mức sinh hoạt chung của người dân bị nghèo đi, dân chúng bắt đầu biểu tình chống lại chính quyền, thị trường tài chính của Thái Lan vốn đã rối loạn bởi hoạt động đầu cơ tiền tệ, càng trở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ ANH NHUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á được ví như một dãi núi lửa gồm nhiều ngọn núi lửa đã âm ỉ hoạt động từ lâu, chứa đựng những mâu thuẫn nội tại bên trong nó Vào ngày 02/7/1997, Thái Lan, ngọn núi lửa đầu tiên đã thật sự phun, và kéo theo cả một hệ thống Đây là cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II Nó đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và sự tăng trưởng kinh tế thế giới
Cho tới nay đã có hàng trăm cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhỏ xảy ra ở hầu khắp các Châu lục trên thế giới, song phần lớn các cuộc khủng hoảng đó đều xuất phát từ những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hết sức tồi tệ Riêng cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á vừa qua lại có đặc điểm hoàn toàn khác Nó dường như được sinh ra từ chính sự thành công của khu vực Vì quá say sưa với những kết quả đạt được, các nước trong khu vực đã không chú ý tới những nguy cơ tiềm ẩn đằng sau để kịp điều chỉnh, và đã phải trả giá rất đắt
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng, lại trong bối cảnh quốc tế hóa cao như hiện nay, Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội Do đó, việc nghiên cứu cuộc khủng hoảng để rút ra bài học trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước theo hướng hội nhập toàn cầu đối với Việt Nam có tầm quan trọng to lớn
Đó cũng chính là lý do để dẫn đến việc chúng tôi chọn đề tài “Khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm luận văn
Thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu :
Trang 3Trên cơ sở những diễn biến và những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á, luận văn tập trung phân tích, đánh giá những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế Từ đó đưa ra những giải pháp để hạn chế những tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế của Việt Nam
Thông qua phân tích những điểm yếu tương đồng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay so với nền kinh tế các nước trong khu vực bị khủng hoảng, luận văn đưa ra những bài học kinh nghiệm qua đó chúng ta có những định hướng phát triển kinh tế hoàn thiện, an toàn, hiệu quả và tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc cải cách nền kinh tế, công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đề tài “Khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” lấy nguyên nhân gây ra khủng hoảng khu vực và thực trạng nền
kinh tế Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là những nội dung quản lý về phía Nhà nước, Chính phủ cần thực hiện đối với những mặt hạn chế còn tồn tại, những chính sách kinh tế cấp thiết mang tính vĩ mô của Chính phủ nhằm tạo một sức phát triển mới cho nền kinh tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của đất nước và xu hướng phát triển kinh tế của khu vực và thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu :
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, có tham khảo một số học thuyết về kinh tế thị trường và các học thuyết về kinh tế hiện đại trong lĩnh vực điều tiết nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với phương pháp thống kê phân tích, phân tích tổng hợp, quy nạp, diễn dịch Đồng thời tham khảo những kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc gia đã trải qua những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, cũng như những kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc gia đã và đang phát triển mà không lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế để đi sâu có trọng điểm nội dung của luận văn, nhằm nâng cao lý luận từ thực tiễn, phát hiện, định hướng các giải pháp cần thiết và khả thi, qua đó hoàn thiện chính sách quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam phù hợp với chủ trương, đường lối xây dựng nền kinh tế
Trang 4thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đã được Đảng Cộng Sản Việt Nam đề ra trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII
5 Bố cục của luận văn :
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và phụ lục, bố cục của luận văn gồm có 3 chương :
Chương I : Diễn biến, nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ Châu Á
Chương II : Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á
đến nền kinh tế của Việt Nam
Chương III : Giải pháp của các Quốc gia trong khu vực khủng hoảng tài
chính - tiền tệ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á là đề tài hết sức phức tạp nên luận văn sẽ khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, rất mong nhận được sự góp
ý, phê bình của Quý thầy cô và những người quan tâm
Trang 5Chương I DIỄN BIẾN, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHÂU Á
1.1 DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ CHÂU Á :
Năm 1997 đánh dấu một năm đầy biến động trên thị trường tài chính – tiền tệ thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trầm trọng bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan sang các nước ASEAN, tới Hàn Quốc và Nhật Bản
Cuối năm 1996, nền kinh tế Thái Lan đã có những dấu hiệu mất cân đối, tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 6,7% so với mức 8,7% năm 1995, lạm phát tăng lên 7% (năm 1995 là 4,5%), kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 7%, đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong các năm qua (năm 1995 kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan tăng 28%) Tình hình đó đã dẫn tới cán cân vãng lai bị thâm hụt lớn ở mức 8% GDP Nợ nước ngoài của Thái Lan lên tới 90 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn chiếm trên 40% Tháng 02 – 3/1997, Thái Lan xảy ra việc bán ào ạt cổ phần, cổ phiếu và bán đồng Baht ra Ngân hàng Thái Lan có số dự trữ ngoại tệ là 33 tỷ USD, họ nhanh chóng dùng 18-20 tỷ USD để cứu vãn đồng Baht nhưng sau đó dừng lại Vào tháng 5/1997 đồng Baht lại tiếp tục có dấu hiệu chao đảo, sức ép giảm giá lớn, Ngân hàng Trung ương Thái Lan yêu cầu Ngân hàng Thương mại Thái Lan chỉ bán USD
ra Cuối tháng 6/1997 lại xảy ra bán cổ phần cổ phiếu lần thứ hai, lần này Ngân hàng Trung ương Thái Lan phải bán phần dự trữ ngoại tệ còn lại để can thiệp, đồng thời phát hành trái phiếu bằng đồng Baht nhằm thu hẹp lượng cung ứng đồng Baht trong lưu thông và tiến hành một số biện pháp để hỗ trợ thị trường chứng khoán, nhưng do nợ nước ngoài của Thái Lan đến hạn phải trả quá lớn, nên ngày 02/7 Chính phủ Thái Lan buộc phải tuyên bố thả nổi tỷ giá đồng Baht và đồng Baht nhanh chóng bị mất giá (có lúc lên tới 49 Baht /USD) Biến cố này làm cho món nợ nước ngoài tăng lên, thất nghiệp tăng lên, giá cả tăng lên, hàng nhập khẩu đắt đỏ,
Trang 6mức sinh hoạt chung của người dân bị nghèo đi, dân chúng bắt đầu biểu tình chống lại chính quyền, thị trường tài chính của Thái Lan vốn đã rối loạn bởi hoạt động đầu cơ tiền tệ, càng trở nên rối loạn hơn, luồng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng chảy ra…
Chính phủ cùng Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã phải tiến hành một loạt các biện pháp để thoát khỏi cuộc khủng hoảng : Cắt giảm thâm hụt ngân sách, cải cách nền tài chính, tăng thuế, đóng cửa những công ty làm ăn thua lỗ, nâng lãi suất đồng nội tệ, duy trì mức lãi suất cao, kiểm soát chặt trạng thái ngoại hối của các Ngân hàng Thương mại, tăng cường quản lý ngoại hối, rút ngắn thời hạn chuyển tiền từ xuất khẩu của các nhà xuất khẩu từ 6 tháng xuống còn 3 tháng và vẫn tiếp tục can thiệp trực tiếp vào thị trường bằng cách bán hàng tỷ USD dự trữ và để làm giảm bớt tốc độ mất giá của đồng bản tệ, lấy lại lòng tin của dân chúng và giới đầu
tư nước ngoài, đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài
Khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân nền kinh tế nước này mà còn lan rộng ra một số nước khác, thị trường tài chính tiền tệ trong khu vực Đông Nam Á cũng lâm vào cuộc khủng hoảng
Đầu tiên là đồng Pêsô của Philippine bị áp lực giảm giá Ngân hàng Trung ương Philippine lúc đầu mở rộng biên độ và tung dự trữ ngoại tệ ra can thiệp nhằm giữ giá đồng Pêsô, ngày 11/7 Philippine đã buộc phải tuyên bố thả nổi đồng Pêsô khiến cho đồng tiền này tụt giá ngay lập tức hơn 10% Ngày 21/7, IMF đã cho Philippine vay khẩn cấp 1 tỷ USD để khôi phục giá trị của đồng Pêsô Tiếp theo đồng Pêsô Philippine, một loạt các đồng Ringgit Malaysia, Rupiah Indonesia, đôla Singapore… Đa số các nước này đã hoặc phải nới lỏng biên độ giao dịch cho tỷ giá đồng bảng tệ so với USD, hoặc bỏ ra một lượng lớn dự trữ ngoại tệ can thiệp hỗ trợ trực tiếp vào thị trường hối đoái
Đến tháng 10/1997, khủng hoảng tài chính – tiền tệ bắt đầu xảy ra ở Hàn Quốc, sau một loạt những biến động trên chính trường và nhiều tập đoàn then chốt
bị phá sản như Hanbo, Kia Motor,… Thị trường tài chính – tiền tệ Hàn Quốc bắt đầu
Trang 7xáo trộn Khó khăn về vốn của nhiều công ty đã dần dần đẩy các khoản nợ tồn đọng lớn vào tay các ngân hàng và dẫn đến nguy cơ phá sản của hàng loạt các tổ chức ngân hàng – tài chính, lòng tin của giới đầu tư vào nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu suy yếu, thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng, tạo sức ép giảm giá mạnh đối với đồng Won Ngày 19/11/1997, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc phải nới rộng biên độ dao động từ cộng trừ 2,5% lên 10% cho đồng Won đối với đồng USD, can thiệp vào thị trường hối đoái để giữ giá đồng Won, nhưng đồng Won vẫn tụt giá mạnh, buộc Chính phủ phải cầu cứu IMF
Tính đến ngày 12/6/1998, đồng Rupiah của Indonesia bị phá giá 82,4%, đồng Pêsô của Philippine, Ringgit của Malaysia, Won của Hàn Quốc bị phá sản ở mức từ 35% đến 37% Đồng đôla của Đài Loan và đôla Singapore bị phá sản ở mức thấp hơn tương ứng là 20,5% và 18%
Cuối cùng là Nhật Bản, nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới đang gặp khó khăn đối với hệ thống tài chính – tiền tệ với một số công ty chứng khoán bị phá sản dẫn đến nạn thất nghiệp tăng, hệ thống ngân hàng thương mại đang có nhiều nguy cơ suy yếu Đồng Yên mất giá liên tục so với USD
1.2 NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ CHÂU Á :
Khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực là tảng băng nổi biểu hiện những mâu thuẩn bên trong nền kinh tế của các nước trong khu vực sau một thời gian tăng tốc và phát triển “nóng” của nền kinh tế Đó là sự phát triển kinh tế mất cân đối, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phụ thuộc nặng nề vào vốn của nước ngoài trong khi những tiền đề cần thiết của nền kinh tế của đất nước chưa thật sự ổn định, đặc biệt là hệ thống ngân hàng – tiền tệ, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và chứa đầy rủi ro chưa được chuẩn bị và quan tâm đúng mức
1.2.1 QUẢN LÝ LUỒNG VỐN :
Từ thập niên 90 đến nay, quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa của các hoạt động tài chính diễn ra rất nhanh Tỷ trọng luồng vốn tư nhân có xu hướng tăng lên
Trang 8rất nhanh, trong nội bộ luồng vốn tư nhân thì sự biến đổi cũng rất mạnh, đầu tư trực tiếp giảm mạnh, thay vào đó là đầu tư gián tiếp, trong đó tăng nhanh nhất là đầu tư gián tiếp theo danh mục vào trái phiếu và cổ phiếu
Phân tích thực trạng quản lý các luồng vốn tư nhân khu vực Đông Nam Á thời gian qua, các nhà kinh tế thế giới cho rằng có quá nhiều điều bất cập, trong đó có 3 vấn đề lớn gắn với nguyên nhân của cuộc khủng hoảng :
• Thứ nhất (và là vấn đề trọng tâm) là nợ của khu vực tư nhân : Các luồng
vốn tư nhân thông qua con đường tín dụng chảy vào khu vực Đông Nam Á thời kỳ vừa qua được khích lệ bởi cả môi trường quốc tế và khu vực Đó là quá trình tự do hóa, toàn cầu hóa và những chính sách mở cửa rộng rãi cộng với những thành tựu to lớn của các nước trong khu vực Chính sự khích lệ này đã làm cho các luồng vốn tín dụng (đặc biệt là tín dụng ngắn hạn) được đưa vào ồ ạt với các điều kiện kết sức dễ dãi và lãi suất thấp Song, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ của khu vực tư nhân, bởi lẽ sự dễ dãi đã làm cho các nguồn vốn không được phân bổ hợp lý, kém hiệu quả và mang tính chất rủi ro cao, các dự án đầu tư không thể thu hồi được vốn để trả các khoản nợ đến hạn và hệ quả tất yếu là khủng hoảng đã xảy ra
• Thứ hai, là thâm hụt cán cân vốn : Đặc điểm của các luồng vốn tư nhân trong
những năm gần đây ở khu vực Đông Nam Á là tỷ trọng các nguồn vốn đầu tư vào chứng khoán (đầu tư theo danh mục vào cổ phiếu và trái phiếu) ngày càng tăng lên Đây là các khoản đầu tư gián tiếp và mang tính ngắn hạn vì chứng khoán có tính thanh khoản cao, các nhà đầu tư rất dễ dàng có thể bán đi để lấy tiền mặt mua ngoại tệ rút về nước Chính điều này đã được thực hiện ở các nước bị khủng hoảng trong khu vực Đông Nam Á Việc các nhà đầu tư nước ngoài (chủ yếu là các định chế đầu tư) bán đồng loạt các loại chứng khoán mà họ đang nắm giữ đã làm cho thị trường tài chính của các nước khu vực rơi vào tình trạng “tồi tệ kép” vì khi họ ồ ạt bán chứng khoán thì thị trường chứng khoán bị hoảng loạn và mất giá, đến khi họ dùng số tiền đó mua ngoại tệ để
Trang 9rút về nước thì thị trường tiền lệ lên cơn sốt, giá ngoại tệ tăng lên, giá nội tệ sụt xuống Tình trạng thâm hụt cán cân vốn (thay cho thâm hụt cán cân vãng lai) như trên được cảnh báo là rất đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài chính của thế kỷ 21 vì đầu tư gián tiếp đang có xu hướng ngày càng phát triển ở khắp nơi trên thế giới
• Thứ ba, hệ thống giám sát : Tự do hóa và toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế
tài chính là xu hướng tất yếu Song càng tự do hóa thì yêu cầu đối với việc quản lý, giám sát các luồng vốn càng phải cao Khu vực Đông Nam Á dường như đã quên mất điều này Chính vì vậy, chưa bao giờ tình trạng di chuyển các luồng vốn bị thả lỏng như thập kỷ qua Điển hình nhất và cũng là bài học đắt giá nhất chính là sự đầu tư ồ ạt vào lĩnh vực bất động sản Ở đây trách nhiệm không chỉ thuộc về các nhà đầu tư , mà còn thuộc về các cơ quan giám sát và điều hành vĩ mô Nếu có hệ thống giám sát và cơ chế điều hành vĩ mô hữu hiệu, thì chắc chắn cuộc khủng hoảng đã được phát hiện từ sớm và sẽ được chặn lại, mức độ thiệt hại sẽ ít và tính chất lan tỏa sẽ được kìm hãm ở mức độ thấp hơn
1.2.2 SỰ MẤT CÂN BẰNG CƠ BẢN :
Trong một nền kinh tế mở, cân đối bên trong và bên ngoài là những điều kiện tiên quyết của sự cân bằng tổng thể và phát triển ổn định Cân đối bên trong được biểu hiện ở mức công ăn việc làm đầy đủ, giá cả ổn định… còn cân đối bên ngoài là mức thặng dư hay thâm hụt của tài khoản vãng lai ở mức tối ưu Có nghĩa là, sự thặng dư hay thâm hụt này không tạo ra tình huống mà nước đó có thể không đòi được hay không có khả năng trả nợ :
• Thứ nhất, sự mất cân đối bên trong thể hiện ở chỗ nền kinh tế phát triển quá nhanh gây áp lực lên giá cả và sử dụng quá mức cơ sở hạ tầng Chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng Chi phí tiền lương và các chi phí đầu vào của sản xuất ngày một tăng Do giá cả tiêu dùng tăng đòi hỏi Chính phủ phải tăng mức lương tối thiểu, trong khi đó năng suất lao động chỉ tăng trung bình Mặt khác, nhằm đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa phục vụ xuất khẩu, đòi hỏi các nước trong khu vực
Trang 10phải tăng nguồn vốn vay từ bên ngoài để bù đắp cho việc thiếu hụt trong nước Cùng với nó là sự gia tăng của chi phí lao động Hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các hệ thống giao thông vận tải và điện lực đã không theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp Lạm phát và chi phí lao động tăng mạnh đã phản ánh tình trạng nền kinh tế quá nóng và sự thiếu hụt lao động lành nghề Các nước trong khu vực đã tụt hậu về trình độ giáo dục và các kỹ năng cần thiết nhằm vươn tới các ngành công nghiệp sử dụng kỹ thuật cao
• Thứ hai, thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động là biểu hiện của sự mất cân đối bên ngoài Xét về mặt lý thuyết, đối với một nền kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, thâm hụt tài khoản vãng lai trong chừng mực có kiểm soát được (dưới 5% GDP theo nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế IMF) là điều không đáng lo ngại, thậm chí còn có lợi Bởi vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và thu hút vốn từ bên ngoài, nhất là trong khi đang cố gắng nâng cấp cơ sở hạ tầng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ các ngành công nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp kỹ thuật cao Thế nhưng, thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động (trên mức 5% so với GDP) đồng nghĩa với việc chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài nhiều hơn là họ tự sản xuất, sẽ đẩy nền kinh tế các nước này vào tình trạng khủng hoảng Hay nói cách khác, vay nợ nước ngoài để tự tài trợ cho những chi tiêu quá mức của mình Nguy hiểm hơn cả là quá nhiều trong số khoản vay này đã được đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản vốn đã phát triển tràn lan hoặc vào việc mở rộng các nhà máy không cần thiết làm tăng thêm tình trạng dư thừa công suất
Tác động dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai nghiêm trọng tập trung ở một số nguyên nhân cơ bản sau đây :
• Một là, thâm hụt cán cân thương mại lớn do kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh Lý do giảm mạnh xuất khẩu là do các nước chủ yếu tập trung xuất khẩu vào các ngành công nghiệp điện tử, dệt, sợi,… trước một thực trạng bão hòa về các sản phẩm này trên thị trường thế giới Mặc khác, các sản phẩm trên kém khả
Trang 11năng cạnh tranh do giá thành bị đẩy lên, chi phí lao động tăng trước các đối thủ mới có lợi thế cạnh tranh cao hơn như Trung Quốc, Việt Nam…
• Hai là, do mâu thuẩn cán cân thanh toán và thâm hụt tài khoản vãng lai ngày càng nghiêm trọng đã buộc các nước trong khu vực đã phải vay nóng từ các khoản vay ngắn hạn của nước ngoài để bù đắp cho các khoản chi tiêu quá mức trong nước Tăng trưởng kinh tế ở mức cao dựa cơ bản vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư ngắn hạn (vốn ngắn hạn theo luồng đầu
tư gián tiếp vào các cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,… chiếm 70% – 80%) đã làm nền kinh tế các nước Đông Nam Á lệ thuộc tương đối cao vào bên ngoài Vốn ngắn hạn nước ngoài gián tiếp làm tăng cầu hàng hóa trong nước, tác động làm tăng giá đồng bản tệ trong nước và khi các luồng vốn này được rút
ra ồ ạt thì gây ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính – tiền tệ, đẩy đồng bản tệ tụt giá, giá cổ phiếu giảm mạnh và cuối cùng là nền kinh tế dễ dàng rơi vào khủng hoảng Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng nóng của các nước trong khu vực những năm qua, dựa một phần chủ yếu vào các dòng vốn cho vay của nước ngoài Do những động cơ trục lợi cũng như cách tính toán sai lầm của các cơ quan ngân hàng – tài chính đã sử dụng một phần lớn số nợ này đầu tư vào kinh doanh bất động sản và bành trướng quá mức cơ sở hạ tầng dẫn đến tình trạng khê đọng vốn và làm tăng thêm những nguy cơ bất ổn định và mất cân đối vốn có của nền kinh tế khu vực
Nền kinh tế các nước trong khu vực rơi vào tình trạng mất cân đối bên trong và bên ngoài bởi vì nền kinh tế phát triển vượt quá mức sản lượng tiềm năng và thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn, sự mất cân đối đó được hình thành trên cơ sở của chế độ tỷ giá hối đoái không phù hợp, một cơ chế quản lý tập trung nhưng lỏng lẻo trong bối cảnh các thị trường tiền tệ – tài chính thế giới đang được hiện đại hoá, tự do hoá và quốc tế hoá một cách mạnh mẽ và nhanh chóng
1.2.3 CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ XUẤT KHẨU :
Trang 12Chiến lược tập trung đầu tư đẩy mạnh xuất khẩu lấy đó làm động lực để tăng trưởng kinh tế, nhưng do sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nước trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc đã khiến cho thị trường xuất khẩu bị thu hẹp Mặt khác, Mỹ thực hiện nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn thâm hụt mậu dịch với các nước Đông Nam Á, khiến sự tăng trưởng xuất khẩu của các nước bị giảm mạnh, đẩy mạnh thâm hụt cán cân vãng lai, tăng trưởng kinh tế giảm sút, lạm phát tăng
1.2.4 QUẢN LÝ NỢ :
Nợ nước ngoài và nợ quá hạn ở mức cao cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Phát triển kinh tế ở mức cao trên cơ sở vốn đầu tư nước ngoài không được cân đối, khả năng quản lý các khoản vay nợ yếu kém đã làm nợ nước ngoài ngày càng lớn Khi nợ đến hạn sẽ gây sức ép nặng nề lên hệ thống ngân hàng thương mại và làm tăng cầu ngoại tệ đột biến đối với nền kinh tế, hàng loạt các ngân hàng và công ty tài chính lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
1.2.5 CƠ CẤU ĐẦU TƯ :
Mất cân đối lớn giữa cơ cấu đầu tư và mối quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng Việc mở rộng tín dụng, đầu tư chủ yếu vào bất động sản, khu vực kinh tế Nhà nước… và tỷ trọng những khoản nợ khó đòi trong nước rất cao, làm mất khả năng thanh toán của các con nợ nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung Khi thị trường bất động sản có biến động, các công ty kinh doanh bất động sản bị thua lỗ đã làm suy yếu hệ thống ngân hàng, kéo theo sự biến động trên thị trường chứng khoán, lòng tin đối với đồng bản tệ giảm sút, luồng vốn ngắn hạn ồ ạt chuyển ra gây nên khủng hoảng tiền tệ Một nguyên nhân sâu xa khác đó là nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, tiêu phí vào mua sắm hàng hóa nước ngoài, xây dựng xa hoa và
du lịch quá mức
1.2.6 QUẢN LÝ NGOẠI HỐI :
Chính sách tự do hóa quản lý ngoại hối của các nước Đông Nam Á trong khi thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái ít được kiểm soát và phát triển không
Trang 13đồng bộ Việc chuyển đổi từ đồng bản tệ sang ngoại tệ hoặc ngược lại được tự do hóa nên khi luồng vốn đầu tư ngắn hạn đồng loạt được chuyển đổi và rút ra khỏi nền kinh tế thì đa số các nước này phải chịu hiệu quả nặng nề Các nhà đầu tư nước ngoài bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường cổ phiếu khiến giá cổ phiếu tụt nhanh chóng, giới đầu tư bán tháo các đồng nội tệ, các chứng khoán địa phương để mua ngoại tệ mạnh, các ngân hàng nước ngoài ngưng khoản cho vay mới và thu hồi các khoản cho vay đến hạn, các công ty trong nước có các khoản nợ nước ngoài đến hạn cũng đổ xô đi mua ngoại tệ đã tạo sức ép chuyển đổi từ đồng bản tệ sang đồng ngoại tệ mạnh, đó chính là nguyên nhân cơ bản đẩy giá các đồng tiền Đông Nam Á xuống tới mức thấp kỷ lục trong thời gian rất ngắn Do nguồn tín dụng cạn kiệt, lãi suất nâng cao, đồng nội tệ mất giá, nhiều ngân hàng và công ty đã không có khả năng trả nợ và phá sản, làm cho chỉ số chứng khoán và tỷ giá ngày càng giảm mạnh hơn
1.2.7 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ :
Cuộc khủng hoảng đều là kết quả của sự “ lệch pha” thiếu đồng bộ trong chính sách tỷ giá phục vụ cho chính sách phát triển hướng về xuất khẩu Chính sách tỷ giá hối đoái được duy trì cứng nhắc, gần như cố định và phụ thuộc vào đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ giá khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu vực vừa qua Các đồng tiền nội tệ của các nước đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD.Trước khủng hoảng, đồng bản tệ luôn bị sức ép tăng giá do tác động của các luồng vốn lớn bằng ngoại tệ từ nước ngoài đổ vào, buộc ngân hàng trung ương các nước này mua vào để giữ tỷ giá ổn định, đến thời điểm khủng hoảng thì lại phải bỏ ngoại tệ từ nguồn dự trữ có hạn để cố gắng duy trì tỷ giá hối đoái Mặc dù chế độ tỷ giá hối đoái cố định có một số ý nghĩa tích cực trong việc ổn định đồng nội tệ và hỗ trợ cho việc tăng trưởng kinh tế, mở rộng thương mại và đầu tư quốc tế, tăng nhanh tốc độ tăng trưởng, cũng như để khuyến khích luồng đầu tư và vốn nước ngoài đổ vào nhiều
Trang 14hơn Tuy nhiên chế độ tỷ giá hối đoái cố định cũng có những điểm yếu cố hữu của nó :
• Thứ nhất, dưới chế độ tỷ giá hối đoái này chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế của chính sách tiền tệ bị tê liệt do phải kiềm giữ tỷ giá
Do được cố định với đồng USD và để ngăn chặn tình trạng lên giá của đồng nội tệ, khi vốn nước ngoài đổ vào nhiều, Chính phủ đã buộc phải thực hiện chính sách tiền tệ thả nổi – một nguyên nhân quan trọng làm cho nền kinh tế phát triển quá nóng và rơi vào trạng thái mất cân đối bên trong và bên ngoài Chính sách tiền tệ thả lỏng không những đã thổi phồng một cách giả tạo nhu cầu trong nước, thúc đẩy tiền lương tăng lên mà còn khuyến khích đầu tư quá nhiều vào một số khu vực công nghiệp như bán dẫn, điện tử tiêu dùng, hoá dầu và đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản
• Thứ hai, nếu như chế độ tỷ giá hối đoái cố định đã góp phần giúp cho sản xuất do đồng USD giảm giá, thì việc mua đồng USD lên giá so với đồng Yên Nhật Bản và đồng Mark Đức đã gây tác động ngược lại Tỷ giá hối đoái cố định cùng với sự gia tăng của lạm phát đồng nghĩa với việc đồng tiền lên giá thực tế kết hợp với việc suy giảm của nhu cầu trên thị trường quốc tế và khu vực làm cho xuất khẩu bị giảm sút Hơn thế nữa, sự gia tăng thực tế của đồng nội tệ cũng đã khuyến khích nhập khẩu và hậu quả là thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn, nợ nước ngoài gia tăng Xuất khẩu giảm đã làm cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hướng ngoại chậm lại
Như vậy nếu duy trì tỷ giá cố định trong một thời gian dài trong khi đồng nội tệ trên thực tế đã bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tế
vĩ mô mất cân đối lớn sẽ làm giảm sức cạnh tranh hàng xuất khẩu của mỗi nước, giảm nguồn thu nhận ngoại tệ do xuất khẩu đem lại, cũng làm tiêu hao nhanh chóng dự trữ ngoại tệ quốc gia ít ỏi do những cố gắng tung USD ra để giữ giá đồng bản tệ, giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, khuyến khích nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng và làm thâm hụt cán cân thanh toán dẫn đến những nguy
Trang 15cơ khủng hoảng Sự khởi sắc của các nền kinh tế Đông Nam Á những năm qua một phần quan trọng là do họ đã lợi dụng được lợi thế suy giảm của đồng USD so với đồng Yên Nhật Bản, đồng Mark Đức Lợi thế này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước duy trì được tỷ giá hối đoái cố định, mở rộng các luồng FDI, tăng giá trị xuất khẩu và kiểm soát được nhập khẩu, lạm phát Mặt khác, lãi suất nội tệ cao hơn nhiều so với lãi suất ngoại tệ, việc duy trì tỷ giá cố định đã khuyến khích các doanh nghiệp, các ngân hàng vay vốn nước ngoài để đầu tư trong nước một cách tràn lan kém hiệu quả Từ khi có thoả thuận giữa Mỹ và Nhật Bản về việc nâng giá đồng USD so với đồng Yên thì đồng Bath cũng như các đồng tiền khác đều lên giá so với đồng Yên, khiến cho hàng xuất khẩu của Đông Nam Á đắt lên ở Nhật Bản và Châu Âu Mặt khác, lợi thế cạnh tranh của khu vực đang giảm dần do chi phí tiền lương cao kết hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu chậm dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm và làm mất cân đối cán cân thương mại cũng như cân đối cán cân thanh toán quốc tế Sự kiềm giữ tỷ giá hối đoái một cách khiên cưỡng đã dẫn đến những ảo tưởng cho cả người phát hành chứng khoán lẫn người đầu tư về một thị trường tiền tệ ổn định Tình trạng này đã làm xuất hiện những kẻ đầu cơ trục lợi tìm kiếm lợi nhuận bằng cách mua vào các đồng nội tệ hoặc đồng Yên sau đó bán chúng để mua đồng USD Điều này làm cho thị trường trong nước rối loạn và buột Ngân hàng trung ương phải xuất một lượng ngoại tệ khá lớn nhằm kiềm giữ giá hối đoái Chính sách trong khu vực đã làm cho nguồn dự trữ ngoại tệ của Chính phủ ngày càng thâm hụt lớn Các nước này đã kìm hãm một cách giả tạo đồng nội tệ để hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp thiếu hụt tài khoản vãng lai và kiềm chế lạm phát Tình hình trên trong thời gian dài làm cho sức ép nội tệ phá giá càng cao, là chỗ hở để bọn đầu cơ tiền tệ có cơ hội kiếm chác, gây lộn xộn trong nhiều mối quan hệ kinh tế giữa các nước
1.2.8 “VẤN ĐỀ LÒNG TIN”, ĐẦU CƠ VÀ KHỦNG HOẢNG :
Tình trạng mất cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu giảm sút, thị trường bất động sản suy sụp,… đã làm
Trang 16cho số nợ khó đòi của các ngân hàng và công ty tài chính vượt quá giới hạn cho phép Tất cả những điều kể trên đã làm xuất hiện một vấn đề kinh tế học nan giải mà nền kinh tế học quốc tế gọi là “vấn đề lòng tin” (“Confident problem”) Đó là niềm tin của thị trường vào đồng tiền sớm hay muộn cũng bị phá giá để phù hợp với những nền tảng cơ bản của nền kinh tế Dự tính sự phá giá của đồng tiền trong tương lai sẽ gây ra cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán, đặc biệt là sự suy giảm rõ rệt dự trữ ngoại tệ và lãi suất trong nước tăng lên Đây chính là sự thất thoát vốn vì các nhà đầu tư sẽ bỏ chạy khỏi đồng nội tệ bằng cách bán chúng cho ngân hàng trung ương để thu ngoại tệ và chuyển chúng ra nước ngoài Nghiêm trọng hơn cả là, các nhà đầu tư tiền tệ xuất hiện và bắt đầu thực hiện chu kỳ kinh doanh của mình bằng cách vay đồng tiền nội địa và bán chúng trên thị trường tiền tệ nhằm kiếm lời ở vòng quay sau Giới đầu cơ tiền tệ mà đi đầu là các quỹ đầu tư, các ngân hàng thương mại đã thu gom và tích trữ ngoại tệ Nhiều khoản tín dụng đã được cấp cho các nhà đầu cơ để mua và tích trữ ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ trên thị trường tăng vọt một cách giả tạo Một hoạt động khác của các nhà đầu cơ tiền tệ là đánh cược với nhau về khả năng sụt giá của các đồng tiền địa phương trên thị trường ngoại hối có kỳ hạn Thị trường ngoại hối có kỳ hạn cho phép tiến hành các giao dịch mua bán ngoại hối cho tương lai mà không cần phải thanh toán ngay Do vậy, các nhà đầu cơ có thể tiến hành các giao dịch lớn trên thị trường mà không cần phải có lượng tiền mặt lớn, làm cho quy mô giao dịch và sức ép cung – cầu tăng rất mạnh Để giữ cho tỷ giá hối đoái cố định, ngân hàng trung ương buộc phải mua đồng nội tệ và cung cấp các tài sản ngoại tệ mà những người tham gia thị trường muốn nắm giữ Đồng tiền chuyển đổi tự do, mức độ liên kết cao giữa các thị trường tài chính – tiền tệ trên thế giới cũng như tốc độ và khối lượng buôn bán ngoại tệ khổng lồ trên các thị trường này sẽ làm cho dự trữ của ngân hàng trung ương nhanh chóng bị cạn kiệt và cuối cùng buộc họ phải phá giá hoặc thả nổi đồng tiền nội tệ
Trang 17Thị trường chứng khoán suy sụp làm cho giá trị tài sản của các ngân hàng và công ty tài chính giảm sút ; thiếu tiền mặt và cạn vốn vì các nhà đầu tư rút tiền ; nợ khó đòi ở mức cao vì thị trường bất động sản sụp đổ ; đồng tiền giảm giá làm cho nợ nước ngoài ngày một gia tăng Tất cả những điều đó đã đẩy các ngân hàng và công ty tài chính - vốn đã bị rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng - đến bên bờ vực thẳm
1.2.9 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ :
Tăng trưởng kinh tế chưa thật sự hướng mạnh vào tăng năng suất và hiệu quả của nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực vẫn dựa chủ yếu vào các nguồn lực dồi dào như lao động và tiền vốn Các nước trong khu vực chưa quan tâm đúng mức đến phát triển chiều sâu, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai, nâng cao trình độ công nghệ và từ đó tăng năng suất lao động Trong khi đó, tiền lương tăng nhanh làm cho sức cạnh tranh của nền kinh tế giảm mạnh
1.2.10 NỀN KINH TẾ BONG BÓNG :
Không xử lý được tình trạng nền kinh tế bong bóng một cách hiệu quả Tình trạng kinh tế bong bóng xuất phát từ các nguyên nhân chính sau :
− Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nguồn tín dụng phải được mở rộng nhanh chóng Tuy nhiên, do không kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng, một tỷ lệ lớn vốn đầu tư đã đổ vào khu vực bất động sản và chứng khoán, vượt quá khả năng hấp thụ của thị trường, dẫn đến tình trạng “lạm phát bất động sản” và bùng nổ thị trường chứng khoán, tạo ra sự phồn vinh giả tạo và dễ dàng bị sụp đổ
− Do lãi suất thực tế ở các nền kinh tế nghèo thường cao hơn các nền kinh tế giàu (do đồng tiền yếu hơn và khối lượng vốn tích tụ thấp hơn) nên các luồng vốn ngắn hạn chảy mạnh vào nền kinh tế đang phát triển Ở các nước Đông Á và Đông Nam Á, tỷ giá được duy trì cố định nên đã khuyến khích các luồng vốn “nóng” đổ mạnh vào các nền kinh tế này để hưởng chênh lệch lãi suất Khi lượng vốn vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế thì sẽ
Trang 18chảy sang các lĩnh vực bất động sản và chứng khoán, gây nên tình trạng
“kinh tế bong bóng”
− Do thị trường vốn và cơ cấu kinh tế của các nước này không hoàn thiện, có nhiều hạn chế đối với FDI nên một bộ phận lớn vốn được đầu tư dưới hình thức gián tiếp Các hoạt động đầu cơ chứng khoán đã thắng thế ở hầu hết các thị trường trong khu vực, do các nền kinh tế này có tốc độ tăng trưởng cao, làm cho kỳ vọng vào lợi nhuận của các nhà đầu tư cao và lôi kéo nhiều nguồn vốn đầu tư vào các thị trường chứng khoán Giá cả chứng khoán phình
to và vượt quá giá trị thực tế của các công ty mà nó đại diện Tình trạng này tạo sự phồn vinh giả tạo, kích thích tâm lý đầu cơ, khuyến khích tiêu dùng của dân chúng, gây thâm hụt cán cân thanh toán và làm tổn hại đến phát triển kinh tế Khi nền kinh tế xuất hiện những khó khăn, lập tức các bong bóng bất động sản và chứng khoán vỡ ra, khiến thị trường bất động sản chao đảo, nhiều ngân hàng không thu hồi được vốn cho vay và mất khả năng thanh toán, nhiều công ty phá sản, nhiều nhà đầu tư mất trắng và các luồng vốn ồ ạt rút lui
− Truyền thống “che chở” theo đó các công ty chủ nợ sẽ tiếp tục gia hạn cho các con nợ của mình cho đến khi mọi thứ đều trở nên tốt đẹp đã không còn tồn tại do tất cả các công ty đều lâm vào tình trạng khó khăn Kết quả là sự đổ vỡ dây chuyền không thể tránh khỏi của các con nợ và chủ nợ
1.2.11 CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ :
Chính sách đầu tư sai lầm, đầu tư quá mức vào các ngành cần nhiều vốn, tiêu hao tài nguyên nhiều, thị trường tăng trưởng chậm… trong điều kiện về tài chính và kỹ thuật của các nước trong khu vực không đáp ứng được, sản phẩm của các ngành này có sức cạnh tranh kém, hiệu quả đầu tư hạn chế Mặc khác, sự kỳ vọng quá nhiều của các nhà đầu tư, người vay nợ, thương gia và các Chính phủ về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong tương lai cũng đã khuyến khích họ vay nợ,
Trang 19đầu tư tràn lan làm cung vượt xa cầu, làm cho nhiều dự án phá sản và không trả được nợ ngân hàng
1.2.12 CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN NƯỚC NGOÀI :
Chính sách thu hút và quản lý vốn nước ngoài có nhiều bất cập Tỷ trọng các nguồn vốn ổn định và độ an toàn cao như vốn ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn vay dài hạn giảm mạnh, trong khi tỷ trọng các nguồn vốn kém có độ an toàn như đầu tư qua chứng khoán, vay nợ ngân hàng ngắn hạn tăng nhanh, làm cho nền kinh tế dễ bị tổn thương các chấn động về tài chính Việc quản lý nợ nước ngoài của các nước cũng có nhiều sai lầm, dẫn đến không kiểm soát được khối lượng nợ thực tế, không giám sát được việc sử dụng các nguồn vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả Các nước trong khu vực đã buông lỏng kiểm soát việc vay nợ nước ngoài của khu vực tư nhân Đây là quan điểm hết sức sai lầm vì khi khu vực
tư nhân không trả được nợ cũng sẽ ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến uy tín chung của nền kinh tế
1.2.13 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ :
Sự thiên lệch giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá Chính phủ áp dụng chính sách tài khoá chặt chẽ, duy trì mức thuế rất cao nhằm bảo đảm ngân sách thặng dư Do chính sách thuế cao làm giảm lợi nhuận kinh doanh, bên cạnh đó Chính phủ duy trì chính sách lãi suất thấp để bù lại Hệ quả của chính sách thuế cao là nhu cầu tiêu dùng nội địa yếu, nền kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều vào thị trường bên ngoài
1.2.14 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG :
Hệ thống tài chính – ngân hàng yếu kém, chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế tăng trưởng nhanh đã làm cho các hoạt động tài chính, tiền tệ và tín dụng kém hiệu quả, nhất là việc huy động nguồn vốn tiết kiệm của dân để chuyển chúng sang thành các nguồn vốn đầu tư phát triển Thị trường tài chính được tự do hóa mạnh, qui mô mở rộng tín dụng tăng nhanh, nhưng Chính phủ các nước đã không tăng cường đúng mức các hệ thống giám sát và điều hành, dẫn đến hiệu quả
Trang 20hoạt động của ngân hàng kém và tình trạng tỷ lệ nợ khó đòi cao, tình trạng tài chính thiếu lành mạnh cả ở cấp vĩ mô lẫn vi mô đã làm suy yếu nhanh chóng nền tài chính quốc gia và khi thông tin đó lộ ra khiến giới đầu tư – kinh doanh bán đổ bán tháo chứng khoán để rút vốn về, tạo nên sức ép khổng lồ, làm căng thẳng nền kinh tế – tài chính, và quyết định thả nổi đồng bản tệ đột ngột của Chính phủ là giọt nước cuối cùng làm bùng nên cuộc khủng hoảng tài chính và sự hoảng loạn Việc sử dụng ảnh hưởng chính trị để định hướng tín dụng, hệ thống ngân hàng và các công ty tài chính thiếu chuẩn mực kế toán tốt, không giám sát đầy đủ, do đó đã bao che cho các khoản vay tràn lan, đầy mạo hiểm, không tính đến khả năng trả nợ của người đi vay, không lường trước rủi ro trong mỗi thương vụ Chính phủ các nước chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng mà không chú ý kiện toàn hệ thống ngân hàng – tài chính, hệ quả tất yếu là ngân sách Nhà nước thâm hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn cũng lâm vào khủng hoảng
Hệ thống ngân hàng – tài chính là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro Chỉ cần một tổn thương nhỏ cũng gây nên những xáo động lớn trong quá trình điều tiết kinh tế Những năm gần đây xu hướng chi tiêu quá mức tăng lên Một mặt, do chi phí tiêu dùng và chi phí tiền lương tăng trong khi giá trị nhập khẩu tăng so với xuất khẩu Mặt khác, định hướng chi tiêu sai lầm khi tập trung một khối lượng vốn lớn vào thị trường bất động sản, ngành công nghiệp
“bong bóng” cũng như các cơ sở hạ tầng Hệ thống ngân hàng của các nước hoạt động yếu kém dẫn đến những kẻ hở cho các nhà đầu tư tiền tệ vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời Để duy trì tốc độ tăng trưởng nóng và tỷ giá hối đoái cố định, ngân hàng các nước lại phải tiếp tục vay nóng ngân hàng nước ngoài, dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa so với dự trữ ngoại tệ trong nước Càng nguy hiểm hơn khi các nhà đầu tư nước ngoài khẩn trương rút vốn khỏi thị trường khu vực khi nhận thấy những rạn nứt trong hệ thống ngân hàng
Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dẫn đến hàng loạt ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ nợ Thực trạng này đã bắt đầu dẫn đến hội
Trang 21chứng đánh mất niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi các ngân hàng – tài chính đã ảnh hưởng trực tiếp và làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này
1.2.15 CÁC NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI KHÁC :
− Sự lên giá của đồng đôla Mỹ, sự sụt giá của đồng nhân dân tệ và sự lên giá của các đồng tiền khu vực đã làm giảm khả năng cạnh trạnh của hàng xuất khẩu đồng thời kích thích nhập khẩu
− Tính không ổn định của các luồng vốn ngắn hạn trên thị trường tài chính quốc tế ngày càng gia tăng Nguồn tài trợ dài hạn và ưu đãi ODA mặc dù có tăng về giá trị tuyệt đối, nhưng giá trị thực tế đã giảm Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ trọng trong tổng đầu tư tư nhân các nước phát triển giảm Nguồn vốn đầu tư gián tiếp ngày càng tăng cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng đã làm cho các nguồn vốn ngắn hạn không ổn định trên thị trường tài chính quốc tế trở nên dồi dào, sự bùng nổ của các luồng vốn quốc tế ngắn hạn đổ vào các nền kinh tế đang phát triển cộng với chính sách mở rộng tín dụng ngắn hạn nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng nhanh đã làm cho quy mô của thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) phát triển nhanh chóng và khi các nước sử dụng quá nhiều loại vốn này, dẫn đến khả năng rất dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính trong nước
− Những bất ổn trong đời sống chính trị – xã hội của mỗi nước làm cho những lý do trực tiếp gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế trở nên nhạy cảm và trầm trọng hơn Những biểu hiện mâu thuẩn giữa các phe chính trị khiến những kế hoạch và chính sách phát triển của Chính phủ đương nhiệm đều có tính chất thực dụng chính trị và ngắn hạn, làm giảm các khả năng đưa ra và tạo điều kiện thực hiện các dự án, các chính sách phát triển kinh tế dài hạn và hiệu quả Do đó làm tăng cơ hội và tình trạng tham nhũng, đầu cơ, tội ác và bất bình đẳng xã hội Những điều này lại thúc đẩy sự mất ổn định chính trị – xã hội, tức là làm giảm sức cạnh tranh và làm mất đi một trong những nhân tố
Trang 22cơ bản cho sự phát triển một nền kinh tế ổn định và bền vững Tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến làm cho hiệu quả quản lý hành chính giảm, bóp méo hiệu quả kinh tế, làm gia tăng chi phí kinh doanh Sự thông đồng giữa các quan chức Chính phủ với giới kinh doanh đã dẫn đến việc các khoản vay và các dự án đầu tư được quyết định không dựa trên tính khả thi mà dựa trên các mối quan hệ cá nhân, khiến cho bản thân Chính Phủ không thể mạnh tay trong việc xử lý các bê bối nội tại của mình, làm cho các nguồn lực của nền kinh tế bị phân bổ kém hiệu quả
− Khi có dấu hiệu về sự giảm sút các hoạt động kinh tế, Chính phủ của các nước này đã không có được các giải pháp hợp lý mang tính hệ thống trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế để giải quyết
− Lòng tin mù quáng, thiếu tính toán của các nhà đầu tư và các nhà cho vay cũng là một trong các nguyên nhân Họ cho rằng các công ty lớn hoặc các công ty có sự dính líu của Chính phủ là có đảm bảo tuyệt đối vì sẽ có sự hỗ trợ của Chính phủ Chính vì thế, nhiều khoản đầu tư và cho vay không dựa trên đánh giá khả năng trả nợ hay tính khả thi dẫn đến đầu tư kém hiệu quả và nợ khó đòi tràn lan Lòng tin mù quáng còn được thể hiện ở sự tin tưởng tuyệt đối của các công ty trong nước đối với tỷ giá hối đoái cố định Vì cho rằng tỷ giá này sẽ không thể thay đổi, các công ty và ngân hàng thương mại đã ra sức vay nợ nước ngoài bằng ngoại tệ để đầu tư hoặc cho vay lại bằng tiền địa phương để hưởng chênh lệch lãi suất mà không tính đến rủi ro về tỷ giá
− Các hệ thống thông tin, kiểm tra, giám sát yếu kém như hệ thống kế toán, thống kê không đúng chuẩn mực quốc tế hoặc cố tình giấu giếm, không minh bạch, che dấu những khó khăn của các công ty và của nền kinh tế, gây nghi hoặc trong giới đầu tư về các khó khăn của nền kinh tế và làm cho các nhà
đầu tư có các quyết định sai lầm và làm cho nền kinh tế bị lệch hướng
Trang 23− Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút : Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ
tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm Đặc biệt, những nước này là những bạn hàng chủ yếu, là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về xuất khẩu của các nước Đông Nam Á Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ bão hòa của thị trường thế giới Mặt khác, tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam Á trước các đối tác Mỹ và Tây Âu đã giảm sút trước những khu vực năng động và hấp dẫn hơn ở thị trường Trung Quốc, SNG – Đông Âu và thị trường Mỹ Latinh Thậm chí ngay cả đối với Nhật Bản, bạn hàng “chí cốt” của Đông Nam Á cũng đang lúng túng về những đồng vốn cho vay quá lớn trước những diễn biến xấu của thị trường tài chính – tiền tệ khu vực
− Mở cửa thị trường thế giới, thu hút vốn thế giới là phương tiện, cơ hội, thời
cơ lớn để tăng trưởng nhanh Ở đây các nước Đông Nam Á đã mở cửa thị trường thế giới, thu hút vốn thế giới và đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng bởi lẽ không có một khuôn khổ pháp luật để điều chỉnh, không rèn luyện và đào tạo cán bộ một cách nghiêm túc, cán bộ đã không chịu được sự cám dỗ là muốn làm giàu nhanh Không có sự nghiêm khắc, kỷ luật sắt, ý chí sắt đá, hành động tỉnh táo để hạn chế sự cám dỗ lớn khi mở cửa, các giới kinh doanh không được sự đào tạo và hành động một cách vô trách nhiệm dẫn đến hiệu quả hết sức nghiêm trọng
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI : 1.3.1 TÁC ĐỘNG CHUNG :
− Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong những năm tới giảm so với năm
1997, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng thiểu phát toàn cầu Cuộc khủng hoảng Châu Á đã làm giảm mạnh các luồng chu chuyển vốn tư nhân vào các nền kinh tế đang nổi lên
Trang 24− Do sự suy giảm các nguồn vốn tư nhân vào các thị trường đang nổi lên ở Châu Á đã buộc các nền kinh tế Châu Á phải điều chỉnh mạnh các lĩnh vực kinh tế đối ngoại và tác động đến cán cân thương mại của các nước khác
− Tác động đến kinh tế vĩ mô của các nước : Mức lạm phát tiếp tục có chiều hướng giảm ở nhiều nước phát triển, một phần do giá các mặt hàng cơ bản giảm, đặc biệt là dầu lửa, phân bón, xi măng, vật liệu xây dựng… Sự giảm sút của giá cả phản ánh sự suy giảm cầu về hàng hóa ở các nước bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á Mặt khác sự giảm giá mạnh của đồng tiền các nước đã làm giảm giá các hàng hóa xuất khẩu của họ tính bằng ngoại tệ, bởi vì giá cả các yếu tố đầu vào lao động, nguyên liệu thì vẫn tính bằng nội tệ, nhưng khi qui đổi ra ngoại tệ để xuất khẩu thì thực chất giá thành đã giảm Việc đổi hướng của các luồng tài chính quốc tế sang các thị trường phát triển hơn cùng với lạm phát thấp ở các nước phát triển đã làm lãi suất trung và dài hạn ở các nước công nghiệp giảm mạnh Bên cạnh đó, sự nới lỏng các điều kiện tài chính, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, Tây Âu đã làm tăng giá cổ phiếu, chỉ số chứng khoán tăng lên đạt mức kỷ lục, tình hình này dẫn đến các nước công nghiệp phải tăng cầu nội địa và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế
− Tác động đến xu hướng toàn cầu hóa – khu vực hóa đến nhiều mặt của nền kinh tế thế giới như đầu tư, thương mại thế giới, các luồng chu chuyển tài chính quốc tế Trước sức ép của việc giảm giá các đồng tiền Châu Á, nhiều nước sẽ áp dụng biện pháp bảo hộ thị trường nội địa, trái với xu thế tự do hóa của kinh tế thế giới Các nước sẽ thận trọng hơn trong quá trình toàn cầu hóa – khu vực hóa và chú trọng hơn đến vấn đề cán cân thanh toán, do đó sẽ chỉ có thể tự do hóa thương mại phù hợp với khả năng tăng xuất khẩu của mình thậm chí còn phải giảm mức tăng trưởng, giảm nhập khẩu để duy trì tính bền vững của nền kinh tế Các nước sẽ chỉ mở cửa thu hút các luồng vốn ngắn hạn phù hợp với khả năng tăng cường các hệ thống thể chế kinh tế
Trang 25nước mình, áp dụng một số hạn chế nhất định đối với các luồng vốn đầu tư ngắn hạn và hướng mạnh vào phát huy nội lực, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài Quá trình đưa đồng tiền một số nước thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi tự do có thể sẽ bị chậm lại, thậm chí một số nước áp dụng các biện pháp hạn chế các giao dịch ngoại tệ
− Sản xuất khu vực Châu Á có tính cạnh tranh cao đến mức siêu vì các đồng tiền mất giá hầu hết trên dưới 40% Do dư thừa quá nhiều khả năng trong các ngành điện tử, vô tuyến truyền hình, hóa học và thép, nên khó tránh khỏi việc Châu Á phải xuất khẩu những mặt hàng đó với giá rẻ quá mức Ngành thép thế giới đang được lợi cho nên phải đình hoãn xây dựng các nhà máy cán thép lớn, ngăn chặn khủng hoảng thừa và giá thép giảm Tổng công suất các nhà máy được xây dựng từ năm 1997-2000 sẽ giảm 37% so với dự đoán ban đầu Mặt khác cũng do khủng hoảng những hàng hoá quy mô lớn như máy bay Boeing , Airbus hay những nhà máy điện của Phương Tây khó tiêu thụ được ở Châu Á hơn Số tiền sẽ lên đến hàng ngàn tỷ USD, hậu quả sẽ làm gia tăng thất nghiệp ở các ngành trên tại các nước giàu
1.3.2 TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NƯỚC KHÁC NHAU :
1.3.2.1 NHÓM CÁC NƯỚC BỊ KHỦNG HOẢNG :
Sản xuất thu hẹp, trao đổi thương mại cũng chững lại, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy ngược, cùng với những biến động nguy hiểm của lạm phát, lãi suất và mức cầu thị trường đã đẩy hàng loạt các công ty vào tình trạng phá sản, gây ra tỷ lệ thất nghiệp cao chưa từng có Đó là những biểu hiện nổi bật của trạng thái khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước Đông Á trong thời gian giữa năm 1997,
1998 và 1999 Nhà kinh tế học người Mỹ – Paul Krugman nhận định : “Các nước Châu Á phát triển trên cơ sở tăng ồ ạt đầu vào (vốn, lao động), nhưng lại không tính đến hiệu quả Đó là sự trượt dốc mang tính cơ cấu Tăng trưởng của khu vực phần lớn là do đầu tư nhiều và di chuyển một lực lượng lao động lớn từ nông
Trang 26nghiệp sang công nghiệp, chứ không phải do năng suất lao động tăng trên cơ sở
tiến bộ khoa học công nghệ hay hoàn thiện tổ chức và cơ cấu”
1.3.2.1.1 LĨNH VỰC TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG :
Do lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước giảm mạnh, nhiều nhà đầu
tư nước ngoài đã tỏ ra lo ngại nên các nguồn vốn đầu tư rút lui ồ ạt ra khỏi các nước này Hệ thống ngân hàng bị khủng hoảng làm cho việc huy động các nguồn vốn trong nước gặp hết sức khó khăn Chính sách lãi suất cao để bảo vệ đồng nội tệ cũng đã làm cho hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản và không khuyến khích đầu
tư trong nước Khủng hoảng diễn ra trên qui mô toàn khu vực nên khả năng mở rộng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn Do giảm lòng tin đối với triển vọng kinh tế làm nhu cầu nội địa của các nước bị khủng hoảng giảm Đồng tiền mất giá, gây sức ép lạm phát cao, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và bóp méo hiệu quả kinh tế, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, mối quan hệ tài chính quốc tế bị tê liệt, hoạt động kinh tế đối ngoại gặp rất nhiều khó khăn
Cuộc khủng hoảng này đã làm cho hệ thống ngân hàng – tài chính của các nước trong khu vực vốn đã suy yếu càng trở nên khó khăn hơn Nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản Các đồng vốn đầu tư trong nước không có khả năng thu hồi Điều này không chỉ làm tăng thêm thâm hụt cán cân thanh toán trong nước mà còn tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán khu vực
Chính sách thả nổi đồng tiền là biện pháp cần thiết, trả lại giá trị đích thực của nó và sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi làm tăng giá trị xuất khẩu Tuy nhiên, sau mỗi đợt phá giá, chỉ số giá cả tiêu dùng sẽ tăng lên, đối ngược lại, chi phí tiền lương thực tế sẽ bị giảm Sự mất cân đối về hệ thống cung – cầu tiền tệ càng đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng đình lạm (Stagflation), vừa suy thoái vừa lạm phát
Các ngân hàng trung ương đã tung dự trữ ngoại tệ để mua các đồng nội tệ nhằm giữ giá Biện pháp này làm cho lãi suất tăng lên Có lúc lãi suất qua đêm đã tăng lên tới 1.000% Tuy nhiên, biện pháp này không hiệu quả vì nâng lãi suất là
Trang 27việc làm rất tốn kém Nó làm ảnh hưởng đến các công ty trong nước và làm suy yếu khu vực ngân hàng
Thể chế tài chính yếu kém của các nước đã không cho phép sử dụng hiệu quả lượng vốn đầu tư ồ ạt vào khu vực kể từ đầu thập kỷ 90 Nền kinh tế bong bóng xuất hiện khi vốn đầu tư tập trung quá nhiều vào khu vực cổ phiếu và bất động sản Tăng trưởng kinh tế quá cao dựa vào đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư ngắn hạn, trong khi nợ nước ngoài và nợ quá hạn ở mức cao đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế Chính việc mở rộng tín dụng cho khu vực bất động sản và sự kinh doanh thua lỗ trong lĩnh vực này đã làm suy yếu toàn bộ hệ thống ngân hàng, kéo theo sự biến động tai hại của thị trường chứng khoán, lòng tin của dân chúng vào đồng nội tệ giảm, luồng vốn ngắn hạn ồ ạt chảy ra, do đó dẫn đến khủng hoảng khu vực Trong nền kinh tế ASEAN còn tồn tại nhiều mâu thuẫn chưa thể giải quyết được, đó là :
+ Mâu thuẫn giữa quá trình tăng trưởng nhanh dựa nhiều vào vốn đầu tư bên ngoài, tập trung quá nhiều cho xuất khẩu, trong khi nguồn nội lực bị giới hạn đáng kể (kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý)
+ Mâu thuẫn giữa công nghiệp hóa nhanh dựa vào vốn vay bên ngoài với trình độ sản xuất yếu kém trong nước, tích lũy thấp và mối liên kết ngành không hiệu quả
+ Mâu thuẫn giữa quá trình thay đổi chính sách kinh tế chậm so với tốc độ của quá trình toàn cầu hóa và sự xuất hiện của nhiều yếu tố cạnh tranh mới
+ Mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế – xã hội nhất thời với sự thiếu tập trung đầu tư theo chiều sâu
Khi những biến động tiền tệ và khủng hoảng tài chính xuất hiện vào cuối năm
1997, các khoản nợ nước ngoài tăng lên tương ứng, các công ty ở ASEAN không trả nợ được cho các ngân hàng nước ngoài, làm cho các ngân hàng và các công ty tài chính liên quan lâm vào tình cảnh khó khăn, chỉ số giá chứng khoán trên các thị
Trang 28trường khu vực và ngoài khu vực liên tục bị giảm sút Theo tính toán thì nếu đồng nội tệ của ASEAN giảm giá 50% thì giá trị tài sản tính bằng USD của họ cũng bị biến mất đi 50% và số nợ tính bằng nội tệ cũng tăng lên 50% Số nợ nội tệ tăng lên đột ngột, các công ty trong nước phá sản, kéo theo toàn bộ hệ thống ngân hàng tài chính sụp đổ
Vấn đề nguy hiểm nhất của hệ thống tài chính ngân hàng ASEAN là tỷ lệ các khoản nợ xấu ngày càng tăng Ở Malaysia, theo ước tính của Chính phủ, các khoản nợ xấu chiếm tới 8,2% tổng vay nợ ngân hàng (tháng 5/1998), trong khi ở Thái Lan là 31% (tháng 6/1998), Philippine là 10,25% (5/1998) Kết quả này dẫn đến sự sụp đổ tín dụng đồng loạt và gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu và các công ty muốn tiếp cận nguồn vốn cần thiết
Sau sự sụp đổ của hệ thống tài chính ngân hàng ASEAN, chúng ta có thể rút
ra những kết luận sau đây :
+ Việc Nhà nước vay nợ cho công nghiệp hóa và đầu tư vào những dự án kém hiệu quả tạo ra mất cân đối cơ cấu, không ổn định về tài chính
+ Vay nợ của công ty dưới sự bảo lãnh của Nhà nước cũng dẫn đến mất cân đối cơ cấu về tài chính
+ Thông tin không đầy đủ về nợ nước ngoài dẫn đến năng lực quản lý không đầy đủ, làm cho cán cân thanh toán mất cân đối
+ Thiếu sự giám sát tối thiểu của Nhà nước đối với ngành tài chính dẫn đến hậu quả là ngành ngân hàng kém phát triển và thị trường vốn hoạt động không đạt hiệu quả cần có
+ “Xã hội hóa” các cam kết nợ của khu vực tư nhân dẫn đến các quyết định đầu tư sai lầm
Khi khủng hoảng nổ ra, việc vay nhiều quá khả năng trả nợ sẽ làm cho các tổ chức tài chính và các công ty yếu đi trông thấy mà không có một lực lượng thị trường nào có thể cứu vãn được Tỷ lệ vay nợ của các công ty Thái Lan trên vốn pháp định lên tới 300%, ở Hàn Quốc là 500% Kết quả là nhiều ngân hàng hiện
Trang 29nay không có khả năng cho vay nữa Việc sát nhập, đóng cửa các ngân hàng, các công ty tài chính dường như không đem lại kết quả gì bởi nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng – tài chính hầu như đã cạn kiệt
Theo ước tính của Tổ chức đẳng cấp tín dụng quốc tế, tổng chi phí để phục hồi hệ thống ngân hàng của Indonesia sẽ là 87 tỷ USD, chiếm 82% GDP ; của Thái Lan là 45 tỷ USD, chiếm 35% GDP ; của Hàn Quốc là 100 tỷ USD, chiếm 29% GDP ; của Malaysia là 15 tỷ USD, chiếm 22% GDP Các nguồn phí tổn này chủ yếu được lấy từ nguồn thu thuế
Tính đến hết tháng 6/1999, hầu hết các ngân hàng khu vực vẫn không duy trì được hoạt động cho vay Các ngân hàng địa phương vẫn bị rối loạn và có nguy cơ tiếp tục sụp đổ
1.3.2.1.2 LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU :
Sự phá giá của các đồng nội tệ khu vực sẽ làm cho nợ nước ngoài của các nước tính bằng USD tăng lên, dẫn đến chi phí nhập khẩu cũng tăng theo Tăng giá nhập khẩu sẽ trở thành sức ép đối với giá thành sản phẩm xuất khẩu của các nước và tác động xấu đến cán cân thanh toán thương mại vốn đã thâm hụt nghiêm trọng Trong lĩnh vực xuất khẩu, sự phá giá của đồng nội tệ không phải là biện pháp giải cứu cho xuất khẩu Trái lại, sự giảm sút hàng hóa xuất khẩu lan rộng trên toàn khu vực đã buộc các nước phải giảm mạnh giá xuất khẩu Thậm chí, một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực như điện tử, điện máy, phân bón, xi măng, thép, thực phẩm giảm từ 30% đến 40% so với thời kỳ trước năm 1997 Sản xuất kinh doanh đình trệ, sức mua của khu vực giảm sút đã khiến hàng xuất khẩu ASEAN ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến mức độ giảm sút xuất khẩu của các nước Đông Nam Á là mức cầu của một số thị trường nhập khẩu chính như Nhật Bản, NIEs giảm đi do khủng hoảng
1.3.2.1.3 TỐC ĐỘ TĂNG GDP :
Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ đã đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước Đông Nam Á trong thập kỷ 70 và 80 Tốc
Trang 30độ tăng GDP tính trên đầu người cũng giảm đi tương ứng trong thời gian khủng hoảng và trong vài năm tới còn duy trì tốc độ chậm Chiều hướng giảm sút tốc độ tăng GDP là hậu quả của sự suy thoái của toàn bộ nền kinh tế Khi nổ ra khủng hoảng, sản xuất ở các nước ASEAN bị đình trệ Công ty phá sản, thất nghiệp, đầu
tư giảm và xuất khẩu giảm
1.3.2.1.4 LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP :
Trong cơ cấu ngành kinh tế, ngành công nghiệp chế tạo và ngành xây dựng là những ngành phải chịu hậu quả nặng nề nhất từ khủng hoảng Có thể phân chia công nghiệp ASEAN thành 4 nhóm ngành nhỏ :
a Các ngành công nghiệp sử dụng nguyên vật liệu địa phương và xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh ra nước ngoài (trong nước → nước ngoài)
b Các ngành nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh
ra nước ngoài (nước ngoài → nước ngoài)
c Các ngành công nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu và bán các sản phẩm hoàn chỉnh ở trong nước (nước ngoài → trong nước)
d Các ngành công nghiệp thu mua nguyên vật liệu địa phương và bán các sản phẩm hoàn chỉnh ở thị trường trong nước (trong nước → trong nước)
Nhóm ngành (a) không chịu ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng do không phải nhập khẩu nguyên vật liệu ở nước ngoài với giá đắt hơn và có thêm lợi thế cạnh tranh xuất khẩu do đồng nội tệ phá giá
Nhóm ngành (b) chủ yếu gồm các ngành chế tạo điện, điện tử, dệt may và nhóm ngành (c) chủ yếu gồm các ngành chế tạo ô tô, hóa chất, sắt thép Hai nhóm ngành bản địa yếu kém, mức cầu trong nước giảm, trong khi giá nguyên liệu nhập khẩu đắt lên
Nhóm ngành (d) bị tác động mạnh do mức cầu trong nước giảm
Trong ngành công nghiệp hóa dầu, các dự án liên quan đến ngành hóa dầu bị trì hoãn Mức cầu những sản phẩm hóa dầu cơ bản đã giảm mạnh Sự suy giảm mạnh mức cầu trong nước, chi phí tăng, lãi suất tăng và doanh số hàng hóa xuất
Trang 31khẩu đã tác động mạnh vào các công ty, xí nghiệp ở các nước, giảm sản lượng, ngừng sản xuất, tỷ lệ tận dụng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu giảm Với mức lãi suất cao đột ngột các công ty chế tạo không kiếm đủ lợi nhuận để thanh toán mức nợ đang mang, các khoản tiền vay không sinh lãi cũng tăng Tình trạng nợ nần và kinh doanh kém đã đẩy hàng loạt các công ty vào nguy cơ phá sản, biến mất khỏi thương trường Trong cơ cấu ngành công nghiệp, các ngành chế tạo ôtô, điện, điện tử, máy móc cơ khí, dệt may… chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm công nghiệp Khi khủng hoảng xảy ra và xuất khẩu giảm, tình trạng dư thừa công suất của các nhà máy đã đẩy hàng loạt công nhân vào tình trạng mất công ăn việc làm
1.3.2.1.5 LĨNH VỰC ĐẦU TƯ :
Trong lĩnh vực đầu tư, trừ Malaysia và Philippine có tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tương đối lạc quan vì lượng vốn đầu tư ở đây chủ yếu là thực hiện theo hình thức BOT, ở các nước còn lại đầu tư nước ngoài đều có chiều hướng giảm mạnh Nhật Bản – nước đầu tư lớn nhất khu vực đã giảm lượng FDI vào Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippine Ở Indonesia, các công ty đầu tư Mỹ và Châu Âu đã nhảy vào thay thế vị trí của Nhật Bản, nhưng ở Malaysia đầu tư của Mỹ giảm mạnh và ở Philippine, Singapore đầu tư của EU cũng giảm Như vậy trong bối cảnh chung của khu vực, đầu tư của ba trung tâm tư bản vào ASEAN không có chiều hướng sáng sủa
Trong các dòng vốn chảy ra khỏi khu vực này, đầu tư tư nhân vốn được coi là lực lượng nồng cốt dường như cũng trở nên khang hiếm Động thái dịch chuyển ngược của luồng vốn đầu tư làm đỗ vỡ hàng loạt các nền kinh tế vốn đang rất cần tiền để khắc phục khủng hoảng
1.3.2.1.6 LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP :
Các khuyết điểm về cấu trúc kinh tế còn thể hiện ở chổ do quá chú trọng vào phát triển công nghiệp, các nền kinh tế ASEAN đã bỏ bê khu vực nông nghiệp Năm 1996, tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong GDP của Malaysia là 12,2%,
Trang 32Indonesia là 15,2%, Thái Lan là 10,4% trong khi lao động nông nghiệp chiếm tới 21,6% ở Malaysia, 52,7% ở Indonesia và 58,6% ở Thái Lan
1.3.2.1.7 LĨNH VỰC XÃ HỘI :
Cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ ở Đông Nam Á đã nhanh chóng chuyển thành cuộc khủng hoảng xã hội Nó đã đẩy lùi tất cả những thành tựu xã hội vào quá khứ Thất nghiệp gia tăng, lương thực tế của người lao động ở thành thị giảm đáng kể Lạm phát gia tăng làm cho việc phân phối thu nhập trở nên tồi tệ hơn và làm giảm hơn nữa tiền lương thực tế của nhóm người có thu nhập thấp Hạn hán cũng làm cho tình hình nông dân trong khu vực tồi tệ hơn Phần lớn diện tích đất đai mầu mở của khu vực bị khô hạn, nứt nẻ, khiến cho nông dân khó tranh thủ được lợi thế mà giá lương thực cao tạo cho họ Phụ nữ và trẻ em nghèo là những nạn nhân đầu tiên phải đối đầu với những gay go, thách thức của cuộc sống do tác động của việc giảm thu nhập này Cùng với nó ở một số nước như Indonesia, áp lực kinh tế đã thổi bùng lên những định kiến xã hội tiềm tàng đối với những người thiểu số đặc biệt là người Hoa, những người khác tôn giáo và những người nhập cư Những tác động xã hội này không chỉ giới hạn ở tần lớp người nghèo Đồng tiền mất giá và sự sụp đổ của thị trường vốn cổ phần đã làm tiêu biến mất các khoản tiền tiết kiệm của tầng lớp trung lưu và những người mới phất lên v.v… Hậu quả tiếp theo của khủng hoảng là tỷ lệ nghèo đói tăng lên
1.3.2.1.8 LĨNH VỰC GIÁ CẢ :
Do việc phá giá hàng loạt đồng tiền của các nước trong khu vực đã gây ảnh hưởng ngay trực tiếp đến giá cả của hàng hóa và các dịch vụ liên quan đến nhập khẩu cũng như các hàng hóa thương mại khác Trừ một số trường hợp đặc biệt lạm phát được giảm hơn do bởi bao cấp, kiểm soát giá cả và bổ sung nhập khẩu của Chính phủ, nhìn chung lạm phát đã xảy ra ở qui mô lớn ở các nước trong khu vực Lạm phát nảy sinh ra từ khủng hoảng không những làm giảm thu nhập thực tế và sức mua hiện tại, mà cùng với sự sụp đổ của các thị trường chứng khoán còn làm giảm mạnh giá trị thực tế của các khoản tiết kiệm cả đời của nhiều hộ gia
Trang 33đình Lạm phát và đi cùng với nó là giảm lương thực tế cũng làm thay đổi giá cả sức lao động đối với một số đông dân cư, thay vì chỉ ảnh hưởng tới một nhóm tương đối nhỏ lực lượng nhân công thất nghiệp trước kia Bộ phận chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất của khủng hoảng là nhóm những người có lương cố định như viên chức Nhà nước, làm công ăn lương cho khu vực kinh doanh tư nhân, công nhân nhà máy – những người mà lương của họ không thể tăng kịp với mức lạm phát quá 70%, người làm việc ở khu vực không chính thức (buôn bán nhỏ, sản xuất nhỏ, v.v…) trở thành bần cùng hoặc ở bên bờ vực của sự nghèo khó do giá cả hàng tiêu dùng thiết yếu tăng vọt
1.3.2.1.9 VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP :
Khi khủng hoảng xảy ra, đầu tư nước ngoài giảm sút, nhiều doanh nghiệp phá sản, tác hại nghiêm trọng nhất là nạn thất nghiệp tăng lên Tỷ lệ thất nghiệp trước khủng hoảng tài chính thường thể hiện sự mất việc theo mùa hoặc sự chuyển đổi công việc Kể từ khi khủng hoảng bùng nổ, số người mất việc hoàn toàn do các công ty phá sản, do sản xuất kinh doanh cắt giảm Thu nhập thực tế của đa số các tầng lớp dân cư giảm sút (chủ yếu do lạm phát hơn là do giảm tiền lương danh nghĩa) Nhóm lao động trẻ bị ảnh hưởng về việc làm và thu nhập nhiều hơn các nhóm khác trong xã hội Trong một số trường hợp, họ phản ứng lại khủng hoảng bằng cách quay lại trường học Khủng hoảng dẫn đến tăng tỷ lệ người hoạt động trong khu vực không chính thức (sản xuất, buôn bán nhỏ) Khủng hoảng tài chính khu vực cũng ảnh hưởng mạnh đến các nguồn thu nhập phi lao động như lãi suất, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận, v.v…
1.3.2.1.10 LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ Y TẾ :
Cuộc khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp không những đến mức sống của hộ gia đình thông qua giá cả, việc làm, thu nhập và chi tiêu, mà còn ảnh hưởng lớn đến sự đầu tư của hộ gia đình vào việc phát triển con người, đặc biệt trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe và giáo dục Có nhiều nguyên nhân Trước tiên, mặc dù
được Nhà nước bao cấp ở một mức độ nào đó, người dân vẫn phải trả chi phí cho
Trang 34phần lớn các dịch vụ xã hội mà được coi là những đầu vào tối quan trọng cho các khoản đầu tư phát triển con người Với nguồn thu nhập giảm đi và giá cả ngày càng đắt đỏ vì lạm phát, mọi người có xu hướng cắt giảm bớt chi tiêu cho các dịch vụ đó
Hai là, đầu tư cho phát triển con người cũng đòi hỏi thời gian, nhưng do thu nhập giảm nên mọi người phải làm việc nhiều hơn đền bù vào sự giảm thu nhập đó Ba là, mặc dù chất lượng và số lượng của các dịch vụ xã hội của Chính phủ bị ảnh
hưởng xấu do ngân sách bị cắt giảm, nhưng do thu nhập của các hộ gia đình giảm nên họ có xu hướng chuyển từ các dịch vụ tư nhân đắt đỏ sang dịch vụ xã hội công
cộng rẻ hơn Bốn là, các hộ gia đình có xu hướng ít tập trung vào đầu tư mà hướng
sang duy trì mức tiêu thụ hiện tại trong thời buổi khủng hoảng kinh tế Điều đó phản ánh hậu quả tiêu cực của khủng hoảng đối với đầu tư con người và ảnh hưởng đó có thể đem đến những hậu quả xấu trong tương lai
1.3.2.1.10.1 GIÁO DỤC :
Trẻ em bỏ học, giáo viên bất mãn do lương không theo kịp với vật giá leo thang, chất lượng giáo dục thấp, ngân sách dành cho trang thiết bị dạy học và duy trì bảo dưỡng trường sở bị cắt giảm
Các khoản thu nhập khác ngoài ngân sách củng giảm, như học phí do cha mẹ học sinh đóng góp và các khoản đóng góp của cộng đồng Khủng hoảng có ảnh hưởng tiêu cực đến số học sinh nhập học ở cấp trung học (đặc biệt đối với học sinh nữ và con nhà nghèo) Chính phủ cắt giảm học bổng và các khoản cho vay hỗ trợ học tập trong thời kỳ khủng hoảng, cộng thêm với việc đồng tiền nội địa mất giá, nên nhiều sinh viên đã từ bỏ con đường du học ở nước ngoài và ở lại học trong nước
Cha mẹ học sinh phải đương đầu với chi phí nhiều hơn cho các đồ dùng học tập của con cái do giá cả tăng như học phí, quần áo đồng phục, sách vở, ăn uống, giao thông đi lại và các sinh hoạt khác Khi mà cha mẹ học sinh không đủ tiền cho con đến trường thì họ phải chọn phương án là cho con lớn nghỉ học và sau đó trì
Trang 35hoãn việc cho những đứa bé hơn đi học, rất nhiều học sinh chuyển từ trường tư sang trường công
1.3.2.1.10.2 Y TẾ :
Khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến y tế – lĩnh vực phúc lợi xã hội lớn Ngân sách thực tế dành cho y tế công cộng giảm đáng kể trong tất cả các nước ASEAN Chi phí cho thuốc đã giảm mạnh Tình trạng thiếu thuốc trầm trọng Việc sử dụng các dịch vụ y tế công cộng ở tất cả các nước ASEAN có xu hướng gia tăng Đó là do người tiêu dùng chuyển từ sử dụng dịch vụ y tế tư nhân tương đối đắt đỏ sang sử dụng phương tiện y tế công cộng rẻ hơn Các cơ sở y tế công cộng không chỉ phải đương đầu với ngân sách cắt giảm, mà các nguồn thu nhập khác ngoài ngân sách cũng bị giảm (ví dụ như viện phí, các khoản đóng góp từ công cộng, từ các cá nhân và tổ chức từ thiện) Do giá cả tăng nhanh hơn tỷ lệ lạm phát chung nên chi phí thực tế của các hộ gia đình cho y tế giảm mạnh Thẻ y tế miễn phí được phát cho các gia đình có thu nhập thấp ở Thái Lan và Indonesia
1.3.2.1.11 TRẬT TỰ VÀ AN NINH XÃ HỘI :
Cuộc đấu tranh sinh tồn do những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính đối với việc làm, thu nhập và giá cả, đã dẫn đến tỷ lệ tội phạm tăng Thậm chí tình trạng này diễn ra cả trong những cộng đồng trước kia được coi là hòa thuận và gắn bó chặt chẽ Tình trạng mất cắp súc vật, ăn trộm vặt, cờ bạc không giảm trong khi thu nhập giảm đi Nạn nghiện hút ở các trường học tăng
Tình trạng mất cắp, lấy trộm lẫn nhau giữa hàng xóm láng giềng xảy ra thường xuyên Ở nông thôn hiện tượng mất cắp hoa mầu tăng lên Đặc biệt tình trạng trộm cắp xảy ra thường xuyên không chỉ về đêm mà cả ban ngày An ninh xóm giềng suy yếu do thiếu những người tự nguyện trong cộng đồng Các gia đình phải tăng cường an ninh bằng cách nuôi chó, lắp các hệ thống báo động, tăng cường củng cố nhà cửa, hàng rào… Trong các thành phố lớn trộm cướp, trấn lột và giết người nhiều khi xảy ra ban ngày trên đường phố Học sinh bỏ học, trẻ bụi đời
bị bắt do ăn cắp thức ăn, tiền và thậm chí trấn lột lái xe taxi Số trẻ em lang thang
Trang 36ngoài phố tăng lên, rất nhiều em tham gia ăn cắp vặt, bụi đời và nghiện hút Tội phạm trở nên trầm trọng hơn khi mà người ta có thể giết người đơn giản chỉ vì ăn cắp một đôi giày, một chiếc nhẫn, hoặc một ít thức ăn Sự nhạy cảm về những khó khăn do nghèo đói và mất ổn định chính trị và xã hội, sự bóp méo, thổi phồng của thông tin đại chúng đã làm cho dân chúng tin là phạm vi hoạt động của tội phạm tồi tệ hơn là thực tế
1.3.2.1.12 THAM NHŨNG :
Cuộc khủng hoảng làm phát sinh những can thiệp ở qui mô chưa từng thấy đến hệ thống an toàn xã hội Những khoản vay khổng lồ được chi ra để hỗ trợ các hoạt động này Và ở đây có một áp lực lớn – đó là chuyển tiền đến tay người cần vay càng nhanh càng tốt Trong một môi trường như vậy (thêm vào đó có thể do một áp lực khác là đồng lương thực tế của các công chức Chính phủ vốn dĩ đã thấp nay do khủng hoảng bị giảm đi rất nhiều) thì việc tham nhũng hàng loạt là điều không thể tránh khỏi
1.3.2.2 NHÓM CÁC NƯỚC VÀ LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN :
¾ Nhật Bản : Đồng tiền mất giá đến mức thấp nhất trong 8 năm qua, chỉ số
chứng khoán Nikkei giảm mạnh đến mức thấp nhất trong 10 năm qua Nền kinh tế suy thoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm (-1,3%) trong 3 tháng đầu năm 1998
¾ Mỹ : Thị trường tài chính – tiền tệ Mỹ cũng bị chấn động mạnh do tác động
của việc đồng Yên mất giá, kinh tế Mỹ cũng bắt đầu tăng trưởng chậm lại, thị trường chứng khoán sụt giảm và đồng đôla Mỹ có biểu hiện yếu đi, USD hạ giá so với các đồng tiền chủ chốt khác Việc mất giá tiền tệ ở Châu Á so với đôla Mỹ có nghĩa là xuất khẩu của Mỹ giảm và lợi nhuận của công ty Mỹ
bị thêm sức ép Đồng USD đã lên giá làm cho hàng hóa của Mỹ ở nước ngoài đắt đỏ hơn Nhập khẩu của Mỹ từ Châu Á sẽ tăng mạnh Các công ty Mỹ phải cạnh tranh ác liệt với nước ngoài, nhập siêu của Mỹ cũng tăng Sự chậm trễ các đơn đặt hàng ở Châu Á đã góp phần vào làm giãn thợ ồ ạt và tăng
Trang 37nhanh khoảng cách thương mại Thâm hụt thương mại của Mỹ tăng lên đạt mức tồi tệ nhất kể từ năm 1992 Riêng trong năm 1997, Mỹ đã phải rút khoảng 3 tỷ USD khỏi các quỹ tương hỗ ở Châu Á và các hợp đồng mới về đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc đã giảm 39%
¾ Australia : Đôla Australia giảm giá mạnh so với các đồng tiền của các nước
công nghiệp khác Đồng đôla nước này đã tụt xuống mức thấp nhất trong 12 năm qua do khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á lan sang Dầu mỏ, kim loại, vàng, kẽm, nhôm xuất khẩu bị giảm giá và lượng mà các hàng nhập khẩu lại tăng, buôn bán mậu dịch với các nước Châu Á của Australia ngày càng trầm trọng, lạm phát và thất nghiệp gia tăng, đồng AU$ sẽ trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà chuyên đầu tư vào thị trường tài chính quốc tế Một loạt các ngân hàng Australia đã phải tăng lãi suất đối với các khoản tiền vay mua nhà theo lãi suất cố định, tất nhiên sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất các khoản vay khác Khối lượng hàng hóa xuất khẩu của nước này vẫn đang có chiều hướng giảm xuống trong khi ngành chế biến cũng đang trong tình trạng suy giảm
¾ Tây Âu : Hoạt động xuất khẩu và các ngân hàng bị ảnh hưởng lớn, tình trạng
thất nghiệp cũng đã gia tăng CHLB Đức là nước đang chịu tác động mạnh nhất vì nước này thường xuất khẩu nhiều máy móc thiết bị có hàm lượng vốn cao, đặc biệt là những hàng hóa được sử dụng trong những dự án phát triển lớn của Chính phủ Các hãng Châu Âu phải liên tục điều chỉnh kế hoạch đầu
tư do giảm sút trong doanh thu, và điều này có tác động trực tiếp đến vấn đề việc làm ở đây Tại Anh, một thị trường đầu tư được ưa chuộng nhất ở Châu Âu của các công ty Châu Á nay giảm sút đáng lo ngại, một số dự án đầu tư phải đình hoãn Các công ty con trực thuộc các tập đoàn lớn của Châu Á đang làm ăn và sử dụng nhân công ở các nước EU đều phải thu hẹp quy mô hoạt động, cắt giảm việc làm và đẩy công nhân nước sở tại lâm vào tình trạng thất nghịêp
Trang 38Tính đến thời điểm nổ ra khủng hoảng, các nước Châu Á nợ của các ngân hàng quốc tế 389 tỷ USD, trong đó 44% là nợ của các ngân hàng Châu Âu : Ngân hàng Đức (gần 43 tỷ USD), Anh (32 tỷ USD), Hà Lan (17 tỷ USD) và các ngân hàng Pháp Đa số các khoản vay mới dành cho Thái Lan và Hàn Quốc đều là các khoản vay ngắn hạn, phải thanh toán tối đa trong vòng 1 năm (đến 60%) Tổng số vốn đầu tư của các ngân hàng cho vay sang các nước Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia là từ 110 tỷ USD tới 130 tỷ USD, nhiều khoản cho vay này sẽ trở thành khó đòi Trong đó khoảng 30% vốn cho Thái lan vay, 50% số vốn Indonesia vay bị thiệt hại vào loại khó đòi trong năm 1998
Các ngân hàng Pháp bị thiệt hại nhiều nhất, đứng đầu là Credit Lyonairs với các khoản tín dụng cho Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc thậm chí vượt cả giá trị tài sản của mình Các ngân hàng ở Áo, Bỉ, Phần Lan, Ailen, Italia, Luxămbua, Tây Ban Nha và Thụy Điển đã ngay lập tức thu hẹp cho vay sang khu vực này sau khi khủng hoảng xảy ra từ Thái Lan hồi tháng 7-1997
¾ HongKong : Sức cạnh tranh của nền kinh tế HongKong đã bị suy giảm mạnh
do các đồng tiền khu vực bị phá giá, lãi suất tăng lên ở mức rất cao Tác động của cuộc khủng hoảng về thương mại và lòng tin đã làm thu hẹp mạnh quy mô kinh tế
¾ Đài Loan và Singapore : Do nền tãng kinh tế vững chắc và lòng tin của các
nhà đầu tư đối với hiệu quả của các biện pháp can thiệp của Chính phủ nên thị trường tài chính – tiền tệ tương đối ổn định, lãi suất và tỷ giá đồng tiền cũng bị ảnh hưởng nhất định và tốc độ tăng trưởng kinh tế có giảm
¾ Niu Dilân : Lãi suất tăng đã làm cho giảm sút chi tiêu tiêu dùng và nhu cầu
xuất khẩu, làm khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn sản xuất Tỷ giá đồng tiền nước này đang ở mức thấp nhất trong vòng 12 năm qua Tính đến hết năm tài chính (31-12-1999), nhịp độ phát triển kinh tế chỉ tăng 2,5%
1.3.2.3 NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN :
Trang 39Các ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng như sự giảm sút khả năng xuất khẩu, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn… đã làm trầm trọng thêm các khó khăn vốn có và hạn chế tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển, khả năng cạnh tranh quốc tế giảm sút, nguồn thu từ xuất khẩu và đầu tư nước ngoài giảm, mất cân đối kinh tế đối ngoại và kinh tế trong nước trở nên ngày càng trầm trọng
¾ Trung Quốc : Thị trường tài chính tiếp tục tương đối ổn định, chưa chịu nhiều
tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng nhờ các chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý đã thực hiện từ năm 1993, dự trữ ngoại tệ lớn, tỷ trọng đầu tư trực tiếp trong tổng vốn đầu tư nước ngoài cao
¾ Ấn Độ : Tốc động tăng trưởng kinh tế giảm, đồng Rupi yếu đi so với USD
¾ Khu vực Mỹ Latinh : Các đồng tiền trong khu vực bị phá giá, luồng vốn
nước ngoài đã ồ ạt rút lui Chỉ số Merval của thị trường chứng khoán Achentina giảm hơn 20% trong tháng 8-1998 giá cổ phiếu ở Chilê cũng giảm, đồng Pêsô Mêhicô và đồng Pêsô Columbia bị giảm giá mạnh, dự trữ ngoại tệ của Brazil giảm 16,6% Các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục rút hàng tỷ USD ra khỏi Brazil, gây ra những vụ bán cổ phiếu ồ ạt trong khu vực
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực Mỹ – Latinh giảm 1,6% trong năm 1998 Tốc độ tăng trưởng năm 1998 của Achentina giảm so với năm
1997 còn 4,3%, Braxin giảm còn 0%, Chilê giảm còn 4,5%, Côlômbia có tăng một chút đạt 3,5%, Mêhicô giảm còn 5%, Pêru giảm còn 4%, Vênêduêla giảm còn 3,5% Tại Braxin, trong 6 tháng đầu năm 1998, tốc độ tăng trưởng chưa tới 3,3%, thâm hụt cán cân thanh toán 33 tỷ USD, tương đương 4,5% GDP khiến cho đồng bản tệ bị mất giá nhanh Ngân hàng Trung ương Braxin đã phải chi ra 8 tỷ USD để giữ vững đồng bản tệ Cruzeirô
¾ Các nước Trung Đông : Tác động tương đối hạn chế, giá cổ phiếu sụt giảm
tạm thời ở một số nước, lãi suất các khoản vay nước ngoài tăng
¾ Châu Phi : Bị ảnh hưởng nhưng không lớn và không trực tiếp, giá nguyên
liệu xuất khẩu giảm mạnh
Trang 401.3.2.4 NHÓM CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI :
¾ Nga : Đồng Rúp liên tục mất giá, chỉ số chứng khoán RTS giảm, thị trường
chứng khoán và ngoại hối chính thức có lúc ngừng giao dịch
¾ Ucraina : Do hệ thống ngân sách kém hiệu quả nên đã dẫn đến tình trạng lệ
thuộc quá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn nước ngoài, khi cuộc khủng hoảng Châu Á trầm trọng, sức ép thị trường ngoại hối buộc Chính phủ phải thắt chặt tiền tệ, thị trường tài chính biến động mạnh
¾ Một số nền kinh tế đang chuyển đổi : Khả năng tiếp cận các nguồn tài
chính nước ngoài, thâm hụt cán cân vãng lai đã giảm mạnh và tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng chậm hơn