Trong hoạt động thương mại, chưa bao giờ hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trở nên quan trọng và phổ biến như hiện nay. Pháp luật Việt Nam nói chung và Luật thương mại nói riêng, đã và đang quan tâm đến loại hình dịch vụ trung gian thương mại này qua các chế định cụ thể.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Trong thời buổi kinh tế thị trường càng ngày càng phát triển thì việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ trong hoạt động kinh doanh thương mại là một vấn đề vô cùng bức thiết Trong hoạt động thương mại, chưa bao giờ hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trở nên quan trọng và phổ biến như hiện nay Pháp luật Việt Nam nói chung và Luật thương mại nói riêng, đã
và đang quan tâm đến loại hình dịch vụ trung gian thương mại này qua các chế định cụ thể Trong phạm vi bài tiểu luận cá nhân, em xin pháp chọn đề tài “Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành”
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
1 Khái niệm
a Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa không được luật thương mại
2005 quy định song có thể xác định được bản chất của pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định tại quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản.Thấy rằng, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
b Khái niệm Ủy thác mua bán hàng hóa
Theo quy định tại điều 155 Luật thương mại 2005, khái niệm Ủy thác mua bán hàng hóa là “hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc
Trang 2mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.”
Như vậy hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại được thực hiện theo sự ủy nhiệm và vì lợi ích của người khác để được hưởng thù lao
c Khái niệm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện công việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện dã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao
ủy thác Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động
ủy thác mua bán hàng hóa
Về bản chất, hợp đồng uỷ thác là một hợp đồng dịch vụ mà trong đó đối tượng của hợp đồng là công việc mua bán hàng hoá Việc xác lập hợp đồng uỷ thác trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận nhằm đề cao tinh thần thiện chí hợp tác trong việc thực hiện cũng như bảo vệ quyền và nghĩa vụ giữa các bên Hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (Điều 159 Luật thương mại 2005)
2 Đặc điểm của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bản chất pháp lý của nó là hợp đồng song vụ và là hợp đồng có điều kiện
Chủ thể: Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác Trong đó:
Bên ủy thác mua bán hàng hóa là thương nhân hoặc không phải thương nhân giao cho bên nhận ủy thác thực hiện mua bán hàng hóa theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao ủy thác ( Điều 157 Luật thương mại 2005)
Bên nhận ủy thác mua bán hàng hóa là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện mua bán hàng hóa theo những
Trang 3điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác (Điều 156 Luật thương mại 2005) Tất
cả các doanh nghiệp có giấy phép đặng kí kinh doanh trong nước hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập nhập khẩu đều được phép nhận ủy thác mua bán hàng hóa
Hình thức: Pháp luật đã quy định rõ tại điều 159 Luật thương mại 2005 về hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa “phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” Trong đó, hình thức có giá trị pháp lý tương đương với văn bản gồm có điện báo, TELEX, FAX, thông điệp
dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật ( khoản 15 Điều 3 Luật thương mại 2005)
Đối tượng: Khác với đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung là hàng hóa thì ở đây hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có đối tượng là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của bên ủy thác
Nội dung: Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là các điều khoản thỏa do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan
hệ ủy thác Trong thực tiễn, nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cần đảm bảo các điều khoản về: hàng hóa được ủy thác mua bán, thù lao, thời hạn thực hiện hợp đồng, trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng, trường hợp miễn trách nhiệm, thủ tục giải quyết tranh chấp Tùy thuộc vào công việc được
ủy thác thì nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được thể hiện khác nhau
3 Giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được giao kết khi một bên chủ thể đề nghị giao kết hợp đồng được bên còn lại chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và giao kết hợp đồng vào thời điểm hai bên đạt được thỏa thuận Trong đó:
Đề nghị giao kết hợp đồng: Là hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể khác theo những điều kiện xác định Đề nghị giao kết hợp đồng có thể do bên ủy thác hoặc bên nhận ủy thác thực hiện
Trang 4 Chấp nhận giao kết hợp đồng: Là sự trả lời của bên nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đối với bên đề nghị giao kết về việc chấp toàn bộ nội dung của đề nghị
Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa: là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản, cho nên thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản ( khoản 4 điều 400 BLDS 2015)
4 Thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Thực hiện hợp đồng là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ đã thỏa thuận nhằm đáp ứng các quyền tương ứng của bên còn lại Việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng được thực hiện dựa trên nguyên tắc:
Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác
Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên , bảo đảm tin cậy lẫn nhau
Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
a Nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Nghĩa vụ của bên ủy thác
Luật thương mại 2005 quy định nghĩa vụ của bên ủy thác rõ ràng tại điều
163, trừ trường hợp có thỏa thuận khác còn lại bên ủy thác phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác;
Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;
Trang 5 Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật
Nghĩa vụ của bên nhận ủy thác: Trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác, còn lại bên nhận ủy thác phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 165 Luật thương mại 2005 Cụ thể là:
Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận;
Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận;
Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác;
Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng
uỷ thác;
Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;
Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra
b Quyền của các bên thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Quyền của bên ủy thác: Được quy định tại điều 162 luật thương mại, cụ thể là bên ủy thác có các quyền sau trừ trường hợp giữa các bên tham gia có thỏa thuận khác
Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác;
Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 163 của Luật này
Quyền của bên nhận ủy thác: Được luật thương mại 2005 quy định tại Điều 164
Trang 6“Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các quyền sau đây:
1 Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
2 Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác;
3 Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuận cho bên uỷ thác.”
5 Vai trò và ý nghĩa của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Thứ nhất, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là thỏa thuận quan trọng mang tính pháp lý cho hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Thứ hai, ghi nhận sự tự do thể hiện ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Thứ ba, là căn cứ pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có vi phạm hợp đồng xảy ra
Thứ tư, giúp nhà nước kiểm soát hoạt động mua bán hàng hóa qua trung gian, đồng thời sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với thực trạng kinh doanh
II ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (giao dịch) là là điều kiện để hợp đồng (giao dịch) đó được pháp luật công nhận Pháp luật thương mại Việt Nam không
có quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Tuy nhiên, hợp đồng là một hình thức của giao dịch dân sự cho nên điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự chính là điều kiện để hợp đồng nói chung
và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng có hiệu lực Vậy nên khi xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ta có thể dựa
Trang 7vào quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự
2015 và các quy định khác của pháp luật
Điều 117 bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Như vậy khi xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, ta xét đến các yếu tố: chủ thể, đối tượng, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng
1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa thông thường.
Chủ thể: Các chủ thể tham gia hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải
có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn , hoạt động mua bán hàng hóa, chủ thể chủ yếu là thương nhân Tuy nhiên trong hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, chủ thể có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân, gồm có: cá nhân thông thường, thương nhân, các cơ quan nhà nước, các pháp nhân khác Như vậy điều kiện đối với chủ thể của loại hợp đồng này cụ thể là:
Đối với cá nhân thông thường: Như pháp luật dân sự quy định, cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi , đảm bảo cho chủ thể được pháp luật cho phép bằng khả năng của mình xác lập các quyền, nghĩa vụ dân sự
Trang 8 Đối với thương nhân: Luật thương mại quy định, tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch thương mại theo quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của thương nhân
Đối với các cơ quan nhà nước, các pháp nhân khác: Năng lực hành vi dân
sự của cơ quan nhà nước, các pháp nhân khác được xác định theo quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ đối với cơ quan nhà nước, pháp nhân Ngoài ra, cơ quan nhà nước, pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp luật hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa với tư cách của chủ thể nhận uỷ thác, phải đáp ứng điều kiện là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác mua bán
Đối tượng: Như đã biết, đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác thực hiện theo sự ủy quyền của bên ủy thác Đối với đối tượng của hợp đồng này, điều kiện là:
Là công việc hợp pháp, có thể thực hiện được
Hàng hóa được ủy thác mua bán trong hợp đồng không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam
Mục đích và nội dung hợp đồng:
Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Tức là hợp đồng đó phải hợp pháp, các điều khoản của hợp đồng phải tuân theo các quy phạm bắt buộc của pháp luật Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải có các điều khoản chủ yếu của hợp đồng hay còn gọi là các điều khoản cơ bản, điều khoản luật định nhất định phải có Nội dung của hợp đồng gồm các điều khoản chủ yếu sau:
Hàng hóa được ủy thác mua bán không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật
Số lượng, chất lượng, giá cả và quy cách của hàng hóa được ủy thác mua bán
Trang 9 Thời hạn thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Thù lao ủy thác
Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng
Tranh chấp và thủ tục giải quyết tranh chấp
Hình thức: Như đã trình bày ở phần đặc điểm của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hình thức của loại hợp đồng này phải được lập thành văn bản hoặc hình thức pháp lý tương đương văn bản
2 Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
Chủ thể:
Đối với hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài nhưng chủ thể của hợp đồng là cá nhân, thương nhân người Việt Nam thì vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực chủ thể
Đối với hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà một bên chủ thể là cá nhân, thương nhân nước ngoài:
Năng lực chủ thể của cá nhân người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch, pháp luật Việt Nam đã quy định tại khoản 1 điều 673 bộ luật dân sự 2015
Năng lực chủ thể của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi mà pháp nhân đó được thành lập Tuy nhiên nếu pháp nhân nước ngoài đó xác lập thực hiện giao dịch tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân đó được xác định theo pháp luật Việt Nam (khoản 3 điều 676 Bộ luật dân sự 2015)
Ngoài các điều kiện trên thì đối với chủ thể trong hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo các quy định khác của pháp luật Việt Nam, ví dụ:
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 có quy định đối với thương nhân thì phải hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh ( khoản 1 điều 6) và thương nhân là bên nhận ủy thác thì phải kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác mua bán (Điều 156) Như vậy giao
Trang 10dịch ủy thác mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng mua bán ủy thác mua bán hàng hóa mới có hiệu lực
Đối tượng:
Cũng như hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa thông thường, thì hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài cũng có đối tượng là công việc mua bán hàng hóa Như vậy, công việc mua bán hàng hóa đó phải là công việc hợp pháp, có thể thực hiện được, hàng hóa được ủy thác không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các quy định của pháp luật nơi xuất sứ của hàng hóa và pháp luật quốc tế
Mục đích và nội dung hợp đồng:
Mục đích và nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa hóa có yếu
tố nước ngoài phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước áp dụng và Luật quốc tế Do sự khác nhau về tiền tệ và pháp luật giữa các quốc gia, nên ngoài các điều khoản chủ yếu phải có giống như hợp đồng ủy thác mua bán thông thường, thì hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài cần có các điều khoản khác quy định chặt chẽ về việc thanh toán, giải quyết khi có tranh chấp xảy ra, như:
Đồng ngoại tệ thanh toán và ngân hàng lựa chọn ủy thác thanh toán
Cơ quan tài phán nước áp dụng giải quyết tranh chấp
Hình thức hợp đồng
Hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài
“được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam” - khoản 7 điều 683 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 đã quy định rõ