Sinh học là một khoa học thực nghiệm. Các kiến thức sinh học cần được hình thành theo phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành. Các bài thực hành không những giúp cho các em củng cố lại kiến thức đã học, khẳng định tính khoa học chính xác giữa lý luận và thực tiễn mà còn kích thích lòng say mê nghiên cứu, yêu khoa học của học sinh.Tuy nhiên trong điều kiện thiết bị dạy học của cả nước vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, đặc biệt là các tiết thực hành ở bộ môn sinh học 9, việc thiếu thiết bị càng trở nên trầm trọng hơn đối với các trường ở vùng nông thôn như ở trường chúng tôi
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI :
PHƯƠNG PHÁP DẠY TỐT CÁC BÀI THỰC HÀNH Ở BỘ MÔN SINH HỌC 9 TRONG ĐIỀU KIỆN THIẾU THIẾT BỊ DẠY HỌC
A.
ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 ) Lý do chọn đề tài :
Sinh học là một khoa học thực nghiệm Các kiến thức sinh học cần được hình thành theo phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành Các bài thực hành không những giúp cho các em củng cố lại kiến thức đã học, khẳng định tính khoa học chính xác giữa lý luận và thực tiễn mà còn kích thích lòng say mê nghiên cứu, yêu khoa học của học sinh
Tuy nhiên trong điều kiện thiết bị dạy học của cả nước vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, đặc biệt là các tiết thực hành ở bộ môn sinh học 9, việc thiếu thiết bị càng trở nên trầm trọng hơn đối với các trường ở vùng nông thôn như ở trường chúng tôi (trường THCS Phan Tây Hồ -Huyện Phú Ninh) Do đó nhóm giáo viên sinh học 9 của trường chúng tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Phương pháp dạy tốt các bài thực hành ở bộ môn sinh học 9 trong điều kiện thiếu thiết bị dạy học”
1) Phạm vi nghiên cứu :
Tiến hành nghiên cứu trong 2 năm từ năm học 2005-2006 đến năm học
2006-2007 nhằm mục đích dạy tốt các tiết thực hành, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
2) Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 9
3) Giới hạn đề tài : Chương trình sinh 9 kiến thức rất nhiều, vừa lý thuyết, vừa thực hành Đối với phần thực hành với phạm vi đề tài, chúng tôi không thể phân tích hết tất cả các bài thực hành trong SGK, nên chỉ giới hạn ở một số bài có nội dung nổi bậc để phân tích và nêu các phương án giảng dạy thích hợp
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I/ Cơ sở lý luận:
1) Khái niệm về thiết bị dạy học :
Thiết bị dạy học (TBDH) là một trong những điều kiện vật chất của nhà trường
TBDH có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục tiêu ,nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nước : “Học đi đôi với hành ”
TBDH là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh hiểu các khái niệm,để lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những thói quen cần thiết,bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống
TBDH kích thích hứng thú tiếp thu tri thức của học sinh, giúp học sinh nhớ lâu, hiểu sâu, phát triển được nhiều giác quan, thoả mãn yêu cầu và sự say
mê học tập của học sinh
TBDH có vai trò quan trọng và hết sức cần thiết như vậy, cho nên trong dạy học bằng mọi cách chúng ta phải khắc phục tình trạng thiếu đồ dùng dạy
Trang 2học, có thể tự làm đồ dùng dạy học, cải tiến, thay thế, hoặc tận dụng những thiết
bị, nguyên vật liệu hiện có ở địa phương để góp phần giải quyết kịp thời các yêu cầu dạy và học
2) Nhiệm vụ giáo dục :
Giáo dục học sinh nắm vững, khắc sâu kiến thức một cách tích cực, chủ động,vừa rèn luyện phương pháp nhận thức, vừa rèn luyện năng lực tư duy, năng lực tự học, kỹ năng thực hiện các hoạt động, học sinh sẽ rèn được các kỹ năng cần thiết: làm tiêu bản, kỹ năng vẽ hình, quan sát, nhận biết
Giáo dục học sinh thái độ học tập đúng đắn, có ý thức tự giác, giữ gìn vệ sinh
và trật tự kỷ luật, để từ đó các em có sự say mê ham thích bộ môn, yêu thiên nhiên, đất nước, ước mơ góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước làm cho cuộc sống hạnh phúc, đất nước được phồn vinh
II/Thực trạng của trường THCS Phan Tây Hồ:
1) Đặc điểm tình hình trường :
- Đối với trường chúng tôi khi phân công lao động thường bố trí 2 đến 3 giáo viên cùng bộ môn cho 1 khối lớp
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học ở bộ môn sinh được thường xuyên sử dụng, bộ phận chuyên môn tổ và bộ phận thiết bị quản lý chặt chẽ Tuy nhiên đồ dùng dạy học còn thiếu rất nhiều: bộ môn sinh Lớp 6, 7 chỉ có 1 bộ, lớp 8 không
có bộ nào, lớp 9 không đầy đủ chỉ có 1 ít tranh vẽ, một số mô hình ARN, và tổng hợp prôtêin
- Việc thay sách giáo khoa lớp 9 đã thực hiện được 2 năm từ năm học 2005-2006 đến nay, chúng tôi đã có được những thuận lợi và khó khăn khi chọn
đề tài này
a.Thuận lợi:
- Nhóm sinh 9 gồm 2 giáo viên được bố trí giảng dạy liên tục trong 2 năm thực hiện thay sách lớp 9
- Là trường ở vùng nông thôn nên các bài thực hành ở phần sinh vật và môi trường học sinh dễ tiếp cận với các yêu cầu mà giáo viên đặt ra
-Số lớp nhiều: 7 lớp 9, do đó dễ tiến hành thí nghiệm và kiểm chứng b.Khó khăn :
- Thiết bị dạy học còn quá thiếu và không đồng bộ
- Học sinh không có thời gian nghiên cứu ở nhà do phải giúp đỡ công việc đồng áng cho gia đình
- Phụ huynh ít quan tâm
2)Phân tích thực trạng tổ chức:
a Phân công:
Năm học 2005-2006:
- Cô Huỳnh thị Tuyết giảng dạy 4 lớp 9
- Cô Đoàn thị Giang giảng dạy 3 lớp 9
Năm học 2006-2007:
Trang 3- Cô Huỳnh thị Tuyết giảng dạy 3 lớp 9
- Cô Đoàn thị Giang giảng dạy 4 lớp 9 b.Thực hiện: Năm học 2005-2006 đã tiến hành :
-Dạy thử nghiệm 3 lớp (cô Tuyết 2 lớp, cô Giang 1 lớp ) -Dạy kiểm chứng 4 lớp (mỗi cô 2 lớp )
(các lớp dạy thử nghiệm hay kiểm chứng đều được thay đổi ở từng bài thực hành )
3) Các bước tiến hành:
a Xây dựng mục tiêu: Trong thực hành có nhiều thể loại, đòi hỏi người thực hiện phải xác định mục tiêu rõ ràng, phù hợp với nội dung từng bài học, dựa vào bài cụ thể mà xác định đúng để xây dựng hoàn chỉnh
b Chuẩn bị: Đối với bài thực hành có dụng cụ thiết bị đầy đủ thì dễ dàng chuẩn bị, đối với bài thực hành thiếu dụng cụ thiết bị đòi hỏi chúng tôi phải suy nghĩ nhiều cách để chuẩn bị, tìm ra hướng giải quyết, khắc phục tình trạng thiếu bằng nhiều cách: làm đồ dùng dạy học, cải tiến, tận dụng những dụng cụ cũ có ở thiết bị trường, ở địa phương, gia đình học sinh để chuẩn bị Đối với bài thực hành không phù hợp với thời điểm giảng dạy chúng tôi đã thay thế nguyên vật liệu này bằng nguyên vật liệu khác để phù hợp với nội dung bài học
c Thiết kế các hoạt động: Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, trình tự, cấu trúc và mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong bài để có cách tiến hành thích hợp Chúng tôi đã hình dung những khó khăn, sai lầm mà học sinh có thể mắc phải khi thực hiện, do đó đã dự kiến cách giải quyết, thời gian và phương tiện cho từng hoạt động Đối với nhóm chúng tôi, mỗi người có cách soạn riêng của mình, sau đó chúng tôi trao đổi thống nhất với nhau các phương
án lựa chọn để giảng dạy
d.Đánh giá ,rút kinh nghiệm sau mỗi bài thực hành :
Lập kế hoạch đánh giá kết quả bài dạy dựa trên mục tiêu,chúng tôi đã xây dựng những câu hỏi để học sinh tự đánh giá hoặc giáo viên đánh giá sau mỗi lần thực hiện Cuối cùng là nhận xét rút kinh nghiệm cho mỗi bài thực hành
4) Biện pháp tổ chức :
Chúng tôi đã cải tiến hình thức tổ chức giảng dạy để phù hợp với mục tiêu
đề ra, xây dựng phương án thiết kế bài thực hành đầy đủ các bước :
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy
- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ- nguyên vật liệu cho bài dạy
- Bước 3: Các hoạt động dạy và học:
+ Hoạt động 1: Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
Yêu cầu và phân công thực hiện
Xây dựng qui trình thực hiện
+ Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn - học sinh thực hiện
+ Hoạt động 3: Thảo luận đề xuất ý kiến và trình bày nội dung thực hiện
- Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện
Trang 4- Bước 5: Nhận xét -Rút kinh nghiệm Trên khuôn khổ đề tài có hạn, chúng tôi đã phân loại các bài thực hành để tiện
sử dụng các phương án dạy học thích hợp, cụ thể như sau:
A Đối với loại bài thực hành thiếu thiết bị dạy học :
Ví dụ 1:Bài thực hành : Quan sát hình thái Nhiễm sắc thể ở tiết 14:
I/Mục tiêu: Theo sách giáo khoa
- Nhận dạng được nhiễm sắc thể ở các kỳ
- Phát triển khả năng sử dụng và quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi
II/ Chuẩn bị:(theo yêu cầu của sách giáo khoa )
- Các tiêu bản cố định nhiễm sắc thể của một số loài động vật, thực vật (giun đũa,châu chấu ,trâu bò ,lợn )
- Kính hiển vi quang học với số lượng tương ứng với số nhóm học sinh
- Hộp tiêu bản với số lượng tương ứng với số nhóm học sinh
Tuy nhiên trong điều kiện trường chúng tôi không có tiêu bản (vì qua tìm hiểu tiêu bản này rất đắt và nếu có do chất lượng kém nên có khả năng không quan sát được) Chúng tôi chỉ được cấp ảnh chụp các kì nguyên phân của tế bào vảy hành Nhóm sinh 9 chúng tôi đã bàn bạc và thống nhất thay đổi như sau:
I/Mục tiêu:
- Nhận dạng được nhiễm sắc thể ở các kì
- Rèn kĩ năng quan sát và vẽ hình
II/Chuẩn bị :
- Ảnh chụp hình thái nhiễm sắc thể qua các kì nguyên phân của tế bào vảy hành
- Giấy A4 ,viết chì
- Kiến thức về các kì nguyên phân
III/Tiến hành:
1 Phương án 1 : Thực hành ở 3 lớp thử nghiệm.
- Giáo viên cố định ảnh chụp trên bảng
- Yêu cầu cả lớp quan sát nhận dạng hình thái của nhiễm sắc thể qua các kì nguyên phân
- Vẽ hình quan sát được vào giấy A4
*Kết quả:
+ 90% học sinh vẽ theo cảm tính (nhớ lại và vẽ ), không phù hợp với ảnh đã quan sát, chủ yếu tập trung vào các hình dễ
+ 10% học sinh khá giỏi vẽ đúng theo ảnh quan sát
2 Phương án 2 : 4 lớp kiểm chứng
- Giáo viên che các phần chú thích trong ảnh chụp, phô tô thành 5 bảng phân cho 5 nhóm
- Chỉ định mỗi nhóm nghiên cứu một hình thái của nhiễm sắc thể ở 1 kì
- Học sinh trao đổi nhóm nhận dạng hình thái của nhiễm sắc thể ở kì nào
và giải thích Vẽ hình
Trang 5- Phần thu hoạch: Mỗi nhóm cố định hình vẽ của mình trên bảng và giải thích lý do nhận dạng đó ,lớp nhận xét ,giáo viên bổ sung cho điểm
*Kết quả:
+ 92,5% học sinh nhận dạng được các hình thái của nhiễm sắc thể qua các kì
+ 55% học sinh vẽ hình chính xác hình thái của nhiễm sắc thể qua ảnh chụp
Ví dụ2: Bài thực hành quan sát và lắp mô hình ADN ở tiết 20.
I/Mục tiêu: (SGK)
- Củng cố kiến thức về cấu trúc phân tử ADN
- Rèn kĩ năng quan sát và phân tích mô hình ADN
- Rèn thao tác lắp ráp mô hình ADN
II/Chuẩn bị:
- Mô hình ADN đã được lắp ráp hoàn chỉnh
- Hộp đựng mô hình cấu trúc phân tử ADN ở dạng tháo rời với số lượng tương ứng
- Màn hình, máy chiếu ,bóng điện
- Đĩa CD có nội dung về cấu trúc ,cơ chế tự nhân đôi của ADN, cơ chế tổng hợp ARN, cơ chế tổng hợp prôtê in
III/ Cách tiến hành:
Do điều kiện trường chúng tôi không có tất cả những thiết bị dạy học mà sách giáo khoa yêu cầu, chúng tôi chỉ có các nuclêôtic rời, bảng từ, đĩa CD, cơ chế tự nhân đôi của ADN, nên chúng tôi đã thống nhất tiến hành như sau:
1) Phương án 1 : (Ở lớp thử nghiệm)
I/Mục tiêu:
- Củng cố kiến thức về cấu trúc phân tử ADN
- Rèn kĩ năng quan sát và phân tích mô hình tự nhân đôi của ADN
II/Chuẩn bị:
- Tranh cấu trúc một đoạn phân tử ADN
- Đĩa CD nội dung cơ chế tự nhân đôi của ADN
- Đầu máy, tivi
III/ Tiến hành:
1.Học sinh quan sát tranh xác định:
- Vị trí tương đối của 2 mạch nuclêôtic
- Đường kính vòng xoắn, số cặp nuclêôtic trong mỗi vòng xoắn
- Sự liên kết các nuclêôtíc của 1 mạch
2.Học sinh xem băng hình cơ chế tự nhân đôi của ADN
3.Thu hoạch:
- Vẽ hình phân tử ADN
- Nguyên tắc tự nhân đôi của ADN
*Kết quả:
Trang 6- Học sinh còn mơ hồ về cấu trúc không gian 3 chiều của phân tử ADN.
- Chưa khắc sâu được quá trình tự nhân đôi của ADN theo nguyên tắc bổ sung, qua khảo sát chỉ có 42% học sinh nắm được cơ chế tự nhân đôi của ADN
2.Phương án 2:(ở lớp kiểm chứng)
I/Mục tiêu:
- Thêm rèn thao tác lắp ráp mô hình tự nhân đôi của phân tử ADN
II/Chuẩn bị: Thêm:
- Hộp đựng các nuclêôtic rời,bảng từ
- Mô hình ADN bằng giấy bìa cứng (mỗi nhóm một mô hình)
- Đèn pin, tấm bìa cứng
III/Cách tiến hành:
1.Quan sát mô hình cấu trúc không gian của phân tử ADN:
- Dùng đèn pin phóng hình chiếu của mô hình ADN lên một tấm bìa cứng đặt song song với trục đứng của mô hình
- Đối chiếu với tranh xác định :
+ Vị trí tương đối của 2 mạch nuclêôtic
+ Chiều xoắn của 2 mạch
+ Sự liên kết các nuclêôtic giữa 2 mạch
2.Lắp ráp cơ chế tự nhân đôi của phân tử ADN:
- Giáo viên cho học sinh xem đĩa CD quá trình tự nhân đôi của phân tử ADN
- Giáo viên thao tác cách lắp ráp 1 đoạn phân tử ADN
Yêu cầu học sinh nhận xét:
+ Cách liên kết của các nuclêôtic
+ Chiều tổng hợp
- Giáo viên giao bài tập cho mỗi nhóm lắp ráp một đoạn phân tử ADN hoàn thành trên giấy
- Các nhóm thao tác trên bảng từ
- Lớp nhận xét về thao tác và kết quả
*Kết quả:
+ 85% học sinh nhận dạng được không gian 3 chiều của phân tử ADN + 97,2% học sinh nắm được cơ chế tự nhân đôi của phân tử ADN
*Rút kinh nghiệm:
Sự thay đổi và vận dụng các thiết bị dạy học một cách linh hoạt sẽ khắc phục được tình trạng thiếu thiết bị dạy học ,tạo niềm tin khoa học cho học sinh ,tiết thực hành trở nên sinh động ,hấp dẫn,học sinh ham thích hơn
B Đối với loại bài có sẵn mẫu vật tự nhiên :
Ví dụ 3: Bài thực hành :Quan sát thường biến tiết 28:
I/Mục tiêu: Như SGK
II/Chuẩn bị: Theo yêu cầu của sách giáo khoa là:
a) Tranh ảnh minh hoạ thường biến như :
Trang 7- Ảnh chụp 2 mầm khoai lang được tách ra từ 1 củ ,một đặt trong tối ,một
để ngoài sáng
- Ảnh chụp hai chậu gieo hạt lúa của cùng một giống ,một chậu đặt trong tối ,một chậu để ngoài sáng
Do điều kiện ở nông thôn học sinh có thể chuẩn bị mẫu vật dễ dàng,do đó giáo viên định hướng để học sinh chuẩn bị theo từng nhóm nên có thể thay thế tranh ảnh bằng mẫu vật thật
b) Ảnh chụp chứng minh thường biến là biến dị không di truyền :
- Ảnh chụp cây rau dừa nước mọc ở 3 môi trường thay bằng mẫu vật thật(các nhóm chuẩn bị)
c) Ảnh chụp minh hoạ ảnh hưởng khác nhau của cùng một điều kiện đối với tính trạng số lượng và chất lượng
Ảnh chụp 2 luống su hào trồng từ một giống nhưng được bón phân ,tưới nước khác nhau ,thay bằng ảnh chụp ảnh hưởng của thức ăn đối với 2 cặp bê sinh đôi cùng trứng (giáo viên chuẩn bị )
III/ Cách tiến hành :
1 Phương án 1 : (lớp thử nghiệm )
a) Nhận biết một số thường biến :
Học sinh quan sát mẫu vật : cây mạ mọc trong 2 môi trường ,2 mầm khoai lang được tách ra từ cây mẹ ,ở 2 môi trường
Hợp tác nhóm hoàn thành bảng:
TT Đối tượng quan
sát
Điều kiện môi trường
Kiểu hình tương
ứng
Nhân tố tác động
1 Cây mạ - có ánh sáng
- trong tối
- lá có màu xanh
- lá có màu vàng
ánh sáng
2 Mầm khoai lang - ngoài sáng
- trong tối
- mầm có màu xanh
- mầm có màu trắng
ánh sáng
b) Phân biệt thường biến với đột biến:
Hướng dẫn học sinh quan sát sự khác nhau của thân cây dừa nước mọc trên bờ ,ven bờ ,bò xuống nước
Nhận xét kiểu hình ở từng môi trường?
Giáo viên gợi ý: Tại sao mọc ven bờ và trên mặt nước chúng đều có thân,
lá to, một phần rễ biến thành phao (cùng kiểu gen, cùng sống trong nước nên có kiểu hình giống nhau)
c) Nhận biết ảnh hưởng của môi trường đối với tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng:
- Giáo viên gắn ảnh chụp ảnh hưởng của tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng đối với 2 cặp bê sinh đôi cùng trứng
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát :
Trang 8+ Cặp trên là 2 bê có lông lang trắng đen + Cặp dưới là 2 bê có lông đen tuyền + Khẩu phần ăn của các cặp bê
-Yêu cầu học sinh nhận xét :
+ Màu lông của các cặp bê
+ Khẩu phần ăn nhiều ->béo ,khẩu phần ăn ít -> gầy
=>Rút ra kết luận: Tính trạng chất lượng (màu lông) phụ thuộc vào kiểu gen ; tính trạng số lượng (cân nặng ) phụ thuộc vào điều kiện sống
* Kết quả: Với phương án này :
+ Ở phần (a) học sinh chỉ thấy được ảnh hưởng của ánh sáng , chưa thấy được ảnh hưởng của các nhân tố khác
+ Ở phần (b) 45,7% học sinh thấy được sự khác nhau giữa thường biến và đột biến
2 Phương án 2 : (lớp kiểm chứng )
I/ Mục tiêu : Như SGK
II/ Chuẩn bị:
a) Thêm mẫu vật cây rau dừa nước ở 3 môi trường
b) Thay cây rau dừa nước bằng 2 đoạn xương rồng được lấy từ cây mẹ nhưng mọc ở 2 môi trường khác nhau: trên đồi trống và vườn nhà ; 2 đoạn thân cây trường sinh được lấy từ gốc cây mẹ mọc ở ngoài vườn và trồng trong nhà
c) Không thay đổi
III/ Cách tiến hành:
a) Tương tự như a1, a2, a3 thêm cây rau dừa nước ,do đó trong bảng thu hoạch có thêm nội dung cây rau dừa nước
b) Phân biệt thường biến với đột biến :
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát mẫu vật:
+ 2 cây xương rồng từ gốc cây mẹ mọc ở 2 nơi khác nhau
+ 2 đoạn cây trường sinh cùng gốc cây mẹ mọc ở 2 nơi khác nhau -Nhận xét :
+ Kiểu hình các cây ở 2 môi trường ? + Nếu thay đổi môi trường sống kiểu hình sẽ như thế nào ? + Vì sao kiểu hình lại thay đổi dễ dàng
Học sinh thảo luận nhóm nêu được:
+Cây xương rồng mọc trong vườn gai mềm ,xuất hiện lá ; ở trên đồi không có lá,gai cứng
Cây trường sinh trồng trong nhà lá nhỏ ,màu nhạt ; mọc ngoài vườn lá to,màu đậm
+ Khi môi trường thay đổi -> kiểu hình cũng thay đổi
+ Kiểu hình thay đổi để thích nghi với môi trường sống
Học sinh rút ra kết luận:
-Thường biến là những biến đổi ở kiểu hình, không di truyền.
Trang 9-Đột biến là những biến đổi trong vật chất di truyền, di truyền được.
c)Tương tự như phương án 1
*Kết quả: + Ở phần a học sinh xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến thường biến
+ Phần b 82% học sinh phát hiện được sự khác nhau giữa thường biến với đột biến
Ví dụ 4: Bài thực hành : Hệ sinh thái ở tiết 54-55.
I/Mục tiêu: Như SGK
II/ Chuẩn bị :
- Dao con,dụng cụ đào đất ,vợt bắt côn trùng
- Túi nilon thu nhặt mẫu vật sinh vật
- Kính lúp
- Giấy ,bút chì ,bảng 51.1 -> 51.4 (SGK)
III/ Cách tiến hành :
1) Phương án 1: (lớp thử nghiệm)
Tiết thứ nhất:
Giáo viên cho học sinh chọn một hệ sinh thái bất kỳ ,hướng dẫn cách nghiên cứu để hoàn thành bảng 51.1 ->51.4 SGK và viết sơ đồ chuỗi thức ăn (hoàn thành ở nhà)
Tiết thứ hai:
- Học sinh báo cáo phần nghiên cứu ở nhà
- Yêu cầu học sinh hợp tác nhóm 8 đề xuất biện pháp bảo vệ tốt hệ sinh thái đó
*Kết quả:
- Học sinh nghiên cứu tràn lan,không tập trung ở một số điểm nóng ở địa bàn Phú Ninh
- Chưa giáo dục được cho học sinh ý thức bảo vệ hệ sinh thái đặc biệt ở rừng cấm đầu nguồn ,hồ Phú Ninh
- Chỉ có 37% học sinh viết đúng sơ đồ chuỗi thức ăn
2 Phương án 2: (lớp kiểm chứng)
I/Mục tiêu: Như SGK
II/ Chuẩn bị :Tương tự phương án 1
III/ Cách tiến hành :
Tiết thứ 1 :
Giáo viên gợi ý để học sinh chọn 1 trong các hệ sinh thái : rừng đầu nguồn Phú Ninh ,hồ Phú Ninh, rừng khánh thọ, sông ,suối ở địa bàn
- Yêu cầu :
+ Ghi rõ địa điểm quan sát + Địa phương nơi có hệ sinh thái đó + Tìm hiểu tác động tích cực và tiêu cực của con người đối với hệ sinh thái đó
Trang 10Giáo viên hướng dẫn kỹ cách hoàn thành bảng 51.1 > 51.4
Tiết thứ 2 :
- Giáo viên chỉ định 6 học sinh báo cáo kết quả thu hoạch Lớp nhận xét
- Yêu cầu hợp tác nhóm:
+ Đề xuất biện pháp bảo vệ tốt hệ sinh thái mà học sinh chọn theo gợi ý của giáo viên
+Viết sơ đồ chuỗi thức ăn,lưới thức ăn trong hệ sinh thái đó
Tất cả viết vào bảng phụ sau đó giáo viên đề nghị một số nhóm treo trên bảng lớn để các nhóm nhận xét ,tranh luận về biện pháp bảo vệ để đi đến kết luận chung và góp ý để hoàn chỉnh chuỗi thức ăn và lưới thức ăn
*Kết quả:
+ 75,5% học sinh viết đúng sơ đồ chuỗi thức ăn
+ Xây dựng được kế hoạch chung cho việc bảo vệ các hệ sinh thái đặc biệt rừng đầu nguồn ,hồ Phú Ninh
|+ Giáo dục ý thức bảo vệ các hệ sinh thái ở địa phương
Một số bài mẫu vật không phù hợp với thời điểm giảng dạy thì chúng tôi thay thế bằng mẫu vật khác mà vẫn đảm bảo đúng mục tiêu yêu cầu đề ra ví dụ bài thực hành: Tập dượt thao tác giao phấn tiết 41 chẳng hạn, mẫu vật lúa, ngô ở thời điểm này địa phương chúng tôi chỉ mới gieo sạ nên chưa có hoa để tiến hành giao phấn, cho nên chúng tôi cho học sinh tìm mẫu vật khác thay thế: bầu,
bí, mướp, dưa leo, cà chua có hoa để tiến hành thực hiện.Tương tự như vậy chúng tôi cũng xây dựng 2 phương án thực hiện, phương án nào đạt kết quả cao hơn chúng tôi áp dụng cho những năm học sau
*Rút kinh nghiệm:
- Cần khai thác triệt để các mẫu vật có sẵn ở địa phương
- Giáo viên cần đầu tư trong công tác soạn giảng,định hướng để học sinh phát huy tốt các mẫu vật ở địa phương
C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Tóm lại, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, để đạt được mục tiêu đào tạo, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thì thiết bị dạy học
là một trong những phương tiện cần thiết không thể thiếu trong tiết dạy, đặc biệt với bộ môn sinh học lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức
Bằng cách hướng dẫn ,định hướng, tổ chức thực hiện chu đáo ở các bài thực hành, học sinh sẽ hình thành được các kỹ năng quan sát, nhận biết, phân tích,vẽ hình, làm tiêu bản học sinh sẽ xử lý được những tư liệu cần thiết liên quan đến các kiến thức cơ bản của bài học, giúp các em rút ra được những kiến thức trọng tâm
Từ kết quả nghiên cứu ở 2 phương án dạy học ở năm học 2005-2006 ,năm học 2006-2007 chúng tôi quyết định sử dụng phương án 2 để dạy các tiết thực hành và đã đạt được kết quả như sau: