1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCS

78 341 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 12,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCSSKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCS

Trang 1

TỰ HỌC HIỆU QUẢ MÔN ĐỊA LÍ THCS

Người thực hiện: Thị La Vet

Trang 2

4 Địa chỉ: Ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng

Nai 5 Điện thoại: 01656182082

7 Chức vụ: Giáo viên

8 Nhiệm vụ được giao:

- Tổ phó Tổ Văn - Sử - Địa - GDCD

- Giáo viên chủ nhiệm lớp 7/3

- Giảng dạy môn Địa lí khối 7, 9, 10

- Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí khối 10

9 Đơn vị công tác: Trường PTDTNT – THCS&THPT Điểu Xiểng - Ấp Nông Doanh – Xã Xuân Định – Huyện Xuân Lộc – Tỉnh Đồng Nai

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Sư phạm

- Năm nhận bằng: 2011

- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Địa Lí

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Địa lí

Số năm có kinh nghiệm: 5

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

+ Năm học 2015 – 2016: Kinh nghiệm dạy tích hợp biến đổi khí hậu ở một

số bài Địa lí 9 hiệu quả

+ Năm học 2016 – 2017: Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệuquả môn Địa lí THCS

Trang 3

sự trong giáo dục hiện nay Thực tế cho thấy các em đạt kết quả cao trong các kìthi học sinh giỏi là những em dành rất nhiều thời gian cho việc tự học của mình.

Tự học là một thuộc tính vốn có của con người

Đặc trưng của môn Địa lí mang tính chất tổng hợp và có tính liên ngành,kiến thức Địa lí rộng nhưng thời gian học trên lớp chỉ có giới hạn Hiện nay, cấpTHCS nói chung và ở trường Dân tộc nội trú THCS&THPT Điểu Xiểng nói riêng,

đa số học sinh có ý thức tự học các môn học cũng như môn Địa lý chưa cao vàchưa hiệu quả Do đó, việc hướng dẫn học sinh tự học sao cho hiệu quả ở trườngTHCS là điều rất cần thiết để tích lũy kiến thức cho bản thân

Môn Địa lý trong trường học rất nhiều học sinh tỏ ra thờ ơ xem nhẹ, họcmột cách đối phó vì cho rằng đây chỉ là bộ môn phụ, không quan trọng Nhưngthực ra đây là một bộ môn chứa đựng cả một kho tàng kiến thức về cả tự nhiên –kinh tế - xã hội, đặc biệt là Địa lý 7 Muốn học sinh học môn Địa lí hiệu quả, giáoviên cần vận dụng những phương pháp phù hợp với đặc thù bộ môn và còn tuỳthuộc vào của từng bài, từng đối tượng học sinh để các em nhận thấy được vai tròquan trọng của bộ môn Địa lý, từ đó hình thành nên ý thức tự học ở trên lớp cũngnhư ở nhà thật hiệu quả

Để nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phát huytính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh Đó cũng là một qua trình trăn trở củanhà giáo, đòi hỏi người thầy một trình độ lành nghề cao, một sự cần thiết phải ứngdụng những phương pháp giảng dạy nhiều hình vẻ khác nhau, phải soạn thảonhững bài tập trên cơ sở cân nhắc đến vốn hiểu biết của học sinh, phải dạy cho các

em phương pháp hoạt động học tập, phải giáo dục cho các em tính độc lập, tínhtích cực, sáng tạo… Vì vậy trong một giờ học không thể truyền tải thông tin đầy đủmọi vấn đề mà học sinh cần khám phá, cần biết , không thể phát huy hết mọi sáng

tạo của học sinh Xuất phát từ lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả môn Địa lí THCS”

1/ Giới hạn, phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học

hiệu quả môn Địa lí THCS

2/ Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7/3, 7/2 và 9/1, 9/2 trường PTDTNT-

THCS&THPT Điểu Xiểng

3/ Phương pháp nghiên cứu: Quan sát thái độ học tập, khả năng tiếp thu kiến

thức và hứng thú học tập sau mỗi tiết học Địa lí

4/ Thời gian nghiên cứu: Trong suốt quá trình giảng dạy địa lí năm học 2016-

2017

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 4

Trong tự học, yếu tố quan trọng không phải là thời gian mà là phương phápđúng đắn và sự thành thạo khi sử dụng các phương pháp ấy hay chính là kỹ năng

tự học, bởi vì nếu người học sở hữu kỹ năng tự học tốt thì ngoài việc đạt hiệu quảhọc tập cao còn rút ngắn được thời gian dành cho việc học Nếu chỉ tự học màkhông có định hướng, không được hướng dẫn, người học thường tốn nhiều thì giờ,

dễ có những lỗ hổng kiến thức sơ đẳng, trở thành người cái gì cũng biết, nhưngkhông có thứ nào biết đến nơi đến chốn Khi đó quá trình tự học sẽ trở nên lãng phí

về thời gian, công sức, không có hiệu quả và chất lượng thực

Giáo viên cần phải tư vấn, phân tích cho học sinh hiểu rằng nhờ có quá trình

tự học, học sinh mới có thể phát huy được tiềm năng, nội lực của bản thân để vươnlên đạt kết quả cao trong học tập Tự học là hình thức học tập không thể thiếu đượccủa học sinh đang học tập tại các trường THCS Tổ chức hoạt động tự học mộtcách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở ngườihọc mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường

Trong quá trình tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chínhnhững lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy học sinh tư duy để thoát khỏi “lúngtúng”, nhờ vậy mà học sinh thành thạo về mặt nhận thức và lĩnh hội kiến thức, và

đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi sẽ nâng caođược kết quả học tập Tự học có ý nghĩa thực sự to lớn đối với bản thân học sinh,giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình đối với chất lượng, hiệu quảcủa quá trình dạy học - đào tạo trong nhà trường

Muốn tự học tốt thì ngay khi còn ngồi trên ghế nhà nhà trường, nơi có sựgiúp đỡ của thầy cô giáo, mỗi một học sinh phải tranh thủ rèn luyện được động cơhọc tập tốt, nắm vững phương pháp học tập, phương pháp thực hành, phương phápnghiên cứu, có được kĩ năng địa lí, chịu khó quan sát, suy nghĩ, tập được thói quenđọc sách, thích lên mạng tìm hiểu sâu các vấn đề, nhất là có được tính đam mêkhoa học

Tự học luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà giáo dụctrong và ngoài nước, dưới nhiều góc độ khác nhau như: phát huy tính tính cực, tính

tự lập, tự giác và tính sáng tạo của người học Cùng với xu thế phát triển của thờiđại, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển đã đi sâu nghiên cứu và tối ưu hóaviệc học, hình thành và phát triển năng lực tự học để người học có thể học thườngxuyên, học suốt đời

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 5

Trường Dân tộc nội trú THCS&THPT Điểu Xiểng hiện nay có 14 lớp vớihơn 400 học sinh từ lớp 6 đến lớp 10 Học sinh của trường chủ yếu là con em đồngbào dân tộc thiểu số, đa phần gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nhà xa, 100% họcsinh ở nội trú Phần lớn các em ngoan, lễ phép, chăm học nhưng cũng có một phầnlớn học yếu, thiếu sự dạy bảo của người lớn nên việc xây dựng ý thức tự học hiệuquả rất quan trọng

Bản thân tôi đã được nhiều năm giảng dạy Địa lý 7 và 9 Đối với kiến thứcĐịa lí 7, cô và trò như được trải qua một chuyến du lịch vòng quanh Trái Đất, đượcbiết về thiên nhiên và con người ở những vùng đất xa xôi Còn đối với Địa lí 9, cô

và trò lại trở về tìm hiểu về đất nước Việt Nam thân yêu Ngoài đọc hiểu văn bản,các em còn được rèn thêm kĩ năng phân tích bảng số liệu, lược đồ, vẽ và nhận xétbiểu đồ để rút kiến thức cơ bản nhất Những cảm nhận đó đã thôi thúc tôi khôngngừng tìm ra những biện pháp tốt để nâng cao chất lượng và điều quan trọng là làmthế nào để học sinh cũng say mê môn học, để môn Địa lý không còn nặng nề, tẻnhạt Có như vậy mới nâng cao chất lượng của bộ môn đối với cả người dạy vàngười học

Mỗi môn học, bài học điều có những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng nhấtđịnh, người dạy vừa phải truyền thụ kiến thức sao cho hiệu quả vừa phải đánh giáquá trình tiếp thu kiến thức của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau Trongthực tế giảng dạy tại trường, trong các giờ học giáo viên còn ít áp dụng các phươngpháp, kĩ thuật dạy học hiện đại, chủ yếu sử dụng phương pháp diễn giảng; phươngpháp đặt câu hỏi được sử dụng nhưng phần lớn học sinh không chú ý, không giơtay phát biểu ý kiến hoặc chỉ vội nhìn sách giáo khoa tìm đúng chỗ giáo viên hỏi,

để khi được gọi đứng lên thì đọc nguyên văn và không có ý kiến cá nhân, không có

sự sáng tạo

Tình trạng lười học bài cũ, không chuẩn bị bài mới là trường hợp phổ biến

Có học sinh cho biết chưa từng đọc trước bài Nếu có học bài cũ thì cũng chỉ cầnhọc thuộc phần giáo viên cho ghi…Một trong những nguyên nhân cũng xuất phát

từ phía giáo viên khi soạn giáo án chưa chú trọng tới “hoạt động nối tiếp” và cũngkhông hướng dẫn HS cách ghi nhớ, ôn bài…

Khối lượng kiến thức của các môn học rất nhiều, trong đó có môn Địa lí.Với số lượng học sinh ở tập thể đông, mỗi phòng ở gồm cả học sinh từ lớp 6 đến 9.Ngoài yếu tố tâm lý lứa tuổi, lại có nhiều em học rất yếu, ham chơi, nhận thức về ýnghĩa việc học chưa cao, đi học vì phụ huynh ép học, học bài và làm bài mang tínhchất đối phó với giáo viên Chính thực tế đó, giáo viên cần có các biện pháp giúpcho học sinh xây dựng động cơ học tập tích cực, tự giác, nắm vững phương pháphọc tập, phương pháp thực hành, phương pháp nghiên cứu, có được kĩ năng tự học,

kĩ năng địa lí

Hệ thống kỹ năng tự học như: kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, đọcsách, ghi chép, hệ thống hóa kiến thức, kỹ năng làm các bài tập, tự kiểm tra đánhgiá, kỹ năng ôn tập, kiểm tra, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Kỹ năng Địa lí: là hệ thống phương thức hành động mà học sinh hoàn thànhmột cách có ý thức, trên cơ sở những kiến thức Địa lí đã có Trong học tập bộ mônĐịa lý ở nhà trường phổ thông có nhiều kỹ năng như:

Trang 6

+ Kỹ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, tranh ảnh

+ Kỹ năng đọc – ghi chép sách, tài liệu tham khảo

+ Kỹ năng làm việc với các tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí )

+ Kỹ năng làm các bài tập Địa lý

+ Kỹ năng lập kế hoạch

+ Kỹ năng sử dụng CNTT

+ Kỹ năng ôn tập – kiểm tra

+ Kỹ năng trình bày thông tin Địa lí, xây dựng báo cáo Địa lí

Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về dạy học tích cực lấy học sinhlàm trung tâm, tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh tự học để phát huy nộilực con người và thực trạng tự học của học sinh trong học tập môn Địa lý, kết hợpvới nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý, đặc điểm học tập và nhận thức của học sinhlớp 7, 9 – Trường Dân tộc nội trú - THCS Điểu Xiểng,… tôi thấy tính khả thi vàrất cấp thiết cần phải một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả mônĐịa lí, để biến “quá trình đào tạo trong nhà trường thành quá trình tự đào tạo”

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP

1 Quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh

Theo từ điển Tiếng Việt “Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng thông thạo”

Một kỹ năng được hình thành theo tác giả cần trải qua nhiều giai đoạn: quan sátmẫu, làm thử và cuối cùng là tiến hành luyện tập Nói

một cách khác, để có được một kỹ năng, phải trải qua 3

giai đoạn: hình thành, phát triển, luyện tập Rèn luyện là

một hoạt động tiến hành đan xen, đồng thời với 3 giai

đoạn này Muốn hình thành một kỹ năng nói chung, kỹ

năng tự học nói riêng, học sinh phải làm thử, làm đi làm

lại nhiều lần Khi kỹ năng bước đầu hình thành, tiến hành

rèn luyện nhiều lần trong một thời gian nhất định thì kỹ

năng mới ổn định và phát triển Sau đó, phải tiến hành

rèn luyện thường xuyên, đều đặn thì kỹ năng mới phát

triển thuần thục, tạo cơ sở phát triển thành kỹ xảo Việc rèn luyện đạt kết quả caohay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự nỗ lực của người học, gữa vai tròquyết định

Từng kỹ năng tự học rèn luyện cho học sinh cần được cụ thể hóa thành cácbước vì chỉ khi rèn luyện theo các bước mới có cở sở để hình thành, phát triển vàluyện tập kỹ năng

2 Tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh qua môn Địa lí 7 và 9 2.1 Rèn luyện kỹ năng tự học ở trên lớp

Người dạy tổ chức cho học sinh tự lĩnh hội nền văn hóa xã hội chứ không làm thay học sinh trong việc lĩnh hội đó Sự giúp đỡ của giáo viên đối với học sinh

Trang 7

trong dạy học là giúp đỡ về phương pháp học, giáo viên giúp học sinh về cách thức

tự học Như vậy, bản chất của hoạt động dạy học để học sinh tự học là dạy cáchhọc, các kỹ năng tự học

Người thầy phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập nhằm tích cực hóatính tự lực, sáng tạo, chủ động phát hiện và tìm ra kiến thức của người học Muốn

vậy người thầy phải “đổi mới phong cách dạy”, điều này chỉ thực hiện được khi

tích cực hóa các PP, kĩ thuật, cách đánh giá theo quan điểm đổi mới của Đảng vàNhà nước

2.1.1 Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân

Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân giáo viên cần giảm tối đa phương

pháp độc thoại thuyết trình “lấy người dạy là trung tâm”, thay vào đó là sử dụng

các phương pháp, kĩ thuật tăng cường hoạt động độc lập nhận thức của bản thântừng học sinh để các em tích cực “động não”, tự lực suy nghĩ phát hiện và giảquyết vấn đề

2.1.1 1 Phương pháp đàm thoại gợi mở

Phương pháp đàm thoại gợi mở là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệthống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏ những vấn đềmới bằng sự tái hiện những tài liệu đã h hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũyđược trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệthống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp họcsinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩ xảo trong quá trìnhhọc

Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp đàm thoại :

- Giáo viên cần sử dụng linh hoạt các hình thức đàm thoại phù hợp với thờigian, không gian, mục đích, nội dung giáo dục Khi kết thúc đàm thoại, học sinh

“có vẻ” như tìm ra chân lý và chính khía cạnh này đã tạo ra cho người học niềmvui sướng của nhận thức, một tình cảm tốt đẹp cần phát triển ở người học

- Kĩ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:

+ Giáo viên phải đạt câu hỏi như thế nào để đòi hỏi học sinh phải tích cựchóa tài liệu đã lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học

+ Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện tài liệu mà phải vậndụng những tri thức đã nắm trước đây để giải quyết vấn đề mới Điều này có nghĩa

là theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh thì giáo viên nên chútrọng tăng cường loại câu hỏi yêu cầu cao về mặt nhận thức (phải căn cứ trình độnhận thức của học sinh), song cũng không nên “coi thường” “câu hỏi yêu cầu ởmức độ thấp”

+ Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt bản chất của sự vật, hiệntượng phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng cho học sinh

+ Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi học sinh xem xét những sự vật,hiện tượng trong mối liên hệ với nhau, nhìn sự vật, hiện tượng theo chỉnh thể toànvẹn của chúng

+ Đặt câu hỏi theo quy tắc logic

Trang 8

- Yêu cầu đối với việc vận dụng PP đàm thoại.

+ Giáo viên phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời.Khi một học sinh trả lời xong, cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung,sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinhthần phê phán Qua đó kích thích hoạt động chung của cả lớp

+ Giáo viên cần lắng nghe khi học sinh trả lời, nếu cầu thiết đặt thêm câu hỏiphụ, câu hỏi mở dẫn dắt học sinh để trả lời câu hỏi chính được tốt hơn

+ Cần tôn trọng ý kiến của học sinh: Có thái độ bình tĩnh khi học sinh trảlời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng, cắt ngang ý kiếncủa học sinh khi không cần thiết Chú ý nhận xét, uốn nắn, nhận xét, bổ sung câutrả lời của học sinh, giúp học sinh hệ thống hóa tri thức tiếp thu được trong quátrình đàm thoại

+ Không chỉ chú ý đến kết quả câu trả lời của học sinh mà còn chú ý đếncách diễn đạt, đó là điều kiện quan trọng để phát triển tư duy logic ở học sinh

+ Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắcmắc và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống vấn đề và thu hút toànlớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó

+ Tạo ra học sinh không khí thoải mái trong lớp học để học sinh không quá

lo ngại khi trả lời, các học sinh kém không mặc cảm về trình độ của mình

+ Khuyến khích, động viên sự cố gắng của học sinh Nếu giáo viên tin ở sự

cố gắng của học sinh thì các em thêm nỗ lực phấn đấu, không nản chí

+ Giáo viên nên trân trọng mỗi tiến bộ dù chỉ rất nhỏ của học sinh, khôngnên quá lạm dụng lời khen

Các bước học sinh thường phải trải qua để trả lời câu hỏi yêu cầu cao vềmặt nhận thức

Theo Gall, học sinh thường phải qua 5 bước để trả lời câu hỏi yêu cầu cao vềmặt nhận thức

Bước 1: Chăm chú theo dõi câu hỏi

Bước 2: Nắm vững nội dung yêu cầu của câu hỏi

Bước 3: Trả lời thầm trong ý nghĩ (chưa thành lời)

Bước 4: Hình thành câu trả lời công khai

Bước 5: Xem lại câu trả lời của chính mình khi nghe câu trả lời của bạn hoặcnghe lời nhận xét của giao viên đối với câu trả lời của bạn

Ví dụ : Trong bài 31 trang 113 SGK Địa lí 9 : Vùng Đông Nam Bộ.

Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi ở các mức độ nhận thức khác nhau như:

Câu 1: Dựa vào Bảng 31.1 và H31.1, hãy nêu đặc điểm tự nhiên và tiềm năng kinh

tế trên đất liền của vùng Đông Nam Bộ(câu hỏi yêu cầu thấp, dừng ở mức biết vấnđề)

Câu 2: Dựa vào Bảng 31.1 và H31.1, kiến thức đã học, em hãy cho biết vì sao

Trang 9

vùng Đông Nam Bộ có điều kiện phát mạnh kinh tế biển? (câu hỏi yêu cầu cao vềnhận thức –HS phải vận dụng phối hợp những kiến thức đã có để giải đáp câu hỏinày, thuộc mức “vận dụng” theo thang Bloom)

2.1.1 2 Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ(Lược đồ)

Bản đồ là phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng giúp chogiáo viên, học sinh có thể khai thác kiến thức phục vụ việc dạy và học địa lí có hiệu quả

Các biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ :

- Dạy học sinh hiểu bản đồ : Nghĩa là có kiến thức về bản đồ , biết bản đồ là

cái gì? Đặc trưng, tính chất của nó ra sao? Nội dung, chức năng của nó, mỗi một

kí hiệu quy ước trên bản đồ có nghĩa gì? cần phải sử dụng bản đồ như thế nào vàlợi ích nào được rút ra từ việc này Dạy học sinh hiểu bản đồ(về mặt kỹ năng) theoquy trình sau:

+ Xác định mục đích của việc làm

+ Xác định kiến thức có liên quan cần dựa vào để tiến hành công việc

+ Cách tiến hành công việc

+ Quy tắc về trình tự tiến hành công việc

+ Kiểm tra kết quả khi thực hiện

Sau khi làm mẫu, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích, nhắc lại trình tựcông việc đã làm và ghi trình tự đó vào vở để về nhà thực hiện một bài tập tương

tự theo mẫu mà giáo viên đã làm trên lớp

- Dạy học sinh đọc và vận dụng bản đồ

Theo N.N.Baranxki:“Đọc bản đồ là thông qua những ký hiệu trên bản đồ màphân tích và nhìn thấy những nét thực tế của khu vực bề mặt Trái Đất được biểuhiện trên bản đồ”

Đọc bản đồ thường có 3 mức độ khác nhau

+ Mức sơ đẳng nhất: Đọc được vị trí của các đối tượng địa lý, có được biểu

hiện về các đối tượng đó, thông qua hệ thống kí hiệu quy ước ghi trong bảng chúgiải

+ Mức thứ hai cao hơn: Tìm ra những đặc điểm tương đối rõ ràng của

những đối tượng địa lí biểu hiện trên bản đồ

+ Mức thứ ba, cao nhất: là tìm ra những mối liên hệ giữa các kiến thức đó,

tìm ra những đặc điểm và tính chất địa lí của lãnh thổ mà bản đồ không biểu hiệntrực tiếp

Đối với giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác tri thức trên bản đồ, chủ yếu

là hướng dẫn học sinh đọc được bản đồ ở các mức độ trên, quan trọng nhất là haimức độ sau:

Ví dụ: Bài 26, trang 80 SGK Địa lý 7: Thiên nhiên châu Phi

Nhận xét vị trí địa lí, địa hình, cảnh quan, khoáng sản châu Phi.

Trang 10

Dựa vào kí hiệu xác định được tên các dòng biển nóng và dòng biển lạnh ởchâu Phi; biết tên, vị trí phân bố các loại khoáng sản và các cảnh quan trên bản đồ

tự nhiên châu Phi

Dựa vào màu sắc thể hiện biết được các dạng địa hình ở châu Phi

+ Mức độ 3: Rút ra những kết luận trên cơ sở phân tích các mối quan hệ.

Những kết luận này chỉ hoàn toàn có trong tư duy học sinh mà không có trênbản đồ

Châu Phi tiếp giáp với các đại dương thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa,

xã hội với các khu vực và thế giới

Khoáng sản phong phú, đa dạng thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp khai thác

và chế biến khoáng sản

Cảnh quan đa dạng nhưng hoang mạc và nửa hoang mạc chiếm diện tích lớn cho thấykhí hậu châu Phi nóng, khô, ít mưa,… Từ đó, thôi thúc học sinh tìm hiểu nguyênnhân làm cho khí hậu châu Phi nóng, khô, ít mưa

Một số cách làm việc hiệu quả với rèn luyện kỹ năng bản đồ cho học sinh

- Cách xác định vị trí và sự phân bố của các đối tượng địa lí trên bản đồ: Để

thực hiện kỹ năng này học sinh phải dựa vào quy trình sau:

+ Nắm được mục đích của việc làm

+ Đọc bản chú giải trên bản đồ để biết được các kí hiệu quy ước

+ Tái hiện hiểu tượng địa lí dựa vào các kí hiệu quy ước

+ Tìm tên và đối tượng địa lý trên bản đồ

Như vậy khi nhìn trên bản đồ, các em không chỉ biết được vị trí và đọc tên các đối tượng địa lí mà còn xác định được sự phân bố của chúng

- Cách ghi nhớ các đối tượng địa lí trên bản đồ: Giáo viên cần sử dụng một

số biện pháp như:

Trang 11

+ Khi nói đến địa danh, giáo viên phải vừa chỉ vừa đọc nhiều lần một cách

rõ ràng, hoặc viết những địa danh cần nhớ lên bảng,…

+ Để giúp học sinh ghi nhớ vị trí các đối tượng địa lý trên bản đồ, giáo viênkhi dạy có thể dán các ký hiệu bằng giấy màu lên bản đồ, đồng thời so sánh các đốitượng trên bản đồ với những sự vật cụ thể các em thường thấy để tạo biểu tượngkhông gian hoặc vạch ra các mối tương quan giữa vị trí của đối tượng này với đốitượng khác, vv…

+ Cũng có trường hợp giáo viên kết hợp với bản đồ treo tường, vẽ lên bảnghình vẽ biểu hiện riêng hình dáng vị trí của từng đối tượng để học sinh dễ nhậnhơn và nhớ kĩ hơn

+ Đối với một số địa danh, giáo viên (GV)có thể giải thích hoặc nói rõnguồn gốc của chúng để gây một ấn tượng dễ nhớ

Dạy học theo nguyên lý “học đi đôi với hành” Vì vậy, muốn HS nhớ kỹ các

đối tượng Địa lí trên bản đồ, giáo viên phải cho học sinh thực hành nhiều trên bản đồ

- Cách mô tả đối tượng địa lý trên bản đồ

Đặc điểm của đối tượng địa lí cần miêu tả bao gồm có: vị trí, sự phân bố, cácđặc điểm về hình dạng, kích thước như chiều dài, chiều rộng, các cực trị lớn nhất,nhỏ nhất…Thực chất đây chính là một kỹ năng để hỗ trợ cho việc học sinh (HS)đọc bản đồ một cách đúng đắn và đầy đủ nhất

- Tổ chức các trò chơi có liên quan đến bản đồ: Thông qua việc tham gia các

trò chơi có liên quan đến bản đồ, học sinh sẽ cảm thấy thích thú và hào hứng vớimôn Địa lí Địa lý không còn là một môn học đơn điệu và nghèo nàn, lớp học sẽtrở lên sinh động đồng thời đem lại hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức và rènluyện kỹ năng

Ví dụ:

- GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm A và nhóm B Rồi yêu cầu các em thiđua giữa 2 nhóm, bằng cách: mỗi học sinh nhóm A (hoặc nhóm B) phải chuẩn bịmột câu hỏi về đọc bản đồ; học sinh của nhóm kia sẽ là người trả lời Nhóm nàođặt được nhiều câu hỏi tốt và trả lời đúng các câu hỏi của bên kia thì thắng Nhữngcâu hỏi này, giáo viên có thể cho học sinh ghi vào vở và sử dụng để đố nhauthường xuyên

- Thi ghép mảnh bản đồ: Mục đích của trò chơi là giúp học sinh ghi nhớ địadanh và vị trí của mỗi vùng hoặc mỗi tỉnh trên bản đồ Để thực hiện trò chơi này,

GV dựa trên bản đồ hành chính của cả nước hoặc một vùng nhất định (ĐBSH,…),cắt tờ bản đồ ra theo các đường biên giới của mỗi tỉnh rồi tổ chức cho học sinh thi

“ghép mảnh” có tính điểm theo thời gian, em nào hoặc nhóm nào ghép đúng họcsinh và nhanh nhất sẽ thắng

- Trò chơi ô chữ: Để tránh nhàm chán khi học tập Địa lí, giáo viên cũng cóthể tổ chức trò chơi ô chữ để tạo hứng thú cho học sinh khi học Trò chơi này sẽhuy động được tất cả các em trong lớp cùng tham gia, không khí học tập sẽ sôi nổi

2.1.1 3 Phương pháp(PP)/ kĩ thuật động não

2.1.1 3 1 Khái niệm: Phương pháp(PP)/ kĩ thuật động não được hiểu là

loại PP dùng để giải quyết nhiều loại vấn đề khác nhau, giúp người học trong mộtthời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó

Trang 12

2.1.1 3 2 Cách sử dụng:

Bước 1: GV lựa chọn và nêu vấn đề cần tìm hiểu cho HS.

Bước 2: Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến.

Bước 3: Liệt kê tất cả mọi ý kiến của HS viết lên bảng hoặc giấy to, không loại

trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

Bước 4: Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.

Bước 5: Tổng hợp ý kiến từ mọi người xem có thắc mắc, bổ sung gì

không

Ví dụ: Khi dạy Bài 2: “Dân số và gia tăng dân số”, Địa lý 9, SGK trang 7,

giáo viên nêu vấn đề:

Sự gia tăng dân số quá nhanh và sự phát triển dân số không hợp lí gây ra hậu quả gì đối với sự phát triển kinh tế - xã hội – môi trường?

Các ý kiến đưa ra có thể là:

1 Hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế

2 Tiêu dùng nhiều lên nhưng tích lũy giảm xuống

3 Sức ép lớn lên các vấn đề việc làm, y tế, giáo dục

4 Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là các tệ nạn xã hội

5 Khó khăn cho nâng cao chất lượng cuộc sống

6 Cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường,…

2.1.1 3 3 Những điều cần lưu ý khi sử dụng PP/ kĩ thuật động não

- PP động não có thể dùng để lý giải một vấn đề nào đó song đặc biệt phù

hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế của người học

- Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn, nê bằng một từ hay một câu ngắn

- Hoan nghênh tất cả mọi ý kiến, không phê phán, nhận định đúng, sai

- Cuối giờ động não, nên nhấn mạnh kết luận nào là kết quả của sự tham giachung của mọi người

- Các giờ hoc động não có thể bị quá trớn, trở nên om sòm và căng thẳng,không được việc nào trọn vẹn trừ việc tạo ra nhiễu loạn Vì vậy, yêu cầu GV phảinghiêm khắc khi định áp dụng quy trình này và thiết lập các chuẩn ngay từ đầu để

Từ trước tới nay, trong quá trình học tập hầu hết học sinh mới chỉ sử dụngmột nửa của bộ não- não trái, mà rất ít sử dụng các kỹ năng của não phải nơi giúpngười học xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian, sự mơ mộng Hay

12

Trang 13

nói cách khác, HS mới sử dụng 50% khả năng của bộ não khi ghi nhận thông tin.

Sử dụng SĐTD giúp người học tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải

khi học Đây là một kĩ thuật hình họa đóng vai trò là “chìa khóa vạn năng để khai phá tiềm năng của bộ não” Theo Tony Buzan thì “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho SĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”

2.1.1 4 2 Ƣu điểm của cách ghi chép bằng SĐTD

- Logic, mạch lạc, trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ do nó được thể hiện bởi màu sắc

- Nhìn thấy “bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết

- Dễ dạy, dễ học, dễ nhớ, kích thích hứng thú học tập của HS

- Kích thích sáng tạo của HS, mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức

- Giúp hệ thống kiến thức, ôn tập kiến thức

13

Trang 14

- Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức…

SĐTD có rất nhiều ưu điểm cho việc học, tự học Tuy nhiên, chỉ khi nào các

em tự mình thiết lập SĐTD và sử dụng nó trong học tập thì mới phát huy hiệu quảcủa nó Đối với chức năng là một người thầy, GV cần rèn luyện cho các em kỹnăng này ngay ở trên lớp, cho các em dần làm quen với kĩ thuật SĐTD, kỹ thuậtnày sẽ rất tốt cho HS khi tóm tắt bài, chương, quyển sách, ghi chép, ghi nhớ, tự học

Có thể tập cho HS vẽ SĐTD bằng cách hoàn thiện các SĐTD do GV đã vẽ sẵn:Các em dùng bút chì, bút màu để vẽ thêm nhánh, điền thêm kiến thức, vẽ thêmhình ảnh liên tưởng…Khi HS đã quen với SĐTD, có thể tự thiết lập SĐTD cho

riêng mình GV yêu cầu HS tự vẽ SĐTD thông qua việc giao bài tập cho các em: ví

dụ “em hãy vẽ SĐTD tổng kết chương 1, hay bài 1…”.

+ Thực hành vẽ SĐTD trên giấy, vở, bìa, bảng phụ.

- Các bước thiết kế SĐTD

Bước 1: Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa, Keyword) là tên của

một bài hay một chủ đề một nội dung kiến thức cần khai thác

Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1.

Các nhánh cấp 1 là chính là các nội dung chính của bài học hay chủ đề đó (hay tên các mục của SGK…)

Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2, 3, …

Các nhánh cấp 2, cấp 3,…chính là các nhanh con của nhánh con trước đó (hay nói

rõ hơn nhánh con cấp 2, 3,… là các ý triển khai của nhánh trước đó)

Ví dụ: nhánh cấp 2, 3,…của nhánh cấp 1 – Phân bố khí áp

Bước 4: Hoàn thiện SĐTD - Ở bước này hãy để cho trí tưởng tưởng của HS được

bay bổng Các em có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêmnổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào đúng trí nhớ tốt nhất

Khi các em đã vẽ thành thạo SĐTD trên giấy, bìa…và nếu gia đình hay ởlớp học có máy tính, các em có thể cài và sử dụng phần mềm SĐTD để thiết lậpSĐTD Các em có thể vào mạng Internet để tìm hiểu hoặc lấy thêm hình vẽ, hìnhảnh liên tưởng vào SĐTD GV có thể hướng dẫn các em cách cài và sử dụng phầnmềm SĐTD thông qua các video có sẵn có ở trên mạng

Các em nên dùng một cái kẹp, cặp để giữ lại các SĐTD mà mình thiết lập đểkhi học đến phần sau hoặc trước các kì thi…, các em có thể xem lại rất nhanh cáckiến thức có thể sau này mình quên hoặc nhớ chưa chính xác

14

Trang 15

2.1.1 5 Kỹ năng sử dụng biểu đồ

Đối với GV, biểu đồ vừa là phương tiện dạy học để khai thác tri thức vừa làphương tiện để rèn luyện kỹ năng Đây là một PP hữu hiệu để tăng cường tính trigiác, tích cực, chủ động và độc lập trong dạy học môn Địa lí

Với HS, biểu đồ giúp HS có được PP học tập, nghiên cứu Địa lý một cách tíchcực, lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sáng tạo Từ đó HS nhớ lâu, hiểu đượcbản chất vấn đề

Kỹ năng này bao gồm kỹ năng vẽ, đọc - phân tích biểu đồ

2.1.1 5 1 Kỹ năng (KN)vẽ biểu đồ

Muốn rèn luyện KN vẽ biểu đồ cho HS, GV phải đưa ra các bước cụ thể Phảihướng dẫn và làm mẫu cho HS, đồng thời giúp các em phân biệt, nhận dạng cácloại biểu đồ, cách vẽ chúng

Các bước vẽ biểu đồ

Bước 1: Xác định yêu cầu của đề bài

- Nếu đề bài đã yêu cầu rõ dạng biểu đồ cần vẽ thì HS thực hiện bước 3

- Đề bài chưa cho dạng biểu đồ cần vẽ thì HS phải căn cứ vào câu hỏi xem câu hỏiyêu cầu vẽ cơ cấu, tỉ trọng, tốc độ tăng trưởng hay so sánh sản lượng, giá trị…vàdựa vào BSL để lựa chọn biểu đồ phù hợp

- Cần chú ý xem đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thích hợp nhất hay chỉ yêu cầu vẽ biểu

đồ thích hợp? để từ đó chọn ra duy nhất một biểu đồ hay có thể sử dụng một sốbiểu đồ phù hợp với yêu cầu đề bài

Bước 2: Lựa chọn biểu đồ thích hợp

Từ yêu cầu của đề bài HS phải lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp Muốn lựa chọnđược biểu thích hợp người học phải nắm rõ vai trò, ưu điểm của từng loại biểu đồ.Căn cứ vào chương trình SGK Địa lí lớp 10 trung học phổ thông, các dạng biểu đồ

HS được học và cần rèn luyện gồm: biểu đồ tròn, miền, đường, kết hợp

năng Biểu đồ

đường

(đường biểu

diễn)/ Đồ thị

Thể hiện quá trình phát triển, tốc độ phát triển của một

hay nhiều hiện tượng ở một lãnh thổ hay nhiều lãnh thổ theothời gian Biểu đồ theo đường không dùng để thể hiện sự thayđổi cơ cấu của hiện tượng

Biểu đồ tròn

Sử dụng diện tích của các hình quạt để thể hiện cơ cấu

các thành phần trong một tổng thể Nhưng cũng có thể sửdụng diện tích các hình quạt để so sánh các hiện tượng

Ngoài ra biểu đồ tròn còn sử dụng bán kính để so sánh

về quy mô của các hiện tượng hoặc kết hợp cả diện tích và

15

Trang 17

bán kính để thể hiện sự thay đổi quy mô, cơ cấu của các hiện tượng.

Biểu đồ hình cột

Hình thức biểu đồ này sử dụng chiều dài các cột hìnhchữ nhật (đứng hoặc nằm ngang) để biểu hiện quá trình pháttriển của các hiện tượng (nhưng nhấn mạnh về quan hệ so

sánh), so sánh tương quan về độ lớn giữa các đối tượng hoặc thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể.

Tuy nhiên biểu đồ này thường được dùng để thể hiện sựkhác biệt, sự thay đổi về quy mô số lượng của một hoặc nhiềuhiện tượng theo thời gian ở những lãnh thổ nhất định

Bước 3: Xử lí số liệu

- Trường hợp 1: SL đã phù hợp với biểu đồ cần vẽ thì không cần xử lí

- Trường hợp 2: Phải xử lí số liệu, tùy theo yêu cầu của đề bài và dạng biểu đồ cần

vẽ, HS cần xử lý SL sao cho phù hợp Ví dụ để vẽ biểu đồ hình tròn, hình vuông,hay biểu đồ miền thì số liệu cần là số liệu tương đối ở dạng phần trăm, do vậy khi

số liệu ở dạng tuyệt đối thì HS phải dựa vào công thức để xử lý số liệu

Trong trường hợp vẽ nhiều biểu đồ hình tròn có bán kính khác nhau, HS phải tính bán kính cho từng hình tròn

Bước 4: Vẽ biểu đồ

Sau khi đã chọn được dạng biểu đồ thích hợp, xử lí số liệu phù hợp, HS vẽ biểu đồ.Mỗi biểu đồ khác nhau sẽ có cách vẽ khác nhau HS phải nắm được hình thức thểhiện của từng loại biểu đồ

Bước 5: Hoàn thiện biểu đồ

Đây là bước cuối cùng để hoàn thiện biểu đồ gồm ghi chú giải, chú thích chobiểu đồ (có thể vẽ đến đâu ghi chú giải ngay đến đó), ghi số lên biểu đồ (trườnghợp nhiều số liệu có thể không cần ghi), ghi tên trục tọa độ, tên biểu đồ,…

Ví dụ: Bài tâp 1, Địa lí 9, Bài 37: Thực hành: Vẽ và phân tích biểu đồ về tình hình sản xuất của ngành thủy sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long, SGK

Trang 18

Để hoàn thành yêu cầu của đề bài, cần thực hiện các bước sau:

Bước 1 : GV cho HS đọc nội dung bài tập 1 và xác định yêu cầu của bài tập.

Bước 2: Yêu cầu HS chú ý bảng số liệu tuyệt đối, nhưng yêu cầu vẽ biểu đồ thể

hiện tỉ trọng, do đó cần chuyển sang số liệu tương đối GV hướng dẫn HS tính toán

và lập bảng theo mẫu sau:

SẢN LƯỢNG THỦY SẢN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG SO VỚI CẢ NƯỚC, NĂM 2002 (CẢ NƯỚC =100%)

Thủy, hải sản Đồng bằng Sông Cửu Long Đồng bằng sông Hồng Cả nước

Bước 3: Gv yêu cầu Hs dựa vào bảng số liệu đã xử lí, cho biết nên vẽ biểu đồ gì?

Kết luận : thích hợp là biểu đồ cột, thanh ngang

Bước 4: Gọi một HS khá lên bảng vẽ, đồng thời yêu cầu tất cả HS toàn lớp làm

việc theo hướng dẫn của GV( vẽ biểu đồ vào vở học)

Bước 5: GV yêu cầu cả lớp quan sát và nhận xét bổ sung Chú ý nhắc nhở HS đề

tên biểu đồ, ghi chú và kẻ vạch để phân biệt thủy, hải sản của Đồng bằng sông CửuLong và Đồng bằng sông Hồng

2.1.1 5 2 Kỹ năng đọc - phân tích biểu đồ

17

Trang 19

Kỹ năng đọc biểu đồ là KN đầu tiên có thể làm việc với biểu đồ, hay cácthao tác quan sát biểu đồ để đọc tiêu đề, hình thức thể hiện biểu đồ, các giá trịđược thể hiện trên biểu đồ.

Kỹ năng phân tích biểu đồ: dựa vào các giá trị đã được ghi trên biểu đồ, tiến hành

đo tính các đại lượng, đối chiếu so sánh chúng với nhau để rút ra nhận xét, kết luận

về nội dung thể hiện trên biểu đồ

Khi rèn luyện cần tuân theo trình tự cụ thể với các thao tác cần rèn luyện:

Bước 1: Đọc tiêu đề và cách thức thực hiện nội dung trên biểu đồ, bảng chú giải,

thành phần, giá trị, tỉ trọng của các đối tượng biểu hiện trên biểu đồ

- Đọc ghi chú biểu đồ: thường ở phía dưới biểu đồ, nhằm xác định tính chất củađối tượng (có thể là tiến trình một đại lượng hoặc một mối quan hệ giữa các đạilượng, kết cấu đối tượng…)

+ Biểu đồ thể hiện cái gì?

+ Các đại lượng đó là gì?

+ Diễn ra ở đâu?

+ Vào thời gian nào?

- Quan sát hình thức thể hiện

+ Biểu đồ được xây dựng theo dạng gì? (tròn, miền, cột, kết hợp…)

+ Trị số của các đại lượng được tính bằng đơn vị gì? (oC, mm, % )

Bước 2: Đo tính các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ.

Tùy theo mục đích, yêu cầu, nội dung thể hiện biểu đồ HS đo tính các đại lượngnào? Xác định mối quan hệ giữa các đại lượng Việc đo tính các đại lượng có haimức độ:

- Mức độ 1: Khi các số liệu đã thể hiện trên biểu đồ chỉ cần đọc và đo tính thuần

nhất các số liệu

- Mức độ 2: Khi các số liệu chỉ được thể hiện qua tương quan hình vẽ cần tiến

hành đo tính trực tiếp hoặc theo công thức nhất định

Đây là bước quan trọng, là cơ sở cho hai bước tiếp theo

Bước 3: Nhận xét, giải thích (đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát

hóa số liệu) Qua việc đọc và đo tính các số liệu, tiến hành so sánh rồi đưa ra các

nhận xét và giải thích chẳng hạn: Tại sao A lại tăng lên?, B giảm đi?, Tại sao A chiếm tỉ trọng cao…?

Bước 4: Khái quát đưa ra xu hướng, đặc điểm chung của đối tượng.

2.1.1 6 Kỹ năng sử dụng bảng số liệu (BSL)thống kê

Bảng số liệu thống kê là tập hợp những số liệu thống kê (những số liệu về tình hìnhsản xuất, về sản phẩm, sản lượng, tài nguyên, dân cư, tình hình phát triển kinh tế,

…là các số liệu thống kê) Mục đích đưa số liệu thống kê vào bảng là muốn đặt các

số liệu có liên quan với nhau ở vị trí gần nhau để người học dễ dàng nhận xét, sosánh từ đó rút ra được những kết luận có căn cứ về các hiện tượng, quá trình địa lý

Các bước đọc – phân tích BSL.

Bước 1: Xác định mục đích làm việc với BSL.

18

Trang 20

Để xác định mục đích làm việc với BSL, bước này trả lời cho câu hỏi: làm việc với BSL này để làm gì?

Bước 2: Đọc tên BSL, tên tiêu đề các cột, các hàng, thời gian và đơn vị.

- Đọc tên bảng BSL (thường được ghi ở phần trên của bảng) để biết BSL thể hiện nội dung gì?

- Đọc tên các tiêu đề của các cột, các hàng trong bảng để biết được các đối tượng thành phần trong bảng và mối quan hệ giữa các SLTK

- Đọc thời gian, đơn vị, không gian thể hiện của BSL (các thông tin này thường được thể hiện cùng với tên BSL, hoặc tên tiêu đề)

- Có hai cách nhận xét BSL: diễn dịch hoặc quy nạp

+ Theo cách diễn dịch, HS cần nhận xét từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng+ Theo cách quy nạp, HS nhận xét từ cụ thể, chi tiết, đến khái quát; từ thành phầnđến tổng thể

- Khi nhận xét có thể lồng giải thích, hoặc tách riêng giải thích thành một phần Sau mỗi câu nhận xét cần có số liệu chứng minh cụ thể

Ví dụ:

Bài tập 3/ SGK Địa lý 9 Trang 116: Căn cứ vào bảng 31.3 Dân số thành thị và

dân số nông thôn ở TP Hồ Chí Minh

Các bước hướng dẫn HS phân tích - nhận xét BSL này như sau:

Bước 1: Chú ý đọc tên BSL, đơn vị để biết nội dung của BSL: Nội dung BSL nói

về dân số thành thị và nông thôn ở TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1995 - 2002

Bước 2: Chú ý hàng ngang BSL thể hiện các năm, còn hàng dọc thể hiện dân số

Trang 21

- Dân thành thị nhiều hơn dân số nông thôn.

2.1.1 7 Giải các bài tập trên lớp

Mục đích sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí trên lớp là để HS phải “độngnão”, tư duy Trong quá trình dạy học, thầy đóng vai trò là người thiết kế các bàitập, người tổ chức và hướng dẫn HS trong quá trình giải, còn HS phải là người thicông, chủ động, tích cực giải các bài tập đó GV có thể cho HS làm các bài tập ởcác hình thức khác nhau như bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận Cần tăng cườngcác “bài tập tư duy”

2.1.2 Rèn luyện kỹ năng tự học theo nhóm

PP dạy học hợp tác theo nhóm được hiểu là PP dạy học theo nhóm là PP đặt HSvào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận…) theo các nhóm HS

Cách thức tổ chức HS học tập theo nhóm có thể theo các bước dưới đây:

Bước 1: Làm việc chung cả lớp.

- GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức cho HS

- Tổ chức các nhóm HS và giao nhiệm vụ cho các nhóm

- Hướng dẫn cách làm việc của nhóm

Bước 2: Làm việc theo nhóm.

- Trao đổi, thảo luận trong nhóm

- Phân công trong nhóm, cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi trong nhóm

- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm

Bước 3: Thảo luận tổng kết trước lớp.

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả thảo luận

- Thảo luận chung cả lớp

- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài học tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo

Cách chia nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm

- GV phân chia HS theo các nhóm nhỏ Có thể phân chia nhóm ngẫu nhiên haynhóm chủ định, phụ thuộc vào mục đích của hoạt động nhóm Số lượng thành viêntrong nhóm tùy thuộc vào nhiệm vụ bài học cũng như các thiết bị phục vụ cho hoạtđộng nhóm

- Việc giao nhiệm vụ cho các nhóm cũng được tiến hành theo nhiều cách, tùy thuộc vào nội dung bài học, GV có thể lựa chọn cho phù hợp có hiệu quả:

+ Nhóm đồng việc: Xuất phát từ cùng một vấn đề, một nhiệm vụ nhưng có thể giảiquyết bằng nhiều cách khác nhau

+ Nhóm chuyên sâu: lớp học được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm đảm nhậnmột nhiệm vụ nhỏ khác nhau của một nhiệm vụ chung Sau khi kết thúc thảoluận, các nhóm chuyên sâu báo cáo kết quả cho cả lớp

Cách tiến hành hoạt động theo nhóm

- Mỗi nhóm cử ra một nhóm trưởng và một thư kí

- Cả nhóm tiến hành thảo luận: trình bày mục đích chung của chủ đề cần thảo luận

về phạm vi thảo luận, thảo luận các vấn đề đặt ra

- Vai trò của nhóm trưởng: dẫn dắt buổi thảo luận, khuyến khích mọi thành viêntrong nhóm tham gia thảo luận, tránh tranh cãi cá nhân và đảm bảo cuộc thảo luận

đi đúng hướng bằng cách đưa ra những câu hỏi đã chuẩn bị kỹ (do GV giúp)

- Vai trò của thư ký: ghi lại các ý kiến được phát biểu

20

Trang 22

- Cử đại diện của nhóm lên trình bày trước lớp về kết quả thảo luận của nhómmình.

2.1.3 PP dạy học giải quyết vấn đề

Theo Rubinxtenx: “Yếu tố đầu tiên của quá trình tư duy thường là tình huống có vấn đề, con người bắt đầu tư duy khi có nhu cầu hiểu biết một cái gì đó”

Khái niệm: Dạy học nêu vấn đề là hệ thống tình huống có vấn đề được đặt ra gắn liền với nhau và trong quá trình đó HS dưới sự giúp đỡ, lãnh đạo của GV nắm được nội dung bộ môn, PP, phương thức học tập và phát triển ở bản thân những phẩm chất cần thiết cho một thái độ sáng tạo với khoa học và đời sống.

Bản chất của PP này là tạo nên một chuỗi những “tình huống vấn đề”, “tình huốnghọc tập” và điều khiển HS giải quyết những vấn đề học tập đó “tình huống có vấnđề” hay “tình huống học tập” là trạng thái tâm lí khi HS gặp phải những mâu thuẫngiữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết Có thể phân ra nhiều loại tìnhhuống vấn đề:

- Tình huống nghịch lý: xuất hiện khi đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn

giữa hai hay nhiều phương án giải quyết

- Tình huống bác bỏ: là tình huống vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm kết

luận sai lầm

- Tình huống “tại sao”: là tình huống phổ biến trong dạy học và nghiên cứu khoa

học

Cấu trúc bài học khi dạy học sử dụng PP này thường là như sau:

Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài

toán nhận thác - Tạo tình huống có vấn đề.- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

Bước 2: Giải quyết vấn đề - Đề xuất các giả thuyết

- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề.Bước 3: Kết luận - Thảo luận và đánh giá

- Khằng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

2.2 Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh ở nhà

Hoạt động tự học của HS khi ở nhà nhằm củng cố lại những kiến thức đã được họctrên lớp, hoàn thành các bài tập và chuẩn bị bài mới Để hoàn thành tốt các nhiệm

vụ học tập đó, GV cần rèn luyện cho HS các KN tự học như: KN lập kế hoạch họctập, KN đọc sách, KN tra cứu, thu thập tư liệu, KN sử dụng CNTT…

2.2.1 Kỹ năng lập kế hoạch học tập

Xây dựng kế hoạch học tập là bước đầu tiên đóng vai trò quan trọng trong quátrình tự học KN này bao gồm KN phát hiện, xác định và lựa chọn vấn đề tự học,thứ tự các công việc cần làm, sắp xếp thời gian cho từng công việc một cách hợp lývới điều kiện và phương tiện hiện có

Lập kế hoạch học tập hợp lý và thực hiện theo kế hoạch giúp HS làm chủ và tránhlãng phí thời gian, nâng cao hiệu quả học để hoàn thành mục tiêu học tập tốt Một

21

Trang 24

bài toán về thời gian lãng phí có thể gây “sửng sốt” cho nhiều người: giả sử thời gian lãng phí trong một ngày là 6 giờ (rất phổ biến với HS trung bình khá)

Thời gian lãng phí trong một ngày = 6 giờ

Thời gian lãng phí trong một năm = Thời gian lãng phí trong một ngày x 365

Thời gian lãng phí cả cuộc đời = Thời gian lãng phí trong 1 năm x 80 năm(giả sử tuổi thọ là 80 tuổi) = 2190 giờ x 80 tuổi

= 175.200 giờ

Vậy tương đương với 7.300 ngày và = 7.300/365 = 20 năm lãng phí

Bài toán đó đặt ra điều cần thiết phải biết quản lý thời gian không chỉ công việchọc tập mà còn trong tất cả lĩnh vực cuộc sống

Nội dung kế hoạch: Tùy vào mục đích cụ thể mà người học có thể lập kế

hoạch dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn

Đối với HS phổ thông thời gian biểu thường nên xây dựng cho một tuần Khi đã có

kế hoạch cụ thể, HS cần kiên trì thực hiện theo lịch đã sắp xếp Tuy nhiên, kế hoạch

có thể điều chỉnh nếu cần thiết, song nên hạn chế thay đổi vì nếu thay đổi thườngxuyên sẽ làm HS không tập trung hoàn thành bất cứ dự định gì, ngược lại còn làmxuất hiện tâm lý “ỷ lại” và thường xuyên trì hoãn công việc

Kiểm tra thể dục Soạn Văn Ônchương 2tập

môn Lịch sử

Hoàn thành bài tập về nhà môn Toán

Ôn tập chương

Đọc trước bài

và lập SĐTD môn Sinh

Kiểm tra viết văn Hoàn thành bài

tập môn tiếng anh

Kiểm tra đầu giờ môn Công nghệ

Làm bài tập về nhà các môn

Chuẩn bị

bài kiểm tra

môn Địa

Học từ mới môn tiếng anh

Học nhóm môn Toán

Hoàn thành bài tập môn địa

Lập kế hoạch tự học cho tuần tới

2.2.2 Kỹ năng đọc –ghi chép sách, tài liệu tham khảo

Để giải quyết các vấn đề học tập do GV nêu ra hoặc chuẩn bị bài mới hoặc

mở rộng thêm hiểu biết ngoài việc đọc SGK, HS còn phải biết lựa chọn sách, tìm

và đọc các sách tham khảo để mở rộng và đào sâu tri thức

- Hướng dẫn HS lựa chọn sách.

Trang 25

Ngoài SGK, GV cần giới thiệu một số tài liệu tham khảo cho HS đọc thêm.Nhưng trong quá trình học tập một số HS có những nhu cầu và hứng thú riêng đốivới nội dung này hay nội dung khác trong chương trình…, do đó nảy sinh ý muốnđọc thêm các tài liệu khác, vì vậy trên thị trường sách phong phú như hiện nay, HScần phải biết cách chọn sách

Việc lựa chọn sách cần tiến hành sao cho vừa đảm bảo được độ sâu, vừađảm bảo được chiều rộng của vấn đề HS muốn tìm hiểu, nhất là các vấn đề, các đềtài HS chuẩn bị theo nhóm để thuyết trình trước lớp

- Hướng dẫn HS đọc sách có hiệu quả: Cố gắng kiên trì 5 mục chiến lược đọc

+ Gạch dưới những ý/ những câu cần thiết nhất

+ Ghi lại thật vắn tắt những điều quan trọng nhất (theo ý của mình)

+ Tự vẽ một sơ đồ logic sau khi đọc (theo ý của mình)

+ Tự tóm tắt bài đọc

+ Tự đặt câu hỏi về nội dung của bài

- Hướng dẫn HS cách ghi chép.

Ghi chép trong khi đọc sách là việc rất cần thiết Trong khi đọc dù người học

có suy nghĩ sâu sắc, nhưng nếu suy nghĩ đó không được ghi lại, thì trước mắt, kếtquả đọc sẽ không cao, sau này kết quả đó cũng khó có thể được duy trì trong trínhớ Vì vậy, ghi chép có một ý nghĩa rất quan trọng Có nhiều cách để ghi chép tàiliệu đọc Căn cứ vào mục đích đọc mà lựa chọn cách ghi chép thích hợp nhất.Thông thường có các hình thức ghi chép như: đề cương, trích dẫn, tóm tắt, tự do…Ngoài những hình thức ghi chép trên đây, còn có thể ghi trên những tờ giấy rời,

còn gọi là phiếu hay phích.

2.2.3 Kỹ năng ghi nhớ kiến thức

2.2.3.1 Một số thủ pháp để ghi nhớ

- Sắp xếp các dữ liệu cho có thứ tự và tổ chức: Sau lần đọc thứ nhất và thứ hai, HScần phải sắp xếp các thông tin lại cho có thứ tự, có tổ chức để hình thành lại toàncục chương đang học, thực chất là đang trình bày lại nội dung chương mục đó theocách hiểu của mình

- Xác lập các điểm mấu chốt, các mối liên hệ chủ yếu giữa các dữ liệu: Cần phảibiết chọn lọc, loại bỏ bớt để giữ lại những thông tin mấu chốt Điều này, cũng

có nghĩa là đang tìm bản chất nội dung của các thông tin trong chương mục đó.Cần loại bỏ những mối liên hệ phụ có thể tự suy ra được; cốt nhất phải gạn lọccác mối liên hệ chủ yếu giữa các sự kiện, các khái niệm, công thức mà nếu thiếucác mối liên hệ ấy thì các dữ liệu sẽ trở thành một mớ hỗn độn

- Xác lập một hình ảnh toàn cục trong tâm trí về chương mục vừa học: Viết vàtrình bày lại chương mục đó theo cách riêng của mình Những điều ấy là một hìnhảnh toàn cục trong tâm trí về chương mục vừa học và đó là những điều cần ghinhớ Tất nhiên đây chưa phải là toàn bộ việc học chương mục đó, HS còn phải làmthêm các bài tập, trả lời các câu hỏi, tra cứu thêm các tài liệu…

- Lặp đi lặp lại nhiều lần, kiểm tra và tự kiểm tra: Để những điều cần ghi nhớ thực

sự tồn tại bền lâu trong tâm trí, sự lặp đi lặp lại và kiểm tra là điều rất cần thiết.Cách lặp đi, lặp lại tốt nhất là tự trình bày lại chương mục đó bằng cách viết hoặc

Trang 26

trình bày nhẩm bằng lời Nếu đang cùng ôn tập cùng bạn vè, tốt nhất là thử trìnhbày lại cho bạn bè nghe hoặc nghe bạn trình bày lại Tóm lại trong bước đọc cuốicùng này là với mục đích kiến tạo và giữ cho bền chắc một hình ảnh trong tâm trícủa mình về chương mục quan trọng đã học

2.2.3.2. Một số thủ pháp để nhớ kiến thức lâu bền

- Ghi nhớ lâu dài phải có chủ định: Kiến thức mênh mông, nếu cái gì cũng muốn

ghi nhớ thì sẽ không nhớ nổi Vì vậy, người đọc phải có chủ định ghi nhớ Sau khihọc xong một bài, một chương, một hình ảnh toàn cục của bài hoặc chương đãhình thành trong tâm trí HS phải xác định xem (chủ định) là mình phải ghi nhớ lâudài những gì?

- Lặp đi lặp lại vừa là quy luật vừa là thủ pháp để ghi nhớ lâu dài: Theo quy luật

sinh học, trí nhớ tạm thời sẽ nhanh chóng bị quên, vì vậy những điều mà HS chủđịnh ghi nhớ lâu dài cần phải được lặp đi lặp lại để củng cố Phương cách để củng

cố có thể có nhiều và phụ thuộc vào từng người, song điều quan trọng là sự tậptrung của người học khi có chủ định ghi nhớ một kiến thức nào đó

Có nhiều cách lặp đi lặp lại một kiến thức quan trọng cần phải nhớ, sự lặp lại thườngxuyên giúp tăng trí nhớ và nhớ lâu giống như tập thể thao đều đặn để tăng cường sứkhỏe Tuy nhiên, khi cơ thể đã mệt mỏi, đầu óc đã bão hòa thì dù có cố nhồi nhétcũng không nhớ nổi, lúc ấy điều cần làm là nên nghỉ ngơi thư giãn

- Cố gắng tạo ra một hình ảnh, một biểu tượng để dễ nhớ và nhớ lâu: Nếu nhìn vào

một quyển vở toàn chữ và số thì dẫn đến tâm lý chán và khó để lại cho người họcmột ấn tượng sâu đậm, như vậy khi làm các phiếu tổng hợp, HS đã tạo ra các dànbài, các sơ đồ, biểu bảng, những mũi tên, gạch dưới, đóng khung, tô màu… đấychính là những hình ảnh đậm nét, gây ấn tượng, giúp dễ nhớ và nhớ lâu

2.2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong học bài

Thông qua việc nắm rõ tác dụng cũng như các bước tiến hành thiết lập sơ đồ

tư duy Trong quá trình học ở nhà, HS có thể sử dụng sơ đồ này như một công cụghi chú hiệu quả HS có thể lập SĐTD về bài học đã học, SĐTD cho chương sách,SĐTD tổng quát cho cả cuốn sách hoặc cũng có thể dùng SĐTD để lập kế hoạchhọc tập cho mình Một cách rất tốt cho việc học của các em là nên lập SDTD chochương sách, bài mới mà mình học trên lớp Làm như vậy giúp HS nhanh chóngthâu tóm được nội dung cần học và có thể bổ sung sau khi học, đồng thời các emnên giữ lại các SĐTD phục vụ cho quá trình ôn tập, xem lại kiến thức một cáchnhanh chóng và hệ thống

HS cũng nên sử dụng SĐTD để ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng

Để rèn luyện kỹ năng này cho HS khi các em học ở nhà, GV nên giao cácbài tập yêu cầu các em hoàn thành bằng cách thiết lập SĐTD

2.2.5 Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

Việc rèn luyện KN này cho HS không chỉ giúp các em tự học ở nhà mà còngiúp cho HS “học mọi lúc, mọi nơi, học suốt đời” HS cần biết sử dụng máy tính,tìm tài liệu trên hệ thông tin Internet, một số phần mềm địa lí hay các đĩa CD vềnội dung Địa lí có sẵn do GV cung cấp HS cũng cần rèn luyện KN trình bày vấn

đề nhờ hỗ trợ của CNTT

Hướng dẫn khai thác thông tin trên mạng Internet

Trang 27

Tìm kiếm thông tin trên một kho dữ liệu vô cùng rộng lớn không phải làcông việc dễ dàng HS phải biết cách tìm ra đúng tài liệu các em cần sử dụng trongkhoảng thời gian tối ưu nhất Muốn vậy, trước tiên GV phải cho HS biết một sốlưu ý khi khai thác thông tin trên mạng Internet

Không phải bất cứ thông tin nào trên mạng Interner đều đáng tin cậy Nhữngthông tin đó có thể chưa được kiểm duyệt khi đưa lên mạng, nên trước khi sử dụngbất cứ thông tin từ bất cứ trang web nào, cần phải biết thông tin đó có đáng tin cậyhay không Muốn đánh giá mức độ chính xác của các thông tin trên một trang web,cần phải dựa vào các yếu tố sau:

- Việc đặt tên của website: Độ chính xác của thông tin có thể được đánh dựa vàoviệc đặt tên website đăng tải thông tin đó Tên website thường có các định dạngđuôi như sau:

+ Các trang web của các cơ quan thuộc chính phủ có đuôi “.gov” (ví dụ như:www.hochiminhcity.gov.vn; www.gov.vn; …) Những thông tin được cung cấp từnhững trang web này là nguồn thông tin đáng tin cậy, đã được kiểm soát trước khicông bố lên mạng Internet

+ Các trang web thuộc các tổ chức phi lợi nhuận có đôi “.org” (ví dụ như:www.unep.rrg.vn; www.undp.org.vn; …) Những thông tin được cung cấp từnhững trang web này cũng là nguồn thông tin được quản lý đáng tin cậy

+ Các trang web có đuôi “.net” (ví dụ: www.edu.net.vn ) thì tùy theo tổ chức hay

cá nhân đang sở hữu trang web mà thông tin được cung cấp có đáng tin cậy haykhông Muốn có thêm những đánh giá về thông tin thuộc các trang web này, cầntìm xem thông tin trong phần giới thiệu về cá nhân hay tổ chức đang sở hữu trangweb (thường nằm dưới cùng của trang web ở các trang tiếng Việt và nằm tại cácmục “about us”, “Philosophy” hoặc “Backgound” ở trang tiếng anh) để biếtwebsite do ai duy trì

+ Các trang web thuộc các cơ sở khoa học, giáo dục thường có đuôi “.ac” hoặc

“.edu” (ví dụ: www.moet.edu.vn; http://hnue.edu.vn; http://dialy.hnue.vn; …).Thường cung cấp các thông tin mang tính chuyên ngành hay chuyên môn cao vàđáng tin cậy

- Tác giả bài viết: Khi tìm kiếm được một bài viết phù hợp, HS có thể tìm đến phầnghi nguồn thông tin, tên tác giả hoặc có thể tìm hiểu lý lịch khoa học của tác giả.Nếu trong bài viết không ghi các thông tin về lý lịch khoa học, HS có thể sử dụngtên tác giả và bài viết để tìm ngược trên mạng để xác minh về những thông tinkhoa học liên quan

- Dựa và nguồn tài liệu tham khảo: nếu bài viết có đưa thông tin về nguồn thamkhảo là các tài liệu khoa học tạp chí chuyên ngành thì các tài liệu đó đã được hộiđồng khoa học duyệt bài trước khi đăng lên web nên cũng là nguồn thông tin đángtin cậy

- Tính cập nhật của thông tin: cũng là điều cần chú ý khi quyết định khai thác và sửdụng thông tin tìm được trên mạng Các thông tin được tải lên mạng từ nhiều thờiđiểm khác nhau và có thể không được gỡ bỏ đi, cho nên có rất nhiều thông tinkhông mang tính cập nhật Trong một số trường hợp nếu sử dụng các thông tin này

Trang 28

có thể sẽ làm sai lệch mục đích khoa học Có thể kiểm tra tính cập nhật này khinhìn vào ngày tháng mà thông tin đó được đăng tải hay cập nhật (thường nằm ởđầu hoặc cuối bài viết)

Kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng Internet: HS phải chú ý đến những vấn

đề sau:

- Xác định những từ liên quan đến nội dung tìm kiếm, đó là những từ hoặc cụm từ

đồng nghĩa, những từ bị loại ra và những từ có liên quan

Ví dụ: khi xác định nội dung liên quan đến vấn đề “suy giảm tài nguyên sinh vật ởViệt Nam”, có thể xác định thêm cụm từ có liên quan là “suy giảm đa dạng sinhvật ở Việt Nam” hay “suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam”

- Xác định phạm vi tìm kiếm về ngôn ngữ (tiếng Anh hay tiếng Việt), dạng dữ liệucác trang web, hình ảnh, âm thanh, video…), thời gian…

2.2.6 Kỹ năng ôn bài và dự thi

Khi ngày thi càng đến gần, HS sẽ bước vào giai đoạn ôn tập tăng tốc Trong lúcnày điều quan trọng nhất là các em phải có PP, kỹ năng ôn tập và thi cử để việchọc đạt hiệu quả và bớt căng thẳng, áp lực nhất Dưới đây là KN ôn tập và dự thi

mà GV có thể cung cấp để HS tham khảo

- Môi trường học tập tốt: Để học hiệu quả, trước hết các em phải tạo ra một môi

trường học tốt, nên chọn việc học tại một nơi nhất định để tâm trí có được thóiquen làm việc bất cứ lúc nào các em ở đó HS nên chọn những chỗ học có đènsáng, nhiệt độ thích hợp, tránh những thứ làm mất tập trung, không nên ăn nhiềutrước giờ học, học riêng hay học nhóm khả năng và nhu cầu của HS, tốt nhất là nênhọc riêng và thỉnh thoảng sắp xếp việc học nhóm,…

Ngoài ra, cần lên kế hoạch học từ sớm, nên sắp xếp thời gian biểu đi ngược bắtđầu từ ngày thi môn đầu tiên Mặc dù mỗi người có cách phân chia thời gian chomỗi môn học khác nhau nhưng có thể làm theo cách sau:

+ Trải dài việc ôn bài cho mỗi môn học: Thay vì “nhồi nhét” một môn cụ thể như

“Địa lí” trong vài ngày liên tiếp, tốt hơn là các em nên chỉ ôn vài bài hoặc 1chương mỗi ngày trong một thời gian dài như 10 ngày Trải dài việc ôn tập chomột môn học giúp tâm trí có thời gian ghi nhớ chắc chắn hơn, cũng như sắp xếp lạinhững thông tin đã ôn, trước khi tiếp tục ôn những thông tin khác của cùng mônhọc đó HS nên tổng hợp nhiều môn học trong một ngày ôn Sau một tuần, nêntổng ôn lại những gì đã ôn trong tuần trước

+ Lên kế hoạch cho các lần học mỗi ngày: để đạt được nhiều đỉnh điểm gợi

nhớ thông tin nhất, HS lên kế hoạch cho mỗi lần học dài tối đa hai giờ đồng hồ.Sau mỗi lần học, thư giãn ít nhất 15 – 20 phút trước khi bắt đầu lần học tiếp theo.Trong lúc nghỉ ngơi, tâm trí nên thư giãn càng nhiều càng tốt

- Cách học trong mỗi lần ôn

+ Ôn lại bài ngày hôm trước: Lý tưởng nhất là nên tự kiểm tra lại trong tâm trí toàn

bộ SĐTD, dàn ý …của chương sách, đề cương đã ôn lần trước mà không cần nhìnlại, cũng cần ôn lại các câu hỏi ứng dụng và bài tập

Trang 29

+ Ghi nhớ thông tin: về chương hay dàn ý đề cương mà HS chuẩn bị ôn, các emnên xem lại toàn bộ SĐTD hay dàn ý mà HS đã lập một cách chi tiết Lặp đi lặp lạicho đến khi có thể nhẩm được SĐTD, dàn ý trong tâm trí và thuộc, hiểu từng chitiết

+ Thực hành các câu hỏi ứng dụng: Bên cạnh việc ghi nhớ tất cả các thông tin, HSphải thực tập các câu hỏi ứng dụng khác nhau liên quan đến chương, đề cương đó.+ Tổng ôn lại kiến thức trong ngày: Các em nên dành chút thời gian ôn lại xemmình đã học được gì trong ngày hôm nay Việc làm này không làm mất nhiều thờigian nhưng rất tốt cho ôn tập và khắc sâu, nhớ lâu kiến thức

- Tâm lý tốt trước khi thi.

Trạng thái tinh thần sẽ ảnh hưởng tới cảm xúc của các em Cảm xúc đó lại ảnhhưởng đến hành động và kết quả Khi ở trong trạng thái tự tin tuyệt đối, phấn khởi

và quyết tâm, các em sẽ làm bài với tất cả khả năng của mình Sau đây là một sốviệc mà HS có thể làm để duy trì trạng thái đó

+ Đến nơi thi sớm để thư giãn: Đến nơi thi sớm hơn giờ thi bao giờ cũng tốt.

Trước hết, việc này bảo đảm HS sẽ không bị trễ giờ Bên cạnh đó, việc đến sớmgiúp tâm trí thư giãn rất nhiều trước khi thi Bộ não chỉ làm việc có hiệu quả nhấtkhi ở trong trạng thái thư giãn

+ Dứt bỏ kì thi ra khỏi tâm trí: có thể nói chuyện với bạn bè về bất cứ chuyện gì

hay tài liệu học tập giúp tách rời tâm trí khỏi việc thi cử Điều quan trọng là khôngnên học bài vào ngày thi (phải làm vào trước đó) Nó làm HS luôn ở trong trạngthái căng thẳng Hơn nữa, những thông tin mới có thể làm rối, lôn xộn nhữngthông tin trước đó đã được sắp xếp ngăn nắp trong não

+ Sử dụng những từ ngữ mạnh mẽ: những từ ngữ hay tự nói với bản thân có thể

động viên hoặc làm thui chột chúng ta Hãy loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực Liêntục nói với bản thân “mình sẽ làm được”; “mình tin mình có thể hoàn thành tốtbuổi thi”…

- Đọc lướt qua đề thi, phân bố thời gian làm bài thi hợp lý

Việc đầu tiên nên làm khi bắt đầu làm bài thi là đọc lướt qua tất cả các hướng dẫn

và toàn bộ đề thi từ đầu đến cuối, trước khi bắt đầu trả lời bất kỳ câu hỏi nào Việcđọc lướt này giúp các em lên kế hoạch thứ tự trả lời câu hỏi cũng như lượng thờigian cần thiết cho từng câu hỏi

Không nên mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi: HS thường cảm thấyphấn khởi khi trả lời một câu quen thuộc, liên tục viết đến khi nhận ra là đã lãngphí nhiều thời gian cho câu hỏi này Tránh việc viết nhiều thông tin dư thừa khôngcần thiết

- Trả lời câu hỏi: Các em nên làm theo nguyên tắc sau đây trong việc trả lời bất cứ

dạng câu hỏi nào

+ Luôn đọc kĩ câu hỏi: Chỉ cần một từ khác cũng có thể thay đổi toàn bộ ý nghĩacâu hỏi Nếu không đọc kĩ, các em có thể bỏ lỡ từ quan trọng đó và hiểu sai toàn

bộ câu hỏi Do đó, luôn luôn để ý những từ khóa quan trọng xuất hiện trong câuhỏi

+ Trả lời câu hỏi vừa đủ: không nên đi quá kỹ vào câu hỏi trước khi biết được thật

sự câu hỏi cần thông tin gì Nếu làm thế, HS có thể đưa ra quá ít, quá nhiều thông

Trang 30

tin hoặc lạc đề Bước đầu tiên cần phải biết được cần viết bao nhiêu thông tin Cóthể lấy điểm số phân chia trong từng câu hỏi làm tiêu chuẩn

Cách trả lời câu hỏi trắc nghiệm:

- Thứ nhất: Đọc thật kỹ câu hỏi Đừng tự nghĩ rằng câu hỏi này có vẻ giống vớicâu hỏi từng làm trước đây Một từ thay đổi có thể làm thay đổi toàn bộ ý nghĩacâu hỏi

- Thứ hai: Đưa ra câu trả lời của mình trước Trước khi đọc các đáp án mà câu trảlời cho trước, các em hãy nghĩ, hoặc viết ra đáp án câu của câu hỏi đó Sau đó, sosánh câu trả lời của mình với từng lựa chọn

- Thứ ba: Đọc hết tất cả các lựa chọn Nhiều HS vội vàng đánh dấu vào câu trả lờinghĩ là đúng mà không đọc hết tất cả các lựa chọn trả lời khác Các em tự nhủ rằng

“các lựa chọn khác chắc chắn là sai” Luôn luôn đọc kỹ từng câu trả lời trước khilựa chọn câu trả lời đúng nhất Lý do là vì có thể có câu trả lời đúng hơn câu trả lờimình chọn Tất nhiên chỉ có duy nhất câu trả lời đúng nhất mới được xem là đạt

Cách trả lời câu hỏi tự luận

Để thành thạo dạng câu hỏi viết luận, HS phải chứng tỏ được rằng có thểnhớ lại tất cả các thông tin liên quan, biết áp dụng chúng vào câu hỏi và có thể sắpxếp các thông tin theo một cách tốt nhất có thể

Trước khi đặt bút vào viết câu trả lời, luôn luôn giành vài phút vạch dàn ghi ra những ý chính cần trình bày trong bài, cách sắp xếp thông tin tốt nhất Côngviệc này không làm mất nhiều thời gian nhưng nó sẽ giúp HS thấy được cấu trúctổng quát của bài viết trước khi bắt tay vào viết Một lý do quan trọng khác củaviệc phác thảo bài viết là nó giúp các em tránh viết thiếu ý, và là cơ sở để địnhhướng, phân phối thời gian cho từng ý sao cho phù hợp nhất, đồng thời nó sẽ giúpphần nào lỗi nhiều HS gặp phải là viết lạc đề

ý-Những phút cuối, nên dành 10 phút hoặc hơn để đọc lại bài như dự tính Đây lànhững phút rất quan trọng để phát hiện một số lỗi nhỏ và một vài thông tin bỏ lỡ

IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Sáng kiến kinh nghiệm đã làm nổi bật được những điểm mới sau:

- SKKN đã đưa ra được cách thức để hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng tựhọc ở trên lớp, ngoài lớp và ở nhà thông qua dạy học Địa lí lớp 7,9 – THCS (dạy

học bao gồm cả quá trình dạy và quá trình học) Tác giả đã cụ thể hóa các biện

pháp để GV có thể áp dụng trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác,sáng tạo từ đó khơi dậy “nội lực – tự học” của người học

- SKKN đã đưa ra được quy trình rèn luyện kĩ năng tự học và cụ thể quy trình

đó khi rèn luyện các kĩ năng Địa lí cho HS Muốn có kĩ năng thì phải rèn luyệnnhưng việc rèn luyện chỉ có thể thực hiện và phát triển thành kĩ xảo được khi việcrèn luyện được tiến hành theo một quy trình, theo các bước cụ thể

- SKKN đi sâu vào phương pháp dạy học nhưng không sa vào phân tích lýluận mà chủ yếu nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu cần chú ý nhất khi sử dụngcác phương pháp dạy học để phát huy khả năng tự học của HS

- SKKN đã chú trọng rèn luyện cho HS các kĩ năng quan trọng mà từ trước tớinay các em còn rất ít được biết đến trong quá trình dạy học đó là hệ thống các kĩ

Trang 31

năng: kĩ năng đọc sách, kĩ năng ghi chép, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng ôn tập – kiểm tra kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin,…

V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả

môn Địa lí THCS” có tính thực tiễn cao, khả năng ứng dụng rộng, không chỉ trong

dạy học Địa lí lớp 7, 9– THCS mà các phương pháp dạy học tích cực theo quanđiểm dạy học lấy người học làm trung tâm, cùng nhiều kĩ năng quan trọng khácnhư kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng sử dụng sơ đồ tư duy, kĩ năng ôn tập-dự thi, kĩnăng ghi chép, kĩ năng sử dụng CNTT…có thể ứng dụng trong các môn học, khốilớp khác nhau và cả trong cuộc sống Điều quan trọng là kĩ năng tự học luôn cầnthiết trong mọi thời gian và không gian Trong bất kì hoàn cảnh nào, đều có thể ápdụng một hoặc một số biện pháp được đưa ra trong sáng kiến để rèn luyện kĩ năng

tự học cho học sinh trong dạy học nói chung, dạy học Địa lí lớp lớp 7, 9 – THCSnói riêng

Như vậy, tính ứng dụng của SKKN xét về tổng thể thì không giới hạn về địađiểm, phạm vi, thời gian áp dụng nhưng xét về thành phần (chi tiết) thì mỗi mộtphương pháp, một số kĩ năng lại có những yêu cầu riêng nên khả năng ứng dụngcủa từng phương pháp, một số kĩ năng sẽ không đồng nhất ở các không gian vàthời gian khác nhau

Trang 32

VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2009), Lí luận dạy học đại học, Nxb Đại học Sư phạm

2 Quốc hội (2010), Luật Giáo dục

3 Nguyễn Cảnh Toàn (1998), Quá trình dạy - Tự học, Nxb Giáo dục

Trang 33

VII PHỤ LỤC

1 Sơ đồ tư duy Địa lí 7, bài 17 Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa

Trang 34

2 Sơ đồ tư duy Địa lí 7, bài 17 Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa- Một sản phẩm sáng tạo của học sinh

Trang 35

Địa lí 7, Bài 17 Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa

Học sinh lớp 9 vẽ SĐTD trong tiết ôn tậpkiểm tra 45 phút

Trang 36

Học sinh lớp 7 tự ôn tập trên lớp

Học sinh lớp 7 làm bài thi học kì 2 năm học 2016-2017

NGƯỜI THỰC HIỆN (Ký tên và ghi rõ họ tên)

Trang 37

III/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 6

1 Quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh 6

2 Tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh qua môn Địa lí 7 và 9 6 2.1 Rèn luyện kỹ năng tự học ở trên lớp 6 2.1.1 Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân 7

2.1.1 1 Phương pháp đàm thoại gợi mở 72.1.1 2 Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ 92.1.1 3 Phương pháp(PP)/ kĩ thuật động não 112.1.1 4 Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy(SĐTD) để rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh 122.1.1 5 Kỹ năng sử dụng biểu đồ 152.1.1 6 Kỹ năng sử dụng bảng số liệu (BSL)thống kê 182.1.1 7 Giải các bài tập trên lớp 202.1.2 Rèn luyện kỹ năng tự học theo nhóm 202.1.3 PP dạy học giải quyết vấn đề 21

2.2 Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh ở nhà 21

2.2.1 Kỹ năng lập kế hoạch học tập 212.2.2 Kỹ năng đọc –ghi chép sách, tài liệu tham khảo 222.2.3 Kỹ năng ghi nhớ kiến thức 232.2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong học bài 242.2.5 Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin 242.2.6 Kỹ năng ôn bài và dự thi 26

IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 28

V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 29

VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 VII PHỤ LỤC 35

Trang 38

36Hết

Trang 39

TỰ HỌC HIỆU QUẢ MÔN ĐỊA LÍ THCS

Người thực hiện: Thị La Vet

Ngày đăng: 08/01/2018, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w