1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUA PHƯƠNG PHÁP DỰ GIỜ NHỮNG BÀI KHÓ MÔN NGỮVĂN Ở TỔ CHUYÊN MÔN

11 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 80 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế thay đổi phương pháp dự giờ bằng cách có đầu tư ở cả người dạy và người dự sẽ đem lại kết quả cho sinh hoạt chuyên môn nói chung và việc dự giờ nói riêng bớt nhàm chán, đơn điệu, hứng thú hơn trong sinh hoạt ở tổ chuyên môn. Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng học tập trong học sinh.

Trang 1

Đề tài:

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUA PHƯƠNG PHÁP DỰ GIỜ NHỮNG

BÀI KHÓ - MÔN NGỮ VĂN Ở TỔ CHUYÊN MÔN.

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Năm học 2005 - 2006 là năm học thứ tư thực hiện chương trình thay sách ở bậc THCS Qua 4 năm thực hiện chương trình thay sách ở tất cả các khối lớp 6, 7, 8, 9, tuy còn nhiều bất cập, bỡ ngỡ về chương trình cũng như phương pháp giảng dạy, song nhìn chung chúng ta đã có những bước tiến đáng kể dù mới chỉ là bước tiến ban đầu Đó là dấu hiệu đáng mừng, khích lệ

cả người dạy lẫn người học từng bước nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá những cái hay, cái mới trong quá trình dạy và học

Trong suốt thời gian qua, một vấn đề được giáo viên đặc biệt quan tâm, băn khoăn, trăn trở là làm thế nào để nắm bắt được nội dung chương trình và phương pháp dạy học mới, giúp học sinh khám phá, chiếm lĩnh tri thức, để từng bước nâng cao chất lượng học tập Đã có nhiều biện pháp được áp dụng trong quá trình giảng dạy, song một trong những biện pháp được chúng tôi thử nghiệm trong năm học vừa qua và thu được kết quả khá khả quan Đó là

biện pháp: "NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUA PHƯƠNG PHÁP DỰ GIỜ NHỮNG BÀI KHÓ MÔN NGỮVĂN Ở TỔ CHUYÊN MÔN"

Trong nhà trường, đối với giáo viên, sinh hoạt chuyên môn là một việc làm thường xuyên, nghiêm túc và cần thiết trong sinh hoạt dạy và học Một trong những nội dung sinh hoạt chuyên môn là việc dự giờ của giáo viên Đây

là là một việc làm bình thường, quen thuộc của mỗi giáo viên Nếu không thực sự quan tâm, cải tiến thì việc làm vốn đã "bình thường quen thuộc" lại càng trở nên đơn điệu, gượng ép, nhàm chán đối với giáo viên Vì thế vấn đề đặt ra là cách dự giờ như thế nào để mang lại hiệu quả cho cả người dạy và người dự

Thực tế nhiều năm cho thấy, việc dự giờ ở mức độ nào đó chưa thực sự phát huy hết được mục đích và tác dụng hữu hiệu của nó.Vì như đã trình bày

ở trên: Giáo viên coi đây là việc làm bình thường, "được chăng hay chớ", nên tình trạng đối phó, áp đặt máy móc và gò bó ấy vẫn tồn tại trong sinh hoạt chuyên môn Kết quả, sau tiết dự giờ là những lời góp ý chung, qua loa, chiếu

lệ, mang tính chủ quan Để rồi cả người dạy - người dự đều ở trạng thái mơ

hồ vì cả hai bên đều chưa nghiên cứu sâu bài dạy

Chính vì thế thay đổi phương pháp dự giờ bằng cách có đầu tư ở cả người dạy và người dự sẽ đem lại kết quả cho sinh hoạt chuyên môn nói chung và việc dự giờ nói riêng bớt nhàm chán, đơn điệu, hứng thú hơn trong sinh hoạt ở tổ chuyên môn Từ đó, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng học tập trong học sinh

II CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

Trang 2

Xuất phát từ hiện trạng trên, chúng tôi mạnh dạn làm một việc mới trên nền cái cũ: Thay vì dự giờ ở những tiết bình thường và đại trà như trước đây,

chúng tôi tiến hành dự giờ ở những tiết khó trong bộ môn Ngữ văn từ

lớp 69 Việc dự giờ ở những tiết khó (khó dạy- khó học) được thể hiện bằng những việc làm sau:

Nghiên cứu lựa chọn và thống nhất trong toàn tổ những tiết khó trong chương trình từ lớp 6 đến lớp 9

- Phân công soạn và dạy cho từng cá nhân, nhóm

- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra rút kinh nghiệm

- Góp ý và đánh giá cụ thể, chi tiết qua từng bài dạy, người dạy và thực

tế ở từng lớp theo hướng đã thống nhất trước giữa người dạy và người dự

Sau đây là những bước cụ thể được tiến hành trong quá trình dự giờ của chúng tôi

1- Nghiên cứu, lựa chọn và thống nhất trong tổ toàn những tiết khó dạy trong chương trình từ lớp 6 đến lớp 9:

Khi thực hiện chương trình giảng dạy, chúng ta đều nhận thấy rằng: Chương trình SGK Ngữ văn mới ở bậc THCS mang tính ưu việt hơn so với chương trình SGK cũ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong việc khám phá, chiếm lĩnh tri thức Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy chúng

ta đều nhận thấy rằng: Chương trình SGK mới dung lượng kiến thức ở các tiết học không đồng đều Có tiết kiến thức nhiều, có tiết kiến thức ít hoặc do đặc thù của mỗi phân môn dễ dạy như Tiếng Việt, có phân môn phức tạp như Văn, có phân môn khô, khó như Tập làm văn

Khi dạy để cho tổ dự giờ, người dạy thường tránh né những tiết khó mà chọn những tiết dễ dạy để đỡ phải đầu tư thời gian cũng như tránh sự khó khăn, phức tạp, đụng chạm trong quá trình khai thác kiến thức bài dạy Như thế bài đã khó dạy, khó học lại bỏ qua hết năm này qua năm khác để rồi mỗi giáo viên trong quá trình giảng dạy khi dạy trúng những bài khó này thường lúng túng về phương pháp, hời hợt trong khi khai thác, cung cấp kiến thức cho học sinh

Nếu chúng ta mạnh dạn chọn những tiết dạy khó dạy thì vấn đề sẽ khác Vì làm theo cách này ngay từ đầu năm mỗi giáo viên trong tổ sẽ biết mình dạy bài khó nào? Ở lớp nào? Bài này khó ở chỗ nào? Phương pháp dạy bài này như thế nào cho hợp lý? Như vậy tất cả giáo viên dạy từ lớp 6 đến lớp

9 trong tổ đều có thể nắm bắt được các bài khó dạy trong chương trình Từ đó giáo viên có sự chuẩn bị cần thiết, suy nghĩ và đầu tư cho cách dạy của mình

và đồng nghiệp trong từng bài khó

Vậy trước hết, ngay từ trong hè, mỗi giáo viên được phân công dạy ở từng khối lớp phải nghiên cứu kỹ chương trình của khối lớp mình dạy để tìm

ra những bài nào là khó, khó dạy ở chỗ nào, khó ở nội dung hay phương

Trang 3

pháp.Sau đó báo cáo thống nhất với nhóm trưởng Nhóm trưởng tổng hợp báo cáo lên tổ trưởng chuyên môn để tổ trưởng chuyên môn tổng hợp chung và xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện những bài khó ở tất cả các khối lớp trong toàn năm học Cụ thể như sau:

TT

Những khó

khăn, vướng

mắc

Tên bài

1 Một số tiết,

lượng kiến thức

quá nhiều so

với thời lượng

qui định

-Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của

từ (T19) -"Ếch ngồi đáy giếng",

"Thầy bói xem voi",

"Đeo nhạc cho mèo"

(T39-40)

-Tính từ và cụm tính từ

(T 63)

-"Sông nước Cà Mau",

"Vượt thác"

(T85) -Ôn tập truyện ký (T117)

-"Cảnh khuya - Rằm tháng Giêng"

(1 tiết) -"Một thứ quà của lúa non: Cốm"

(1 tiết) -"Bài ca Côn Sơn - Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra" (1 tiết) -"Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" (1 tiết)

-"Tức nước

vỡ bờ" (1 tiết)

-"Nhớ rừng' (1 tiết) -"Hội thoại" (1 tiết) -"Ngắm trăng - Đi đường" (1 tiết)

-"Kiều ở lầu Ngưng Bích - Mã Giám Sinh mua Kiều" (2 tiết) -"Đoàn thuyền đánh cá - Bếp lửa" (2 tiết)

-"Luyện tập viết đoạn văn

tự sự có yếu tố miêu tả" (1 tiết)

2 Một số tiết

thiếu ngữ liệu

để qui nạp kiến

thức hoặc thiếu

nội dung để

dạy

- bài "Danh từ"

-"Thành ngữ"(T48)

- Tập làm thơ 8 chữ (T88, 89)

3 Một số văn bản

mới lạ đối với

HS

Văn bản nhật dụng

Phần văn bản trung đại Việt Nam

- Nói với con

- Bến quê

- Những ngôi sao xa

Trang 4

4 Chương trình

địa phương ở

một số tiết còn

thiếu tư liệu để

dạy

5 Các tiết luyện

nói ở phân môn

TLV giáo viên

còn lúng túng

về cách tổ chức

lớp học

Trang 5

Như vậy qua nghiên cứu chương trình, các cá nhân, nhóm, tổ đều xác

định được những khó khăn của từng bài dạy khó Từ đó có hướng, có kế

hoạch cụ thể để giải quyết những vướng mắc đó

2- Phân công soạn và dạy cho từng nhóm, cá nhân:

Sau khi nghiên cứu kỹ chương trình, vấn đề đặt ra với toàn tổ là: Các

tiết khó khá nhiều và nằm rãi rác trong toàn bộ chương trình từ lớp 6 đến lớp

9 Vì vậy chỉ dạy các tiết khó vào các tiết dạy thực tập trong các buổi sinh

hoạt chuyên môn 2 tuần một lần là không thực hiện được vì theo phân phối

chương trình các tiết khó có thể không nằm đúng ở các tuần sinh hoạt chuyên

môn theo lịch của tổ, thì lấy đâu tiết khó để dạy Hoặc các tuần không sinh

hoạt chuyên môn thì lại có tiết khó Hơn nữa dạy các tiết khó không phải là

vấn đề giải quyết trong một sớm một chiều, không thể vội vàng mà phải tiến

hành từng bước một Cuối cùng chúng tôi đi đến thống nhất:

Nếu buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ đúng vào tuần có có tiết khó thì

sẽ tiến hành dạy tiết khó đó trong buổi sinh hoạt chuyên môn Nếu các tuần

có tiết khó mà không đúng lịch sinh hoạt chuyên môn thì giáo viên vẫn dạy

bình thường và giáo viên trong tổ sẽ đi dự tiết khó đó trong tiết dạy trên lớp

theo thời khóa biểu, và đó cũng là chỉ tiêu dự giờ đối với mỗi giáo viên

Trong năm học 2005 - 2006, chúng tôi mới thực hiện dạy được một số

bài khó ở các khối lớp với sự phân công cụ thể như sau:

Trang 6

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

3

5

5

7

8

8

9

9 17 19 31 32 29 42

- Tức nước vỡ bờ

- Sông núi nước Nam - Phò giá về kinh

- Từ nhiều nghĩa và hiện tựơng chuyển nghĩa của từ

- Kiều ở lầu Ngưng Bích - Mã Giám Sinh mua Kiều

- Danh từ

- Luyện nói văn kể chuyện

- Chương trình địa phương: Phần văn

- Luyện nói văn biểu cảm

- Đoàn thuyền đánh cá - Bếp lửa

- Rằm tháng giêng - cảnh khuya

- Nhớ rừng - Ông đồ

- Nói với con

- Ca Huế trên sông Hương

- Bến quê

8 7 6 9 6 6

9 7

9 7 8 9 7 9

- Lượng kiến thức nhiều, thời gian ít

Nt Nt Nt

- Thiếu nhiều ngữ liệu để quy nạp kiến thức

- Cách tổ chức luyện nói cho học sinh theo phương pháp mới

- Không có tài liệu để dạy

- Cách tổ chức luyện nói cho học sinh theo phương pháp mới

- Kiến thức nhiều, thời gian ít

Nt Nt

- Bài mới lạ, triết lý sâu sắc

- Bài nhiều kiến thức, vấn đề tương đối khó đối với trình độ HS lớp 7

- Bài văn mang tính triết lý sâu sắc

Trang 7

Như vậy, qua kế hoạch trên của tổ, mỗi giáo viên đã biết mình sẽ dạy hoặc dự bài khó nào, để có sự chuẩn bị cần thiết cho bài dạy, bài dự của mình

Từ đó mỗi giáo viên sẽ tự nghiên cứu bài, soạn bài, sau đó đem ra nhóm, tổ thảo luận Việc làm này giúp cho các bài dạy khó có dịp được phân tích ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau để cùng tìm ra những nguyên nhân, những yếu tố gây khó khăn cho bài dạy Qua nhiều ý kiến tranh luận, bổ sung khác nhau, bài soạn trên sẽ có chất lượng cao hơn so với một tiết dạy bình thường

cả về nội dung cũng như phương pháp Hơn nữa đây là một tiết khó, tiết học

mà trước đây giáo viên thường né tránh khi được dự giờ thì bây giờ người dạy phải đi thẳng vào chính cái khó ấy (như đã trình bày ở trên)

Việc làm này sẽ được thực hiện sau các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc hội ý chuyên môn của tổ Cụ thể là: Sau khi dự giờ, góp ý rút kinh nghiệm tiết dạy của đồng nghiệp thì công việc tiếp theo sẽ là sự chuẩn bị cho bài dạy khó sắp tới (như kế hoạch đã trình bày) Như vậy không những giáo viên trực tiếp dạy phải đầu tư soạn giảng và các giáo viên khác (người dự) cũng phải soạn bài một cách nghiêm túc để có sự so sánh, đối chiếu cụ thể

Từ đó tự rút ra được những kinh nghiệm cho mỗi bài dạy khó này

Tóm lại: Sự chuẩn bị và đầu tư như trên cho một bài dạy khó sẽ là một bước hổ trợ lớn cho người dạy và người dự trong quá trình giảng dạy Song vẫn không thể thiếu bước kiểm tra của nhóm, tổ chuyên môn

3- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và rút kinh nghiệm:

Song song với bước vừa trình bày ở trên là việc theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ cho bài dạy khó và người dạy Việc làm này có tác động đến việc soạn giảng nói chung của giáo viên, buộc giáo viên phải quan tâm đến bài dạy của đồng nghiệp không thể thờ ơ theo cách trước đây: Ai dạy bài nào phải chịu trách nhiệm về bài ấy Từ đó giáo viên phải tranh luận, học hỏi để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt nhất cho bài học

Nhóm trưởng, tổ trưởng sẽ là người thực hiện công việc đôn đốc theo dõi, kiểm tra này một cách thường xuyên, nghiêm túc Người kiểm tra trước hết phải chú ý đến tiết dạy khó Trong quá trình kiểm tra phải xem mức độ giải quyết vấn đề trong bài dạy khó của người soạn thể hiện như thế nào? Cần

bổ sung những gì để giúp giáo viên hoàn thiện giáo án Sau khi đựơc phân công soạn, thảo luận và xây dựng bài soạn ở nhóm, tổ, việc kiểm tra rút kinh nghiệm sẽ tạo được ý thức chủ động cho người dạy và người dự đối với bài dạy mà trước đó đôi lúc giáo viên tỏ ra lơ là hay thiếu sự đầu tư cần thiết

Ví dụ: Tuần 7 tiết 31 lớp 9 sẽ gặp bài học : "Kiều ở lầu Ngưng Bích"

và "Mã Giám Sinh mua Kiều" (tự học có hướng dẫn) Vấn đề khó của bài

này là:

- Sắp xếp trình tự hai đoạn trích trong bài học không hợp lý vì : Sự việc Kiều ở lầu Ngưng Bích của mụ Tú Bà diễn ra sau sự việc Kiều bị bán cho Mã

Trang 8

Giám Sinh Thế mà bài này lại yêu cầu dạy đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" trước, dạy đoạn "Mã Giám Sinh mua Kiều" sau Vậy trong quá trình

giảng dạy phải dạy thế nào để không phá vỡ tính liên kết của tác phẩm, để học sinh nắm bắt kiến thức một cách liên mạch hợp lôgíc

- Hai đoạn trích này là hai đoạn trích hay, đặc sắc của "Truyện Kiều".

Mỗi đoạn trích diễn tả Kiều ở một thời điểm, một biến cố khác nhau và mỗi

đoạn trích tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Du: "Kiều ở lầu Ngưng Bích" sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc "Mã Giám Sinh mua Kiều" sử dụng bút pháp tả thực sâu sắc Nên vấn đề đặt ra phải có sự so

sánh đối chiếu nội dung - nghệ thuật của hai đoạn trích này như thế nào cho hợp lý

- Thời lượng dành cho mỗi đọan trích này phải là một tiết mới đủ Vậy

mà theo phân phối chương trình, hai đoạn trích chỉ học trong một tiết, dù

đoạn "Mã Giám Sinh mua Kiều" (tự học có hướng dẫn) là quá khó cho giáo

viện trong việc giảng dạy tiết này

Xác định được những cái khó cụ thể như trên, người soạn sẽ soạn như thế nào? Người kiểm tra sẽ kiểm tra và rút kinh nghiệm gì cho người soạn? và chúng tôi cả người soạn và người kiểm tra cần chú ý những điểm sau về bài dạy này:

- Xác định trong hai đoạn trích này, đoạn nào là trọng tâm cần xoáy sâu, xoáy ở mức độ nào, đoạn nào chỉ cần lướt qua, để phân bố thời gian cho hợp lý

- Khi phân tích đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" vẫn phải đảm bảo

dung lượng kiến thức cũng như phương pháp giảng dạy theo hướng tích hợp, tích cực Vẫn phải bám vào ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu của bài thơ để khai thác phân tích làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của nó, không được làm nhanh, làm tắt

- Việc hướng dẫn học sinh tự học đoạn "Mã Giám Sinh mua Kiều"

không thể qua loa, đại khái cho xong chuyện mà phải tiến hành tương đối bài bản theo các bước sau:

+ Xác định vị trí đoạn trích, đại ý, bố cục

+ Chỉ ra các nội dung cần phân tích:

 Chân dung Mã Giám Sinh

 Tâm trạng Thúy Kiều  Thái độ của Nguyễn Du

+ Lưu ý các từ ngữ, hình ảnh cần phân tích trong đoạn trích

+ Nhận xét về bút pháp tả thực trong đoạn trích

Sau khi xác định được những vấn đề cần lưu ý như trên cho cả người soạn và người kiểm tra thì vấn đề khó đã phần nào được tháo gỡ Công việc còn lại là thực hiện tiết dạy trên thực tế sẽ như thế nào? Kết quả ra sao?

Trang 9

4- Góp ý và đánh giá cụ thể, chi tiết qua từng bài dạy, người dạy và thực tế ở từng lớp theo hướng đã thống nhất trước giữa người dạy và người dự:

Đây là việc làm sau cùng qua hiệu quả thực tế trên lớp sau tiết dạy và

dự

Để làm việc này một cách tương đối chính xác, khoa học, khách quan, cả người dạy và người dự phải kiểm tra lại sự chuẩn bị trước đây của mình Tất

cả giáo viên dự đều phải góp ý, đánh giá cụ thể cho bài dạy này, không nên

cả nể, né tránh mà góp ý qua loa, đại khái Đặc biệt chú trọng đến "tính chất khó" đã thấy trước, xem giáo viên đã thực hiện được bài khó dạy ở mức độ nào, còn tồn tại những gì, cách khắc phục ra sao

Như vậy, ngoài những tiêu chuẩn đánh giá một tiết dạy bình thường, việc góp ý và đánh giá bài dạy khó đòi hỏi sự tập trung và sự chuẩn bị cao hơn ở cả hai phía: người dạy và người dự Làm thế nào để người dạy, người

dự thấy được ưu điểm và tồn tại trong bài học mà mình đã cùng nhau nghiên cứu đầu tư xây dựng, thống nhất trước đây theo hướng được chọn để dạy Từ

đó rút ra phương pháp giảng dạy chung nhất, tốt nhất cho bài dạy khó này nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực, chủ động, nhẹ nhàng, thỏa mái

III.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

So sánh đối chiếu với cách làm bình thường trước đây trong việc dự giờ ở tổ chuyên môn (như đã nêu ở phần đặt vấn đề), phương pháp dự giờ ở những bài khó mà chúng tôi thực hiện trong năm học 2005 - 2006 đã mang lại một số kết quả khả quan hơn Cụ thể là:

- Giáo viên đã mạnh dạn đi thẳng vào bài khó mà không né tránh như trước đây

- Người dạy và người dự đều có sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy khó (vì có sự hóp ý, thảo luận và kiểm tra việc soạn bài khó này theo từng cá nhân

- nhóm - tổ đã chọn từ đầu năm học) Sự chuẩn bị chu đáo này giúp giáo viên

tự tin hơn khi bước vào tiết dạy khó

- Giáo viên nào cũng được soạn giảng bài khó (vì lớp nào cũng có bài khó) tránh việc nói lý thuyết suông, chung chung khi góp ý giờ dạy của đồng nghiệp

- Việc soạn giảng bài khó trở thành một nếp sinh hoạt chuyên môn thường xuyên, nghiêm túc mà không gượng ép, gò bó hay làm qua loa, chiếu

lệ như trước đây Đặc biệt với phương pháp này, người dự cũng phải động não và đi vào vấn đề trọng tâm vì tiết dạy có sự góp ý trước của bản thân mình

-Tiết dạy khó đã được cả tổ tháo gỡ, tạo điều kiện cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, tìm tòi phương pháp

Trang 10

Tóm lại: Giải quyết được phần nào những tiết dạy khó, bài dạy khó trong chương trình Ngữ văn ở bậc THCS trong các buổi sinh hoạt ở tổ chuyên môn đã giúp giáo viên tháo gỡ được nhiều khó khăn trong việc soạn giảng Làm cho việc soạn giảng kể cả những tiết bình thường nhẹ nhàng hơn, tránh tâm lý nặng nề cho giáo viên Từ đó góp phần nâng cao chất lượng cho từng bài dạy, tiết dạy đề nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng học tập trong nhà trường nói chung

IV MỘT SỐ KINH NGHIỆM:

Qua một năm thực hiện "Phương pháp dự giờ những bài khó môn Ngữ văn ở tổ chuyên môn" với những kết quả thu được như đã trình bày ở

trên, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

1- Về phía tổ chuyên môn:

- Có kế hoạch thực hiện "Phương pháp dự giờ những bài khó'' ngay

từ trong hè để mỗi giáo viên có thời gian chủ động nghiên cứu kỹ lưỡng chương trình để chọn lựa ra những bài dạy khó, học khó ở tất cả các khối lớp

- Sau khi tổng hợp kết quả nghiên cứu chương trình của giáo viên qua nhóm chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn lên kế hoạch phân công cụ thể bài dạy, người dạy, thời gian dạy cho hợp lý

- Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc soạn giảng của giáo viên, giúp người dạy và người soạn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình soạn giảng bài khó

- Rút kinh nghiệm từng bài dạy khó Đánh giá, xếp loại giờ dạy một cách nghiêm túc

- Thống nhất phương pháp giảng dạy từng bài khó trong toàn tổ chuyên môn để giáo viên học tập, áp dụng trong quá trình giảng dạy

- Luôn động viên, khích lệ để giáo viên tự tin hơn khi giảng dạy những bài khó

2- Về phía giáo viên:

- Không nên né tránh, không có tâm lý sợ dạy bài khó mà luôn tự tin vào khả năng giảng dạy của mình cũng như sự hổ trợ tích cực của đồng nghiệp

- Phải tìm tòi, nghiên cứu tài liệu chuyên môn, học hỏi đồng nghiệp để soạn bài dạy khó đạt chất lượng cao

- Nắm chắc phương pháp giảng dạy mới theo hướng tích hợp, tích cực của môn học

- Xác định được kiến thức trọng tâm để phân bố thời gian, xoáy, lướt cho hợp lý

- Lắng nghe sự góp ý của đồng nghiệp để tự rút kinh nghiệm trong quá trình soạn giảng từng bài khó cụ thể

3- Về phía học sinh:

Ngày đăng: 08/01/2018, 18:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w