,23 Cty XNK Đ/tư H/Môn

8 Lê M Xuân 100,00 24,60 0,25 CtyXD Đ/ Tư B/Chánh

9 Cát Lái IV 127,00 48,96 0,39 Cty Sunimex

10 Tam Bình I 62,50 14,00 0,22 CtyXD&KD Nhà PNhuận

( Nguồn Báo cáo Tổng kết năm 1997_ BQL KCX_KCN TP.HCM )

Trong tất cả 10 Khu công nghiệp của TP.HCM chỉ có Khu công nghiệp Bình chiểu có quyết định qui hoạch tổng thể mặt bằng sớm nhất vào năm 1994, là Khu công nghiệp có diện tích nhỏ nhất đồng thời cũng có vốn đầu tư trên 1 ha nhỏ nhất ( 0.13 triệu/ ha ), các KCN còn lại ra đời muộn hơn , bắt đầu rộ lên trong các năm 1996 và 1997 Khu công nghiệp Cát Lái IV có vốn đầu tư trên 1 ha cao nhất là 0.39 triệu USD/ha trong số 10 khu công nghiệp

Như chúng ta biết lợi ích của việc cho ra đời các Khu công nghiệp là tạo điều kiện thu hút nhiều nhà máy giúp tăng nhanh tổng sản phẩm quốc gia, tránh gây ô nhiễm môi trường, biến những vùng đất cằn cỗi hoang hóa thành khu vực có giá trị kinh tế cao, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Việc hình thành các Khu công nghiệp TP.HCM cũng không nằm ngoài mục đích đó Tuy nhiên phát triển theo hướng nào để đạt hiệu quả và thành lập bao nhiêu Khu công nghiệp tại TP là hợp lý, theo tôi việc cho ra đời hàng loạt các Khu công nghiệp tại TP.HCM và xoay quanh một thời điểm là do sự thiếu cân nhắc của Chính phủ và cả sự vội vàng nôn nóng của các doanh nghiệp kinh doanh khai thác hạ tầng khi lên phương án xin cấp đất

2.2/ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN TP.HCM TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY

2.2.1/ Phân tích tình hình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầøng

Tiến độ triển khai và xây dựng cơ sở hạ tầng của 10 KCN hiện nay vẫn chưa hoàn tất, nhiều khu vực còn bỏ hoang phế, một số công trình khác đang thực hiện dỡ dang và thực hiện không đúng như tiến độ ban đầu đề ra, cụ thể như sau :

Trang 27

Ngoại trừ Khu công nghiệp Bình Chiểu đã xây dựng xong các công trình hạng mục cơ bản ( san lắp, đường nội bộ, thoát nước, trồng cây xanh, điện, nước ), chỉ có hệ thống sử lý chất thải là còn dỡ dang Các Khu công nghiệp còn lại nhìn chung ta thấy mức độ hoàn thành các công trình chỉ đạt ở mức bình quân 50%

Khu công nghiệp Lê Minh Xuân đang gặp khó khăn trong việc giải tỏa bằng mặt chỉ gồm 55 ha, trong năm 2001 đã đền bù giải tỏa xong cho nông trường Lê Minh Xuân thì 6 hộ dân lại tranh chấp tỷ lệ phân chia tiền đền bù với nông trường làm chậm tiến độ san lắp mặt bằng của Công Ty này, nên chỉ san lắp được 30 ha trong số 55 ha

Khu công nghiệp Tây Bắc Củ chi đang triển khai công trình đầu tiên của Khu công nghiệp là 2 tuyến đường trục chính, trong năm 2001 đã được Thành Phố cho vay 30 tỷ đồng để giải tỏa 100 ha đất còn lại

Khu công nghiệp Tân tạo 10% diện tích của 182 ha chưa tiến hành giải tỏa được và 90% phần diện tích mở rộng 262 ha chưa đền bù giải tỏa được nên đến nay vẫn chưa tiến hành san lắp để xây dựng cơ sở hạ tầng

Khu công nghiệp Hiệp Phước phần diện tích 106 ha liên doanh với Công Ty IPEM ( Bỉ ) không tiến hành san lắp được, phải trả lại thiết bị thuê cho nước ngoài, do ý kiến không thống nhất giữa các cơ quan Việt Nam về vị trí neo đậu tàu hút cát sông đề san lắp KCN

Khu công nghiệp Tân Thới Hiệp còn 3 hộ dân chưa giải tỏa được nên làm cản trở việc mở rộng con đường dẫn vào Khu công nghiệp, lại đang gặp phải tranh chấp của người dân đã nhận tiền đền bù và di dời ra khỏi Khu công nghiệp đòi thêm tiền đền bù

Riêng KCN Tam Bình I thì liên doanh Sepzon Linh Trung II đồng ý mua lại Khu công nghiệp này để phát triển thành Khu chế xuất Linh trung II, hiện còn đang trong thời gian làm thủ tục giữa đôi bên

Khu công nghiệp Vĩnh Lộc một số hộ dân không chịu nhận tiền đền bù để di dời làm cho việc thi công 2 tuyến đường trục của Khu công nghiệp bị ngừng truệ

Khu công nghiệp Cát Lái IV đang hoàn tất các thủ tục để khởi công xây dựng vào năm 2002

Theo báo cáo của các Công Ty kinh doanh hạ tầng thì họ phải chi phí rất nhiều và cũng gặp nhiều khó khăn vướng mắt trong khâu đền bù giải tỏa, xây dựng Khu công nghiệp Do đặc thù riêng của mỗi Khu công nghiệp nên mỗi khu gặp những khó khăn riêng Mặc dù vậy các nhà kinh doanh hạ tầng vẫn không bỏ cuộc, bởi vì họ đã bỏ những số tiền không nhỏ vào đây Một điều

Trang 28

đáng lưu ý là do hạn chế về vốn nên các Khu công nghiệp đều được xây dựng theo hình thức cuốn chiếu, có nghĩa là khách thuê đến đâu thì xây dựng hạ tầng đến đó Cách làm này rất khó bảo đảm tính đồng bộ các công trình xây dựng và khó mà thu hút khách nước ngoài đến đây thuê, vì khi đến thấy cảnh quan còn ngổn ngang, bề bộn,… sẽ tạo ấn tượng không tốt trong tâm trí nhà đầu

tư Dưới đây tôi xin nêu một vài nguyên nhân chủ quan gây nên những khó khăn khi triển khai và thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp tại TP.HCM như sau :

™ Chính phủ cho thành lập cùng một lúc nhiều Khu công nghiệp

Như đã trình bày ở trên , tại TP HCM vào thời điểm 1996_1997 các Khu công nghiệp tại TP.HCM có quyết định thành lập rầm rộ, mà đáng lẻ ra nhà nước , các Bộ, các ngành có thẩm quyền cần xem xét_ cân nhắc kỹ lưỡng khi

ra quyết cho thành lập các Khu công nghiệp một cách vội vã, ào ạt; nếu lúc đó nhà nước cần bàn bạc kỹ lưỡng và chỉ đạo cho thực hiện thí điểm chúng

ta sẽ đỡ hao tốn nguồn vốn phải nằm ứ đọng rãi rác ở các Khu công nghiệp

™ Lưa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng chưa hợp lý

Việc Chính phủ giao đất cho các nhà đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp cũng là một vấn đề cần nêu lên ở đây Từ những thành đạt của một số Khu công nghiệp đi đầu như : Tân Thuận, Biên Hoà II, Sóng Thần, … đã tạo ý nghĩ nông cạn cho một số đơn vị muốn lao theo một hướng làm ăn mới mà họ cho rằng không khó lắm; vì đất do nhà nước giao và làm thành công hay thất bại thì đất vẫn thuộc phạm vi kinh doanh của họ, lúc đó họ sẽ tiếp tục hướng đi khác để thích ứng với tình hình mới Chính vì các quan niệm đó mà các đơn vị đã xây dựng lên những phương án khả thi trên lý thuyết để thuyết phục các Ban_ ngành chấp nhận cho phương án giao đất để phát triển khu công nghiệp, trong tiềm lực thật sự của các Công ty kinh doanh hạ tầng là những đơn vị không phải từng trải trong việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chủ yếu các công ty này xuất phát từ các lãnh vực xuất nhập khẩu, thương mại cấp quận, huyện của TP,HCM ( trừ Tân Tạo và Lê Minh Xuân ) Thông thường các Công ty này tách một bộ nhỏ ra đảm trách các công việc triển khai thực hiện dự án Với một lực lượng nhỏ như vậy lại không có kinh nghiệm thì khó mà triển khai nhanh được công tác xây dựng hạ tầng cũng như tiếp thị, vận động vào Khu công nghiệp

Ngoài ra, nếu so sánh số tiền đầu tư bình quân cho 1 ha đất tại TP.HCM với các Khu công nghiệp khác trong nước và trong khu vực thì con số 0.23 triệu USD/ ha là còn thấp Ở Khu công nghiệp Nomura là 1,07 USD/ha, Dawoo Hanel là 0,52 USD/ha Do vốn đầu tư ít, điều kiện về cơ sở hạ tầng tại các Khu công nghiệp sẽ không thể đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư

Trang 29

2.2.2/ Phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư và cấp giấy phép vào KCN

Tình hình thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp trong cả nước nói chung và tại TP.HCM đang diễn ra rất chậm, trong những năm đầu bắt tay vào phát triển cơ sở hạ tầng thì chưa có doanh nghiệp nào hoạt động, nhưng bắt đầu năm 1997 thì thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài , cụ thể số liệu được thể hiện trong bảng kê dưới đây :

Bảng số 3 :Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại KCN TP.HCM ( Từ khi xây dựng đến 12/2001 )

* Có sự điều chỉnh giấy phép

Chúng ta thấy rằng ngoại trừ khu công nghiệp Bình Chiểu có quyết định qui hoạch tổng thể mặt bằng là năm 1994, nhưng sau 2 năm mới đi vào khai thác và phát triển hạ tầng; các khu công nghiệp còn lại thì được thành lập trong năm 1996 và 1997 Vì vậy, trong 3 năm đầu 1994, 1995, 1996 thì các khu công nghiệp chưa thu hút được vốn đầu tư ngoài nước, đến năm 1997_1998

Ngày đăng: 09/01/2018, 07:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w