TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNGQUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC... TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNGQUẢ
Trang 1TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN
HÓA
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 3TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN
HÓA
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 9 14 01 14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS TRẦN THỊ TUYẾT OANH
1 TS MAI CÔNG KHANH
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu làkhách quan trung thực, kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được công bốtrong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả Trương Đức Cường
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành và tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin cảm ơn PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh và TS Mai Công Khanh, những người thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Quí Thầy giáo, Cô giáo, các Nhà khoa học đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Trường Đại học Văn hóa Thành phố
Hồ Chí Minh và các cơ sở giáo dục Đại học, khoa chuyên môn đào tạo cử nhân Quản
lý văn hóa trên cả nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Luận án được hoàn thiện cũng nhờ có sự giúp đỡ, động viên về tinh thần, vật chất của gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp, tôi xin cảm ơn!
Dù đã rất cố gắng, song luận án chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn từ các Thầy, Cô, Qúy vị và các bạn.
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận án
Trương Đức Cường
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Các luận điểm bảo vệ 5
9 Đóng góp của luận án 6
10 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 18
1.2.1 Đào tạo 18
1.2.2 Quản lý đào tạo 19
1.2.3 Ngành quản lý văn hóa 20
1.2.4 Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội 24
1.3 Đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội 27
Trang 81.3.1 Đặc trưng của đào tạo cử nhân ngành QLVH 27
1.3.2 Các thành tố của quá trình đào tạo ngành Quản lý văn hóa 31
1.3.3 Mối quan hệ giữa đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa và nhu cầu xã hội .32
1.4 Những vấn đề về quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội .34
1.4.1 Mô hình CIPO và khả năng ứng dụng trong quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 34
1.4.2 Nội dung quản lý đào tạo ngành QLVH theo mô hình CIPO 39
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đào tạo cử nhân Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội 49
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 49
1.5.2 Các yếu tố khách quan 53
Kết luận chương 1 57
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 58
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 58
2.1.1 Mục đích khảo sát 58
2.1.2 Đối tượng, qui mô khảo sát 59
2.1.3 Phương pháp khảo sát 59
2.1.4 Nội dung, tiến trình khảo sát 60
2.1.5 Cách thức xử lý dữ liệu khảo sát 61
2.2 Khái quát về đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học 61
2.2.1 Khái quát về qui mô phát triển ngành QLVH ở một số trường đại học 61
2.2.2 Qui mô đào tạo 63
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của ngành QLVH 63
2.3 Thực trạng đào tạo ngành QLVH ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội 65
2.3.1 Nhận thức về đào tạo cử nhân ngành QLVH 65
Trang 92.3.2 Thực trạng công tác tuyển sinh 66
2.3.3 Thực trạng chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH 67
2.3.4 Thực trạng về tổ chức đào tạo 69
2.3.5 Thực trạng đánh giá kết quả đào tạo 71
2.3.6 Các điều kiện đảm bảo đào tạo cử nhân ngành QLVH 72
2.3.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo ngành QLVH 78
2.4 Thực trạng quản lý đào tạo ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 82
2.4.1 Thực trạng quản lý đầu vào 82
2.4.2 Thực trạng quản lý quá trình đào tạo 86
2.4.3 Thực trạng quản lý kết quả đầu ra 93
2.4.4 Quản lý môi trường đào tạo 97
2.4.5 Những khó khăn trong quản lý đào tạo 98
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học 101
2.5.1 Những ưu điểm 101
2.5.2 Những hạn chế 102
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 103
Kết luận chương 2 104
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 106
3.1 Định hướng để xây dựng các giải pháp 106
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đào tạo cử nhân ngành QLVH ở trường đại học hiện nay 106
3.1.2 Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam đến năm 2020 106
3.1.3 Quan điểm đào tạo ngành Quản lý văn hóa của Việt Nam 107
3.2 Nguyên tắc để đề xuất các giải pháp 107
3.2.1 Đảm bảo tính mục tiêu 108
3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn đồng bộ, hệ thống 108
3.2.3 Đảm bảo tính gắn kết giữa đào tạo và sử dụng kết quả đào tạo 109
Trang 103.2.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 109
3.3 Giải pháp quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay 109
3.3.1 Tổ chức đánh giá nhu cầu xã hội và xác định chuẩn đầu ra ngành Quản lý văn hóa ở trường đại học 109
3.3.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng thích ứng với yêu cầu xã hội cho ĐNGV ngành quản lý văn hóa .113
3.3.3 Phát triển chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội 120
3.3.4 Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo phù hợp với thực tiễn nhà trường và bối cảnh xã hôi 126
3.3.5 Xây dựng cơ chế liên kết đào tạo giữa ngành QLVH và đơn vị sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo 128
3.3.6 Thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo 132
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 135
3.4.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp 135
3.4.2 Đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 136
3.5 Thử nghiệm giải pháp 139
3.5.1 Khái quát về thử nghiệm 139
3.5.2 Kết quả thử nghiệm 143
Kết luận chương 3 151
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 152
1 Kết luận 152
2 Khuyến nghị 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê đối tượng khảo sát thực trạng 60
Bảng 2.2 Qui mô đào tạo cử nhân đại học hệ chính qui ngành QLVH 63
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của các hoạt động đào tạo 65
Bảng 2.4 Quản lý phương thức tuyển sinh ngành QLVH 66
Bảng 2.5 Nội dung chuyên ngành Quản lý hoạt động văn hóa xã hội 67
Bảng 2.7 Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ĐNGV 69
Bảng 2.8 Tổ chức dạy học trong đào tạo cử nhân QLVH 70
Bảng 2.9 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học 71
Bảng 2.10 Đánh giá kết quả học tập sinh viên ngành QLVH 72
Bảng 2.11 Đánh giá hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng ĐNGV 75
Bảng 2.12 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo ngành QLVH 76
Bảng 2.13 Đánh giá về hoạt động quản lý học tập và quản lý sinh viên 77
Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng của đến đào tạo ngành QLVH 79
Bảng 2.15 Đánh giá về năng lực tự học của người học 80
Bảng 2.16 Chương trình đào tạo cử nhân ngành QLVH 80
Bảng 2.17 Thiết lập và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở tuyển dụng nhân lực ngành QLVH 81
Bảng 2.18 Phân chia lớp/nhóm sau tuyển sinh 82
Bảng 2.19 Trình độ ĐNGV cơ hữu thuộc cơ sở GDĐH đào tạo ngành QLVH .84
Bảng 2.20 Nội dung chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng 85
Bảng 2.21 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu đào tạo cử nhân ngành QLVH 86
Bảng 2.22 Đánh giá về quản lý phát triển nội dung chương trình đào tạo 88
Bảng 2.23 Tiến hành điều chỉnh chương trình đào tạo 89
Bảng 2.24 Phát triển chương trình đào tạo 89
Bảng 2.25 Đánh giá việc thực hiện qui chế đào tạo của ĐNGV 90
Bảng 2.26 Đánh giá phương pháp dạy học của ĐNGV 91
Bảng 2.27 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo 92
Bảng 2.28 Ý kiến đánh giá về kết quả học tập sinh viên 93
Bảng 2.29 Công tác quản lý tư vấn, giới thiệu việc làm cho sinh viên ngành QLVH .94
Trang 13Bảng 2.30 Đánh giá mức độ phối hợp giữa nhà trường và cơ sở tuyển dụng
trong quản lý đào tạo cử nhân ngành QLVH 95
Bảng 2.31 Đổi mới phương pháp ở cơ sở GDĐH đào tạo cử nhân QLVH 96
Bảng 2.32 Đánh giá các phương pháp dạy học của GV đào tạo ngành QLVH .97
Bảng 2.33 Đánh giá lượng kiến thức trong chương trình đào tạo 98
Bảng 2.34 Đánh giá những khó khăn trong việc quản lý đào tạo ngành QLVH .98
Bảng 2.35 Đánh giá mức độ hạn chế của đội ngũ CBQL ngành QLVH 99
Bảng 2.36 Nguyên nhân dẫn đến năng lực tự học của sinh viên QLVH chưa tốt .100
Bảng 3.1 Khung năng lực GV ngành QLVH 114
Bảng 3.2 Đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp 137
Bảng 3.3 Đánh giá mức độ khả thi của các giải pháp 138
Bảng 3.4 Nâng cao kỹ năng thực hiện NVSP của ĐNGV 143
Bảng 3.5 Tổng hợp ý kiến đánh giá thử nghiệm sự phù hợp của việc Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho ĐNGV 144
Bảng 3.6 Hiệu quả nâng cao kỹ năng thực hiện nghiệp vụ sư phạm ĐNGV .145
Bảng 3.7 Hiệu quả bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học 145
Bảng 3.8 Hiệu quả tổ chức thâm nhập thực tế ở cơ sở 146
Bảng 3.9 Hiệu quả Bồi dưỡng, nâng cao trình độ tin học 146
Bảng 3.10 Tổng hợp ý kiến đánh giá thử nghiệm Thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo 147
Bảng 3.11 Thiết lập quản lý thông tin sinh viên sau khi tốt nghiệp và vấn đề việc làm ngành QLVH 148
Bảng 3.12 Đánh giá chất lượng hoạt động sinh viên đã tốt nghiệp ngành QLVH .149
Bảng 3.13 Đánh giá hiệu quả hoạt động sinh viên đã tốt nghiệp ngành QLVH 149
Bảng 3.14 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm thực nghiệm và Việc làm .149
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Hoạt động đào tạo theo mô hình CIPO 36
Sơ đồ 3.1 Quy trình phát triển CTĐT khép kín 121
Sơ đồ 3.2 Qui trình thiết kế nội dung chương trình ĐT theo module nghề nghiệp .123
Sơ dồ 3.3 Phát triển chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội 125
Sơ đồ 3.4 Quản lý trang thiết bị dạy học phục vụ đào tạo cử nhân QLVH 126
Sơ đồ 3.5 Mối liên hệ giữa các giải pháp 136
Trang 15Ở Việt Nam mặc dù những năm gần đây, nguồn nhân lực này đã có nhữngkhởi sắc mới, những nhân tố mới khẳng định được vị trí của mình trước thươngtrường xong mới chỉ dừng lại bằng sự "chấp nhận" của xã hội chứ chưa đáp ứngđược với nhu cầu xã hội và sự cạnh tranh bình đẳng trong hoạt động đào tạo Do đó
kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp chưa đáp ứng được với yêucầu thực tiễn Sự phát triển ấy không có tính bền vững, không phù hợp với nền kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế Một bộ phận không nhỏ thiếu tính kế thừa liên thế
hệ, thiếu vốn sống, chưa được qui nạp kiến thức văn hóa, lịch sử, tri thức khoa học
và thiếu năng lực thực tiễn, các phẩm chất cần có của người làm công tác quản lý
văn hóa Trước sự phát triển đó, ngành quản lý văn hóa trở nên cấp bách vì sự phát triển nguồn nhân lực theo chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" Ngành quản lý văn hóa cần được nhận diện
và xử lý một cách thấu đáo, đó chính là giải quyết các mối quan hệ giữa nâng caodân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Lĩnh vực có tính đặc thù, ngànhquản lý văn hóa hướng tới phát triển con người một cách toàn diện về Đức - Trí -Thể - Mỹ Với những đặc trưng của ngành dựa trên những chuẩn mực nhất định làcông việc khó khăn, cần có thời gian nghiên cứu về nguồn lực, đòi hỏi sự phối hợpliên ngành của các nhà khoa học, các chuyên gia giàu kinh nghiệm khi tiếp cận với
các ngành khoa học như: khoa học quản lý (Management Study), văn hóa học (Culturology), nghệ thuật học biểu diễn (School Performing Arts), tri thức học (Knowlege Study), kinh tế học giáo dục (Ecocnomics of Education) còn rất mới
đối với Việt Nam
Đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa đã có trên 40 năm Nguồn nhân lựcnày, được sử dụng chủ yếu trong ngành văn hóa từ trung ương đến cơ sở, một số ít
là cán bộ hoạt động phong trào của các đoàn thể chính trị xã hội, một số khác được
Trang 16các doanh nghiệp có hoạt động, sản xuất kinh doanh dịch vụ văn hóa Đội ngũ này
đã được bổ sung vào các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp góp phần nâng cao sốlượng, chất lượng nguồn nhân lực tham gia vào công tác quản lý các hoạt động vănhóa nghệ thuật trong cả nước Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, trước đòi hỏi nângcao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳCNH - HĐH và hội nhập quốc tế với những biến động phức tạp của thế giới thì cơhội và thức thách đan xen, đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để chủđộng và thích nghi với bối cảnh phải đổi mới căn bản việc quản lý hoạt động đàotạo cử nhân quản lý văn hóa ở trường đại học từ mục tiêu, nội dung chương trình,phương pháp và cơ chế quản lý đào tạo
Mục tiêu, nội dung, chương trình, cách thức tổ chức đào tạo cử nhân quản lývăn hóa ở Việt Nam nói chung và ở trường đại học nói riêng vừa chậm được hiệnđại, lại thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực Các chính sách đào tạo chưa thể chế hóabằng hoạch định chính sách, thể hiện giữa các lĩnh vực đào tạo, từ nội dung chươngtrình đến phương pháp; giữa hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo Các cơ sở đàotạo cử nhân ngành QLVH chưa có chính sách đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạođối với người dạy và người học dẫn tới chương trình đào tạo còn mang tính hàn lâmchưa thực sự xuất phát từ nhu cầu xã hội, từ người học và năng lực cần có củangười học Nhà trường chưa có những chính sách quản lý tốt đầu vào, quá trình đàotạo và đánh giá sản phẩm đầu ra theo hướng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và sự hàilòng của khách hàng
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài "Quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay" là vấn
đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, góp phần cung cấp luận cứ khoa học chocác giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóatrong trường đại học
2 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo cửnhân ngành QLVH ở các trường đại học, xác định các giải pháp quản lý đào tạo đápứng yêu cầu xã hội, nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo ngành QLVH ởtrường đại học, góp phần đảm bảo nguồn nhân lực cho ngành văn hóa đáp ứng đượcnhu cầu của các cơ sở sử dụng nguồn nhân lực
Trang 173 Khách thể và đối tượng
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở các trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu xã hội
4 Giả thuyết khoa học
Đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa của nước ta trong những năm qua đãđáp ứng được phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của của đất nước Tuynhiên, trước yêu cầu đổi mới trong tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay,đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa còn bộc lộ không ít những bất cập Nếu xácđịnh được các giải pháp quản lý đào tạo ngành QLVH ở các trường đại học dựatheo mô hình CIPO và thực hiện chúng một cách khoa học phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả đào tạo cử nhân ngànhquản lý văn hóa, góp phần vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho cả nước
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ởtrường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
5.2 Khảo sát thực tiễn công tác quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ởcác trường đại học
5.3 Phân tích, đánh giá công tác quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ởcác trường đại học
5.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản lý đào tạo cử nhânngành Quản lý văn hóa ở trường đại học
6 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa dựa
vào mô hình CIPO
Giới hạn về khách thể khảo sát: Quá trình nghiên cứu thực tiễn được tiến
hành ở cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên các trường Đại học Văn hóa thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịchThanh Hóa Số liệu khảo sát từ năm 2011 đến 2016
Trang 187 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận năng lực: Việc tiếp cận theo năng lực cho phép đánh giá đào tạongành quản lý văn hóa so với những năng lực cần có của ngành quản lý văn hóaViệt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ đó có giải pháp nâng cao chất lượngđào tạo ngành quản lý văn hóa trong thời kỳ hội nhập
- Tiếp cận thực tiễn: Để nghiên cứu đánh giá thực trạng đào tạo và quản lýđào tạo cử nhân ngành QLVH, tìm hiểu các qui định, quá trình quản lý hoạt độngđào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
- Tiếp cận CIPO: mô hình có những lợi thế, dễ vận dụng để đo đầu vào, đầu
ra, kiểm soát quá trình và phân tích bối cảnh trong đào tạo cử nhân ngành QLVH ởtrường đại học
- Tiếp cận qui luật cung cầu: Vận dụng quy luật cung - cầu nhằm xác địnhnăng lực đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học đào tạo cử nhân ngành QLVH vớinhu cầu xã hội Từ đó chuyển dịch đào tạo theo cách tiếp cận nguồn cung sang tiếpcận nguồn cung cầu, lấy mục tiêu đầu ra làm đích hướng tới, xác định ngành nghề
và các kỹ năng cần thiết cho người học để sau khi tốt nghiệp có thể thực hiện đượcyêu cầu về vị trí công việc và có khả năng tìm việc làm Hướng tiếp cận này, đểthực hiện việc điều chỉnh, xem xét các mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng mộtcách lành mạnh và hợp lý
- Tiếp cận nguồn nhân lực: Chính là cơ sở để thiết kế, thực hiện các hoạtđộng và chiến lược quản lý nguồn nhân lực trong đào tạo cử nhân ngành quản lývăn hóa Mục tiêu là phân tích, tổng hợp các cách tiếp cận về nguồn nhân lực của
Trang 19của một tổ chức, đó là các quan điểm nguồn nhân lực hành vi, nguồn nhân lực tiềmnăng (vốn con người), nguồn nhân lực tri thức và nguồn nhân lực mối quan hệ.Cách phân loại này dựa trên đặc điểm, bản chất của nguồn nhân lực.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu, văn bản, sách, báo… các quanđiểm lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; phân tích các tài liệu lý luận về giáo dục học,tâm lý học và định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước để xây dựng cơ sở lýluận quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở các trường đại học đápứng yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi phương pháp này được thực hiện thông qua hệ
thống phiếu hỏi và phỏng vấn, quan sát để thu thập thông tin, phân tích các dữ liệu thực tiễn vềquản lý các hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu
xã hội.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nghệ sỹ - nhà sư phạm
ở các nhà trường về những vấn đề mà đề tài quan tâm nhằm tổng kết kinh nghiệm thực tiễntrong công tác quản lý giáo viên nhà trường, đồng thời có những đánh giá về các giải pháp,khuyến nghị giải pháp quản lý, thu thập và xử lý những đánh giá dự báo bằng cách tập hợp vàtham khảo ý kiến các chuyên gia thuộc một số lĩnh vực quản lý văn hóa nghệ thuật, khoa học,kinh tế, xã hội, giáo dục
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: phương pháp này nhằm tổng kết kinh nghiệm về
quản lý các hoạt động đào tạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu
xã hội, nhằm thu thập tư liệu thực tiễn về biện pháp quản lý đào tạo ở một số trường đại họctrong nước và quốc tế
- Phương pháp thực nghiệm: để đánh giá hiệu quả, sự phù hợp, tính khả thi và tính
thực tiễn, chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đề ra cho đào tạo cử nhân ngành QLVH ởnước ta trong giai đoạn hiện nay
7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê
Phương pháp này dùng để xử lý các tài liệu đã thu thập được từ các phương phápnghiên cứu như quan sát, điều tra hay thử nghiệm làm cho các kết quả nghiên cứu trở nênchính xác, đảm bảo độ tin cậy
Trang 208 Các luận điểm bảo vệ
Chất lượng nguồn nhân lực ngành QLVH, không chỉ phụ thuộc vào các thành tố củaquá trình đào tạo cũng như hoạt động quản lý đào tạo của trường đại học, mà còn phụ thuộcvào sự gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực được đào tạo
Mô hình CIPO là mô hình vừa nâng cao được chất lượng đào tạo đồng thời đảm bảocho quá trình đào tạo sát hợp với bối cảnh của thực tiễn, giúp nhà quản lý thực hiện việc quản
lý xuyên suốt quá trình, đầu vào, bối cảnh và đầu ra Vận dụng mô hình CIPO trong quản lýđào tạo cử nhân ngành QLVH ở các trường đại học là phù hợp với thực tiễn ngành đào tạo
Quản lý đào tạo cử nhân QLVH dựa vào mô hình CIPO sẽ mang lại hiệu quả nếu xâydựng và triển khai các giải pháp tập trung vào xác định nhu cầu đào tạo, phát triển chươngtrình đào tạo và thiết lập thông tin giữa đào tạo và sử dụng nhân lực được đào tạo từ các trườngđại học
9 Đóng góp của luận án
- Về lý luận:
+ Xác định được các yếu tố cơ bản đặc trưng cho quản lý hoạt động đào tạo
cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
+ Luận cứ cho việc áp dụng mô hình CIPO trong quản lý các hoạt động đàotạo cử nhân quản lý văn hóa ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo cử nhân văn hóa ở các trường đại học,chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở thực tiễn cho hoạt động quản lý đào tạo nóichung, ngành quản lý văn hóa nói riêng
+ Đề xuất được giải pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ởcác trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhânlực cho ngành văn hóa theo hướng ứng dụng, phù hợp với sự đổi mới quản lý giáo dục đại họctrong điều kiện hiện nay
+ Kết quả nghiên cứu lý luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiêncứu về quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa và là tài liệu cho cán bộ quản lý các cấp,giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên nghiên cứu về quản lý đào tạongành quản lý văn hóa theo hướng ứng dụng
+ Kết quả nghiên cứu thực tiễn là những bài học kinh nghiệm quí giá trongviệc tổ chức hoạt động đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học,đáp ứng nhu cầu xã hội; Các giải pháp của luận án là những chỉ dẫn cụ thể để cán bộ
Trang 21quản lý giáo dục các cấp, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên vậndụng trong các trường đại học có đào tạo ngành quản lý văn hóa.
+ Đối với các nhà quản lý ở địa phương, luận án cung cấp căn cứ luận đểhoạch định chính sách góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chongành văn hóa
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận
án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa
ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa theohướng đáp ứng nhu cầu xã hội trong các trường đại học
Chương 3: Giải pháp quản lý đào tạo cử nhân ngành Quản lý văn hóa ở cáctrường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý đào tạo ở các trường đại học được một số nhà nghiên cứu nướcngoài tiếp cận và kinh nghiệm của một số nước gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của
các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhu cầu người học theo những cách tiếp
cận, đánh giá ở nhiều mức độ, công trình nghiên cứu khoa học rất khác nhau, có thểtổng hợp thành các nhóm vấn đề chính liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đềtài này:
- Các nghiên cứu về quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là hoạt động thiết yếu có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảođảm và nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục nói chung và cáctrường đại học nói riêng Quản lý đào tạo cũng giống như quản lý các hoạt độngkhác đều phải tuân thủ những nguyên lý chung, các chức năng chung của quản lýnhư: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành phối hợp và kiểm tra kiểm soát.Việc nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung ở nhiều công trình nghiên cứu khácnhau ngoài nước do các nhà lý luận quốc tế nghiên cứu, có thể kể đến: FrederichWiliam Taylor (1856-1915), Robert J Marzano, Koontz và O Donnell (Mỹ); HenriFayol (1841-1925), Pháp; Feter F Drucker (Áo); Max Weber (1864-1920), Đức; công trình tiêu biểu như:
Tác giả Robert J Marzano (2007), viết cuốn sách “The Art and Science ofTeaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” (Nghệ thuật vàKhoa học giảng dạy: Một khuôn khổ toàn diện cho hướng dẫn hiệu quả), nghiên cứuchiến lược lớp học dựa trên khoa học và nghiên cứu Nhưng vấn đề là sử dụng trithức khoa học và kết quả nghiên cứu đó như thế nào Robert J Marzano trình bàymột mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy cân bằng dựa vào nghiên cứu trên dữliệu với việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học Các nhà giáodục phải kiểm tra tất cả các thành phần của quá trình giảng dạy để giúp giảng viênkiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể đạt được phản ứngtổng hợp năng động, là kết quả của nghệ thuật và khoa học trong giảng dạy để manglại thành tích học tập tốt hơn cho người học Trong tác phẩm “The Art and Science of
Trang 23Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” này, Robert J.Marzano còn trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy dựa trên việchiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học Những kinh nghiệm và sựhiểu biết chuyên môn chắc chắn sẽ giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và
kỹ năng của họ, để họ có thể tổng hợp được năng lực, sáng tạo để tạo ra thành tíchđặc biệt trong giảng dạy và đào tạo được các học viên xuất sắc [90]
"Những thách thức của quản lý trong thế kỷ thứ XXI", tác giả Feter F.Drucker (2003), là một trong những cuốn sách đột phá về các giả định trong quản
lý Cuốn sách đề cập một cách thẳng thắn, logic và sâu sắc tới các vấn đề quản lývượt qua tầm nhìn của hiện tại, đưa ra những đề tài nóng bỏng của ngày mai Cuốnsách không hẳn đưa ra các giải pháp cho tương lai mà tập trung đưa ra các vấn đềthực tế và đặt ra những câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề đó Sáu chương sách, tác giả
đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ vào xã hội tương lai, đồngthời đưa ra được một loạt các khái niệm mới với tầm quan trọng không thể chối cãi
Cuốn sách có những ý tưởng mới, mang tính cách mạng và có tầm nhìn vềcác vấn đề quản lý trong tương lai, đưa ra một khái niệm rất mới: “nửa cuộc đời cònlại” Theo phân tích của ông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người các cá nhân có thểsống lâu hơn các tổ chức nơi họ làm việc Điều này sẽ dẫn đến một thách thức hoàntoàn mới mẻ: Bạn sẽ làm gì trong nửa cuộc đời còn lại của mình? Những mô hìnhđổi mới, tầm quan trọng của xây dựng chiến lược, người dẫn đầu sự thay đổi, nhữngthách thức của thông tin, năng suất lao động của tri thức và tự quản lý bản thân Đây
là những vấn đề nóng bỏng, thách thức của công tác quản lý trong tương lai [86]
Mark Mason (2005), on the In Ternational Forum on Việt Nam Education
“Higher Education Reform and International Integration” - Mark Mason trong Diễnđàn quốc tế về giáo dục Việt Nam với chủ đề: “Đổi mới giáo dục đại học và hộinhập quốc tế” [87], đưa ra “Chiến lược và giải pháp dành cho giáo dục đại học chấtlượng và tính cạnh tranh toàn cầu”, tham luận gồm hai phần:
Một là viện dẫn nghiên cứu về những nhân tố được chứng minh làm tănghiệu quả học tập nhất là để bảo vệ cho luận điểm của tôi là chất lượng giáo viên vàchất lượng giảng dạy là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Hai là nghiên cứu về thuyết phức hợp và đổi mới giáo dục để bảo vệ luậnđiểm của tôi rằng các nguồn lực nên tập trung vào số lượng hạn chế của cơ sở giáodục đại học chất lượng cao làm động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn
Trang 24Từ đó đưa ra kết luận về những vấn đề như: 1) Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệmđổi mới giáo dục đại học từ các nước khác; 2) Việt Nam nên rút ra điều gì từ quátrình quốc tế hóa giáo dục đại học; 3) Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam nên tậptrung ưu tiên gì; 4) Chính phủ nên đóng vai trò như thế nào trong quá trình đổi mới.
Thực chất vấn đề được giải quyết chính là: đòn bẩy thay đổi quan trọng là chấtlượng giáo viên và chất lượng giảng dạy trong giáo dục đại học và các nguồn lực nêntập trung vào tuyển chọn và duy trì đội ngũ tốt nhất và đào tạo đội ngũ vì mục tiêunày và nguồn lực chỉ nên tập trung vào số lượng hạn chế các cơ sở giáo dục chấtlượng cao để động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn [87, tr.209]
UNESCO và ILO hai tổ chức quốc tế khuyến khích và tạo điều kiện cho việcphát triển và ứng dụng các module trong đào tạo Tại hội nghị quốc tế về module tạiBangkok (1977) và Paris (1985), các khuyến cáo của UNESCO về sự cẩn thiết triểnkhai áp dụng module trong đào tạo đã được đặc biệt chú ý Tại Paris, các chuyên giacho rằng, sử dụng module "là thích hợp và cần thiết trong mọi đối tượng đào tạo,đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kỹ thuật mới",đồng thời khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục cònhạn chế thì nên quan tâm tới việc đào tạo theo module Cùng với mục tiêu nhằmkhuyến khích việc áp dụng module trong giáo dục và đào tạo, cụ thể hơn, trong việcđào tạo giáo viên, các hội nghị khu vực họp tại Malina (5/1975) và tại Bangkok(12/1977) đã đề cập đến "việc phát triển các module phục vụ cho các chương trình
cơ bản của đào tạo giáo viên"
ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh,các quan điểm về đào tạo theo nhóm module về cơ bản không khác với những quanđiểm trên tuy nhiên, do chức năng quốc tế, ILO đặt nhiệm vụ "quốc tế hóa" về cácmodule đào tạo và hình thành một ngân hàng gồm 764 đơn nguyên học tập, nhưngcũng chỉ được có 5 lĩnh vực nghề [84] ILO cho rằng một nghề nào đó đều được thểhiện qua các chuẩn kỹ năng nghề, dù nghề đó được xem xét ở bất kỳ quốc gia nào
Sự khác biệt của các chuẩn này không lớn và chúng được đặc trưng bởi hệ thốngmục tiêu đào tạo (Aims and Objectives) và các kỹ năng thực hiện (PerformanceSkills) Chính các chuẩn này là cơ sở để xây dựng các module, đơn vị trung tâmtrong các cấu trúc hệ thống đào tạo theo module của ILO
Như vậy có thể khái quát chung quan điểm quản lý của các học giả quốc tếchính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến với đốitượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra Hay nói
Trang 25một cách khác, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thựchiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Các nghiên cứu về văn hóa
Công trình đáng lưu ý trong lĩnh vực văn hóa, phải nói tới tác giả ChrisBarker [79], Study Theoretical and Practical Culture (Nghiên cứu Văn hóa lý thuyết
và thực hành), một công trình nghiên cứu công phu, chia làm 3 phần:
Phần 1: Văn hóa và nghiên cứu văn hóa là những hệ thống khái niệm, nhữngdải trí tuệ, vấn đề trung tâm trong nghiên cứu văn hóa và phương pháp luận, đượcđúc kết từ thực tiễn và kinh nghiệm của các học giả được tác giả trình bày thấu đáo.Trong đó đáng lưu ý nhất là văn hóa và hệ tư tưởng; văn hóa ý nghĩa tri thức: bướcngoặt ngôn ngữ; sinh học và văn hóa những vấn đề được thuyết giản hóa luận vàtính phức tạp được cắt nghĩa bởi tính khoa học và khả năng tiến hóa Khẳng địnhvai trò của con người, chủ thể văn hóa
Phần 2: Bối cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa chủ yếu khám phá về thếgiới mới trong lính vực kinh tế, công nghệ, giai cấp xã hội, toàn cầu hóa; những chủthể của thời kỳ hiện đại, tri thức hiện đại và hậu hiện đại, nền văn hóa hậu hiện đại
Phần 3: Bàn luận, viện dẫn và lý giải các vấn đề về tính chủ thể và bản sắc;sắc tộc chủng tộc và dân tộc; tình dục, tính cụ thể và sự thể hiện Trong đó tình dục,giới tính và bản sắc; những cơ thể được đinh giới, đàn ông và nam tính; sự thể hiện
và văn hóa truyền thống được luận giải kỹ lưỡng Ngoài ra truyền hình và phươngtiện truyền thông kỹ thuật số cũng được dành một thời lượng đáng kể; những vấn đề
về không gian văn hóa, chính trị văn hóa và chính sách văn hóa là những nghiêncứu sâu về sự phát triển của văn hóa trong sự pha trộn của những mối quan tâm lýthuyết, thực hành nghiên cứu tập trung vào văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc
Công trình được đánh giá là một công trình tốt nhất trong lĩnh vực văn hóatrong giai đoạn hiện nay Cuốn sánh viết công phu, rành mạch, đầy đủ với nhiềuthông tin thuyết phục cung cấp cho người đọc những quan điểm hữu ích về lĩnh vựcvăn hóa
- Nghiên cứu ứng dụng mô hình CIPO
Zhang Jinbao (2009), nghiên cứu mô hình CIPO (Context, Input, Process, Output/outcome) Mô hình được ứng dụng và sử dụng trong nhiều ngành nghề khác
nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là ứng dụng trong giáo dục nghề nghiệp Tính khảdụng được học giả Zhang Jinbao dùng trong “Khung đánh giá đối với việc sử dụngICT (I: information; C: communications; T: technology) công nghệ thông tin và
Trang 26truyền thông trong giáo dục: theo mô hình CIPO [95] Tác giả báo cáo chuẩn bịcông ước AECT 2009 - Louisville, Kentucky về thông tin và truyền thông được ápdụng rộng rãi ở Trung Quốc Nghiên cứu đặt lên CIPO mô hình sử dụng công nghệthông tin trong giáo dục với các tài liệu tham khảo cho hai ý tưởng cốt lõi của CIPP
mô hình, một trong số đó là giới thiệu các mục tiêu vào lĩnh vực thẩm định và đánhgiá các mục tiêu hiện tại của mình trước khi quá trình của ngữ cảnh đánh giá, trongkhi đó được nhấn mạnh trong việc đánh giá toàn bộ quá trình Dựa vào đó, cácnghiên cứu tiếp tục phát triển nó thành một khung phân tích và đánh giá các côngnghệ thông tin trong giáo dục Để phát triển công nghệ thông tin trong giáo dụcphân tích khuôn khổ dựa trên CIPO mô hình từ các mô hình sáu yếu tố của côngnghệ thông tin trong giáo dục Tuy nhiên, tác giả tin tưởng vững chắc rằng khuônkhổ phân tích với bối cảnh chung của phát triển informationization như là điểmkhởi đầu quan trọng, "phần cứng", "phần mềm" và "ware tiềm năng" như các yếu tốđầu vào, bốn khía cạnh của việc thúc đẩy "quá trình ứng dụng" như quá trình vàthực hiện "cải cách trên ba cấp độ" là đầu ra phản ánh bởi các khung phân tích vàđánh giá được trình bày trong đề tài này, sẽ mang lại nguồn cảm hứng mới cho cácnhà giáo dục của ICT trong giáo dục như các nhà hoạch định chính sách, các nhànghiên cứu, hỗ trợ viên, học viên, IT các nhà sản xuất, sẽ cung cấp hướng dẫn quantrọng cho việc thúc đẩy hiện đại hóa giáo dục của Trung Quốc [95]
- Các nghiên cứu về quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Cộng hòa liên bang Đức: thì đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội có thể hiểu theohai cách: một là các trường cao đẳng, đại học phải đào tạo đúng ngành nghề mà xãhội có nhu cầu và không đào tạo thừa, vì như thế là gây lãng phí, nhưng đâu làngành nghề mà xã hội đang cần và cần bao nhiêu? hai là có thể hiểu đáp ứng nhucầu xã hội là trình độ người học khi tốt nghiệp phải đáp ứng với mong đợi củangười sử dụng [35, tr.24]
Điểm khó ở đây là yêu cầu về kỹ năng, tay nghề của các tổ chức, doanhnghiệp khác nhau Nếu đào tạo cho các tổ chức thì về kỹ năng nghề nghiệp cần cócho hoạt động quản lý nhà nước hay sự nghiệp Đào tạo cho doanh nghiệp thì phải
cụ thể là doanh nghiệp cần gì và ở trình độ nào vì trong hoạt động doanh nghiệp cónhiều loại nghề nghiệp và trình độ tay nghề cũng rất khác nhau
Do đó, nhà trường phải xác định đào tạo được những yêu cầu chung nào,chừng mực nào, phần còn lại do nhà sử dụng yêu cầu Mặt khác, sinh viên là yếu tốthứ ba mang tính quyết định Nếu sinh viên xác định được từ nhu cầu xã hội, nhu
Trang 27cầu nơi họ sẽ làm việc sau này thì bản thân họ sẽ tích cực rèn luyện thông qua quátrình đào tạo và tự đào tạo để nhằm thỏa mãn yêu cầu người sử dụng lao động Do
đó ngay từ ban đầu họ định hướng phân loại đối tượng đào tạo, công tác tư vấnnghề nghiệp tại Đức được xem là khâu quan trọng nhất trong quá trình học tập củađối tượng tham gia vào quá trình đào tạo, nhất là đào tạo nghề Vậy để thực hiệntheo tiêu chí "đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội" các hiệp hội dạy nghề tại Đức đưa ranhiều biện pháp, cần nhiều nguồn lực, hoạch định những chính sách, chủ trương chỉđạo mang tầm vĩ mô cần có sự hợp tác của các tổ chức, doanh nghiệp và sinh viênvới nhà trường Qua nghiên cứu áp dụng mô hình đào tạo "kép" với hình thức liênkết với các doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho họ bằng chính cơ sở vật chất
kỹ thuật, thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp trên nền tảng kiến thức được nhàtrường trang bị và tay nghề được nhà máy huấn luyện
Tại Thụy Điển, chương trình đào tạo công nhân được cấu trúc theo trình tự
và nội dung cơ bản của qui trình công nghệ ở xí nghiệp Mỗi nội dung cơ bản được
thể hiện qua các module đào tạo, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Điều đặc biệt đáng lưu ý
là việc kết thúc một hay nhiều module phụ thuộc vào nguyện vọng của người học với sự thỏa thuận của doanh nghiệp và có sự ảnh hưởng đến quyền lợi: mức lương
và thu nhập của một công nhân vì nó là "một chỉ số nói lên trình độ và mức độ toàn tâm và sẵn sàng vì công việc" của người công nhân [35, tr.25].
Kinh nghiệm của Mỹ: "nguồn nhân lực là trọng tâm của mọi sự phát triển"cho nên để giữ vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học - công nghệ, chiến lượcnguồn nhân lực tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài Trong đàotạo nguồn nhân lực, đã xây dựng một hệ thống giáo dục với hai đặc trưng là tính đạichúng và tính khai phóng, hệ thống giáo dục Mỹ đặc biệt coi trọng giáo dục đại học,
ở Mỹ có 4200 trường đại học, cao đẳng đảm bảo cho mọi người dân có nhu cầu đềutham gia vào các chương trình đào tạo cao đẳng, đại học Hệ thống các trường caođẳng, đại học cộng đồng phát triển mạnh đảm bảo tính đại chúng trong giáo dục đạihọc hướng vào đào tạo kỹ năng làm việc cho người lao động Tính cạnh tranh giữacác trường đại học là rất khốc liệt, để khẳng định thương hiệu của mình chính làbằng chất lượng giảng dạy Nếu sinh viên vào được các trường đại học danh tiếng
và học giỏi, thì cơ hội tìm kiếm việc làm rất thuận lợi Cùng với việc đầu tư nhiềutiền của ngân sách nhà nước còn huy động được nhiều nguồn lực khác trong xã hộivào công tác đào tạo nguồn nhân lực Các công ty ở Mỹ rất chú ý phát triển nguồn
Trang 28nhân lực, đào tạo nhân công Năm 1992, chi phí đào tạo là 210 tỷ USD; năm 1995chi phí đó lên tới 600 tỷ USD, Năm 2000 là trên 800 tỷ USD và đến nay lên tới1.000 tỷ USD [60, tr.50]
Nhật Bản hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học cũng như trường đào tạochuyên ngành có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Các cơ sở giáodục phải tuân thủ theo qui định của Bộ giáo dục Nhằm huy động các nguồn lực đầu
tư cho giáo dục, Chính phủ Nhật khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sựhình thành hệ thống giáo dục đào tạo trong các công ty, doanh nghiệp Mặt khácNhật cũng coi trọng việc học tập, tiếp thu các kinh nghiệm, thành tựu về đào tạonguồn nhân lực của các quốc gia phát triển khác, việc cử người đi học tập nướcngoài được nhà nước chú trọng, khuyến khích, với nhiều nguồn kinh phí khác nhau,
sử dụng kinh phí của nhà nước, người đi học của chủ sử dụng lao động, đối tácnước ngoài khác [60, tr.51]
Ở nhiều nước khác trong khu vực Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan,Philipin cũng đã áp dụng modunle trong đào tạo để đáp ứng nhu cầu cho ngườihọc và nhu cầu cho tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động; qua một số công trìnhnghiên cứu ở nước ngoài chứng tỏ những kinh nghiệm và bài học thực tế là rất cần
phải đào tạo theo hướng "cung và cầu" đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhóm 1: Các nghiên cứu về quản lý đào tạo
"Lý luận đại cương về quản lý", của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị MỹLộc (1996), công trình nghiên cứu những vấn đề cơ bản của quản lý nói chung,trong đó đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu chức năng quản lý [14, tr.8]
"Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường" của Đặng quốc Bảo(2007), bàn về vai trò của nhà trường trong việc thực hiện sứ mệnh của nền giáodục trong đời sống kinh tế xã hội; nội dung quản lý nhà trường theo luật Giáo dục;
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà trường Việt Nam; kế hoạch phát triển của nhà trường;quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất trong nhà trường; công tác thanh tra, kiểmtra trong nhà trường; thông tin trong quản lý nhà trường; hiệu quả đào tạo trong nhàtrường; vai trò của hiệu trưởng trong quản lý nhà trường [4]
"Quản lý chất lượng giáo dục đại học" của Phạm Thành Nghị (2000), đãcung cấp những thông tin thiết thực về các vấn đề liên quan đến kinh nghiệm quản
lý chất lượng trong giáo dục đại học thế giới và đưa ra các khuyến nghị áp dụng hệthống đảm bảo chất lượng vào giáo dục đại học ở Việt Nam [47]
Trang 29"Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học" của Nguyễn Đức Chính(2002) Đây là công trình nghiên cứu cấp nhà nước, đã tập trung phân tích cơ sở lýluận khoa học về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học Công trìnhđưa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng trong cáctrường đại học; cách thức tiến hành và qui trình kiểm định chất lượng của các nước
có nên giáo dục đại học tiên tiến [15]
"Giáo dục Việt Nam - đổi mới và phát triển hiện đại hóa" của các nhà nghiêncứu Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2007) thu thập và phân tíchnhững tài liệu về giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn 1986 -2004, những điều kiệnđảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục Việt Nam [34]
Trịnh Ngọc Thạch (2008): "Hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao trong các trường đại học ở Việt Nam" đã trình bày rõ cơ sở lýluận và kinh nghiệm quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dụcđại học ở một số quốc gia; phân tích một số mô hình đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình quản lý đàotạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học ở Việt Nam [59]
Nhóm 2: Nghiên cứu về quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Nghiên cứu về đào tạo gắn với nhu cầu xã hội có một số công trình như:Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp, báo cáo tổng kết đề tài Bộ Giáo dục, mã sốB91-38-07 của Trần Khánh Đức, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; mở rộng hình thức dạy nghềtrong doanh nghiệp của Nguyễn Thị Minh Hiền; đào tạo nghề gắn giữa nhà trường
và doanh nghiệp của Nguyễn Thị Minh Nguyệt; một số giải pháp về đào tạo nghềđáp ứng nhu cầu doanh nghiệp của Mạc Văn Tiến Những công trình này mới chỉ đềcập đến sự cần thiết phải đào tạo theo hướng cầu để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệptrong cơ chế thị trường đồng thời cũng đã nêu ra một số ý tưởng, một số giải pháp
để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà chưa đề ra vấn đề cốt lõi là đổi mới mụctiêu, nội dung và chương trình đào tạo cũng như tổ chức quá trình đào tạo để thíchứng với đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội
Luận án tiến sỹ của Phan Chính Thức "Những giải pháp phát triển đào tạonghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH" [62], đề cập đến nhữngbiện pháp vĩ mô trong đào tạo nghề như xây dựng chiến lược và chính sách đào tạonghề trong thời kỳ CNH, HĐH; Luận án "Phương pháp đào tạo nghề gắn với thịtrường lao động ở Việt Nam" của Đặng Văn Thành [61], lại chỉ đề cập đến phương
Trang 30pháp đào tạo nghề gắn với thị trường lao động nói chung, chưa bàn về các nhómnghề nghiệp có tính chất đặc thù, nhóm nghề có tính chất chuyên biệt.
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, được Bộ Giáo dục và Đào tạo khởi xướng
học giả Bành Tiến Long, đánh giá: “Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” [45], nhằm tìm sự động bộ giữa nhà trường với thị trường lao
động và đưa ra một số một số định hướng và các giải pháp về đào tạo theo nhu cầu
xã hội như:
- Thành lập cơ quan dự báo nhu cầu xã hội
- Xây dựng cơ chế chính sách năng động để thực hiện đào tạo theo nhu cầu
xã hội
- Tăng cường cơ chế hợp tác giữa nhà trường và nhà tuyển dụng
- Phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
- Xây dựng danh mục nghề và các tiêu chuẩn nghề nghiệp
- Kiểm định và đánh giá năng lực nghề nghiệp
Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo quốc gia ở hai khu vực
Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh "Sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp" [8], đã đi đến kết luận: “đào tạo theo nhu cầu xã hội cần một tamgiác” gồm sinh viên, nhà trường, doanh nghiệp cấu thành, mới có thể đáp ứng đượcđào tạo theo nhu cầu xã hội Từ đó tới nay, nhiều cơ sở GDĐH đã tổ chức các hộithảo về đào tạo theo nhu cầu nhu cầu xã hội như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn, Đại học Quốc gia Hà nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh các cuộc hộithảo đó đã chỉ ra sự yếu kém của sinh viên hiện nay về kỹ năng, về thực hành vàđào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội phải bắt đầu từ nhận thức
Như vậy, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đang là vấn đề bức thiết ở nước tahiện nay, đang cần có giải pháp cụ thể cho từng ngành từng lĩnh vực, đòi hỏi cácnghiên cứu ứng dụng có tính khả thi để giải quyết vấn đề nêu trên
Nhóm 3: Nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa
Khi nghiên cứu về vấn đề này, có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới cácgóc cạnh khác nhau, từ bậc đào tạo trung cấp đến cao đẳng và đại học Tiêu biểu
luận án tiến sỹ của Vũ Dương Dũng, nghiên cứu về "Phát triển đội ngũ giảng viên Múa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế " [21], cắt nghĩa một cách rõ ràng
về luận cứ khoa học giáo dục trong hoạt động đào tạo nghệ thuật múa ở nước tahiện nay, đánh giá thực trạng và bảy giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quảđào tạo nghệ thuật múa của Việt Nam Những giải pháp này là thành phần của một
Trang 31hệ thống nhất, quan hệ hữu cơ với nhau, tương tác lẫn nhau, bổ sung cho nhau trongcông tác phát triển ĐNGV Trong những giải pháp đó, việc xây dựng khung nănglực nghề nghiệp GV múa là giải pháp giữ vai trò tiền đề, làm cơ sở, căn cứ cho cácgiải pháp khác Bởi vì, khung năng lực nghề nghiệp là căn cứ để quy hoạch, tuyểndụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đãi ngộ ĐNGV Giải pháp đào tạo, bồidưỡng nâng cao trình độ GV là giải pháp then chốt, quyết định chất lượng ĐNGV,bởi vì thông qua đào tạo, bồi dưỡng tri thức của GV mới được gia tăng một cáchtoàn diện, hệ thống, có chủ đích và đạt được khung năng lực nghề nghiệp GV Cácgiải pháp còn lại sẽ là cơ sở để thực hiện công tác phát triển ĐNGV múa hiệu quả
và khả thi; Nguyễn Thị Bích Lợi nghiên cứu "Luận cứ khoa học của phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta" [44], đã góp
phần hoàn thiện cơ sở lý luận về giáo dục toàn diện học sinh phổ thông và phát triểngiáo viên sư phạm nghệ thuật; phân tích đánh giá thực trạng đào tạo giáo viên nghệthuật trong các trường đại học, cao đẳng sư phạm trên toàn quốc; đưa ra phươnghướng và tám giải pháp về đổi mới tư duy, phát triển chiến lược, tăng cường mạnglưới và các điều kiện khác nhằm phát triển đào tạo giáo viên nghệ thuật đáp ứng yêucầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay, đồng thời góp phần nâng cao chất lượngđào tạo giáo viên sư phạm nghệ thuật trên phạm vi toàn quốc
Về các diễn đàn khoa học mang tính chất định hướng Từ năm 1998 đến nay
đã có nhiều cuộc hội thảo qui mô toàn quốc do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổchức nhằm định hướng phát triển công tác đào tạo và bàn về những vấn đề liên quanđến hoạt động đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật Hội thảo lần thứ nhấtđược tổ chức tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội (tháng 8/1998) Hội thảo lầnthứ hai được tổ chức tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ ChíMinh (tháng 11/2000) Hội thảo lần thứ ba được tổ chức tại trường Trung học Vănhóa Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế (tháng 3/2002) Hội thảo lần thứ tư được tổ chứctại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2005).Hội thảo lần thứ năm tại Đà Lạt (tháng 6/2010) Hội thảo lần thứ 6 tại Thừa Thiên -Huế (tháng 4/2012) và hội thảo lần thứ 7 tại thành phố Hồ Chí Minh (tháng 7/2016)với chủ đề: “Nâng cao chất lượng đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và dulịch theo hướng chuẩn quốc gia và khu vực”
Tại các cuộc hội thảo lần thứ 7 này, đã có nhiều học giả đề cập đến việc tổchức, đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý đào tạo của các trường văn hóa nghệthuật Các học giả đã đi vào từng lĩnh vực riêng lẻ của hoạt động quản lý công tác
Trang 32đào tạo, học giả Ngô Văn Thành (Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) [12,tr.20], đánh giá: đến nay cả nước chỉ còn vài nhạc viện lớn vẫn kiên trì duy trì việcđào tạo tài năng ở một số môn nghệ thuật nhất định Hầu hết quy mô đào tạo âmnhạc chuyên nghiệp bị thu hẹp dần, chỉ còn được duy trì một cách “đối phó”, khiếncho chất lượng nguồn nhân lực cũng suy giảm dần Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạocũng rất lúng túng khi bị chi phối bởi cơ chế thị trường, hoặc “bất đắc dĩ” chạy theo
cơ chế thị trường, không có cơ chế tự chủ rõ ràng để có thể mạnh dạn xây dựngnhững khung chương trình theo chuẩn quốc tế Hầu hết các đơn vị không thể kiểmđịnh được chất lượng đào tạo và gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định nhữngtiêu chí chuẩn về nội dung, quy trình, phương pháp và mục đích của quá trình đàotạo; Trần Thanh Hiệp (trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội)[12, tr.24], chorằng: "đào tạo nhân lực điện ảnh truyền hình có khả năng hội nhập quốc tế, hướngtới chuẩn quốc tế thực tế là nhu cầu sống còn của sự phát triển điện ảnh dân tộc hiệnnay Tuy nhiên, nhìn vào một số chương trình đào tạo nhân lực điện ảnh hiện nayvẫn còn nhiều bất cập, nhiều chương trình khi giới thiệu với bạn bè quốc tế họkhông hiểu Bởi trong chương trình đào tạo có môn học cũng được và không họccũng không sao Có môn học mang tính bổ túc, đáng lý ra kiến thức đó phải cótrước khi vào đại học hoặc là môn ngoại khóa Có môn học ví như khi chiếc ghế gỗ
kê cho sinh viên cao lên, nhưng khi sinh viên ra trường, ghế một đằng, người mộtnẻo, chiều cao cử nhân nghệ thuật vẫn thế Các môn học giáo dục chuyên nghiệpthời lượng ít… Do đó, cần phải có đổi mới chương trình đào tạo cho ngành này";Nguyễn Xuân Tiên (trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh) [12, tr.68]đưa ra quan điểm về đào tạo: Muốn đào tạo nhân lực cho ngành văn hóa thể thao và
du lịch, mỗi trường cần khai thác thế mạnh của mình để tập trung đào tạo theohướng tốt nhất, mỗi trường có thể hình thành xưởng sản xuất, cơ sở thực hành cụthể cho sinh viên, tăng kĩ năng và hoạt động thực tế cho sinh viên trước khi ratrường Đội ngũ giảng viên cũng cần phải có tiêu chuẩn nhưng nếu cứ quy định chỉ
có giáo sư, tiến sỹ mới được giảng dạy thì rất khó có đủ nguồn giảng viên Thực tế,
có những người có tay nghề giỏi nếu được giảng dạy cũng sẽ cho ra những sinhviên tốt Ngoài ra, các trường đào tạo cần xây dựng chuẩn đầu vào và chuẩn đầu rachặt chẽ thì mới có thể kết nối với doanh nghiệp, sinh viên mới không lo thấtnghiệp; Nguyễn Văn Cương (trường Đại học Văn hóa Hà Nội) với tham luận
"Những vấn đề đặt ra từ thực tế công tác tuyển sinh và tốt nghiệp của trường Đạihọc Văn hóa Hà Nội" [12, tr.101], đánh giá thực trạng công tác tuyển sinh năng
Trang 33khiếu văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2006 - 2016 trong bảng so sánh chất lượngtuyển sinh năm 2006 thì tỷ lệ 8 người chọn 1 người, đến 2011 chỉ có 2 người chọn 1người và năm 2014 thì chỉ có 1,2 người chọn 1 người, đến nay không còn sự canhtranh trong tuyển sinh nữa Như vậy đào tạo theo đặc thù năng khiếu văn hóa nghệthuật ngay từ chất lượng đầu vào đã không có sự cạnh tranh như mong muốn thìchất lượng đào tạo chắc sẽ không cao Từ thực trang đó, tác giả đã đưa ra năm giảipháp nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo gồm có: đề xuất phương án tự chủ trongcông tác tuyển sinh của khối văn hóa nghệ thuật; xây dựng qui chế về chế độ hỗ trợsinh viên ngành học văn hóa nghệ thuật; xây dựng đề án tổ chức đào tạo theo địachỉ; đào tạo liên thông trong khối văn hóa nghệ thuật và đề nghị được nhà nước hỗtrợ kinh phí cho đào tạo ngành văn hóa nghệ thuật, tác giả cho là ngành đặc thù;Lâm Nhân (trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh) với tham luận “Đàotạo sau đại học ngành QLVH theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp - thời cơ vàthách thức” [12, tr.30] đánh giá chương trình đào tạo: Ngay sau khi có thông tư 15của Bộ GD&ĐT, khoa sau đại học đã tiến hành biên soạn lại chương trình đào tạothạc sỹ ngành QLVH theo định hướng nghiên cứu 2 năm, thời lượng 60 tín chỉ; 3học kỳ đầu là các môn cơ sở ngành, học kỳ 3 tổ chức bảo vệ đề cương nghiên cứu,phân công GV hướng dẫn Học viên có thời gian 12 tháng để hoàn thành luận văn.Trong quá trình đào tạo, có đan xen thực tế đánh giá các hoạt động văn hóa tại cơ
sở Phần giảng dạy, kết hợp mời chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước giảngdạy về lý thuyết, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu cho các học viên Tạo điều kiệncho học viên tham gia nghiên cứu khoa học, đề án, dự án về lĩnh vực VHNT của các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội và doanh nghiệp
Đánh giá chung: Phần tổng quan đã nghiên cứu những nhóm vấn đề về quán
lý nói chung và quản lý đào tạo ngành quản lý văn hóa nói riêng, mô hình đào tạo
và đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Những vấn đề nghiên cứu của các tác giả nướcngoài và trong nước, là những kinh nghiệm quí báu, dẫn đường cho việc nghiêncứu vấn đề về quản lý đào tạo cử nhân ngành quản lý văn hóa ở trường đại học Bêncạnh đó, một số diễn đàn khoa học cấp Bộ được tổ chức, nhiều học giả đề cập đếnviệc nâng cao chất lượng đào tạo, bằng một số biện pháp nâng cao chất lượngnguồn nhân lực cho ngành văn hóa Nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nhận định, đánhgiá vấn đề còn bất cập, một số biện pháp được đề xuất chỉ mang tính chất tình thế,
mà chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động đào tạo cử nhân ngànhquản lý văn hóa ở trường Đại học
Trang 341.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Đào tạo
- Theo UNESCO, đào tạo là những hoạt động tập trung vào kiến thức, kỹnăng và thái độ của một ngành nghề đòi hỏi đòi hỏi hoặc là để cải tiến công việchoặc nhiệm vụ đang thực hiện gần đây [92]
- Theo Trần Kim Dung, "Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằmgiúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ củamình Đó là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việccủa mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người laođộng để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn" [20]
- Theo Nguyễn Minh Đường, "Đào tạo là một quá trình hoạt động có mụcđích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng,thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đờihành nghề một cách có năng suất và hiệu quả" [29]
Từ điển Việt Nam trên trang Web Wikipedia định nghĩa: Đào tạo là quá trìnhtác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộcsống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vàoviệc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [96]
Như vậy, khái niệm tác giả sử dụng trong luận án: đào tạo là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống, được tổ chức và quản lý với nhiều cấp độ khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu đào tạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tổ chức cũng như của xã hội.
1.2.2 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo trong nhà trường có nội dung hẹp hơn so với quản lý giáodục, nhưng tương đồng với quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp Tức là quản lý giáodục có trường lớp, có chương trình, có người dạy và người học xác định diễn ratrong nhà trường cụ thể
Quản lý đào tạo rộng hơn so với quản lý dạy - học Quản lý dạy - học là nộidung trọng tâm của quản lý đào tạo, song quản lý đào tạo trong nhà trường còn baogồm nhiều các yếu tố khác như: quản lý yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra; quản lý đào
Trang 35tạo trong nhà trường có quan hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của quản lý nhà nước
1.2.3 Ngành quản lý văn hóa
Bắt đầu từ những năm 1970, các tổ chức liên chính phủ gồm có: Liên hợpquốc, UNESCO và Liên minh Châu Âu, có những hoạt động quốc tế nhằm đề caovai trò của văn hóa trong phát triển Hội nghi liên Chính phủ về "Chính sách vănhóa vì sự phát triển" tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) vào tháng 3/1978 là cộtmốc quan trọng đánh dấu về sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu chính sách văn hóaquốc gia Hội nghị nhất trí đưa ra 5 mục tiêu trong chính sách văn hóa vì sự phát
triển gồm: thứ nhất, đưa chính sách văn hóa trở thành một trong những thành tố cấu
thành trong chính sách phát triển chung của quốc gia Trong mục tiêu này, người tanhấn mạnh đến việc sử dụng văn hóa để để giải quyết các thách thức trong quá trình
đô thị hóa, toàn cầu hóa và những thay đổi công nghệ; thứ hai, chính sách văn hóa
phải thúc đẩy sức sáng tạo, bảo đảm tính đa dạng và sự tham gia bình đẳng của tất
cả mọi người trong quá trình sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ văn hóa; thứ ba, xây
dựng hệ thống chính sách nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa; thứ
tư, xây dựng hệ thống chính sách văn hóa nhằm thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và
ngôn ngữ trong một xã hội thông tin toàn cầu; đảm bảo sự phát triển văn hóa vàngôn ngữ các dân tộc thiểu số và đảm bảo vai trò của truyền thông trong việc góp
phần xây dựng, phổ biến và phát triển văn hóa; thứ năm, các Chính phủ cam kết
tăng cường các nguồn lực về con người và tài chính cho văn hóa [31, tr.11]
Có thể nói, những mục tiêu cơ bản trên đây là những quan điểm chung đượccác nước đồng tình chấp thuận trong quá trình nghiên cứu, vận dụng để xây dựng vàhoàn thiện chính sách QLVH của mỗi quốc gia
Trang 361.2.3.1 Khái niệm văn hóa
Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Hệ thống lýthuyết về văn hóa cũng vô cùng đa dạng với nhiều trường phái và học thuyết khác nhau
- Nhà nhân học Anh, E.B Tylor (Anh), định nghĩa về văn hóa như một đốitượng nghiên cứu khoa học trong công trình "văn hóa nguyên thủy" xuất bản tạiLondon, năm 1871, cho rằng: văn hóa gồm tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tínngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen
mà con người đạt được trong xã hội [31, tr.17]
- Văn hóa học Mác-xít, đặc biệt là văn hóa học Xô viết đã kế thừa nhữngquan điểm tiến bộ trong văn hóa học phương Tây vào các thập kỷ 60 - 80 của thế kỷ
XX, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nhàkhoa học thuộc trường phái này đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc và toàndiện về văn hóa với ba hướng tiếp cận chủ yếu: một là hướng tiếp cận giá trị xemxét văn hóa như tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được conngười sáng tạo ra khác với tự nhiên; hai là hướng tiếp cận nhân cách xem văn hóanhư một phạm trù, một thuộc tính của nhân cách Văn hóa hướng vào việc phát triểnnhững năng lực người, bộc lộ trình độ phát triển của con người; ba là hướng tiếpcận hoạt động lại khẳng định hoạt động chứ không phải là những giá trị được coi làyếu tố cơ bản của văn hóa [31, tr.20]
Ngoài những trường phái lý thuyết để khuôn định nội hàm khái niệm vănhóa, chúng ta còn thấy nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này Một trongnhững khái niệm thường được đề cập nhiều nhất ở nước ta là khái niệm của Hồ ChíMinh về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loại người mớisáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" [42,t.3, tr.458]
UNESCO đã đưa ra định nghĩa: "Văn hoá là tổng thể sống động các hoạtđộng sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Quacác thế kỷ, hoạt động đó hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thịhiếu, những yếu tố xác định đặc tính riêng của dân tộc" [31, tr.21]
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, để tránh sa đà vàotranh luận, khái niệm văn hóa được hiểu theo hai cách như sau:
Trang 37Theo nghĩa rộng văn hóa bao gồm 8 lĩnh vực (NQTW 5 năm 1998 của Đảng
đã nêu) gồm có: các lĩnh vực giáo dục, khoa học, tín ngưỡng tôn giáo, pháp luật, tưtưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật
Theo nghĩa hẹp, văn hóa bao gồm các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhànước của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch gồm quản lý nhà nước về văn hóa, quản
lý sự nghiệp văn hóa
Theo tác giả, Văn hóa chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra, trong quá khứ và hiện tại để phục vụ sự tồn tại, phát triển
xã hội và là tấm căn cước để nhận diện dân tộc này với dân tộc khác Bản chất của văn hóa là sự sáng tạo nên hệ thống giá trị, tinh hoa của con người, phục vụ cho con người Về mặt thực tiễn, văn hóa thể hiện trong toàn bộ hoạt động sống của con người, từ hoạt động sản xuất vật chất đến hoạt động tinh thần, phản ánh kiểu lựa chọn sáng tạo của cá nhân và cộng đồng.
1.2.3.2 Quản lý văn hóa
Theo cách hiểu thông thường, QLVH là công việc của Nhà nước được thựchiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiệncác văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triểnkinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hìnhthức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các
cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với kháchthể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêumong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốcgia, cải thiện chất lượng sống của người dân ) [31, tr.21]
QLVH bao gồm:
- Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạođức ), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa là cơ sở của việcxác lập nội dung và phương thức QLVH (thể hiện trong Hiến pháp, các văn kiệnchính thức của Đảng, chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ)
- Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng QLVH từ Trung ương đến địaphương và theo các lĩnh vực
- Cơ chế phối hợp liên ngành (Ban, Bộ, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự )
- Hệ thống pháp luật (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉthị, Văn bản hướng dẫn, Qui chế, Qui tắc, Qui định )
Trang 38- Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệthuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc ) và theo địa bàn lãnh thổ (trung ương - địaphương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước ) Cầnlưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực (đặcbiệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa.
- Công tác giám sát kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm
Đối với quản lý văn hóa Việt Nam, có tính chất đặc thù theo cơ chế: đảnglãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ (đảng lãnh đạo bằng chủ trương,đường lối; nhà nước quản lý bằng chính sách, pháp luật; nhân dân làm chủ thôngqua dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng vì vậy theo tác giả: Quản lý văn hóa Việt Nam chính là việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đến với toàn thể đời sống văn hóa và hoạt động văn hóa nhằm đạt được mục tiêu xây dưng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội.
1.2.3.3 Ngành khoa học Quản lý văn hóa
Là một ngành đào tạo chuyên môn về lĩnh vực QLVH (trước đây gọi là ngànhvăn hóa quần chúng), mã số 52220342 theo thông tư số 14/2010 TT-BGDĐT ngày27/04/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [10], Ngành QLVH đáp ứng nhu cầu nguồnnhân lực trong hoạt động văn hóa trên phạm vi cả nước Bao gồm: Quản lý nhà nước vềlĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, quảng bá, xuất bản, dịch vụ vănhóa công cộng, thiết chế văn hóa (do chính phủ qui đinh) và tổ chức các hoạt động của
sự nghiệp văn hóa như: đào tạo bồi dưỡng, sáng tác, biểu diễn, quản lý tốt tài sản, cơ sởvật chất và các phương tiện chuyên dùng, kinh doanh các dịch vụ văn hóa nhằm nângcao mức hưởng thụ của nhân dân
Chương trình đào tạo đảm bảo tính khoa học dựa vào ba tiêu chí cơ bản sau:
- Ngành QLVH là ngành khoa học thực hành;
- Chương trình đào tạo phải chuẩn hóa;
- Gắn liền với công nghệ thông tin và trang thiết bị hiện đại
Ngành khoa học thực hành trong chương trình đào tạo phải đảm bảo: kiếnthức đại cương (phần lý luận chính trị; khoa học xã hội - nhân văn - nghệ thuật) vàkiến thức giáo dục chuyên nghiệp (cơ sở ngành; kiến thức ngành và chuyên ngành)
Trang 39Chương trình đào tạo phải chuẩn hóa Trước hết phải chuẩn hóa các thuậtngữ trong các môn học của ngành đào tạo QLVH, sử dụng những thuật ngữ QLVHtiếng Việt chuẩn hóa sang tiếng Anh tương đương để đảm bảo tính khoa học Trongquá trình thiết kế các môn học cần cân đối lại các môn học cho phù hợp, đảm bảocho người học tích lũy được kiến thức thức cơ bản của ngành học với phương châm
"đa năng nhất chuyên" (biết nhiều nghề giỏi một nghề), thuộc phần kiến thức cơ sởngành, kiến thức ngành, kiến thức chuyên ngành phải hợp lý, có tính liên thông vớinhau, bổ trợ cho nhau, tránh trùng lặp Đồng thời nên tạo cho người học có thể họcđược ngành có tính chuyên sâu, phù hợp với sở trường, năng lực và năng khiếu củatừng sinh viên
Chương trình đào tạo gắn liền với công nghệ thông tin và vận hành sử dụngcác phương tiện kỹ thuật hiện đại, QLVH là một ngành khoa học gắn liền với côngnghệ thông tin và phương tiện tiện ích của thiết bị công nghệ hiện đại như: sử dụng
có hiệu quả mạng Internet; tính năng máy vi tính; website; thiết bị điện tử (âm nhạc,ánh sáng, âm thanh, hình ảnh, thiết bị sân khấu, truyền thông đa phương tiện…bằngcông nghệ mới)
Theo tác giả: Ngành khoa học Quản lý văn hóa là ngành vận dụng được chương trình đào tạo đảm bảo kiến thức đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, bởi tính khoa học thực hành, yêu cầu chuẩn đầu ra và gắn liền với công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại theo xu thế phát triển của xã hội.
1.2.4 Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
1.2.4.1 Lý thuyết cung cầu
Qui luật cung cầu: thường gặp trong kinh tế học, là mối quan hệ trao đổi.Cầu của hàng hóa hay dịch vụ mô tả số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêudùng sẽ mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian cụ thể, trong điều kiệncác yếu tố khác không đổi Ngược lại cung của một hàng hóa hoặc dịch vụ là lượnghàng hóa hay dịch vụ người sản xuất sẽ cung ứng ở các mức giá khác nhau tại mộtthời điểm cụ thể, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi [96]
Khi giá một mặt hàng tăng lên thì lượng cung mặt hàng đó cũng tăng lên(trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) và ngược lại Nguyên lý cung - cầu, hayquy luật cung cầu, cho rằng thông qua sự điều chỉnh của thị trường, một mức giácân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượng giao dịch hàng cân bằng sẽđược xác định Mức giá và lượng hàng đó tương ứng với giao điểm của đường cung
và đường cầu Trạng thái cân bằng của một mặt hàng như thế gọi là cân bằng bộ
Trang 40phận Khi đạt trạng thái cân bằng của cùng lúc tất cả các mặt hàng, kinh tế học gọi
đó là cân bằng tổng thể hay cân bằng chung Ở trạng thái cân bằng, sẽ không có dưcung (lượng cung lớn hơn lượng cầu) hay dư cầu (lượng cầu lớn hơn lượng cung)
Áp dụng qui luật cung cầu trong quản lý đào tạo ngành QLVH thì nguồncung ở đây chính là cơ sở GDĐH, cung cấp sản phẩm sau đào tạo, sản phẩm nàyđược cạnh tranh tranh bình đẳng sẽ tạo ra thị trường Nguồn cầu, chính là cơ quan
sử dụng nguồn nhân lực ngành QLVH bao gồm cơ quan nhà nước, lực lượng vũtrang, doanh nghiệp và cá nhân có sử dụng lao động ngành QLVH Giữa cung vàcầu có mối quan hệ mất thiết với nhau, tác động lẫn nhau cùng phát triển
1.2.4.2 Nhu cầu xã hội về đào tạo
Hiện nay, khái niệm nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và chưa đi đếnthống nhất Có quan điểm cho rằng đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: đào tạo theoyêu cầu của nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử dụng lao động, nhucầu của người học và cả nhu cầu của phụ huynh học sinh Song cũng có quan điểmcho rằng, đào tạo theo nhu cầu là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn, đào tạođáp ứng ngay nhu cầu trước mắt Cũng có quan điểm khác cho rằng nhu cầu cầu xãhội là nhu cầu của người học Khách hàng quan trọng nhất của nhà trường là ngườihọc, có người học nhà trường mới tồn tại Hiện nay, có rất nhiều người muốn đihọc, nhất là học đại học nên phải mở rộng hình thức, loại hình đào tạo, xây dựngthêm hệ thống các trường đại học, để đáp ứng nhu cầu xã hội
Theo tác giả: Nhu cầu xã hội là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân, gia đình và xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài về lĩnh vực
mà họ quan tâm, mong muốn.
1.2.4.3 Yêu cầu xã hội
Khái niệm yêu cầu xã hội, xét một mặt nào đó nó cũng đồng nghĩa với nhucầu xã hội Nhưng yêu cầu xã hội nghĩa hẹp hơn chính là vấn đề cụ thể mà cuộcsống - xã hội đặt ra trong một thời điểm nào đó, đòi hỏi cần được đáp ứng ngay giảiquyết tức thì đến tận gốc yêu cầu đó, chính là đáp ứng yêu cầu xã hội
- Người học là khách hàng trực tiếp hưởng thụ dịch vụ giáo dục do cơ sở đàotạo mang lại
Nhu cầu của người học là có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghềnghiệp cần thiết để phát triền năng lực, nhân cách cá nhân, có cơ hội tìm kiếm việclàm Do vậy, nhu cầu này phụ thuộc phần lớn vào chất lượng và số lượng chỗ trốngviệc làm của từng cơ quan, doanh nghiệp