A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn bắt nguồn từ phạm vi gia đình và trong suốt cuộc đời của họ thì gia đình là môi trường sống hết sức quan trọng. mỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội. Vì vậy, mà những người phụ nữ trong gia đình cũng được ví như những hạt nhân của tế bào đó. Đồng thời gia đình cũng là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người phụ nữ . Tuy nhiên hiện nay tình trạng bất bình đẳng giới đang ngày càng diễn ra phổ biến khắc các khu vực quốc gia và các lĩnh vực. Mà nạn nhân chính của bất bình đẳng giới chủ yếu là phụ nữ, họ phải gành chịu những định kiến bất công từ xã hội và bị phân biệt đối xử trong đời sống xã hội. Trong những năm qua Đảng và nhà nước đã thi hành nhiều chính sách khác nhau để hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới, giải phóng cho phụ nữ. Tuy nhiên xã hội ngày nay hiện có một bộ phận những người phụ nữ không có những chỗ dựa về vật chất cũng như tinh thần đó là phụ nữ đơn thân nuôi con. Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài chính kinh tế về sức khỏe mà họ còn phải đối diện với rất nhiều những khó khăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý, tinh thần. Là phụ nữ ai cũng mong rằng sẽ có một gia đình hạnh phúc bên người mình yêu thương và con cái mình, sẽ có một chốn để nương tựa để chia sẻ mọi buồn vui trong cuộc sống. Song không phải phụ nữ nào cũng đều được may mắn như vậy. Có những người phụ nữ do mang trong mình những khuyết điểm nào đó hoặc do những điều kiện khách quan mà họ không có được một gia đình hoàn hảo như bao người khác, không có chồng nhưng họ vẫn có quyền được làm mẹ và họ quyết định sẽ có con với một người đàn ông nào đó để có thể thực hiện mong ước của họ. Nhưng những người phụ này thì luôn bị xã hội định kiến, mọi người trong xã hội đều cho đó là những người “ hư hỏng” bị khinh thường và mỉa mai của xã hội. chính vì vậy mà hơn ai hết họ cần được sự trợ giúp chia sẻ cảm thông từ mọi người từ gia đình, cộng đồng xã hội. Hay có những người phụ nữ đơn thân do chồng mất sớm, ly hôn với nhau và sống cuộc sống độc thân như vậy. Dù họ trở thành một người phụ nữ đơn thân với lý do như thế nào thì họ đều phải đối mặt với những khó khăn nhất định trong cuộc sống. nhất là đối với một người phụ nữ họ phải gồng mình để bươn chải lo cho cuộc sống để nuôi bản thân mình và nuôi con. Không những vậy họ vừa phải là một người mẹ đồng thời cũng là một người cha người trụ cột trong gia đình, chính vì vậy mà gánh nặng của họ trở nên càng nặng hơn bao giờ hết. Dù xã hội ngày nay đã có những suy nghĩ tích cực, không còn quá khắt khe đối với vấn đề này như trước nhưng để tiếp tục cuộc sống đơn thân nuôi con họ cần phải vượt qua rất nhiều khó khăn. Và đây chính là đối tượng đang rất cần sự quan tâm, trợ giúp từ cộng đồng xã hội để vượt qua khó khăn và hòa nhập với cộng đồng. trong đó vấn đề kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách và họ có nhu cầu giải quyết trước tiên nên tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội “ 2. Tổng quan đề tài khóa luận. 2.1. Các nghiên cứu trên thế giới. The successful single mom Honoree Corder Honoree Corder là một huấn luyện viên kinh doanh và người mẹ độc thân, những người cung cấp các bà mẹ đơn khác các công cụ mà họ sẽ cần phải di chuyển theo hướng mà họ muốn đi, cho dù thể chất hoặc chuyên nghiệp trước đây. bà mẹ độc thân cũng sẽ tìm hiểu làm thế nào để tạo ra một hệ thống hỗ trợ, phát triển tầm nhìn và cải thiện thái độ của họ. Trong cuốn sách của bà có nói đến việc trợ giúp những phụ nữ đang gặp rồi loạn trong việc làm một bà mẹ đơn thân. Thông qua đó để họ có thể tự tin hơn và thành công hơn trong cuộc sống làm một bà mẹ đơn thân. Nghiên cứu chỉ ra thấy được những khó khăn về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân về các mặt trong cuộc sống và trong cuốn sách cũng đề cập đến việc hỗ trợ họ để có thể phát triển hơn. 2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu đầu tiên đó là cuốn sách “ Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ. cuốn sách là công trình nghiên cứu của GS Lê Thi về phụ nữ đơn thân ở Việt Nam. Tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề như: phụ nứ đơn thân, thực trạng của họ, những khó khăn mà những người phụ nữ đơn thân phải đương đầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu của người phụ nữ đơn thân. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra vai trò của gia đình , cộng đồng xã hội trong việc hỗ trợ những đối tượng này. Cuốn sách “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của trung tâm nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ( XB Năm 1996). Cuốn sách trình bày những kết quả nghiên cứu của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, bắt đầu tiến hành năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chức SAREC của Thụy Điển. đã trình bày khá chi tiết về cuộc sống của những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam trong bối cành những năm 80 đầu 90. Theo tác giả thì ở khu vực nông thôn miền Bắc phần lớn những người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tế ảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình. Đặc biệt nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người phụ nữ thiếu vắng chồng nhận được rất ít sự trợ giúp từ phía gia đình , họ hàng và xã hội. Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến vấn đề này trong tạp chí như bài viết: “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng một vấn đề xã hội cần quan tâm” của tác giả Lê Ngọc Lân, trong tạp chí Khoa học và phụ nữ số 3 xuất bản năm 1991. Nghiên cứu được thực hiện ở một số cơ sở nông nghiệp như hợp tác xã Can Đình – Vĩnh Phú, hợp tác xã Minh Dân – Hà Tuyên và lâm nghiệp đội 7 Đoan Hùng và đội Minh Dân lâm trường Hàm Yên. Trong bài viêt này tác giả đã khái quát về thực trạng đời sống của các gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng. Các gia đình thiếu vắng chồng mà tác giả đề cập đó là bao gồm: những người phụ nữ góa chồng, không có chồng con, những người phụ nữ đã ly hôn, ly thân,… Với bài viết này, tác giả đã khái quát những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hình thành những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng. Nghiên cứu này đã chỉ ra những khó khăn chung của những phụ nữ thiếu vắng chồng. Bài viết “ Hiện tượng phụ nữ độc thân từ góc độ dân số học” cảu tác giả Đỗ Thịnh, trong tạp chí Khoa học về phụ nữ số 3 xuất bản năm 1997 đã có sự so sánh tỷ lệ độc thân của phụ nữ Việt Nam và một số nước trên thế giới và giữa các vùng đô thị với nông thôn ở Việt Nam. Phụ nữ đơn thân có rất nhiều loại hình: đơn thân do chồng mất đơn thân do ly hôn,ly thân đơn thân do bị chồng ruồng bỏ,… đối với mỗi loại hình người phụ nữ đơn thân lại rơi vào những hoàn cảnh khác nhau. Trong cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội” của trung tâm nghiên cứu về Gia đình và Phụ nữ ,NXB Khoa học xã hội, năm 2002 đã chỉ ra hậu quả mà ly hôn để lại ảnh hưởng đến phụ nữ và con cái của họ. Nghiên cứu cũng đã mô tả thực trạng cuộc sống cũng như tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ đơn thân nuôi con sau ly hôn qua một số trường hợp nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan đề tài khóa luận 2
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 2
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6
5.1 Đối tượng nghiên cứu 6
5.2 Khách thể nghiên cứu 6
5.3 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 6
6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 7
Trang 26.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.2 Các lý thuyết áp dụng 11
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 11
1.2.2 Lý thuyết hệ thống 14
1.3 Chính sách của nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ đơn thân 15
1.4 Các chính sách, hoạt động trợ giúp của Xã Phụng Thượng đối với nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHỤNG THƯỢNG, HUYỆN PHÚC THỌ, TP HÀ NỘI 21
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu (xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội) 21
2.1.1 Vị trí địa lý : 21
2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội : 21
2.1.3 Tình hình chính trị 22
2.1.4 Văn hóa: 23
2.1.5 Công tác Thương binh xã hội : 23
2.1.6 Hoạt động MTTQ và các đoàn thể 24
2.1.7 Thuận lợi và khó khăn của xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội 25
2.2 Thực trạng phụ nữ đơn thân tại xã Phụng Thượng, huyện Phụng Thượng, tp Hà Nội 26
2.2.1 Độ tuổi của các phụ nữ đơn thân 26
Trang 32.2.2 Trình độ học vấn của phụ nữ đơn thân nuôi con tại địa phương 27
2.2.3 Nghề nghiệp, mức thu nhập của phụ nữ đơn thân nuôi con tại địa phương 28
2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến phụ nữ lựa chọn làm mẹ đơn thân 29
2.2.5 Những khó khăn của phụ nữ đơn thân nuôi con 31
2.2.6 Nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con 36
2.3.Vai trò của nhân viên xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm việc làm thêm tại Xã Phụng Thượng 40
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 44
KẾT LUẬN 44
KHUYẾN NGHỊ 44
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Chữ viết tắt
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của những người phụ nữ đơn thân 27
Bảng 2.2 Thu nhập của phụ nữ đơn thân tại xã Phụng Thượng 28
Bảng 2.3: Nguyên nhân đơn thân của phụ nữ tại xã Phụng Thượng 29
Biểu đồ 2.1: Thống kê độ tuổi của phụ nữ đơn thân nuôi con 26 Biểu đồ 2.2 Vấn đề khó khăn nhất khi làm mẹ đơn thân của phụ nữ tại xã
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn bắt nguồn từ phạm vi giađình và trong suốt cuộc đời của họ thì gia đình là môi trường sống hết sứcquan trọng mỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội Vì vậy, mà nhữngngười phụ nữ trong gia đình cũng được ví như những hạt nhân của tế bào
đó Đồng thời gia đình cũng là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nângcao địa vị của người phụ nữ Tuy nhiên hiện nay tình trạng bất bình đẳnggiới đang ngày càng diễn ra phổ biến khắc các khu vực quốc gia và các lĩnhvực Mà nạn nhân chính của bất bình đẳng giới chủ yếu là phụ nữ, họ phảigành chịu những định kiến bất công từ xã hội và bị phân biệt đối xử trongđời sống xã hội Trong những năm qua Đảng và nhà nước đã thi hành nhiềuchính sách khác nhau để hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới,giải phóng cho phụ nữ Tuy nhiên xã hội ngày nay hiện có một bộ phậnnhững người phụ nữ không có những chỗ dựa về vật chất cũng như tinhthần đó là phụ nữ đơn thân nuôi con Họ không chỉ chịu gánh nặng về tàichính- kinh tế về sức khỏe mà họ còn phải đối diện với rất nhiều những khókhăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý,tinh thần
Là phụ nữ ai cũng mong rằng sẽ có một gia đình hạnh phúc bênngười mình yêu thương và con cái mình, sẽ có một chốn để nương tựa đểchia sẻ mọi buồn vui trong cuộc sống Song không phải phụ nữ nào cũngđều được may mắn như vậy Có những người phụ nữ do mang trong mìnhnhững khuyết điểm nào đó hoặc do những điều kiện khách quan mà họkhông có được một gia đình hoàn hảo như bao người khác, không có chồngnhưng họ vẫn có quyền được làm mẹ và họ quyết định sẽ có con với mộtngười đàn ông nào đó để có thể thực hiện mong ước của họ Nhưng nhữngngười phụ này thì luôn bị xã hội định kiến, mọi người trong xã hội đều cho
đó là những người “ hư hỏng” bị khinh thường và mỉa mai của xã hội.chính vì vậy mà hơn ai hết họ cần được sự trợ giúp chia sẻ cảm thông từmọi người từ gia đình, cộng đồng xã hội
Hay có những người phụ nữ đơn thân do chồng mất sớm, ly hôn vớinhau và sống cuộc sống độc thân như vậy Dù họ trở thành một người phụ
nữ đơn thân với lý do như thế nào thì họ đều phải đối mặt với những khókhăn nhất định trong cuộc sống nhất là đối với một người phụ nữ họ phải
1
Trang 7gồng mình để bươn chải lo cho cuộc sống để nuôi bản thân mình và nuôicon Không những vậy họ vừa phải là một người mẹ đồng thời cũng là mộtngười cha người trụ cột trong gia đình, chính vì vậy mà gánh nặng của họtrở nên càng nặng hơn bao giờ hết Dù xã hội ngày nay đã có những suynghĩ tích cực, không còn quá khắt khe đối với vấn đề này như trước nhưng
để tiếp tục cuộc sống đơn thân nuôi con họ cần phải vượt qua rất nhiều khókhăn Và đây chính là đối tượng đang rất cần sự quan tâm, trợ giúp từ cộngđồng xã hội để vượt qua khó khăn và hòa nhập với cộng đồng trong đó vấn
đề kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách và họ có nhu cầu giải quyết trước
tiên nên tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội “
2 Tổng quan đề tài khóa luận.
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới.
The successful single mom - Honoree Corder
Honoree Corder là một huấn luyện viên kinh doanh và người mẹ độcthân, những người cung cấp các bà mẹ đơn khác các công cụ mà họ sẽ cầnphải di chuyển theo hướng mà họ muốn đi, cho dù thể chất hoặc chuyênnghiệp trước đây bà mẹ độc thân cũng sẽ tìm hiểu làm thế nào để tạo ramột hệ thống hỗ trợ, phát triển tầm nhìn và cải thiện thái độ của họ Trongcuốn sách của bà có nói đến việc trợ giúp những phụ nữ đang gặp rồi loạntrong việc làm một bà mẹ đơn thân Thông qua đó để họ có thể tự tin hơn
và thành công hơn trong cuộc sống làm một bà mẹ đơn thân Nghiên cứuchỉ ra thấy được những khó khăn về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân
về các mặt trong cuộc sống và trong cuốn sách cũng đề cập đến việc hỗ trợ
họ để có thể phát triển hơn
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu đầu tiên đó là cuốn sách “ Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia
đình và Phụ nữ cuốn sách là công trình nghiên cứu của GS Lê Thi về phụ
nữ đơn thân ở Việt Nam Tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề như: phụ
nứ đơn thân, thực trạng của họ, những khó khăn mà những người phụ nữđơn thân phải đương đầu Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu củangười phụ nữ đơn thân Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra vai trò của gia đình, cộng đồng xã hội trong việc hỗ trợ những đối tượng này
Trang 8Cuốn sách “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của trung tâm
nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ( XB Năm 1996) Cuốn sách trình bàynhững kết quả nghiên cứu của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữthiếu vắng chồng, bắt đầu tiến hành năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chứcSAREC của Thụy Điển đã trình bày khá chi tiết về cuộc sống của nhữnggia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam trongbối cành những năm 80 đầu 90 Theo tác giả thì ở khu vực nông thôn miềnBắc phần lớn những người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tếảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình Đặc biệt nghiên cứu cũng chỉ rarằng những người phụ nữ thiếu vắng chồng nhận được rất ít sự trợ giúp từphía gia đình , họ hàng và xã hội
Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến vấn đề này trong tạp
chí như bài viết: “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng- một vấn đề xã hội cần quan tâm” của tác giả Lê Ngọc Lân, trong tạp chí Khoa học và phụ nữ
số 3 xuất bản năm 1991 Nghiên cứu được thực hiện ở một số cơ sở nôngnghiệp như hợp tác xã Can Đình – Vĩnh Phú, hợp tác xã Minh Dân – HàTuyên và lâm nghiệp đội 7 Đoan Hùng và đội Minh Dân lâm trường HàmYên Trong bài viêt này tác giả đã khái quát về thực trạng đời sống của cácgia đình phụ nữ thiếu vắng chồng Các gia đình thiếu vắng chồng mà tácgiả đề cập đó là bao gồm: những người phụ nữ góa chồng, không có chồngcon, những người phụ nữ đã ly hôn, ly thân,… Với bài viết này, tác giả đãkhái quát những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hình thành những gia đìnhphụ nữ thiếu vắng chồng Nghiên cứu này đã chỉ ra những khó khăn chungcủa những phụ nữ thiếu vắng chồng
Bài viết “ Hiện tượng phụ nữ độc thân từ góc độ dân số học” cảu tácgiả Đỗ Thịnh, trong tạp chí Khoa học về phụ nữ số 3 xuất bản năm 1997 đã
có sự so sánh tỷ lệ độc thân của phụ nữ Việt Nam và một số nước trên thếgiới và giữa các vùng đô thị với nông thôn ở Việt Nam
Phụ nữ đơn thân có rất nhiều loại hình: đơn thân do chồng mất đơnthân do ly hôn,ly thân đơn thân do bị chồng ruồng bỏ,… đối với mỗi loạihình người phụ nữ đơn thân lại rơi vào những hoàn cảnh khác nhau Trong
cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội” của trung tâm
nghiên cứu về Gia đình và Phụ nữ ,NXB Khoa học xã hội, năm 2002 đã chỉ
ra hậu quả mà ly hôn để lại ảnh hưởng đến phụ nữ và con cái của họ.Nghiên cứu cũng đã mô tả thực trạng cuộc sống cũng như tâm lý, nhu cầu,nguyện vọng của phụ nữ đơn thân nuôi con sau ly hôn qua một số trường
3
Trang 9hợp nghiên cứu
TTXVN có bài viết “ LHQ kêu gọi gia tăng quyền lợi cho phụ nữvùng nông thôn” (đăng tải ngày 16-12-2102) đã phát động thông điệpkhẳng định việc không ngừng mở rộng quyền và khả năng của phụ nữ nôngthôn Ngoài ra, thông điệp của ông Banki-moon – Tổng thư kí liên hợp
quốc cũng khẳng định : “ trách nhiệm giải quyết tình trạng phân biệt đối
xử đang thuộc về mọi quốc gia, mọi dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, phải làm sao để phụ nữ có được tối đa quyền phát triển”, việc này có ý nghĩa đặc
biệt to lớn trong việc xóa bỏ nghèo đói bần cùng và tình trạng phân biệt đối
xử phụ nữ, bất bình đẳng giới cũng có ý nghĩa khi mà hầu hết những phụ
nữ đơn thân nuôi con ở vùng nông thôn đều phải chịu sự phân biệt này
Quyền của phụ nữ được đề cập đến cả trong Hiến pháp nướcCHXHCN Việt Nam”, bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền lợi íchcủa công dân nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việcđảm bảo quyền và lợi ích của người phụ nữ Đây là những căn cứ để chúng
ta có thể trợ giúp cho những người phụ nữ đơn thân trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ cũng như bảo vệ lợi ích mà họ được hưởng Cụ thể trongđiều 40 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “ nhà nước, xãhội và mọi công dân có trách nhiệm bảo vệ chăm sóc cho bà mẹ và trẻem” , trong điều 52, chương 5 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy
định “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Hay tại điều 63 của chương này cũng khẳng định : “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau
về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động
nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau sinh đẻ mà vẫn được hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt , không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”
Vấn đề đơn thân còn được đề cập đến như một hậu quả nặng nề củahai cuộc chiến tranh để lại mà người phụ nữ phải gánh chịu Trong tập IV,
bộ sách “Việt Nam trong thế kỷ XX” có các bài tham luận giới thiệu một sốvấn đề chung Đặc biệt có bài đề cập đến tình trạng phụ nữ đơn thân, nhữngngười phụ nữ Trường Sơn, những thanh niên xung phong, những phụ nữ cóchồng hy sinh trong chiến tranh phải chịu cảnh cô đơn, sống đơn thân, kiến
Trang 10nghị những chính sách hỗ trợ thích đáng để bù đắp những thiệt thòi mà họđang phải chịu đựng
Chính sách xã hội được coi như hành lang pháp lý trong việc trợ giúp
cho phụ nữ đơn thân Cuốn sách “ Chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn – Qúa trình xây dựng và thực hiện” của tác giả Lê Thi, NXB khoa học xã
hội, năm 1998 đã phân tích, lý giải và chỉ ra yêu cầu cần phải có nhữngchính sách xã hội danh cho đối tượng là phụ nữ đơn thân và khuyến nghịvới các nhà hoạch định chính sách cần phải lưu ý đến các vấn đề như: Chế
độ ưu đãi đối với những thanh niên xung phong đang sống cô đơn; chínhsách ưu tiên, hỗ trọ sản xuất kinh doanh cho phụ nữ góa (chồng đã từngtham gia phục vụ kháng chiến); kiểm tra, thực thi các điều luật về Hônnhân và gia đình để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ sau ly hôn, ly thân
Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Thu Trang về công tác xã hội cá nhânvới phụ nữ đơn thân trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên cũng đã đưa ra đượcnhững khó khăn mà cuộc sống đơn thân của các bà mẹ, như cầu họ cần cótrong cuộc sống từ đó sẽ hỗ trợ họ để có cuộc sống tốt hơn
Những đề tài, khía cạnh nghiên cứu về phụ nữ đơn thân của nhữngngười đi trước đã khai thác được những thực trạng và những khó khăn củaphụ nữ đơn thân nuôi con Cũng như những chính sách của nhà nước đangđược áp dụng đối với họ trên địa bàn sinh sống các đề tài đã nghiên cứukhá sâu về đề tài này tuy nhiên còn quá ít những đề tài về những bà mẹ đơnthân nuôi con trong khi những chính sách đối với họ chưa nhiều Hơn thếnhu cầu của họ rất cấp bách để có thể có cuộc sống tốt hơn mà những đề tài
đa số là nghiên cứu mà chưa triển khai các hoạt động trợ giúp, thực hiệncác vai trò của nhân viên xã hội đối với phụ nữ đơn thân nuôi con Với đềtài của tôi ngoài việc tìm hiểu những nhu cầu, khó khăn trong cuộc sốngcủa phụ nữ đơn thân nuôi con còn có vai trò của nhân viên xã hội đối vớiđối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con: vai trò kết nối các nguồn lực hỗ trợ,kết nối với các doanh nghiệp tạo việc làm tăng thu nhập cho họ Hay cungcấp các thông tin, chính sách ưu đãi của nhà nước đến với họ
3 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực tế cuộc sống của phụ nữ đơnthân nuôi con trê địa bàn xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố HàNội, đề tài tiến hành nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu nổi bật đượcthực trạng, những khó khăn mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đếnnhững khó khăn đó, những nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và sự cần
5
Trang 11thiết phải có sự trợ giúp dành cho các đối tượng này.
Đồng thời, đề tài cũng đề xuất xây dựng mô hình CTXH nhằm canthiệp, hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con để họ có thể vượt qua những ràocảm từ xã hội và bản thân, khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập vớicộng đồng xã hội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài CTXH ,phụ nữ đơn thân và các khái niệm có liên quan
Thông qua khảo sát địa bàn, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc sống,hoàn cảnh của các đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con, phân tích nhữngkhó khăn, những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống, những rào cản từbản thân họ, từ gia đình, cộng đồng và xã hội đối với những nỗ lực của họ,nguyên nhân của vấn đề đó
Xây dựng và ứng dụng mô hình CTXH nhằm trợ giúp một cách kịpthời và có hiệu quả cho một nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bànnghiên cứu
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Vai trò của Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân nuôicon tìm kiếm việc làm thêm trên địa bàn xã Phụng Thượng, huyện PhúcThọ, thành phố Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu.
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình thực tập tôi đã sử dụng phương pháp phân tích tàiliệu để tìm hiểu các chương trình chính sách an ninh xã hội của nhà nướcdành cho nhóm phụ nữ đơn thân, tìm hiểu một số báo cáo của Bộ Lao độngthương binh xã hội, tìm hiểu về một số bài báo khoa học, khóa luận tốt
Trang 12nghiệp có liên quan, phân tích số liệu từ cơ sở cung cấp Từ việc phân tíchcác tài liệu trên để tìm ra các nguồn lực trợ giúp cho thân chủ.
6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu.
Phỏng vấn sâu là một hình thức thu thập, chia sẻ thông tin và thôngtin thu được là câu trả lời của người được phỏng vấn Mục đích của phỏngvấn là thu thập thông tin từ thân chủ hay chia sẻ thông tin cho thân chủ
Phỏng vấn sâu là một cuộc giao tiếp có mục đích cụ thể rõ ràng:thông tin thu được trong phỏng vấn có giá trị nhất định và có mục đích cụthể hay mục đích tổng quát Mục đích có thể là thu thập thông tin từ thânchủ hay khảo cứu và đánh giá vấn đề của thân chủ và tình huống liên quanđưa ra sự giúp đỡ cho thân chủ Phỏng vấn cần có kế hoạch cụ thể: Dophỏng vấn là hoạt động nghề nghiệp của nhân viên xã hội, nên không thểtùy ý mà cần vạch ra khung chương trình và thời gian biểu hợp lý, khoahọc
Phỏng vấn cần có phương pháp và kỹ năng, bấtk ỳ nghề nghiệp nàocũng đòi hỏi đến kỹ năng, phương pháp chung và riêng bởi nó thể hiện tínhchuyên nghiệp cũng như phản ánh hiệu quả của công việc phỏng vấn
Trong vấn đề trợ giúp phụ nữ đơn thân nuôi con tôi có phỏng vấn sâu
6 đối tượng trong đó 5 đối tượng là phụ nữ đơn thân nuôi con, 1 phỏng vấnsâu là chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã Phụng Thượng
6.3 Phương pháp quan sát.
Quan sát là chú ý đến đặc điểm của người vật hay tình huống vàtrong bối cảnh của công tác xã hội Trong công tác xã hội quan sát là điềukhông thể thiếu trong quá trình giao tiếp, khi tiếp xúc với thân chủ nhânviên xã hội phải quan sát Vì một trog những yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả giao tiếp đó là tâm trạng của thân chủ, tâm trạng ảnh hưởng đến thái
độ, phương pháp truyền đạt, phong cách đối xử, cách phản hồi quan điểm
và cách nhận định vấn đề Khi tâm trạng của thân chủ không được bình tĩnhthì dễ xảy ra những hiểu lầm hoặc mâu thuẫn Vì vậy, trong giao tiếp nhânviên xã hội phải nắm bắt được tất cả những thông tin, biểu hiện của thânchủ để có những hành động phù hợp
Chỉ có thông qua quan sát, nhân viên xã hội mới hiểu được thân chủmột cách toàn diện vì nhiều khi biểu hiện ngôn ngữ của họ khác xa so vớinhững gì họ thực chất nghĩ Khi ta có những thông tin đầy đủ chính xác vềthân chủ qua quan sát ta thêm thấu cảm với họ, giúp họ vượt qua những
7
Trang 13khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống.
Tôi sử dụng phương pháp quan sát để khái quát lại hoàn cảnh và cácmối quan hệ của gia đình thân chủ một cách chính xác và khách quan,không nhận định chủ quan hay đánh giá thân chủ
6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến.
Là việc lập ra hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở cácnguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiệncho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đềthuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được cácthông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiêncứu Với đề tài này chúng tôi thực hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 34chị em là thuộc đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã PhụngThượng
Tổng số phụ nữ đơn thân trên địa bàn xã là 34 nên số bảng hỏi phát
ra sẽ là 34 bảng hỏi cho tất cả phụ nữ đơn thân để khảo sát về vấn đề vềnhững khó khăn, nhu cầu và những chính sách mà họ được hưởng
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản.
Khái niệm Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế và các trường đào tại Côngtác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về Công tác xã hội nhưsau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào quá trình gải quyết vấn
đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội,tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chấtlượng sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành
vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác củacon người với môi trường sống
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyênnghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao nănglực đáp ứng nhua cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩymôi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân,gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội gópphần đảm bảo an sinh xã hội
Trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm phụ nữ như sau: “
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là người trưởng thành về mặt xã hội nó cho thấy một cái nhìn trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất
là không xấu đến những giá trị, đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này”
Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con.
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã có những định nghĩa khác nhau
về khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân Chẳng hạn, theo Gucciardi và cộng
sự, bố/mẹ đơn thân là khái niệm chỉ những người có con nhưng chưa baogiờ kết hôn, hay đã ly thân, ly dị và hiện không sống với người bạn đời
Trang 16được thừa nhận về mặt luật pháp, hoặc góa bụa (Gucciardi, Celasun vàStewart, 2004, tr.70) Như vậy, khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân đề cậpđến ba nhóm phụ nữ: nhóm có con và đã ly hôn, nhóm có con và đã ly thân,nhóm có con và chưa từng kết hôn hoặc chồng đã qua đời.
Trong cuốn sách “gia đình phụ nữ thiếu vắng chống” của Trung tâm
nghiên cứu Khoa học về Gia đình và Phụ nữ do giáo sư Lê Thi chủ biênxuất bản năm 1996, tác giả đã dùng khái niệm “gia đình phụ nữ cô đơn” đểnói lên tình cảnh những người phụ nữ không có đàn ông, người chống bêncạnh để giúp đỡ họ trong cuộc sống gia đình Họ thiệt thòi về mặt tình cảm,sống cô quạnh, không biết san sẻ cùng ai những khó khăn của mình Nhữngngười phụ nữ cô đơn có thể là chưa lấy chồng hay không lấy chồng, khôngmuốn lấy chồng, sống một mình hay sống với gia đình, họ hàng Họ có thể
có con (hay con nuôi) hoặc không có con
Khái niệm “ gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” để chỉ “ gia đìnhgồm người mẹ và con do họ sinh ra(có thể có thêm con nuôi), có mối liên
hệ máu mủ và cộng đồng kinh tế, thưởng là 2 thế hệ, nhưng cũng có trườnghợp là 3 thế hệ sống chung với ông bà già Đặc điểm của gia đình này làthiếu người đàn ông với tư cách là người chồng, người bố của những đứatrẻ sống cùng gia đình do các nguyên nhân đã chết, đã li dị, đã ruồng bỏ vợhoặc đi làm xa vắng nhà đã lâu”
Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng chia làm 5 loại:
Phụ nữ có chồng những chồng đã chết; phụ nữ có chồng nhưngchồng đi làm xa vắng nhà lâu ngày; phụ nữ có chồng nhưng đã li thân,bịchồng ruổng bỏ; phụ nữ đã li dị với chồng; và phụ nữ chưa kết hôn nhưng
đã có con
Tóm lại, phụ nữ đơn thân là những người chưa lấy chồng hoặc
không lấy chồng nhưng vẫn có con; và những người có chồng nhưng đãgóa bụa, hoặc ly thân, ly hôn sau đó nuôi con một mình Đó là những cánhân độc lập về kinh tế, tình cảm, có cuộc sống tự do không phụ thuộc vàongười khác Vậy nên, họ phải tự mình trang trải cuộc sống nuôi chính bảnthân mình và nuôi con cái của họ Với hoàn cảnh trớ trêu họ vừa là mộtngười cha vừa phải là một người mẹ, người trụ cột kinh tế trong gia đình, làchỗ dựa của con cái họ Điều kiện kinh tế của các hoàn cảnh là mẹ đơn thânhầu hết đều khó khăn bởi không có người giúp đỡ vừa chăm con vừa kiếmtiền mà phụ nữ thì rất cần chỗ dựa về mọi mặt
11
Trang 17Khái niệm việc làm.
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới nóichung và con người nói riêng Hoạt động kiếm sống của con người nóichung là việc làm
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầucủa bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định Họ có thể tham giacông việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mangtính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằmthu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình
Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xãhội Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạtđộng lao động của mỗi cá nhân cũng không cô đơn mà nằm trong tổng thểcác hoạt động sản xuất của xã hội Hơn nữa, việc làm và thu nhập nhanhcủa dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số
cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khảnăng tự tạo việc làm Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọikhả năng của bản thân để tự tìm kiếm việc làm cho mình, phải cạnh tranh
để tìm việc làm
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xãhội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao độngđược coi là người có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệthống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thựchiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Nhưng với khái niệm việc làm như trên thì chưa được coi là đầy đủ
vì con người chỉ có thể tồn tại trong gia đình và xã hội,do đó việc làm đượchiểu theo một cách hoàn chỉnh đó là ngoài phần người lao động tạo ra cho
xã hội còn phải có phần cho bản thân và gia đình nhưng điều cốt yếu làviệc làm đó phải được xã hôi thừa nhận (được pháp luật thừa nhận)
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm
sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó lànhững công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình,hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận
1.2 Các lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu.
Trang 18Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển một trongcác lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sửdụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là
lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong
lý thuyết này, ôGng sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thốngtrật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thìcác nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Theo lý thuyếtcủa Maslow thì các nhu cầu cơ bản của chúng ta hình thành trong một hệthứ bậc các nhu cầu (needs hierachy) - các nhu cầu bẩm sinh của chúng tađược xếp trong một chuỗi các giai đoạn từ nguyên thuỷ đến tiến bộ 5 bậcthang nhu cầu của Maslow là phát hiện xã hội quan trọng mang tính họcthuật cơ bản có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao, giúp các nhà quản lí
có nhân sinh quan soi sáng vào quan điểm lãnh đạo của mình và hình thành
phương pháp hoàn thiện trình độ quản lí (Học thuyết Maslow và việc phát
triển kỹ năng khuyến khích nhân viên, 2007)
Hình 1.1.2: Tháp nhu cầu của A Maslow
13
Trang 19Thứ nhất là: Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn đượcgọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiologicalneeds), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ,không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây
là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người
Thứ hai là: Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khicon người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này khôngcòn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo?Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu
an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.Con ngườimong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm.Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩncấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…
Thứ ba là: Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn đượcgọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó(belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love).Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn,tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đichơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm
Thứ tư là: Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầunày còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thànhquả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danhtiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Nhucầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phíatrên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốnđược mọi người trong nhóm nể trọng mình, lắng nghe ý kiến của mình
Thứ năm là: Nhu cầu thể hiện mình khi được tôn trọng là đã cho conngười ở đúng vị trí “Người” nhất của mình Do vậy, cần có trách nhiệmbuộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.” Nhu cầu đượcthể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu cầu này: “thể hiệnmình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫunhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất “Thể hiện mình”không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc,…
*Áp dụng lý thuyết vào trường hợp nghiên cứu.
Nhu cầu của mỗi người là khác nhau do vậy phải xét xem nhu cầu
Trang 20của các đối tượng ra sao để có được những thông tin và lên kế hoạch hànhđộng trợ giúp được Qua khảo sát ban đầu thì vấn đề kinh tế đang là vấn đềcần thiết và hầu hết đều được họ quan tâm bởi vì, một mình họ làm kinh tế,trụ cột gia đình là việc thật sự khó khăn Ngoài vấn đề về kinh tế họ muốnđược như bao người khác đó là được mọi người quan tâm, không miệt thị,coi thường họ vì không phải ai cũng có cuộc sống bằng phẳng có người sốphận trớ trêu nên phải chấp nhận Những nhu cầu của họ đã được xác địnhdựa vào đó để đánh giá xem nhau cầu chính, cấp bách nhất đối với họ làvấn đề gì? Để lên kế hoạch phối hợp với các tổ chức hỗ trợ họ để giải quyếtđược vấn đề.
1.2.2 Lý thuyết hệ thống.
Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại nhau một cách có qui luật để tạo thành một chỉnh thể, từ đólàm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là ”tính trồi”, đảm bảo thực hiệnnhững chức năng nhất định Các đặc trưng, căn cứ để xác định một hệthống - Trong một hệ thống có nhiều bộ phận và nhiều phẩn tử hợp thành.Giữa các bộ phận và các phần tử đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại nhau một cách có qui luật - Bất kỳ sự thay đổi nào về lượngcũng như về chất của một phần tử đều có thể làm ảnh hưởng đến phần tửkhác và toàn bộ hệ thống và ngược lại, nếu có sự thay đổi về lượng cũngnhư về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử của hệthống Các phần tử hợp thành một thể thống nhất, tạo ra tính chất ưu việthơn hẳn từng phần tử tồn tại riêng lẻ không có, đây là tính trồi của hệ thốngnhằm thực hiện những chức năng hay mục tiêu nhất định
Có 3 hệ thống cơ bản mà con người thường tham gia:
Hệ thống chính thức: tổ chức, công đoàn, cộng đồng
Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè…
Hệ thống xã hội: bệnh viện, gia đình,…
Đối với phụ nữ đơn thân nuôi con họ cũng mong muốn được sốngnhư những người khác , hòa thuận trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè
và xã hội Được tham gia vào các hoạt động để không bị tách biệt ra khỏicộng đồng Tuy nhiên, hiện nay vấn đề phụ nữ đơn thân nuôi con vẫn làvấn đề mà nhiều người chưa chấp nhận được, nhất là ở những vùng nôngthôn Nên thái độ, cách ứng xử của họ đối với những người làm mẹ đơnthân nuôi con đang gặp khó khăn trong vấn đề hòa nhập với xã hội, cộng
15
Trang 21đồng Hơn thế vấn đề tìm kiếm việc làm thêm để nâng cao thu nhập cần tới
sự hỗ trợ từ phía các doanh nghiệp, cộng đồng rát nhiều để có thể trợ giúpđược cho đối tượng
Tiểu kết: Đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con hiện là vấn đề không
mới mẻ ở nước ta ũng như trên thế gới Nhưng đối với miền quê, nông thônthì đó vẫn là vấn đề chưa được chấp nhận nên những khó khăn của họ ngàycàng vất vả hơn, khó khăn hơn cả về vật chất lẫn tinh thần Một mình họphải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống: gia đình, hàng xóm, nuôicon, kinh tế, tâm lý,… mà không phải đó là hoàn cảnh mà họ mong muốn
có những người làm mẹ đơn thân là do di thân, ly dị với chồng, nhữngngười quá lứa lỡ thì không có người yêu thương nhưng họ mong muốnđược làm thiên chức người mẹ để có chỗ dựa về sau nên họ quyết định làm
mẹ đơn thân,… Với những vấn đề đó mình họ không thể giải quyết được
do không có ai chia sẻ những khó khăn, động viên, chăm sóc lúc ốm đau.Hơn thế là những lời dị nghị của láng giềng, hàng xóm, con cái họ lớn lêncũng bị ám ảnh bởi một đứa trẻ không có bố, con hoang,… tâm lý củangười mẹ cũng như đứa trẻ đều bị ảnh hưởng rất lớn Hiện nay, những địnhkiến về vấn đề này đã hạn chế hơn nhiều, có những gia đình đã chấp nhận
để con cái họ làm mẹ đơn thân hoặc người dân đã có sự thông cảm hơn thìnhững bà mẹ đơn thân này lại gặp những khó khăn mới đó là vấn đề kinh
tế, việc làm, chăm sóc con cái ngày càng khó khăn hơn đối với họ
1.3 Chính sách của nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ đơn thân.
Hiện tượng phụ nữ làm mẹ đơn thân xuất hiện từ lâu trong xã hộiViệt Nam, từ thời phong kiến người ta đã xem những người phụ nữ này lànhững người yếu thế cần được trợ giúp Trong lịch sử thời nhà Lê đã cóchính sách cấp ruộng cho phụ nữ là cô nhi, quả phụ
Luật hôn nhân và gia đình cũng có 3 điều ( Điều 30,31,32) đảm bảovấn đề phụ nữ và con ngoài giá thú Trong luật Công đoàn cũng có nhữngquy định về chế độ cho phụ nữ và con ngoài giá thú
Trong số những phụ nữ đơn thân có người đóng góp cho đất nước và
xã hội trong những năm tháng chiến tranh Vì vậy, Nhà nước ta đã có một
số chính sách quan tâm , hỗ trợ cho nhóm phụ nữ này như:
Nghị định số 67/2007/NĐ – CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ vềchính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định: người đơn thân
Trang 22thuộc hộ nghèo đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đihọc văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi thuộc đối tượng củatrợ giúp thường xuyên với mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 120.000 đồng(hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của cư dân thay đổi thì mức chuẩn của trợcấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp ( Điểm 1, điều 7, Nghịđịnh số 67/2007/NĐ-CP) Quy định trên được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xãhội: “Người đơn thân đang nuôi con” quy định tại khoản 9 Điều 4 Nghịđịnh 67/2007/NĐ-CP là: “người không có chồng hoặc vợ; chồng hoặc vợ
đã chết; chồng hoặc vợ mất tích theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự,đang nuôi con đẻ, con nuôi hợp pháp” Tuy nhiên trên thực tế, các thủ tụcxin xác nhận là hộ nghèo cũng khá phức tạp, nhiều bất cập nên nhữngngười mẹ đơn thân còn gặp nhiều khó khăn trong việc nhận hỗ trợ, mức hỗtrợ chỉ trong khoảng 200.000 - 300.000 đồng/người/tháng cho các trườnghợp này là quá ít
Ngày 27/7, thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số TTg quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thànhnhiệm vụ trong kháng chiến Theo quy định này, mức trợ cấp cũng nhưquyền lợi của các cựu thanh niên xung phong sẽ được nâng cao hơn trướcđây
40/2011/QĐ-Theo quy định, đối tượng được hưởng chính sách là những thanhniên xung phong tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ15/7/1950 đến 30/4/1975, đã hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương màkhông thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độbệnh binh, chế độ thương bin, người hưởng chính sách như thuông binh,chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Các đối tượng trên sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần, tính theo số nămthực tế trực tiếp tham gia kháng chiến Cụ thể, từ đủ 2 năm trở xuốnghưởng mức lương trợ cấp bằng 2,5 triệu đồng/ người Như vậy, so vớiquyết định 104/QĐ- TTg thì mức trợ cấp một lần đã tăng 1 triệuđồng( trước đây là 1,5 triệu đồng) Nếu trên 2 năm thì từ năm thứ 3 trở đimỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng
Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp 1 lần, nếu có tháng lẻ thì
đủ 6 tháng trở lên tính tròn 1 năm, dưới 6 tháng được tính nửa năm
Trường hợp thanh niên xung phong đã từ trần thì vợ hoặc chồng, bố
mẹ đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần được
17
Trang 23hưởng trợ cấp 1 lần bằng 3,6 triệu đồng.
Về chế độ trợ cấp hàng tháng, quy định nêu rõ: trường hợp thanhniên xung phong không con khả năng lao động, sống cô đơn không nơinương tựa thì được xét trợ cấp hàng tháng với mức 360.000 đồng và đượcđiều chỉnh mức trợ cấp tăng thêm khi Chính phủ điều chỉnh mức lươnghưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng
Ngoài ra còn có hàng loạt các mô hình trợ giúp cho nhóm đốitượng.Về các khu nhà tạm trú, ở Việt Nam, từ những năm 1990 cho đếnnay, đã bắt đầu xuất hiện các khu nhà tạm trú dành cho người mẹ đơn thân,tập trung chủ yếu ở khu vực Tp Hồ Chí Minh và vùng lân cận Những cănnhà tạm trú này cũng có ý nghĩa như mô hình nhà tạm chú của Hàn Quốctuy nhiên hiệu quả thì ở nước ta do điều kiện kinh tế chưa phát triển nênhiệu quả từ các mô hình chưa cao
Về sự hỗ trợ xã hội, ở Việt Nam hiện nay, chính sách phúc lợidành cho người mẹ đơn thân cùng con cái của họ chưa nhiều Ở Việt Nam,mới chỉ có các hoạt động hỗ trợ đơn lẻ, hạn chế ở một vài khoản chi phínhất định, giúp đỡ người mẹ đơn thân thu nhập thấp Cũng có một vài khunhà tạm trú dành cho họ, đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của các tổ chức tôngiáo Ngoài ra, cũng có một số chương trình hỗ trợ người mẹ đơn thânđược tổ chức nhỏ lẻ nằm trong chương trình hỗ trợ phụ nữ nghèo nói chungcủa Hội Liên hiệp phụ nữ địa phương, hoặc của một địa phương nhất định.Hơn thế mức trợ cấp xã hội vẫn còn thấp so với các nước nên vẫn chưaphát huy được hiệu quả của các chính sách
1.4 Các chính sách, hoạt động trợ giúp của Xã Phụng Thượng đối với nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con
Qua việc thu thập thông tin qua các tài liệu tại Hội Liên hiệp phụ nữ
xã Phụng Thượng tôi đã thu thập được các thông tin về những dự án,chương trình hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con mà hội phụ nữ đang thựchiện Qua đó các chương trình, dự án mà Hội liên hiệp phụ nữ xã PhụngThượng phát động triển khai đó là:
Thứ nhất là dự án “ Mái nhà tình thương” đã được triển khai Dự ánnày có nguồn vốn từ ngân hàng chính sách huyện Phúc Thọ, thành phố HàNội Theo dự án thì mỗi năm hội liên hiệp phụ nữ sẽ xem xét hoàn cảnhcủa các hộ phụ nữ đơn thân nuôi con xem hội viên nào khó khăn về nhà ởchọn ra 1 số hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và sẽ hỗ trợ kinh phí để xâynhà cho các hộ xây mới nhà là 20 triệu đồng, còn sửa chữa nhà ở là 10 triệu
Trang 24đồng Số tiền này là hỗ trợ nên các hộ này không phải hoàn trả.
Thứ hai, dự án “ Nước sạch” theo dự án này những gia đình, hộnghèo, phụ nữ đơn thân có nhu cầu vay vốn với lãi xuất ưu đãi với mức0.6 Mỗi hộ sẽ được vay với 16 triệu/ lần từ ngân hàng chính sách Dựa ánđược hội liên hiệp phụ nữ xã phổ biến cho người dân những hộ trong diệnđược vay nếu có nhu cầu vay để phát triển kinh tế
Thứ ba, tại Thôn Đông, có quỹ để giúp đỡ những gia đình khó khăn,những phụ nữ đơn thân đang nuôi con gặp khó khăn về kinh tế Mỗi giađình sẽ đóng góp 500.000 đồng thành lập quỹ Tổng số tiền là 20 triệu với
số tiền ấy sẽ cho những gia đình nghèo, phụ nữ đơn thân nuôi con có hoàncảnh khó khăn vay với lãi xuất thấp đó là 0.4 để họ có thể nuôi con và trangtrải cho cuộc sống
Và hội phụ nữ xã cũng có quỹ mỗi hội viên sẽ góp tiền lại và số tiền
đó sẽ hỗ trợ, vay vốn không lãi xuất cho chị em đơn thân nuôi con nhỏ Sốtiền đó sẽ phải trả trong vòng 2 năm Không lãi xuất, hội phụ nữ mong rằng
có thể giúp đỡ chị em từ chính các hội viên Với một người có thể là nhiềunên tất cả các thành viên cùng tham gia sẽ giúp đỡ được nhiều hơn
Một hoạt động rất tích cực sẽ được triển khai trong thời gian sắp tới
đó là hội phụ nữ xã sẽ giới thiệu những chị em có hoàn cảnh khó khăn, đơnthân nuôi con đi học nghề: may, thêu,… tại các xưởng để có thể có nghềphụ làm lúc nông nhàn kiếm thêm thu nhập và ổn định cuộc sống Đó cũng
là việc mà rất nhiều phụ nữ đơn thân nuôi con đang trăn trở và mong ước
có được công việc phù hợp để nâng cao thu nhập
Các chương trình cũng như dự án trên đã mang lại những hiệuquả nhất định, trợ giúp được cho các đối tượng là phụ nữ đơn thân có hoàncảnh khó khăn Tạo ra mái ấm cho những người được xây nhà mới có sự hỗtrợ từ các cấp chính quyền tất cả những chính sách về cơ bản rất phù hợpđối với đối tượng trợ giúp Tuy nhiên, quá trình thủ tục hành chính vẫnrườm rà mất nhiều thời gian Ví dụ như chương trình “Mái ấm tình thương”thay vì hỗ trợ lúc ban đầu người dân xây dựng xong mới có người đến thẩmđịnh, nghiệm thu và làm thủ tục trợ giúp, xuất tiền Trong khi những ngườidân, phụ nữ đơn thân vốn đã không có tiền phải đi vay để xây dựng xong
để hưởng trợ cấp Mà lâu sau mới có người đến thăm nhà và làm thủ tụccho các gia đình Và những dự án, chương trình cần đẩy mạnh hơn nữa,triển khai từ những xóm làng thôn bản để những đối tượng ở bất cứ đâucũng được sự trợ giúp
19
Trang 25Qua khảo sát đối tượng là phụ nữ đơn thân về các chính sách của địaphương cũng như nhà nước dành cho họ thì tất cả đều trả lời rằng họ đềunhận được những chính sách hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước cũng như địaphương Những chính sác đó là về chính sách nhà ở, chính sách ưu đãi tíndụng, chính sách hỗ trợ sản xuất, bảo hiểm y tế,… tất cả các chính sách ưuđãi của nhà nước dành cho các đối tượng xã hội trong đó có nhóm đốitượng là phụ nữ đơn thân nuôi con Đối với những gia đình có con nhỏdưới 18 tuổi mỗi tháng sẽ được trợ cấp 350.000/ tháng Đối với những giađình thuộc diện hộ nghèo sẽ được miễn giảm học phí cho con cái của họ.Nhà nước cũng đã rất quan tâm đến đời sống của những đối tượng xã hội
và những chính sách đó đã kịp thời hỗ trợ được cho họ trong các lĩnh vựa.Như chính sách nhà ở, nhà nước sẽ hỗ trợ cho các đối tượng không có nhà
ở hoặc có nhà nhưng không đủ chống trọi với thời tiết, dột, nát như sau:những hộ có nhu cầu sửa lại nhà, không phải làm lại thì sẽ được hỗ trợ10.000.000đ để sửa sang lại nhà cửa Sau khi hoàn thiện sẽ có đoàn thanhtra về thăm nhà và làm giấy tờ để hỗ trợ cho hộ đó Còn đối với những hộgia đình có nhu cầu làm lại hoặc làm mới nhà sẽ được hỗ trợ 20.000.000đquy trình cũng giống với việc sửa lại nhà cũng sau khi hoàn thành sẽ cóđoàn về nghiệm thu và sau đó sẽ được hỗ trợ tiền
Mặc dù những chính sách của nước ta chưa đầy đủ và trợ giúp đượcnhiều nhưng đối với các đối tượng xã hội nhất là những người phụ nữ đơnthân nuôi con thì đó cũng là những hỗ trợ có ý nghĩa nhất định Một chị cóchia sẻ về chính sách mà chị nhận được và đánh giá về những chính sách
đó
“Cũng có em ạ mỗi tháng chị được 350.000 đồng trợ cấp cho trẻ nhở dưới 18 tuổi cho con chị, được cấp thẻ bảo hiểm y tế rồi thì những đợt lễ tết thì cũng đều có quà cho gia đình đấy chứ Cũng có đỡ hơn em ạ, cũng
đủ đóng tiền ăn hàng tháng cho con trên lớp học vì buổi trưa trẻ sẽ ở lại nhà trường ăn ngủ trên đó Hàng năm được cấp thẻ bảo hiểm y tế đi khám cũng đỡ được 1 khoản đấy Tuy không lớn nhưng cũng phần nào giúp đỡ được chút ít”(PVS, Nữ, 26 tuổi).
Về cách liên hệ, tiếp cận với chính sách xã hội của những phụ nữđơn thân nuôi con chủ yếu thông qua hội liên hiệp phụ nữ thôn, xã Sau đó
sẽ là cán bộ lao động thương binh xã hội xã và cuối cùng là hội nông dân
Đó là 3 kênh thông tin chính mà họ cho rằng có thể kiêm tìm thông tin vềnhững chính sách và quyền lợi của họ được hưởng Bởi vì họ đều là thành
Trang 26viên của hội phụ nữ thôn, xã nên họ thông qua hội phụ nữ sẽ dễ dàng hơn,những để biết các chính sách của nhà nước đang được triển khai như thếnào thì cần gặp cán bộ lao động thương binh xã hội sẽ được giải đáp rõnhất Và những chính sách chủ yếu thông qua cán bộ lao động xã hội dểđến với người dân Tuy nhiên không phải vấn đề gì cũng được truyền đạtlại tới họ mà họ phải tự tìm, tự hỏi thì mới nắm được những thông tin đó.Nên nhận thấy rằng việc tiếp cận với những thông tin, chính sách thủ tụccủa họ vẫn còn hạn chế nên với vai trò là nhân viên xã hội thì sẽ phải cungcấp những thông tin truyền đạt lại cho họ, những thủ tục vay vốn chínhsách, ưu đãi đối với các đối tượng cũng như những chính sách và quyền lợi
mà họ được hưởng
Tiểu kết: Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có những chương
trình, chính sách dành cho đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên đấtnước mình Những chính sách ấy đã phần nào trợ giúp được đối tượngchồng trọi với những khó khăn trong cuộc sống Song, những vấn đề của
họ thì ngày càng nhiều hơn và những nhu cầu cũng không ngừng được pháttriển chính vì vậy mà những chính sách vẫn chưa có thể đáp ứng được nhucầu của họ Ở Việt Nam có những chính sách nhưng không có chính sáchriêng nào dành cho đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con Để thực hiện đượcnhững chính sách đến tận nơi đối với đối tượng thì cần triển khai từ cấptrên xuống cấp cơ sở, thủ tục hành chính nhanh gọn để có thể trợ giúp kịpthời mang lại hiệu quả tốt nhất Khuyến khích những tổ chức, cá nhân cónhững suy nghĩ và hành động tích cực trong việc trợ giúp, hỗ trợ nhóm đốitượng
21
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHỤNG THƯỢNG, HUYỆN PHÚC THỌ, TP
HÀ NỘI 2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu (xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, TP
Hà Nội)
2.1.1 Vị trí địa lý :
- Xã Phụng Thượng hiện nay thuộc huyện Phúc Thọ thành phố HàNội Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 là làng phụng Thượng - huyệnPhúc Thọ - Tỉnh Sơn Tây
- Nằm giữa trục đường quốc lộ 30 ki-lô-mét về phía tây , cách thị xãSơn Tây 10 ki-lô-mét về phía đông
- về địa giới :
+ Phía Đông giáp xã Ngọc Tảo
+ Phía Bắc giáp xã Long Xuyên
+ Phía Tây giáp xã Đại Đồng
+ Phía Nam giáp 2 xã Hương Ngải , Phú Kim
- Nằm ở vị trí địa bàn như vậy xã phụng Thượng có điều kiện giaolưu thuận lợi với các trung tâm chính trị , kinh tế quan trọng trong thànhphố Hà Nội Đó là một lợi thế trong điều kiện hoà bình xây dựng phát triểnkinh tế