1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân cấp ngân sách nhà nước ngân sách địa phương vĩnh long

69 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 747,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 1986, thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN QUỐC THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

mở đầu

1 ý nghĩa vấn đề nghiên cứu :

Nội lực là toàn bộ nguồn lực bên trong tạo ra bởi nhiều yếu tố, làm nên sức mạnh nội tại, thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển Nội lực còn là yếu tố nội sinh có thể tạo ra động lực mới lớn hơn một cách thực tế, tạo nên tính bền vững và khả năng phát triển của bản thân sự vật Nội lực được hình thành bởi quá trình khai thác, chuyển hóa, phát huy những yếu tố bên trong và bên ngoài một cách đúng đắn, hợp quy luật

Nội lực bao gồm : Năng lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, những nguồn của cải, các giá trị vật chất, tinh thần, truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng Nội lực bao giờ cũng là nguồn lực chính cho sự phát triển khi chúng ta biết khai thác, phát huy một cách thích hợp

Trước cải cách, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với các chính sách giá cả mang tính hành chánh, công tác kế hoạch mang tính pháp lệnh, chính sách tài chính bao cấp trong mọi lãnh vực, chính sách lưu thông hàng hóa bị cản trở

và nặng bảo hộ mậu dịch Với chính sách trên đã làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm, làm không đủ ăn, dựa vào nguồn viện trợ bên ngoài càng lớn, bội chi ngân sách lớn phải bù đắp bằng phát hành tiền

Từ năm 1986, thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường với các chính sách giá cả do thị trường quyết định, công tác kế hoạch mang tính định hướng là chủ yếu, sửa đổi chính sách thuế đã động viện khá hơn nguồn thu vào ngân sách, xóa hoặc giảm các khoản chi bao cấp, mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở; sử dụng đòn bẩy kinh tế, thực hiện quá trình hội nhập với quốc tế v.v quá trình cải cách và

mở cửa đã đạt được kết quả là kiềm chế và đẩy lùi lạm phát

Trang 3

Năm 1995 tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với luận điểm phát huy nội lực và được khẳng định là vấn đề cơ bản góp phần thành công của cải cách kinh tế

Bên cạnh đó, kế thừa và phát triển những luận điểm kinh tế của phái cổ

điển, tân cổ điển và phái Keynes, học thuyết nền kinh tế hỗn hợp của trường phái Chính hiện đại đã và đang được nhiều nước xem là nền tản lý luận quản lý Nhà nước về kinh tế của mình Với luận điểm trên cho rằng phát triển kinh tế phải có 2 yếu tố cần và đủ tác động qua lại là cơ chế thị trường - nhà nước

Hiện nay không có quốc gia nào mà không can thiệp vào kinh tế sự can thiệp với các mức độ khác nhau tùy tình hình thực tế của mỗi quốc gia Theo học thuyết này, Chính phủ có các chức năng sau đây :

- Định ra khuôn khổ pháp luật - kinh tế, hiến pháp

- Thiết lập chính sách ổn định hóa kinh tế vĩ mô về giải quyết thất nghiệp, lạm pháp

- Phân phối lại các dịch vụ công cộng

- Duy trì ổn định nền kinh tế thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô mà thị trường không làm được

Để thực hiện các chức năng trên, các công cụ được sử dụng là :

- Kế hoạch hóa hướng dẫn

- Chính sách tài chính chủ yếu là thu - chi của Chính phủ

- Chính sách tiền tệ

- Hiến pháp, luật pháp (văn bản quy phạm pháp luật)

Như vậy, đảm bảo cho phát triển kinh tế của một quốc gia hay địa phương cần thiết phải có đầy đủ 2 yếu tố : Cơ chế thị trường và Nhà nước tương ứng để đưa ra được các chính sách phát huy và khai thác nội lực một cách thích hợp Đây chính là ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu trình bày trong đề tài này

Trang 4

2 Mục đích đề tài : Đề tài giải quyết các vấn đề sau :

- Sự cần thiết khách quan của việc phân cấp đối với vận hành của NSNN

- Thực trạng phân cấp NSNN và ngân sách địa phương (NSĐP) Tỉnh Vĩnh Long qua 4 năm

- Đề nghị một số giải pháp để hoàn thiện phân cấp NSNN và NSĐP Tỉnh Vĩnh Long

- Phương pháp nghiên cứu dựa vào các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đúc kết thực tiển, vận dụng Luật và các văn bản dưới Luật

- Nguồn số liệu từ báo cáo của các cơ quan chức năng ở địa phương, các bài giảng, các tài liệu tham khảo

5 Nội dung đề tài :

- Chương 1 : NSNN trong nền kinh tế thị trường

- Chương 2 : Thực trạng phân cấp NSNN Việt Nam và NSĐP Tỉnh Vĩnh Long

- Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện phân cấp NSNN - NSĐP Tỉnh Vĩnh Long

Trang 5

chương 1 ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1 Tổng quan về NSNN trong nền kinh tế thị trường :

1.1 Khái niệm :

Trong tiếng Anh có từ Budget được dịch sang quốc ngữ là ngân sách, nghĩa là kế hoạch tài chính cho một giai đoạn, khoản tiền được phân phối hoặc chỉ định có mục đích hay là kế hoạch chi tiêu lượng tiền nhất định hoặc chi tiêu trong 1 thời gian

Trong tiếng Pháp được giải nghĩa : Ngân sách là bảng liệt kê, dự kiến các khoản thu nhập và chi trả cho 1 cơ quan, 1 công xã

Trong tự điển Việt Nam mới biên soạn và định nghĩa được 4 mẫu tự latinh đầu tiên là A, B, C, D; Từ trước đến năm 1997 ngân sách được định nghĩa qua các bài giảng; Luật NSNN định nghĩa Ngân sách là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Từ các tài liệu trên, có thể khái niệm ngân sách như sau :

- Ngân sách là một bảng kê trong đó dự kiến và cho phép thực hiện các khoản thu - chi bằng tiền của một chủ thể (Nhà nước, cơ quan HCSN, xí nghiệp, cá nhân)

- Ngân sách được tồn tại một thời gian nhất định 12 tháng, không nhất thiết bắt đầu và kết thúc năm dương lịch ( tùy theo quy định của mỗi nước)

Như vậy, NSNN là ngân sách của chủ thể là Nhà nước, đó là dự toán thu

Trang 6

niên độ ngân sách ) Mỗi chủ thể hoạt động trong một khuôn khổ Luật pháp, quy tắc góc độ khác nhau, NSNN bị ràng buộc và tuân thủ bởi các đặc trưng dưới đây :

- Về pháp lý : NSNN được thực hiện bằng Luật pháp, thu có các Luật thuế, chi tiêu có định mức, tiêu chuẩn, chế độ

- Về nội dung kinh tế : Thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội

- Về xã hội : NSNN cũng mang tính giai cấp phù hợp với giai cấp của Nhà nước, Nhà nước đại diện cho giai cấp thực hiện các chức năng của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử

1.2 Bản chất của NSNN :

Bản chất là sự tổng hợp những mối liên hệ vốn có bên trong các sự vật và hiện tượng, bản chất của sự vật nó không bộc lộ 1 cách trực tiếp mà luôn biểu hiện qua các hiện tượng

Đối với NSNN, trong quá trình phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính của xã hội, NSNN huy động và sử dụng một bộ phận thu nhập của xã hội

để thực hiện chức năng của Nhà nước, nên các hiện tượng của Nhà nước biểu hiện rất đa dạng như : Dự báo thu - chi ngân sách, mức độ động viên các nguồn tài chính vào ngân sách, các khoản cấp phát của Nhà nước cho đầu tư và chi thường xuyên, là khoản đóng góp của các thành viên trong xã hội vào ngân sách, là khoản cấp phát của Nhà nước cho các thành viên trong xã hội qua hình thức thụ hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp; Việc huy động và sử dụng các nguồn tài chính vào NSNN chịu sự giám sát chặt chẻ của Nhà nước, các Luật có liên quan, thể hiện cụ thể :

- Tất cả các khoản thu mang tính bắt buộc, các chủ thể phải chấp hành trên cơ sở sử dụng tài sản tiền vốn của Nhà nước hoặc tính hiệu quả hoạt động

Trang 7

kinh tế với mức độ huy động hợp lý, khách quan (trong nước, quốc tế ), các khoản chi mang tính chất không hoàn lại trực tiếp cho các thành viên trong xã hội hoặc chủ thể nộp Đối với từng chủ thể, các khoản phải nộp và thụ hưởng

từ các khoản chi NSNN không tạo nên mâu thuẩn, đây là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại NSNN

- Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính và được thể hiện ở phần thu cũng như chi của NSNN Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất kinh tế của NSNN,

được thể hiện dưới những hình thức :

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất

thu của NSNN bằng hình thức thuế áp dụng cho tất cả các thành phần kinh tế Ngoài ra, trong quá trình sử dụng NSNN, Nhà nước còn cấp phát các khoản chi

về phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp như : Tài trợ về vốn, trợ giá cho các doanh nghiệp công ích hoặc tài trợ bằng hình thức tiềm ẩn qua chính sách giảm thuế để nhập khẩu thiết bị công nghệ, công nghệ mới

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị phi sản xuất vật

hiện chức năng của Nhà nước theo các ngành, lãnh vực mà NSNN phải đảm bảo phân phối lại thu nhập qua hình thức cấp phát

quan hệ về mặt tài chính giữa NSNN và hộ gia đình, dân cư được thể hiện thông qua quan hệ phân phối lại giữa NSNN với ngân sách hộ gia đình và dân cư Một

bộ phân dân cư làm nghĩa vụ với Nhà nước qua các khoản thuế Đồng thời một bộ phận dân cư nhận từ NSNN bằng các khoản trợ cấp xã hội, công trình

Trang 8

+ Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính : Xuất phát

từ chính sách tài chính - tiền tệ vốn có trong nền kinh tế thị trường, từ chổ cung

- cầu về vốn trên thị trường cũng như nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, Nhà nước

có thể tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của Kho bạc Nhà nước (Tín phiếu, trái phiếu ) nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội đáp ứng yêu cầu cân đối ngân sách, bù khoản bội chi cho phép hoặc là chính sách tiền tệ ổn định nền kinh tế Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với thị trường tài chính sẽ phát triển phong phú và mối quan hệ này trong quá trình phân phối lại các nguồn vốn xã hội sẽ gắn liền với yêu cầu sinh lợi và hiệu quả sử dụng vốn

Qua 4 loại quan hệ trên có thể kết luận bản chất của ngân sách Nhà nước

là hệ thống các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nhằm mục tiêu thực hiện các chức năng của Nhà nước

1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường

Một quốc gia có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường là quốc gia

có nền kinh tế thị trường Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định 3 vấn đề : Hàng hóa, người bán và người mua, giá cả hàng hóa; Người tiêu dùng và nhà sản xuất được tự do lựa chọn, Nhà nước không can thiệp vào

Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là Nhà nước không can thiệp trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội Kinh tế thị trường với cơ cấu nhiều thành phần kinh tế tồn tại và phát triển không phải Nhà nước sắp đặt theo ý thức chủ quan, mà do cạnh tranh đã trở thành động lực thúc đẩy thị

Trang 9

trường vận động Do Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế

- xã hội nên kinh tế thị trường có những khuyết tật như :

- Xuất hiện của độc quyền ( do kết quả của cạnh tranh );

- Xuất hiện mâu thuẩn giữa chiến lược phát triển kinh tế quốc gia với chiến lược sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Bởi mục tiêu của quốc gia là tăng trưởng một cách bền vững, còn mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận Nếu không giải quyết hài hòa mâu thuẩn này sẽ làm cho tài nguyên cạn kiệt, phát triển không đồng đều giữa các ngành, thậm chí trong nội bộ ngành do suất sinh lợi khác nhau;

- Sự phân hóa giàu nghèo nhanh và chênh lệch cao diễn ra với quy mô toàn xã hội

Như đã phân tích trên, để làm thế nào phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết tật để cơ chế thị trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thực tế cho thấy, kinh tế không thể tách rời với chính trị, Nhà nước cần phải có những chính sách kinh tế như chính sách tài chính, tiền tệ và có điều chỉnh khi cần thiết và hợp lý để tác động vào các biến số của nền kinh tế vĩ mô, chống thất nghiệp và suy thoái Để thực hiện được chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo với điều kiện sử dụng hiệu quả công

cụ NSNN

Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường được thể hiện ở các lãnh vực sau :

- Về kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng phát

nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Nhà nước để hướng dẫn, kích thích hoặc điều chỉnh; Bằng công cụ thuế tạo được nguồn thu cho ngân sách đồng thời với thuế suất khác nhau áp dụng cho các loại hàng hóa hoặc ngành nghề

Trang 10

sản xuất, có ưu đãi cho các ngành sản xuất thiết yếu cho nền kinh tế để tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp ngoài nước; Mặt khác, NSNN

có tác dụng định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh tế bằng các giải pháp lớn về chi NSNN thông qua các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành mũi nhọn hoặc trợ giá cho các ngành có ảnh hưởng tới

sự phát triển của nền kinh tế

- Ngân sách là công cụ góp phần ổn định thị trường, giá cả và

nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhằm đạt được lợi thế trên thị trường, hạn chế mức độ rủi ro mạo hiểm; Yếu tố cung - cầu và giá cả thị trường thường xuyên tác động lẫn nhau chi phối mạnh mẻ hoạt động thị trường Sự chi phối hai yếu tố cơ bản này dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế từ ngành này sang ngành khác, sẽ tác động tiêu cực trực tiếp

đến sự ổn định của cơ cấu kinh tế Do đó nhằm đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và lợi ích của xã hội, Nhà nước sử dụng ngân sách tác động tích cực lên thị trường

Đối với thị trường hàng hóa, khi cầu của hàng hóa nào đó lớn hơn cung làm giá cả tăng cao hoặc ngược lại làm giá cả giảm nhanh chóng ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, Nhà nước sẽ can thiệp bằng cách đưa hàng dự trữ ra thị trường hoặc chi bình ổn giá

Bên cạnh thị trường hàng hóa, Nhà nước còn tác động đến thị trường tài chính bằng các biện pháp tài chính tịch cực như : Khai thác nguồn vốn vay trong nước như tín phiếu kho bạc, công trái , vay viện trợ hoặc kêu gọi thu

Trang 11

hút vốn đầu tư sẽ tạo được lưu chuyển các nguồn vốn góp phần điều tiết lượng tiền trong lưu thông, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát

các biện pháp như thực hiện thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân nhằm điều tiết chủ thể có thu nhập cao, phân phối lại cho chủ thể có thu nhập thấp, áp dụng các loại thuế gián thu có tác dụng hướng dẫn người tiêu dùng, việc tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ giải quyết được việc làm, chính sách ngân sách hợp lý sẽ là điều kiện giãm dần chỉ số nghèo tổng hợp ( Thu nhập, giáo dục, y tế), kiểm soát hạn chế tệ nạn xã hội, có điều kiện quan tâm đến đối tượng chính sách

2 Phân cấp ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế thị trường 2.1 Khái niệm

Tổ chức bộ máy của Nhà nước thống nhất từ Trung ương đến địa phương, nguồn lực tài chính quốc gia được sáng tạo ra từ trong một cơ cấu kinh

tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bao thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; tùy theo Hiến pháp của mỗi quốc gia có các cấp chính quyền cụ thể (các cấp hành pháp) và phải có ngân sách để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi trách nhiệm được phân công Như vậy, phân cấp ngân sách về thực chất là giải quyết tất cả các mối quan hệ ( giữa chính quyền Nhà nước TW và các cấp chính quyền Nhà nước địa phương) có liên quan tới hoạt động của NSNN, mục tiêu là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NSNN Với khái niệm này, phân cấp ngân sách phải bao gồm các nội dung :

Trang 12

chế độ, chính sách, định mức tiêu chuẩn do TW quy định, loại chế độ chính sách, định mức tiêu chuẩn do các cấp chính quyền địa phương quy định để làm cơ sở quản lý điều hành ngân sách Nhà nước

và nguồn thu, cũng như trong cân đối của các cấp chính quyền Nhà nước

động của NSNN từ khâu lập dự toán tới chấp hành và quyết toán ngân sách

lý, chưa rõ ràng, không triệt để, không dứt khoát là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn trong quản lý kinh tế - tài chính của Nhà nước; Ngược lại, nếu cơ chế phân cấp được thiết lập phù hợp thì công tác quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước chắc chắn sẽ được cải thiện, góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định nền kinh tế Vì vậy, cơ chế phân cấp ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Phân cấp phải bảo đảm tính thống nhất, phục vụ cho một Nhà nước, một thể chế chính trị duy nhất

- Phân cấp ngân sách phải được thực hiện đồng bộ với phân cấp kinh tế

và tổ chức bộ máy hành chính; đồng thời phải dựa trên cơ sở các chức năng,

Trang 13

nhiệm vụ quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương Việc phân cấp phải triệt để tôn trọng những quy định trong Hiến pháp có liên quan đến lãnh vực này Hết sức tránh tình trạng không giao hết quyền hạn, trách nhiệm cho địa phương hoặc giao vượt quá giới hạn quy định

- Phân cấp phải đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập của NSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất Thể hiện :

+ NSTW có vị trí trung tâm của hệ thống NSNN và là ngân sách cấp trên của NSĐP, một mặt đảm nhận cấp phát kinh phí cho các yêu cầu chức năng của Nhà nước TW và thực hiện nhiệm vụ điều hòa hoạt động của các ngân sách

địa phương; Trên thực tế là ngân sách quốc gia mà Chính phủ là cơ quan quản

lý sử dụng để đảm bảo nhiệm vụ chi chung, bao trùm trên phạm vi cả nước

+ Tính độc lập NSĐP ở chỗ sau khi được phân cấp nhiệm vụ thu và chi thì chính quyền địa phương toàn quyền quyết định ngân sách cấp mình (lập, duyệt, cân đối, chấp hành và quyết toán ngân sách), tính độc lập này không có nghĩa là thoát ly chỉ đạo của TW, thoát ra khỏi hệ thống NSNN, tính độc lập có tính giới hạn tương đối được biểu hiện ở chỗ :

• Hầu hết chế độ, chính sách, định mức tiêu chuẩn do trung ương ban hành, địa phương chỉ được ban hành một ít chế độ trong khuôn khổ cho phép

• Hệ thống kế toán, thống kê, báo cáo và trình tự lập, duyệt, chấp hành

và quyết toán ngân sách Nhà nước phải thống nhất trong cả nước

• Tính thống nhất NSNN còn thể hiện ở mối quan hệ chuyển giao khối lượng các nguồn tài chính trong hệ thống này như : chuyển giao cho cấp dưới thực hiện một số chương trình, chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

- Nguyên tắc đảm bảo công bằng, phát triển đồng đề giữa vùng lãnh thổ một cách hợp lý, có chính sách khuyến khích lợi ích kinh tế trong khai thác nguồn thu

Trang 14

Khi giao nhiệm vụ thu chi cho địa phương phải căn cứ vào cân đối chung của cả nước, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, các chủ trương của Nhà nước ưu tiên cho vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên vùng dân tộc và chính sách khuyến khích lợi ích kinh tế từ đó hình thành tỷ lệ điều tiết phân chia nguồn thu cho từng địa phương; nguyên tắc này nêu được công bằng tương đối

2.3 Phân cấp lý thuyết :

Tùy theo quan điểm của các nhà quy hoạch chính sách mà hình thành 2 phương án phân cấp khác nhau và hoàn toàn trái ngược nhau: Phương án coi NSNN là duy nhất, thống nhất và phương án mỗi cấp chính quyền có ngân sách riêng độc lập trong hệ thống NSNN thống nhất

ngân sách, ngân sách này do Chính phủ TW quản lý và quyết định sử dụng Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích và yêu cầu quản lý NSNN, Chính phủ TW có thể ủy quyền cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện một số nghiệp vụ cần thiết Nhưng việc phê duyệt dự toán, quyết toán hoặc cân đối thu chi NSNN trên địa bàn vẫn do Nhà nước TW đảm nhận Quan điểm này phủ nhận sự tồn tại độc lập của NSĐP, phủ nhận khái niệm phân cấp ngân sách, thay vào đó là khái niệm phân cấp quản lý NSNN; Nghĩa là Nhà nước TW chỉ giao nhiệm vụ quản lý một số nghiệp vụ nhất định trong hoạt động của NSNN cho chính quyền địa phương

+ PA2 - Mỗi cấp chính quyền Nhà nước có ngân sách riêng, độc

thống nhất của NSNN, là sự thống nhất của các khâu độc lập trong một hệ thống, chứ không phải là sự thống nhất trong bản thân một cá thể duy nhất Với quan điểm này, ngoài NSTW do chính quyền Nhà nước TW quản lý và quyết

Trang 15

định sử dụng, vẫn cần thiết tồn tại NSĐP do chính quyền địa phương các cấp quản lý, sử dụng

hình đã qua khảo sát thực tế)

ở nhiều nước, hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính Những nước có hệ thống hành chính Liên Bang thì ứng với hệ thống ngân sách gồm 3 cấp ( ngân sách liên Bang, ngân sách Bang và NSĐP); những nước còn lại (phi liên Bang) thì hệ thống này gồm hai cấp (NSTW và NSĐP)

Về chi tiết, việc phân cấp ngân sách ở mỗi nước có đặc điểm riêng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng cũng có những nét chung nổi bật là :

- Việc phân cấp ngân sách không thực hiện theo nguyên tắc tổng hợp từ dưới lên; ngân sách cấp dưới không thể hiện vào ngân sách cấp trên và ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới Muốn biết tổng số thu - chi của Nhà nước phải cộng ngân sách của tất cả các cấp

- Trong hệ thống ngân sách của tất cả các nước (Liên Bang và phi Liên Bang) vai trò chủ yếu thuộc về NSTW, chính phủ TW tập trung mọi nguồn thu quan trọng và đảm nhận nhiệm vụ chi chủ yếu nhất, NSĐP đóng vai trò phụ thuộc

Cụ thể :

2.4.1 Khối các nước có nền kinh tế thị trường

a Phân cấp ngân sách nước Cộng hòa Liên Bang Đức (CHLB Đức)

Cộng hòa Liên Bang Đức theo thể chế Nhà nước Liên Bang, cơ cấu tổ chức hành chính như sau :

- Liên Bang

- Bang

Trang 16

- Phân định nguồn thu :

Ngân sách từng cấp đều có các khoản thu : Thu 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ

• Thu 100% :

- Đối với Liên bang : Thuế xuất nhập khẩu, thuế bảo hiểm, thuế tiêu thụ

đặc biệt (thuốc lá, r−ợu, bia, ), thuế xăng dầu

- Đối với Bang : Thu từ thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế giao thông, thuế xổ

số, thuế đua ngựa, thuế thi đấu thể thao, thuế phòng cứu hỏa

- Đối với xã : Thu từ thuế nhà đất, thuế hành nghề, thuế vui chơi giải trí, thuế nuôi chó, phí và lệ phí

• Thu phân chia giữa các cấp (Liên Bang, Bang và xã) :

Trang 17

+ Thuế doanh thu (GTGT) : Phân chia giữa Bang và Liên bang

+ Thuế thu nhập cá nhân : Phân chia giữa 3 cấp : Liên bang 42,5%, Bang 42,5% và xã 15%

+ Thuế thu nhập công ty (Thuế thu nhập doanh nghiệp): Phân chia giữa Liên bang và Bang (50%-50%)

- Phân định nhiệm vụ chi :

ở Cộng hòa Liên Bang Đức, nhiệm vụ chi được tập trung chủ yếu ở Bang

và xã, còn Liên bang chỉ đảm nhiệm một số nhiệm vụ quan trọng

Cụ thể :

- Liên bang : Đảm nhiệm các nhiệm vụ về ngoại giao, quốc phòng, tiền

tệ, bảo hiểm xã hội, liên khu vực

- Bang : Đảm nhiệm các nhiệm vụ về tư pháp, trợ giúp xã hội, công an,

đào tạo ở các trường đại học, lương giáo viên, trợ cấp cho các địa phương, cơ sở vật chất bệnh viện

- Xã : Các vấn đề cơ sở giáo dục, văn hóa thể thao, trợ cấp xã hội, các công trình công cộng (thoát nước, công viên, nghĩa trang), giao thông thuộc phạm vi xã, điều tra bệnh lây

Quyền tự chủ của các cấp địa phương : đây là đặc điểm nổi bất trong cơ chế phân cấp ở Đức Trong nhiệm vụ được giao, xã toàn quyền quyết định các biện pháp để thực hiện miễn là không trái Pháp luật Hiến pháp của Liên bang

và Bang quy định đảm bảo quyền tự chủ của các địa phương; Chính phủ Bang không thể quyết định địa phương tồn tại hay không tồn tại; Cơ quan lập pháp

do dân bầu, chịu trách nhiệm với quyết định của mình ( quyền tự chủ trong khuôn khổ quy định của Luật của Bang, Liên bang và hiện nay của cả Liên minh Châu Âu), tự chủ về tổ chức và tự chủ về tài chính, được quyền quyết định cụ thể

Trang 18

trên cơ sở nguồn thu được phân cấp (loại thuế và thuế suất), được quyền vay ngân hàng để đầu tư

b Phân cấp ngân sách nước Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp theo thể chế Nhà nước thống nhất, có 26 vùng, 100 tỉnh

và 36.500 xã Trong từng cấp hành chính nói trên đều có cơ quan quyền lực do dân bầu và cơ quan hành chánh Nhà nước

Các cấp chính quyền đều có ngân sách để thực hiện một số nhiệm vụ

được phân theo Pháp luật Vì vậy, hệ thống ngân sách của Pháp bao gồm :

Nguồn thu và nhiệm vụ chi của từng cấp được Pháp luật quy định như sau :

• Nguồn thu :

- Ngân sách TW : + Các khoản thuế (hưởng 100%) Gồm : * Thuế giá trị gia tăng

* Thuế doanh nghiệp

* Thuế thu nhập (Thu nhập cá nhân và công ty)

+ Vay để đầu tư :

- Ngân sách các cấp chính quyền địa phương : + Các khoản thu từ thuế (chiếm khoản 60% tổng thu NSĐP)

Gồm : * Thuế nhà ở

Trang 19

* Thuế đất đai (gồm thuế đất xây dựng và thuế đất không xây dựng) + Vay để đầu tư

• Nhiệm vụ chi :

- Ngân sách TW : Chi đầu tư các công trình quan trọng, chi trợ giá một số doanh nghiệp công ích, chi đảm bảo hoạt động của bộ máy TW, hoạt động thường xuyên khác, chi quốc phòng, chi trả lãi tiền vay đầu tư, trợ cấp bảo đảm xã hội (việc làm, thất nghiệp) và chi trợ cấp ngân sách cho các cấp chính quyền

địa phương

- Ngân sách Vùng : Chi đào tạo ngành nghề, đầu tư xây dựng và bảo dưỡng trường cấp 3, trả lãi tiền vay đầu tư, chi hoạt động bộ máy vùng và thường xuyên khác, chi giải quyết việc làm, chi phòng chống tệ nạn xã hội, chi quy hoạch trong phạm vi vùng

- Ngân sách Tỉnh : Chi cho các hoạt động xã hội (trợ giúp trẻ em, người

có tuổi, người tàn tật, trợ giúp thuộc men, chi chuyên chở học sinh đi học, quy hoạch nông thôn, xây dựng và bảo dưỡng trường phổ thông trung học, trả lãi tiền vay đầu tư, chi hoạt động của bộ máy hành chính Tỉnh

- Ngân sách Xã : Chi bảo đảm các công việc về khai sinh, khai tử, hộ khẩu, xử lý rác thải, nước thải, môi trường, đường xá của xã, vệ sinh dịch tể, thư viện, trả lãi tiền vay đầu tư, hoạt động bộ máy xã và các hoạt động thường xuyên khác

• Quản lý và kiểm soát chi tiêu ngân sách

Ngân sách của Cộng hòa Pháp gồm NSTW và ngân sách các cấp chính quyền địa phương Quốc hội chỉ xem xét và quyết định NSTW, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định ngân sách địa phương Việc tổng hợp NSNN chỉ mang ý nghĩa thống kê, phân tích đối với toàn quốc

Trang 20

Mặc dù phân cấp như trên, nhưng trong quản lý và kiểm soát chi tiêu ngân sách được quản lý chặt chẻ Mỗi đơn vị chi tiêu ngân sách đều có Kiểm soát viên Tài chính (ở TW) hoặc Kế toán công (ở ĐP) do TW trả lương, hai chức danh này

có ý kiến thống nhất với lệnh chuẩn chi mới được thực hiện chi ngân sách

Báo cáo quyết toán ngân sách của các cấp ngân sách phải chịu sự kiểm tra của thẩm kế viện (Thẩm kế viện TW và thẩm kế viện cấp vùng)

2.4.2 Khối các nước có nền kinh tế chuyển đổi

a Các nước XHCN Đông âu và Liên Xô củ

Những cải cách về phân cấp NSNN là sự việc tất yếu sau những biến đổi lớn về chính trị và cơ chế quản lý kinh tế ở các nước trên Có 2 sự biến đổi lớn

là :

- Cấu trúc lại hệ thống NSNN (một số nước tiêu biểu)

Trang 21

• Sau cải cách : Thu bằng chính sách thuế và phí, đã có quy định một số khoản thu TW hưởng, ĐP hưởng, những khoản phân chia và có từng bước cải cách

* Chi quốc phòng, đối ngoại, nội vụ, tư pháp thuộc NSTW

* Chi giáo dục (đại học) thuộc NSTW, tiểu học và phổ thông trung học thuộc NSĐP

* Cơ sở hạ tầng cấp TW quản lý thuộc NSTW; địa phương đảm nhiệm cơ sở hạ tầng công cộng tại địa phương

b Phân cấp ngân sách nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Từ đầu năm 1978, Trung Quốc thí điểm thực hiện chính sách mở cửa phát triển kinh tế trong cả nước, đặc biệt thí điểm tại một số đặc khu : Thẩm Quyến, Thượng hải, Sán Đẩu,

Trong đó : Duy trì một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo hướng thị trường với những nét đặc trưng :

- Phát triển kinh tế ổn định, chính trị là hàng đầu;

- Cải cách kinh tế trong đó nông nghiệp tiên phong đi trước;

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa;

- Ưu tiên phát triển khu vực 3 (dịch vụ);

- Có chính sách tạo sự phát triển mạnh mẻ ở một số vùng, qua đó tạo tiềm năng, động lực, tài lực cho phát triển toàn bộ đất nước;

Trang 22

- Hình thành kinh tế thị trường với đầy đủ các yếu tố của sản xuất : Thị trường vốn, thị trường lao động và hàng hóa;

- Duy trì chế độ phúc lợi xã hội đối với toàn dân : Bảo hiểm xã hội, chế độ y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi xã hội khác

Nhờ có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, nên trong thời gian qua kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng của Trung Quốc có sự phát triển vượt bậc Đời sống nhân dân được cải thiện, tình hình kinh tế ổn định và phát triển

• Chính sách cải cách ngân sách

+ Trước cải cách mở cửa năm 1978, Trung Quốc thi hành chế độ kế hoạch hóa tập trung ở mức cao, thích ứng với chế độ này, chế độ quản lý NSNN cũng theo phương thức tập trung, đặc trưng điển hình là toàn bộ thu của địa phương tập trung toàn bộ vào NSTW rồi NSTW thống nhất chi tiêu

+ Năm 1978 thực hiện phân cấp cho địa phương, cho phép địa phương

để lại một số khoản thu để thực hiện nhiệm vụ chi

Có hạn chế : Nguồn thu Nhà nước bị phân tán, tỷ lệ huy động vào ngân sách so TNQD ngày càng giãm, tỷ lệ thu NSTW so thu NSNN ngày càng giãm, chủ nghĩa bảo hộ bao cấp của địa phương tăng lên do tình hình phát triển của các địa phương khác nhau, thể hiện như : Phong tỏa vùng, lủng đoạn , kết cấu và quy mô sản xuất không hợp lý, nhưng do bảo hộ nên sản phẩm địa phương vẫn tiêu thụ được, như vậy chia cắt thị trường và không có lợi cho việc hình thành thị trường lớn

+ Cải cách ngân sách trong giai đoạn 1994 :

Thực hiện phân chia quyền hạn và trách nhiệm của các địa phương trong nhiệm vụ thu chi ngân sách; Cải cách thuế năm 1994 lấy năm 1993 làm cơ sở

∗ Kết hợp giữa quyền lực tài chính với quyền lực kinh tế, căn cứ theo loại thuế để phân chia thu TW hay thu địa phương

Trang 23

∗ Thuế TW liên quan đến điều hành TW

∗ Thuế liên quan đến phát triển TW và ĐP thì phân chia

∗ Thuế liên quan đến phát triển kinh tế ĐP thì để lại cho ĐP

∗ Nguyên tắc ổn định số thu để lại cho ĐP

+ Năm 1991 ban hành điều lệ về quản lý ngân sách và 1993 luật NSNN được ban hành, thực hiện kể từ 1994

• Phân cấp ngân sách

Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp ngân sách triệt để cho các cấp chính quyền địa phương Ngân sách mỗi cấp do Hội đồng nhân dân cấp đó phê duyệt và chấp hành NSTW do Quốc hội phê duyệt và có ủy quyền chi tiết cho

Các cấp ngân sách được để lại một số khoản thu nhất định và giao nhiệm

vụ chi để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Tỷ lệ phân chia thuế và nhiệm vụ chi tiêu được ổn định trong một thời gian dài Tuy vậy, nó cũng có nhược điểm là trong điều kiện hiện nay tại Trung Quốc do mức độ phát triển giữa các vùng trong cả nước có sự chênh lệch nhiều Nếu ổn định trong một thời gian dài thì mức chênh lệch giữa các tỉnh còn rất

Trang 24

lớn Để giải quyết sự phát triển đồng đều, NSTW có một khoản chi trợ cấp cho các tỉnh còn khó khăn

Nguồn thu phân chia cụ thể như sau :

- Nguồn thu NSTW :

+75% thuế giá trị gia tăng (GTGT)

+Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

+Thuế hải quan

+Thuế lợi tức xí nghiệp TW

+Thuế doanh thu của doanh nghiệp tiền tệ tín dụng, bảo hiểm ngân hàng

- Nhiệm vụ chi NSTW

+ Chi quốc phòng, an ninh + Ngoại giao

+ Chi điều chỉnh nên kinh tế + Chi điều hòa giữa các vùng ở địa phương

+ Chi sự nghiệp do TW quản lý + Chi tiêu do nhu cầu của nền kinh tế quốc dân

- Thu ngân sách địa phương :

+ 25% thuế giá trị gia tăng

+ Thuế doanh thu đối với khu vực 3 (dịch vụ) + Thuế lợi tức của xí nghiệp địa phương + Thuế làm ruộng, chăn nuôi, nông nghiệp

+ Thuế nhà đất, thuế đặc sản nông nghiệp

+ Thuế thu nhập cá nhân

+ Thuế xe cộ (Thuế trước bạ)

+ Thuế bất động sản

Trang 25

+ Thuế tài nguyên

+ Thuế tem

+ Thuế bảo vệ môi trường

+ Phí giáo dục phụ (Các doanh nghiệp có các loại thuế doanh thu, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, phải nộp thêm 5% trên tổng số thuế phát sinh)

Phân cấp ở địa phương : Do địa phương quy định, nhưng phải đảm bảo

đúng nguyên tắc của TW quy định

2.5 Bài học thực tiển phân cấp ngân sách Nhà nước các nước

kế hoạch hóa tập trung ở mức độ cao, làm kiềm hảm nền kinh tế, không phát huy nội lực của toàn dân và thu hút đầu tư nước ngoài Sau cải cách 1978, Trung Quốc với nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, đã giải phóng sức sản xuất, tiền vốn trong dân cư, các thành phần kinh tế, với công cuộc cải cách kinh tế thành công là điều kiện quan trọng để thu hồi HongKong với kết quả không có hiện tượng dòng vốn đi ra; kinh tế Trung Quốc phát triển vượt bậc như ngày nay

- Kinh tế của một quốc gia vận hành theo cơ chế thị trường thông thường ứng với cơ chế phân cấp ngân sách Nhà nước là phân quyền cho các cấp chính quyền Nhà nước địa phương theo Hiến pháp quy định; đồng thời đảm

Trang 26

bảo các nguyên tắc : NSTW giữ vai trò chủ đạo, ngân sách địa phương độc lập tương đối do chính quyền địa phương quyết định ngân sách cấp mình và đảm bảo phát triển đều các vùng lãnh thổ

- Việc hoàn thiện phân cấp ngân sách là một tiến trình theo nguyên tắc

"Hệ thống hóa luật lệ", nghĩa là tiến trình từng bước từ thấp đến cao Trong mỗi giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia cũng đòi hỏi điều chỉnh phân cấp NSNN phù hợp, nhằm khuyến khích địa phương khai thác nguồn thu, chủ động bố trí chi tiêu theo nhiệm vụ được giao

- Phân cấp NSNN là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và của mỗi địa phương; NSTW điều tiết hoặc trợ cấp ngân sách để phát triển đồng

đều giữa các vùng lãnh thổ dựa trên biên độ của chỉ số tổng hợp: Thu nhập, giáo dục và y tế bình quân đầu người của mỗi địa phương

Tóm lại, phân cấp lý thuyết và khảo sát phân cấp trong thực tiển của các nước cho thấy nếu phân cấp NSNN phù hợp và có điều chỉnh sẽ đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội, cũng như tính hiệu quả của NSNN

Trang 27

chương 2 THựC TRạNG phân cấp nsnn việt nam và

nsđp tỉnh vĩnh long

1 Quá trình phát triển của NSNN Việt Nam :

Dưới chế độ phong kiến, ngân sách chỉ phục vụ guồng máy Nhà nước phong kiến, nên ngân sách chỉ có 1 cấp duy nhất

Thời Pháp thuộc, năm 1887 nước Việt Nam (Nam kỳ - Trung kỳ - Bắc kỳ) cùng với hai nước láng giềng là Lào và Cao Miên đặt chung vào một đơn vị hành chính và tài chính lấy tên là Đông Dương thuộc Pháp Về tài chính đặt ra

hệ thống ngân sách gồm: Ngân sách Đông dương và ngân sách các Kỳ; Ngân sách các Kỳ đóng góp vào ngân sách Đông dương và ngược lại được ngân sách

Đông dương trợ cấp khi cần thiết Sau 1 năm thực hiện do mâu thuẩn quyền lợi giữa tư sản Pháp và tư sản Đông dương nên hệ thống ngân sách bị bải bỏ Sau nhiều lần sửa đổi, mãi đến năm 1899 việc tập trung thống nhất tài chính thuộc

địa vào ngân sách Đông Dương đi đôi với việc phân cấp, phân quyền cho các xứ Bắc, Trung, Nam mới thực hiện một cách nhất quán Từ đây ngân sách các Tỉnh, Thành phố cũng dần dần hình thành

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1888, Hà Nội và Hải Phòng trở thành nhượng

địa của Pháp, đến năm 1891 hai thành phố này được công nhận có tư cách pháp nhân và có ngân sách riêng Đây là bước ngoặc đầu tiên hình thành ngân sách độc lập cấp Tỉnh

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, NSNN của chính quyền cách mạng

được hình thành nhưng chưa định hình rõ, chưa được thể chế hóa, chỉ mang hình thức thể hiện độc lập tự chủ của một quốc gia Nguồn thu chủ yếu là đóng

Trang 28

góp tự nguyện của nhân dân và các sắc thuế của Pháp; Chi ngân sách chủ yếu phục vụ kháng chiến

Sau năm 1954 miền Bắc xây dựng XHCN, duy trì hệ thống ngân sách kiểu củ; Miền Nam là thuộc địa kiểu mới của Mỹ xây dựng hệ thống NSNN theo kiểu Tư bản

Năm 1967, miền Bắc thực hiện chế độ phân cấp quản lý NSNN gồm 2 cấp: NSTW - NSĐP (Tỉnh, Thành phố)

Năm 1972, miền Bắc ban hành điều lệ ngân sách xã nhưng chưa được xem là một cấp ngân sách nên chưa đưa vào hệ thống NSNN

Năm 1978, chính phủ ban hành Nghị quyết 108/CP phân NSĐP thêm các cấp nhỏ hơn : ngân sách Tỉnh và ngân sách Huyện

Năm 1983, Nghị định 138/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng cho phép tổng hợp ngân sách xã vào hệ thống NSNN

Năm 1996, Quốc hội Khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật NSNN có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1997, hệ thống NSNN gồm 4 cấp : NSTW và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách Tỉnh, ngân sách Huyện, ngân sách Xã)

2 Cơ chế phân cấp NSNN - Việt Nam :

Ra đời từ 1967 đến nay, cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung để phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội đất nước Quá trình phân cấp đã trải qua 04 giai đoạn sau :

khá chặt chẻ, chủ yếu tập trung vào NSTW, do cơ chế này đã hạn chế tiềm năng và thế mạnh của các địa phương trong việc huy động các nguồn tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

quyết 138/HĐBT về cải tiến chế độ phân cấp quản lý ngân sách theo hướng

Trang 29

"khoán có thưởng", đã khuyến khích được các cấp địa phương chủ động khai thác nguồn thu, đẩy mạnh sản xuất

quyết 186/HĐBT về sửa đổi chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương và Nghị quyết 168/HĐBT sửa đổi Nghị quyết 186/HĐBT với các nguyên tắc :

- Xác định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền về quản lý tài chính

và NSNN

- Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo điều kiện cho địa phương phát huy tính năng động sáng tạo và điều hành ngân sách trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất nền tài chính quốc gia

Luật ngân sách Nhà nước có nội dung cơ bản sau đây :

- Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, có phân công, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp

Tổ chức bộ máy của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ Trung ương đến

địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Nguồn lực tài chính quốc gia được sáng tạo ra từ trong một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là thống nhất Vậy, NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai,

có phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Theo nguyên tắc này, NSNN bao gồm : NSTW và NSĐP; NSĐP gồm NS Tỉnh - NS Huyện - NS xã

- Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách mỗi cấp chính quyền được xác

định rõ ràng, bảo đảm cân đối giữa nhiệm vụ được phân công với điều kiện vật chất để thực hiện được nhiệm vụ, nhằm xác định rõ trách nhiệm quyền hạn và phát huy tính chủ động của mỗi cấp; Tương ứng với nhiệm vụ, quyền hạn của

Trang 30

cơ quan Nhà nước theo Hiến pháp và Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân ở mỗi cấp

Qua phân tích lý thuyết và phân tích thực nghiệm về phân cấp ngân sách

ở các nước; Việt Nam đã đổi mới chế độ phân cấp ngân sách cho phù hợp với yêu cầu đổi mới chung của nền kinh tế xã hội là sự cần thiết khách quan và Luật NSNN là biểu hiện sự đổi mới, là thành tựu đã đạt được có tính kế thừa và đang phát huy tác dụng

3.- Thực trạng phân cấp ở Việt Nam

Qua 4 năm thực hiện, Luật NSNN đã chứng minh được vị trí pháp lý trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Phân cấp ngân sách trong Luật không chỉ giới hạn ở việc giao nhiệm vụ chi và các nguồn thu,

mà còn phải bao quát tất cả các lãnh vực hoạt động của NSNN : Thu- chi đi vào

nề nếp, các cấp chính quyền địa phương điều hành kinh tế - xã hội với công cụ vật chất đảm bảo là ngân sách, chính phủ TW nắm chắc nguồn thu lớn trong nền kinh tế, đảm bảo nhiệm vụ quan trọng, nắm chắc được tiến độ thu chi ngân sách ở địa phương qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, kịp thời đưa ra những giải pháp, biện pháp can thiệp tích cực Phân cấp được thể hiện ở các mặt :

+ Về chế độ, chính sách và tiêu chuẩn định mức :

Nguyên tắc thống nhất NSNN đòi hỏi mọi chế độ, chính sách về ngân sách Nhà nước phải do chính quyền Nhà nước TW quy định, các cấp chính quyền địa phương có nhiệm vụ chấp hành

Nguồn thu chủ yếu của NSNN là thuế và phí; Thu từ thuế có Luật thuế do Quốc hội quyết định, Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết Luật thuế, danh mục phí và lệ phí do Chính phủ quy định và có phân quyền một số loại cho Bộ Tài chính, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quyết định, hướng dẫn chi tiết mức thu phí, sử dụng Đối với thuế và phí thuộc TW quy định, địa phương chỉ có nhiệm vụ triển khai thực hiện hoặc vận dụng phù hợp, nếu có vướng mắc hoặc chưa hợp lý ở địa phương thì phản ánh về TW

Trang 31

Đối với định mức chi tiêu, chế độ do TW (Bộ Tài chính) ban hành thực hiện thống nhất trên toàn quốc, do yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện với quy mô vụ việc tùy theo khả năng của ngân sách địa phương, chế độ chi HCSN không được chi cao hoặc thấp so với định mức của TW

Về chế độ thống kê, báo cáo định kỳ, sổ sách biểu mẫu và chế độ kế toán thống nhất theo quy định của TW

+ Về vật chất :

Phân cấp ngân sách đã được thể hiện rõ trong Luật NSNN đảm bảo 3 nguyên tắc: Phù hợp với cơ chế phân cấp hành chính, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập của NSĐP, đảm bảo tính công bằng giữa các địa phương

+ Về thu :

Căn cứ vào tổng thu NSNN, căn cứ vào chức năng được chỉ định theo Hiến pháp, Pháp lệnh về tổ chức Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân các cấp, kết hợp 3 nguyện tắc trên hình thành phân cấp nguồn thu, tỷ lệ được hưởng để thực hiện nhiệm vụ chi Việc xác định nhiệm vụ chi chỉ mang tính kỹ thuật, liệt kê danh mục chi NSNN, phần nào thuộc địa phương được thống kê riêng và lượng hóa, làm căn cứ để phân chia nguồn thu

Vai trò chủ đạo và điều hòa của TW được biểu hiện ở phân chia nguồn thu theo nguyên tắc :"Phân cấp nguồn thu không đầy đủ"; chế độ này thể hiện

rõ phân cấp thu căn cứ vào nhiệm vụ chi, nhưng không vượt quá nhu cầu chi, phân cấp thu phải tính toán để đi đến kết quả là ngay cả đối với địa phương có nguồn thu dồi dào nhất ( Thành phố hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội, ) các nguồn thu này không vượt quá nhiệm vụ chi; Biểu hiện cụ thể ở tỷ lệ % phân chia nguồn thu giữa NSTW với ngân sách tỉnh với 5 loại như sau : Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể đơn vị hạch toán toàn ngành ), thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận ra

Trang 32

khuyến khích lợi ích kinh tế của địa phương, tỷ lệ % phân chia nguồn thu được

ổn định 3 - 5 năm nhằm tạo điều kiện cho địa phương có nguồn thu lớn sẽ có

ngân sách cao tương ứng để chi đầu tư phát triển

Ngân sách các cấp thuộc NSĐP cũng được áp dụng công thức như trên

Để minh họa cụ thể nguyên tắc "Phân cấp nguồn thu không đầy đủ" bằng

bảng tỷ lệ % phân chia nguồn thu cho các cấp ngân sách theo Luật NSNN hiện

Ngân sách

Trang 33

Tỷ lệ % phân chia giữa TW-ĐP (100%) cột 3 và 4 đến dòng 5 do Chính phủ quyết định

- Tỷ lệ % phân chia các cấp NSĐP ở cột 4, 5, 6, 7 và đến dòng 5 do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quyết định

- Tỷ lệ % phân chia các cấp NSĐP từ cột 4, 5, 6, 7 và từ dòng 6 đến dòng 12 do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quyết định

Tính công bằng giữa các địa phương được biểu hiện ở số bổ sung cân đối

từ ngân sách cấp trên hoặc tỷ lệ điều tiết cao hay thấp tùy theo nhiệm vụ chi Tính công bằng được xây dựng bằng những chính sách hoặc chủ trương cụ thể :

Đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực đồng bằng sông Cửu Long (quyết định 99/TTg),

đầu tư 1.780 xã đặc biệt nghèo khó khăn, chính sách cho người dân tộc, vùng

đồng bằng vùng xa vùng sâu, hải đảo, công bằng ở thu theo Luật - chi theo chế

độ định mức, theo dân số, biên chế

+ Về chi ngân sách : Cơ sở phân định chi là nhiệm vụ được giao cho cấp chính quyền, chức năng lớn thì được giao chi lớn Cấp thị xã và Phường được phân cấp khác hơn so với Huyện, Xã, Thị trấn Cơ cấu chi được xác định cụ thể cho 2 nhiệm vụ :

∗ Chi thường xuyên : Nhiệm vụ này có ở tất cả các cấp ngân sách

∗ Chi đầu tư phát triển : Nhiệm vụ chi này có ở các cấp ngân sách, ngoại trừ ngân sách Phường

Trang 34

Ph©n chia nhiÖm vô chi NSNN gi÷a c¸c cÊp theo LuËt

HuyÖn, ThÞ x·

X·,Ph−êng,Th ÞtrÊn

TW

NS TØnh

HuyÖ

n

ThÞ x·

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w