1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp huy động vốn và đầu tư tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh cà mau

72 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 621,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu : luận văn tập trung nghiên cứu cơ cấu kinh tế ở tỉnh Cà Mau, hoạt động huy động vốn và đầu tư tín dụng của ngân hàng nông nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM -

CHÂU PHƯỚC THÀNH

NHỮNG GIẢI PHÁP HUY ĐỘNGVỐN

VÀ ĐẦU TƯ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Năm 2000

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu :

Nông nghiệp-nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia Việt Nam cũng vậy, nông nghiệp vẫn được coi là mặt trận quan trọng, phát triển nông thôn

là vấn đề then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

Gần đây, nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng việc mất cân đối trong cơ cấu kinh tế nông thôn đang là vấn đề hết sức cấp bách Chính vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta Để quá trình này có hiệu quả thì vốn là vấn đề cực kỳ quan trọng, là khâu then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó phải kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng

Đối với tỉnh Cà Mau, một khu vực có nhiều tiềm năng về kinh tế, thì tín dụng ngân hàng càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Xuất phát từ thực tiển trên, tôi chọn đề tài “Những giải pháp huy động vốn và đầu tư tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Cà Mau”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu : luận văn tập trung nghiên cứu cơ cấu kinh tế ở tỉnh Cà Mau, hoạt động huy động vốn và đầu tư tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho các thành phần kinh tế ở tỉnh Cà Mau trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

+ Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian : chủ yếu nghiên cứu tỉnh Cà Mau

Trang 3

Về thời gian : từ năm 1995 đến nay

3 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, logic, thống kê, so sánh và tổng hợp để chứng minh

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu kham khảo và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Vai trò của tín dụng ngân hàng với quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông thôn

Chương 2:Thực trang hoạt động huy động vốn và đầu tư tín dụng ngân hàng

với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở tỉnh Cà Mau

Chương 3: Những giải pháp huy động vốn và đầu tư tín dụng của ngân hàng

nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở Tỉnh Cà Mau

Trang 4

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN

1.1./ TÍNH TẤT YẾU CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG

THÔN:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình phức tạp và lâu dài Trong quá trình đó, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng tác động tích cực đến việc chuyển dịch

1.1.1./ Vai trò của kinh tế nông thôn:

Kinh tế nông thôn là một khu vực quan trọng của mỗi quốc gia, nó biểu hiện các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn bao gồm: Nông

- Lâm - Ngư - Công nghiệp - Dịch vụ Như vậy, khu vực kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trước hết là khu vực sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư toàn xã hội tồn tại và phát triển, cung cấp ngày càng nhiều các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung cấp nguồn lao động phong phú cho khu vực thành thị và là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

Trong những năm gần đây, nông nghiệp - nông thôn được xem là mặt trận hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt nam Nông nghiệp đã có những thành tựu vượt bậc, mà thế giới phải khâm phục, từ chổ thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới sau Thái Lan vào năm 1997, và là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tất cả các chỉ tiêu kinh tế - xã hội Bộ mặt nông thôn đã có chuyển biến đáng phấn khởi Tuy nhiên, nhìn một cách toàn

Trang 5

Gần đây, chính sách đổi mới đã tạo động lực to lớn cho kinh tế hộ, động viên từng hộ bỏ vốn, sức lao động tối đa vào sản xuất và đã tạo ra những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, góp phần ổn định kinh tế - xã hội, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo hướng chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế thuần nông

sang Công - Nông - Dịch vụ Nhìn chung nông thôn Việt nam có những đặc điểm

kinh tế xã hội sau :

+ Nông nghiệp nước ta vẫn nghèo nàn lạc hậu, GDP/1ha đất nông nghiệp

là 650 USD/năm, GDP/người ở nông thôn 2,4triệu đồng/năm, thấp hơn 3,6 lần so với thành thị, thấp hơn nhiều lần so với các nước khác trong khu vực

+ Cơ cấu kinh tế nông thôn chậm chuyển dịch, đa số sản phẩm làm ra

chất lượng thấp, giá thành cao Công nghiệp - dịch vụ mới chiếm 28 % trong cơ

Trang 6

cấu kinh tế nông thôn, còn nông nghiệp chiếm 72% [51]

+ Các thành phần kinh tế chưa phát huy tác dụng Trước đây, chỉ có hai

hình thức: Quốc doanh và tập thể, quản lý theo mô hình tập trung với thói quen ỷ lại, kém năng động, không hiệu qủa Hai thành phần đó chậm đổi mới, trong khi đó, kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ làm ăn có hiệu quả, nên số hộ giàu khá tăng nhanh

+ Đầu tư trong nông nghiệp - nông thôn đã được chú trọng, nhưng phân

bổ còn mất cân đối

+ Quỹ đất nước ta hẹp, bình quân mỗi hộ 0,49 ha, thấp nhất thế giới, còn

tính trên lao động chỉ có 0,3ha/1 lao động Lao động ở nông thôn ngày càng tăng, quỹ đất lại giảm đi, mâu thuẫn này là một thách thức to lớn đối với nông thôn.[141]

+ Thị trường nông thôn kém phát triển: vốn, ruộng đất manh mún, lao

động, công nghệ lạc hậu, thị trường tiêu thụ kém, sức mua thấp, chất lượng sản phẩm không có khả năng cạnh tranh trên thế giới Giá cả hàng công nghiệp và hàng nông sản có khoảng cách xa là yếu tố kìm hãm sự phát triển nông thôn

+ Cơ sở hạ tầng nông thôn yếu kém chưa đáp ứng yêu cầu của một nền

nông nghiệp sản xuất hàng hóa Mạng lưới thủy lợi được mở rộng nhưng chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Điện cho nông thôn có bước tiến bộ nhưng chỉ mới phục vụ cho đời sống sinh hoạt và thuỷ lợi, còn phục vụ cho công nghiệp, dịch vụ còn ít, thiếu an toàn, mức tổn thất cao, cơ sở chế biến chưa hình thành hoạt động kém hiệu quả

+ Đời sống vật chất tinh thần của nông dân nông thôn vẫn còn nhiều khó

khăn, thiếu thốn, hộ nghèo trung bình còn chiếm tới 20%, hộ đói 4% Theo chuẩn mực của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội thì hộ nghèo là hộ không có khả

Trang 7

năng tái sản xuất mở rộng, bình quân ở thành thị từ 1.8000.000đ/người/năm trở xuống,nông thôn đồng bằng từ 1.200.000đ/người/năm trở xuống, nông thôn miền núi từ 960.000đ/người/ tháng trở xuống Hộ đói là hộ không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành, nhà ở rách nát thu nhập thấp [Báo SGGP ngày 04.11.2000]

Về văn hoá xã hội, giáo dục có phổ cập nhưng vẫn còn người mù chữ, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ bỏ học còn nhiều Y tế có phát triển nhưng tỷ lệ bệnh tật, trẻ suy dinh dưỡng còn cao Tình hình dân chủ, công bằng, luật pháp kỷ cương chưa đảm bảo, nạn chiếm đất, tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn xã hội, mãi dâm, mê tín dị đoan chưa giảm Bộ máy quản lý hành chính nông thôn yếu kém chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

1.1.2./ Cơ cấu kinh tế nông thôn:

- Cơ cấu kinh tế :

Cơ cấu kinh tế của một nước là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế bao gồm các lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng; các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải ); các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể, tư nhân ); các vùng kinh tế

Ở mỗi vùng, mỗi ngành cơ cấu kinh tế là biểu hiện tập trung của nó trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Cơ cấu kinh tế của một nước được biểu hiện tập trung trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước đó

- Đặc trưng cơ cấu kinh tế:

Từ khái niệm trên, cơ cấu kinh tế có bốn đặc trưng sau:

+ Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan: Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải

Trang 8

phản ánh sự tác động của các qui luật khách quan, phản ánh sự tương quan giữa các nguồn lực cuả một quốc gia Ýù muốn chủ quan dù mạnh mẽ đến thế nào, cũng không thể tách rời thực tế này Vai trò của yếu tố chủ quan là thông qua sự nhận thức ngày càng sâu sắc về những qui luật đó, để phân tích và đánh giá những xu thế phát triển khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau mà tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu có hiệu quả, trong điều kiện cụ thể Mọi ý muốn chủ quan, bảo thủ trong việc tạo ra cơ cấu kinh tế mới thường dẫn đến hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế tuy chịu sự tác động của yếu tố chủ quan như phân công lao động, kế hoạch hoá, bảo đảm cân đối nhưng không vì thế mà mất tính khách quan của nó

+ Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử - xã hội: Nền kinh tế chỉ phát triển, khi giữa những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những quan hệ cân đối của phân công lao động xã hội Giữa các nền sản xuất, những yêu cầu về lượng thì có thể tương tự nhau, nhưng yêu cầu về chất, cách thức thực hiện tỉ lệ cân đối thì khác nhau Điều đó do qui luật đặc thù, trước hết là qui luật kinh tế cơ bản của mỗi phương thức sản xuất qui định Ngay trong cùng một hình thái kinh tế

- xã hội, ở những nước khác nhau cơ cấu kinh tế cũng có thể khác nhau, do điều kiện kinh tế - xã hội không giống nhau

+ Cơ cấu kinh tế mang tính biến đổi: Cơ cấu kinh tế luôn có sự chuyển dịch, theo hướng ngày càng mở rộng và hoàn thiện để hình thành một cơ cấu hợp lý Đặc biệt, đối với những nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng phải nhanh và mạnh hơn mới có thể thích nghi được với cơ chế mới

+ Cơ cấu kinh tế là một quá trình xây dựng lâu dài: Cơ cấu kinh tế được hình thành và xây dựng cùng với quá trình phát triển nền kinh tế, quá trình phân công lao động xã hội dựa trên cơ sở kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại Mục

Trang 9

tiêu cuối cùng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”

- Phân loại cơ cấu kinh tế :

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ hợp thành nền kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ

cấu vùng,lãnh thổ

+ Cơ cấu ngành kinh tế: là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một

loạt chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội, nó được phân biệt theo tính chất và đặc điểm của sản phẩm Cơ cấu ngành quan trọng nhất là công - nông nghiệp và dịch vụ Cơ cấu ngành kinh tế phải được xác định trong tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân

+ Cơ cấu thành phần kinh tế: Việc xác định và xây dựng cơ cấu thành

phần kinh tế là nhằm khai thác và phát huy sức mạnh tổng hợp các thành phần kinh tế Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của một nước, mỗi thành phần kinh tế có vị trí quan trọng khác nhau trong nền kinh tế Ở nước ta, thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo

+Cơ cấu vùng, lãnh thổ: Xây dựng cơ cấu vùng, lãnh thổ là nhằm khai

thác triệt để có hiệu quả các khả năng và thế mạnh của từng vùng kinh tế Do đó

cơ cấu vùng lãnh thổ cần thiết phải bố trí theo cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế, vì vậy nhà nước cần có qui hoạch chiến lược và kế hoạch phát triển phù hợp cho từng vùng, lãnh thổ

Để hiểu được vị trí và vai trò của kinh tế nông thôn trong nền kinh tế quốc dân, cần phải có căn cứ khoa học đúng đắn và phải thống nhất một số khái niệm sau:

- Cơ cấu kinh tế nông thôn:

Trang 10

Ngoài những đặc trưng chung của cơ cấu kinh tế là mang tính khách quan, mang tính lịch sử xã hội nhất định, luôn luôn vận động và phát triển gắn liền với sự phát triển cuả các yếu tố của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, chuyển dịch từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp thì cơ cấu kinh tế nông thôn còn có đặc trưng riêng chủ yếu biểu hiện trên các mặt: cơ cấu kinh tế nông thôn được hình thành và vận động trên cơ sở của điều kiện tự nhiên và mức độ lợi dụng, cải thiện điều kiện tự nhiên ( đất đai, thời tiết, vị trí điạ lý )

Cũng giống như cơ cấu kinh tế chung, cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm:

cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế - kỹ thuật

Cơ cấu kinh tế kỷ thuật trong nông thôn mang nặng tính chất nông thôn cổ truyền và nông nghiệp truyền thống Trong nhiều thế kỷ nông thôn là khu vực kinh tế lạc hậu, phân tán, manh mún và có tính chất bảo thủ Về kỹ thuật có tính cha truyền con nối, tự đào tạo và truyền khẩu cho nhau những kinh nghiệm truyền thống trong gia đình, làng xã, với tư tưởng trọng nông khinh thươngï, quý nghiã khinh lợi, ít tính toán đến hiệu qủa kinh tế Chính tư tưởng truyền thống đã chi

Trang 11

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của hệ thống kinh tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghiã là đưa hệ thống kinh tế đến các trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn thông qua các tác động điều khiển có ý thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan

Cơ cấu kinh tế nông thôn biến đổi theo xu hướng có tính quy luật là giảm tương đối và tuyệt đối số người lao động, với tư cách là lao động thứ yếu giảm, tăng lao động thặng dư Khi nào lao động trong nông nghiệp - nông thôn giảm tuyệt đối thì mới bắt đầu có chuyển biến cách mạng trong cơ cấu kinh tế nông thôn

Cơ cấu kinh tế nông thôn hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển cuả nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa Kinh tế nông thôn mà chủ yếu là nông nghiệp, khi chuyển sang nền sản xuất hàng hóa nhỏ rồi lên nền sản xuất hàng hóa lớn thì cơ cấu kinh tế nông thôn mới được hình thành và vận động theo hướng đa dạng có hiệu quả, phân cao lao động tỉ mỉ hơn, vật nuôi cây trồng có giá

Trang 12

trị cao hơn, ngành nghề khác được mở rộng hơn

Để đánh giá trình độ và hiệu quả cơ cấu kinh tế, cần sử dụng một số chỉ tiêu như : cơ cấu giá trị thu nhập các lọai sản phẩm, cơ cấu lao động, đầu tư, sử dụng đất, năng suất cây trồng, vật nuôi, giá trị tổng thu nhập, hiệu quả vốn đầu

tư, năng suất lao động nông thôn

1.1.3./ Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế nông thôn:

Cơ cấu kinh tế nông thôn phụ thuộc vào nhiều nhân tố đa dạng và phức

tạp có thể phân thành nhóm sau:

Nhóm nhân tố về địa lý –tự nhiên: Điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiếtù ý

nghĩa to lớn đối với sản xuất nông nghiệp, là ngành có đối tượng sản xuất là những sinh vật, phát triển theo qui luật tự nhiên mà nó tồn tại Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào, để tạo ra sản phẩm với rủi ro và chi phí thấp nhất, có chất lượng cao, đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường

Nhóm nhân tố kinh tế –tổ chức: Đây là nhóm nhân tố liên quan đến thị

trường và các nguồn lực chủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp - nông thôn nói riêng Chính vì vậy, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm: chính sách phát triển kinh tế hàng hoá, chính sách khuyến khích xuất khẩu và đầu tư, hình thành vùng chuyên môn hóa trong nông nghiệp với qui mô ngày càng lớn

Nhóm nhân tố về kỹ thuật: Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản

xuất, sẽ tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mở ra triển vọng lớn cho việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, chế biến bảo quản nhằm nâng cao năng suất - chất lượng sản phẩm, góp phần hòa

Trang 13

nhập vào thị trường thế giới Nhóm nhân tố này bao gồm: Cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ

Nhóm nhân tố về hợp tác, phân công lao động: Tính đa dạng của nhu cầu

và điều kiện sản xuất ở mỗi nước đòi hỏi phải có sự trao đổi kết quả hoạt động với nhau trong mức độ phạm vi khác nhau Quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế dưới nhiều hình thức sẽ tăng sự thích ứng và phù hợp với kinh tế thế giới và khu vực

1.1.4./ Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:

- Những tồn tại trong cơ cấu kinh tế nông thôn:

+ Mất cân đối trong nội bộ ngành: Nông nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng

độc canh tự cấp, tự túc, trình độ sản xuất hàng hoá thấp, tính quãng canh còn phổ biến, hiệu quả kinh tế kém, phần lớn diện tích là trồng trọt, do vậy phần lớn giá trị tổng sản phẩm là từ sản xuất lương thực

Kinh tế nông thôn với điểm xuất phát thấp Cơ cấu kinh tế nông thôn cơ bản vẫn là thuần nông, 80% dân số làm nông nghiệp và sống bằng nghề nông, cơ cấu kinh tế tuy có hướng chuyển dịch theo hướng tiến bộ, nhiều hoạt động phi nông nghiệp có chiều hướng tăng lên nhưng nhìn chung còn chiếm tỷ trọng thấp

Cơ cấu kinh tế còn độc canh cây lúa là yếu tố làm hạn chế việc phát huy lợi thế

so sánh giữa các vùng sinh thái

+ Mất cân đối cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn Ngành nông nghiệp

phát triển chủ yếu ở vùng nông thôn rộng lớn nhưng chưa gắùn với kinh tế nông thôn Kinh tế nông thôn bao gồm cả công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông liên lạc, thương mại, dịch vụ Nhưng điều kiện vùng nông thôn còn khó khăn, sản xuất nặng tính thuần nông, tự cung tự cấp, giao thông kém, gây trở ngại cho việc chuyên chở vật tư, tiêu thụ nông sản, làm tăng thêm tính khép kín của

Trang 14

nông nghiệp Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn yếu kém làm cho sản xuất

ở nông thôn phải duy trì kéo dài tình trạng xuất bằng thủ công

+ Khoa học công nghệ trong nông nghiệp - nông thôn còn lạc hậu, kém

phát triển Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa được công nghiệp hoá, do vậy, cơ sở

vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất còn ở trình độ thấp kém Công nghiệp phục vụ sau thu hoạch còn yếu kém cũng làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm.Vì vậy phần lớn nông sản xuất khẩu đều dưới dạng thô hiệu qủa kinh tế thấp Giống luá có tiến bộ nhưng chất lượng xuất khẩu chưa cao, do chỉ chú trọng đến năng suất mà chưa quan tâm đến chất lượng Bên cạnh đó giống cây màu, cây công nghiệp, rau quả, lâm nghiệp còn chưa được chú ý

Những nguyên nhân quan trọng đó làm cho năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi của nông nghiệp nước ta còn thấp so với các nước trên thế giới và cả trong khu vực

+ Mâu thuẩn giữa tính chất và hình thức tổ chức sản xuất Cơ cấu kinh tế

nông nghiệp có đổi mới đã tạo ra được những thành tựu to lớn là lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh Điều này đã làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được nhanh chóng Trong khi đó, các hợp tác xã vẫn còn mang tính chất hình thức, các đơn vị quốc doanh sản xuất, dịch vụ thua lỗ nhưng vẫn tồn tại, mang tính thách thức trong sản xuất nông nghiệp

+ Hạn chế của chính sách vĩ mô Các chính sách kinh tế - xã hội chưa đồng bộ đã gây trở ngại cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ Nông nghiệp đã đóng góp 40 - 50% thu nhập quốc dân, nhưng đầu tư chỉ từ 15 - 20% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản là chưa thỏa đáng

+ Công nghiệp chưa kết hợp với nông nghiệp Công nghiệp chưa gắn với

Trang 15

nông nghiệp để hình thành cơ cấu kinh tế có hiệu qủa và phát triển bền vững, đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế lâu dài

- Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:

Tình hình thế giới đòi hỏi nước ta phải nhận thức rõ, và xây dựng cơ cấu kinh tế như thế nào để không bị lạc hậu mà còn phải tận dụng lợi thế của nước đi sau Trong thập kỷ gần đây, các nước thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương đã tận dụng được lợi thế so sánh để phát triển kinh tế của mình và đạt được mức tăng trưởng khá nhanh Tuy nhiên các lợi thế này ngày càng giảm dần, giá nhân công ngày càng tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm do giá thành tăng nhanh Mặt khác do sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ đã tạo

ra lĩnh vực công nghệ mới có hiệu quả, tiết kiệm được tài nguyên, bảo vệ môi sinh

Trong bối cảnh chung đó, mặc dù những năm qua chúng ta đã đạt được một số kết quả về mặt kinh tế cũng như xã hội, nhưng xét về cơ bản nước ta vẫn là nước nông nghiệp lạc hậu và là nước nghèo vào loại nhất thế giới Do đó, chúng ta còn phải phấn đấu hơn nữa Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là tạo cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển toàn diện, đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trên cơ sở đảm bảo an toàn lương thực quốc gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần ở nông thôn, góp phần tích lũy, phục vụ cho công nghiệp hóa đất nước Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế nước ta sang nền sản xuất hàng hoá gồm nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế hộ gia đình giữ vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp hiện nay

Nông nghiệp - nông thôn, nông dân đang thiếu vốn đầu tư để hoạt động sản xuất, dịch vụ, thay đổi ngành nghề, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn trong

Trang 16

suốt thời gian qua Muốn thực hiện Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngoài phần tạo nguồn vốn từ nông thôn ( bằng phát triển sản xuất tăng thu nhập, tiết kiệm tiêu dùng tăng để dành), cần phải tranh thủ đầu tư vốn từ nguồn bên ngoài: Đầu tư ngân sách trung ương và điạ phương, vốn nước ngoài, vốn vay từ khu vực đô thị để cho vay khu vực nông thôn

Do vậy, để đạt được những yêu cầu trên thì vai trò cuả tín dụng ngân hàng là hết sức cần thiết trong việc huy động vốn, tạo động lực cho tiến trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa nông thôn

1.2./ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI QÚA TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN

1.2.1./ Tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Cùng với sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, các quan hệ sản xuất mới ra đời, lực lượng sản xuất phát triển là điều kiện cho sự phân công lao động phát triển, hình thành sự phân hoá xã hội: của cải tập trung vào tay người giàu, có quyền thế, trong khi đó người nghèo không đủ thu nhập để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của đời sống Mặt khác do điều kiện thiên nhiên, điều kiện sản xuất luôn luôn có rủi ro, đòi hỏi phải có sự vay mượn nhau để điều hoà cuộc sống Hình thức tín dụng sơ khai bằng hiện vật xuất hiện

Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, thì quan hệ tín dụng càng được mở rộng Do nhu cầu về đầu tư tìm kiếm lợi nhuận, nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng Đặc điểm của tuần hoàn vốn là có những xí nghiệp lúc này đang thừa vốn, nhưng có xí nghiệp khác có nhu cầu bổ sung nguồn vốn Do đó đòi hỏi phải có tín dụng làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu

Trong cơ chế thị trường, nhu cầu vốn đòi hỏi phải có nguồn vốn để đáp

Trang 17

ứng việc mở rộng sản xuất, tái sản xuất tài sản cố định Nguồn vốn đáp ứng này là nguồn vốn tiết kiệm trong toàn xã hội: vốn tiết kiệm cá nhân, các doanh nghiệp, ngân sách nhà nước Như vậy sự phát triển của tín dụng là xuất phát từ nhu cầu tiết kiệm và đầu tư, vậy tín dụng cũng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu

Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau nhưng bất kỳ phương thức nào, tín dụng biểu hiện ra ngoài như là sự vay mượn lẫn nhau tạm thời một số tiền tệ Bản chất của tín dụng được biểu hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất

- Một số quan điểm về tín dụng:

+ Tín dụng được coi là sản phẩm của quá trình chuyển giao tài chính Qúa trình này có nhiều chủ thể tham gia và quan điểm này bao gồm tiết kiệm, người

đi vay và tổ chức cho vay Do vậy cần phân tích rõ hành vi chủ thể và các yếu tố của thị trường tài chính - tín dụng nông thôn

+ Qũy vốn cho vay phải hình thành chủ yếu từ nguồn vốn tiết kiệm Cần áp dụng chính sách khuyến khích tiết kiệm và huy động tiền gửi tiết kiệm một cách hợp lý, do vậy cần phải có:

* Chính sách tạo ra cơ hội tiết kiệm tốt, giúp cho các tầng lớp dân cư đều có điều kiện tiết kiệm, kể cả những người nghèo, hơn là áp dụng lãi suất thấp đễ cho người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói

* Huy động tiết kiệm tốt còn là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững của các tổ chức tín dụng, giảm được sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, đáp ứng vốn cho khách hàng, giảm chi phí, tránh khả năng đổ vỡ của tín dụng

* Huy động tiết kiệm tốt đồng thời cũng có nghiã là nguồn vốn trong xã hội được sử dụng tốt có hiệu qủa hơn, không sử dụng vốn vào nhu cầu không cần

Trang 18

thiết, cho những dự án không hiệu quả

* Các tổ chức tín dụng tự đảm bảo về khả năng tài chính và phát triển nghiã là phải tự bù đắp chi phí và có lãi hợp lý, nhằm góp phần ổn định thị trường tài chính - nông thôn, ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế

Như vậy, khác với lý thuyết truyền thống, lý thuyết mới về thị trường tài chính nông thôn ở các nước đang phát triển đặc biệt chú ý đến hiệu qủa của thị trường tài chính - tín dụng nông thôn, với những tổ chức tín dụng phát triển bền vững Quan điểm này cho rằng: Lãi suất thực tế dương, huy động tiền gửi tiết kiệm, giảm bớt hoặc xoá bỏ tín dụng chỉ định

Các lý thuyết về thị trường tài chính - tín dụng nông thôn có khác nhau nhưng vận dụng có hiệu quả hay không còn tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội của mổi nước

Ngoài việc nghiên cứu các lý thuyết, chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động vốn phục vụ cho nhu cầu phát triển nông nghiệp - nông thôn qua kênh tín dụng

Như vậy tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận Quan hệ kinh tế trên được thông qua sự vận động giá trị vốn tín dụng qua các giai đoạn:

@ Giai đoạn phân phối vốn tín dụng: Giai đoạn này vốn tiền tệ hoặc giá

trị vật tư hàng hoá đưọc chuyển từ người này đến người khác bằng hành vi cho vay và đi vay

@Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng: Ở giai đoạn này vốn vay được sử dụng

trực tiếp (nếu vay bằng hiện vật) hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá (vay bằng tiền) để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay

Trang 19

Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó mà chỉ có quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định

@ Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng: Là giai đoạn kết thúc một vòng tuần

hoàn của tín dụng, nghĩa là sau khi hoàn thành một chu kỳ sản xuất T-H-T để trở về hình thái tiền tệ, thì vốn tín dụng được hoàn trả cho người cho vay

Như vậy, bản chất của tín dụng là hoàn trả và là cơ sở để phân biệt với phạm trù kinh tế khác, là quá trình quay trở về với tư cách là một lượng giá trị vận động, cho nên sự hoàn trả luôn luôn phải đảm bảo giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức Trong trường hợp có lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải được tôn trọng, thông qua cơ chế điều tiết bằng lãi suất, tiền đi vay có đặc điểm là quay về với điểm xuất phát thì vẫn còn nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động

- Hình thức của tín dụng:

Trên thực tế còn tồn tại nhiều hình thức tín dụng khác nhau nhưng có thể chia ra các hình thức sau:

+ Xét theo tính chất pháp lý: Có hai hình thức đó là hình thức tín dụng

chính thức và hình thức tín dụng không chính thức:

* Tín dụng chính thức là các hình thức tín dụng được pháp luật thừa nhận

bao gồm: Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng cổ phần, Hợp tác xã tín dụng và các tổ chức trung gian tài chính khác

Tín dụng chính thức là nguồn cung ứng vốn lớn nhất và dần dần chiếm lĩnh thị trường nông thôn rộng lớn mà NHNo & PTNT VN là nòng cốt, có mạng lưới rộng khắp toàn quốc Hình thức này đang hoạt động mạnh mẽ và thực sự mang lại lợi ích cho kinh tế hộ, kinh tế nông thôn, thúc đẩy kinh tế phát triển, làm

Trang 20

cầu nối giữa sản xuất và lưu thông hàng hoá

* Tín dụng không chính thức: (tín dụng ngầm) là hình thức tín dụng không được luật pháp thừa nhận Hình thức tín dụng này ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Do xuất hiện sự phân chia giai cấp dẫn đến tình trạng có người giàu, người nghèo từ đó nẩy sinh quan hệ vay mượn lẫn nhau Hình thức này tồn tại phổ biến trong nông thôn nước ta và phát triển tương đối mạnh dưới các dạng: Cho vay bằng tiền lãi suất cao 5 -> 10 % tháng Cho thuê ruộng theo vụ: 1 công = 2 giạ lúa/vụ Cho vay bằng vàng lãi suất 3->7% Cho vay phân: 01 bao Urê cuối vụ trả 6 - 10 giạ lúa Bán lúa non lãi suất 7- 15% Cho vay ngày lãi suất 1->3% ngày

Hình thức này thường tồn tại trong nền sản xuất kém phát triển, sản xuất hàng hoá chưa phát triển Để duy trì mức sống bình thường tối thiểu, người ta đi vay với bất kỳ hình thức nào, với mức lãi suất nào cũng được Do đó, hình thức này kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

+ Xét theo thời hạn tín dụng:

* Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng dưới một năm, thường để cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các hộ sản xuất

* Tín dụng trung hạn là loại tín dụng từ 1-5 năm, loại tín dụng này cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mớikỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng

* Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm nhằm đầu tư xây dựng mới, thay đổi qui trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh

+ Xét theo đối tượng:

Trang 21

* Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế dùng để dự trữ vật tư, hàng hoá , thường dùng để bù đắp vốn lưu động tạm thời thiếu hụt, bao gồm cho vay dự trử, cho vay chi phí sản xuất, cho vay thanh toán các khoản nợ

* Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng hình thành nên vốn cố định nhằm đầu tư xây dựng mới, thay đổi qui trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh danh theo định hướng chung Thời hạn cho vay loại này là tín dụng trung dài hạn

+ Theo mục đích sử dụng vốn:

* Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá là loại tín dụng cho các nhà doanh nghiệp tiến hành sản xuất và kinh doanh hàng hoá

* Tín dụng tiêu dùng là loại tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt trong gia đình hay cá nhân

+ Căn cứ vào chủ thể quan hệ tín dụng:

* Tín dụng thương mại là quan hệ giữa các nhà doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức bán chịu hàng hoá Nguyên nhân là do sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ hàng hoá: Người sản xuất cần tiêu thụ sản phẩm còn người tiêu thụ chưa có tiền thanh toán, do vậy hành vi bán chịu xảy ra và đựơc gọi là tín dụng thương mại Đến hạn người mua phải thanh toán cùng với phần lãi suất

* Tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân Ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay

* Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng mà nhà nước là người đi vay nhân dân, các tổ chức kinh tế, ngân hàng và nước ngoài

Trong các hình thức tín dụng trên, luận án chỉ đề cập đến hình thức tín

Trang 22

dụng ngân hàng liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta nói chung và ở tỉnh Cà mau nói riêng

1.2.2./ Vai trò của tín dụng ngân hàng với qúa trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông thôn:

Nước ta đang chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trong tình hình đó, để phù hợp với nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng cũng thay đổi thành hệ thống ngân hàng hai cấp, nhằm tách hẳn chức năng kinh doanh và chức năng quản lý của Nhà nước Chính

vì lẽ đó, vai trò của tín dụng ngân hàng có sự thay đổi về chất, không như trước đây tín dụng được xem như là một công cụ cấp phát của Nhà nước

Tín dụng ngân hàng thực sự là đòn bẩy kinh tế, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo khả năng tăng trưởng kinh tế Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng để chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa Riêng đối với nông nghiệp tín dụng ngân hàng có thể coi là yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển nông nghiệp - nông thôn điều đó thể hiện như sau:

- Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian của các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi ngắn hạn và dài hạn trong nền kinh tế quốc dân, được khai thác và sử dụng triệt để mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao

Hoạt động của tín dụng ngân hàng bao gồm tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, để cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, hộ sản xuất vay nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng với qui mô ngày càng lớn cả chiều rộng lẫn chiều sâu Việc tập trung vốn và phân phối tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế từ nơi thừa sang nơi thiếu

Trang 23

Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư liệu sản xuất, sức lao động, vốn đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá Vốn ngân hàng đã tạo ra sức sống mới cho nông thôn, đưa hộ khá lên giàu, hộ nghèo lên khá hơn Trong qúa trình đó, có những hộ phải thay đổi ngành nghề, bán tư liệu sản xuất cho những hộ có điều kiện và khả năng sản xuất, do vậy làm cho quá trình tích tụ tập trung tư liệu sản xuất, vốn diễn ra nhanh hơn

- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế và là công cụ thúc đẩy ngành kinh tế mũi nhọn phát triển Trong điều kiện hiện nay cần quan tâm đến CNH - HĐH nông nghiệp - nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngọai

- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao trình độ quản lý, tăng cường chế độ hạch toán kinh tế Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả có lợi tức, do vậy, hoạt động tín dụng phản ánh phần nào kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị Chất lượng tín dụng của ngân hàng còn thể hiện được sự hoạt động của nền kinh tế Nguyên tắc hoàn trả, đã thúc đẩy nông dân nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường khả năng hạch toán, nhằm mục đích đạt được kết qủa cao, giảm chi phí, tạo tâm lý tiết kiệm tập trung vốn cho sản xuất

- Kết hợp giữa lãi suất và tín dụng là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, lãi suất và tín dụng là công cụ quan trọng nhằm điều tiết hoạt động kinh tế Sử dụng công cụ này khuyến khích tiết kiệm, tiêu dùng, tăng cường đầu tư trong tất cả mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, vùng kinh tế theo định hướng chung: đẩy lùi lạm phát, tăng trưởng kinh tế

- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện xây dựng nền kinh tế mới Trong điều kiện quốc tế hoá, nền kinh tế của một nước luôn luôn gắn với thị trường thế giới

Trang 24

Chính sách mở cửa của ta nhằm mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Vì vậy, tín dụng ngân hàng phải trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau trong phân công và hợp tác quốc tế

- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy và hình thành thị trường vốn, thị trường tài chính, thị trường nông thôn Nông nghiệp nước ta chiếm hơn 80% dân số, hơn 12 triệu hộ làm nghề nông, lâm, ngư nghiệp, đã sản xuất ra gần 50% tổng sản phẩm xã hội Chuyển sang sản xuất hàng hoá thì vấn đề đặt ra là phải hình thành hệ thống thị trường đồng bộ ở nông thôn, vì đây là một địa bàn rộng lớn: vừa tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ của ngành công nghiệp, vừa cung cấp nông sản tiêu dùng cho cả nước, cung ứùng nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp nguồn lao động dồi dào cho ngành nghề khác

Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và hoạt động tín dụng, là “cầu nối” trung gian giữa những người thiếu vốn và thừa vốn, nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá được nhanh chóng Trong việc điều hoà vốn hệ thống NHNo & PTNT có nhiều khả năng hơn vì có chân rết đến tận huyện, xã, khu vực và cũng có thể có quỹ tín dụng nông thôn Hoạt động tín dụng đã hình thành và đẩy mạnh sự phát triển của thị trườngvốn, tín dụng nông thôn

- Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên Trong kinh tế thị trường, nông dân luôn tính toán sản xuất cái gì, cho ai và sản xuất như thế nào?, do đó, tín dụng đã thúc đẩy cho họ khai thác mọi tiềm năng nhằm giảm chi phí, đạt hiệu quả kinh tế cao

- Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất và đời sốngï Đồng thời, tín dụng ngân hàngtham gia hỗ trợ xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống, đặc biệt là luân chuyển hàng hoá, xoá dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn

Trang 25

- Tín dụng ngân hàng góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, mang lại hiệu quả cao về mặt xã hội Nhờ tất cả những tác dụng trên, tín dụng ngân hàng như luồng sinh khí mới thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, sự tách biệt giữa nghèo và giàu giảm dần đời sống nông thôn được nâng lên một bước Tín dụng ngân hàng thúc đẩy ngành nghề phát triển giải quyết lao động thừa trong nông thôn, hạn chế việc di dân vào thành phố, tăng thu nhập và nâng cao đời sống văn hoá, kinh tế

Phần lý luận trên đã chỉ rõ vai trò của tín dụng ngân hàng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng kinh tế nông thôn tỉnh Cà mau và vai trò đòn bẩy của tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng này đạt hiệu quả, sẽ tiếp tục nghiên cứu ở chương sau

Trang 26

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ ĐẦU TƯ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH CÀ MAU

2.1/ THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH CÀ MAU:

2.1.1/ Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cà mau :

2.1.1.1./ Tài nguyên thiên nhiên:

- Vị trí địa lý: Cà mau là mãnh đất cuối cùng của tổ quốc, trải rộng từ

8o30 đến 9o10 vĩ độ bắc và từ 104o80 đến 105o5 độ kinh đông Phía bắc giáp Kiên giang và Bạc liêu, phía đông và nam giáp biển Đông, phía tây giáp vịnh Thái lan Diện tích tự nhiện 5.208,8 km2, bằng 1,57% diện tích cả nước Dân số Cà mau năm 1999 là 1.133.747 người, bằng 1,4% dân số cả nước Mật độ trung bình cuối năm 1999 là 218 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình cả nước

Cà mau có 6 huyện và một thành phố loại 3 Thành phố Cà mau là trung tâm hành chính của tỉnh Thành phố Cà mau là cửa ngỏ của tỉnh trên trục đường quốc lộ 1A và quốc lộ 63, cách thành phố Hồ Chí Minh 350km và nối với thị trấn Năm căn, nơi có cảng Năm căn đang xây dựng ở đoạn cuối cùng của quốc lộ 1A Từ thành phố Cà mau có thể đi các thị xã, thị trấn của ĐBSCL bằng các phương tiện thủy, bộ Đường bay Cà mau-T.P Hố Chí Minh gần đây đã hoạt động trở lại góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh

- Khí hậu, thủy văn : Cà mau có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ổn định và

Trang 27

mang tính đặc trưng phân mùa rỏ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm 26,5oC, tháng 4 là tháng nóng nhất, nhiệt độ không khí trung bình đạt 27,8oC và lạnh nhất là tháng Giêng, nhiệt độ trung bình 25oC

Số giờ nắng trung bình trong năm đạt 2.500 giờ, lượng bức xạ trực tiếp cao với tổng tích nhiệt khoảng 9.500 đến 10.000 C Lượng mưa trung bình cũng thuộc loại cao ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, khoảng 2.400mm, mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình khoảng 80% vào mùa khô và 85% vào mùa mưa Các tháng mùa khô khu vực ven biển thường có sương mù nhẹ

Cà mau ít khi bị ảnh hưởng của bảo Cơn bảo số 5 đổ bộ vào Cà mau vào cuối năm 1997 là một hiện tượng đặc biệt sau gần 100 năm Cà mau cũng nằm ngoài vùng ảnh hưởng của lũ lụt hệ thống sông Cửu Long

Nhìn chung, khí hậu, bức xạ và lượng mưa nhiều của Cà Mau rất phù hợp cho các động, thực vật nhiệt đới phát triển

Về thủy văn, Cà mau là tỉnh duy nhất của cả nước chịu chi phối bởi hai chế độ thủy triều khác nhau: bán nhật triều không đều ở phía biển Đông và nhật triều không đều ở phía biển Tây Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch chế độ triều đó đã tạo thành những dòng chảy phức tạp trong nội địa, trên 92% diện tích tự nhiên và hình thành nên những vùng đất và môi sinh rất đặc trưng quyết định nhiều đến hệ thống canh tác nông nghiệp của Cà mau

- Hệ sinh thái :

Do hình thành từ quá trình bồi tụ của biển, trên 92% diện tích tự nhiên chịu tác động của triều và úng thủy vào mùa mưa nên các hệ sinh thái của Cà mau khá đặc sắc, chia ra hai hệ sinh thái tự nhiên gồm: Hệ sinh thái rừng ngập

Trang 28

mặn vùng ven biển, đầm lầy Hệ sinh thái rừng tràm trong các vùng trũng Giữa hai hệ sinh thái đó là vùng nước lợ, các loại cây con trong vùng như dừa nước, tôm càng xanh, tôm đất, cá nước lợ Môi trường sinh thái của Cà mau rất thích hợp cho phát triển các loại rừng ngập nước và nuôi trồng thủy sản Các hệ sinh thái ở đây rất nhạy cảm và không thể phục hồi nếu không quản lý đúng đắn và khoa học

- Tài nguyên khoáng sản:

Theo các tài liệu thăm dò địa chất, trên điạ phận Cà mau không có loại khoáng sản hoặc khoáng chất nào đáng kể, nhất là có ý nghĩa công nghiệp Tuy nhiên, dọc theo thềm lục địa và ngoài khơi biển Cà mau người ta đã xác định có mỏ khí đốt đáng kể, trữ lượng lên tới 160 tỷ m3 Riêng vùng chồng lấn của Việt nam và Malaysia có trữ lượng khoảng 45 tỷ m3

2.1.1.2./ Nguồn nhân lực:

Dân số tỉnh Cà mau khoảng 1.133.747 người, chiếm 1,4% dân số cả nước Lao động trong độ tuổi chiếm 44,6%, trong đó 81% làm trong các ngành thuộc khu vực nông, lâm, ngư, 7% trong các ngành công nghiệp, xây dựng, 12% trong các ngành dịch vụ Chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, tỷ lệ công nhân lành nghề , cán bộ kỷ thuật chưa tương xứng với yêu cầu phát triển Số lao động kỹ thuật qua đào tạo chính quy chỉ chiếm 5,8%

Mật độ dân số trong vùng năm 1999 là 218 người/km2 (ĐBSCL là 401người/km2, cả nước 219 người /km2) Tỷ lệ dân số thành thị 18,66%, dân số nông thôn 81,34%, dân số nông nghiệp 81,30%, dân số phi nông nghiệp 18,70%

2.1.2/ Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà mau :

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1991-1995 bình quân 7,2%, chỉ bẳng

75% cả nước(9,34%) Nhưng trong thời kỳ 1995 -1999 có mức tăng trưởng khá,

Trang 29

bình quân 7,85% năm, cao hơn mức tăng trung bình của cảnước (7,52% )

Biểu số 1: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH CÀø MAU

Ngành KT 1995 1996 1997 1998 1999 B/Q

- Nông,lâm, ngư nghiệp 107,48 103,39 100,74 107,47 107,92 5,40

- Công nghiệp, xây dựng 109,20 107,58 115,31 107,44 109,14 9,73

- Thương nghiệp, dịch vụ 120,35 116,41 113,74 111,98 110,54 14,60

Tổng số 109,79 106,40 106,00 108,35 108,72 7,85

Nguồn : Chi cục thống kê tỉnh Cà mau

Cà mau có GDP năm 1999 là 321USD/người thấp so cả nước (GDP là

374USD/người) Cà mau có tiềm năng rất lớn nhưng tốc độï tăng trưởng kinh tế

còn chậm do thiếu vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghiệp, dịch vụ chậm

chuyển dịch, nông nghiệp vẫn chiếm vị trí hàng đầu Nhìn chung, nền kinh tế Cà

mau mang tính sản xuất nhỏ, lạc hậu, Đơn vị sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ nông

nghiệp, xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp

không đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của toàn vùng

- Cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển biến tích cực:

Cơ cấu kinh tế thể hiện tỷ trọng nông nghiệp giảm dần và công nghiệp,

dịch vụ tăng dần trong thời kỳ 1995 – 1999, dù tốc độ tăng còn chậm

Biểu số 2: TỶ TRỌNG CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN

Đơn vị: %

1.Nông, lâm, ngư nghiệp 68,37 68,25 65,95 63,40 60,47 59,74

Tr.đó: - nông nghiệp 25,75 27,49 25,54 21,25 22,66 22,91

- Thuỷ sản 40,43 39,00 38,45 38,44 35,11 34,47 2.Công nghiệp, xây dựng 15,63 16,70 16,41 16,96 20,26 20,46

3.Dịch vụ 16,00 15,05 17,64 19,64 19,27 19,80

Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Cà mau

Trang 30

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn có hướng chuyển dịch rõ rệt theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, chế biến nông, thủy sản, áp dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới trong sản xuất - tiêu thụ (nhưng tốc độ còn chậm do thiếu vốn đầu tư ), cơ sở hạ tầng tỉnh Cà mau cũng được quan tâm và cải thiện đúng mức Mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư cũng được mở rộng, hệ thống khuyến nông, khuyến ngư các dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật cho sản xuất cũng phát triển, hệ thống tín dụng còn

ít chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu vốn sản xuất nhưng đã góp phần quan trọng trong việc phát triển sản xuất, tăng năng suất, chất lượng, mang lại hiệu quả cao

Đất sử dụng vào nông nghiệp là 209.305 ha chiếm khoảng 40,17% diện tích tự nhiên Trong quỹ đất nông nghiệp, đất cây hàng năm chiếm 54%80 trong đó đất trồng lúa chiếm 96%, điều này chứng tỏ thế mạnh của loại đất này là cây lúa Đất nuôi thủy sản là 141.461 ha chiếm 27,15 % diện tích đất tự nhiên

Mặc dù vậy, kinh tế Cà mau phát triển còn chậm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, cần phải có hướng đầu tư hổ trợ cho ngành này phát triển hơn Bình quân tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp Cà mau đạt 5,40%/ năm trong thời kỳ 1995-1999 GDP đạt 3.051 tỷ (1999) chiếm 3% GDP nông nghiệp cả nước

+ Lĩnh vực nông nghiệp:

* Ngành trồng trọt: Cà mau đóng góp một phần sản lượng lương thực cho cả nước, hàng năm khoản 1 triệu tấn Trong thời gian qua nông nghiệp phát triển không ngừng, đã tác động rất lớn đến hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh mà đặc biệt là trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn Khối lượng nông sản, tăng lên kéo theo các ngành khác phát triển: chế biến, giao thông vận tải và dịch vụ Sự phát triển này đã góp phần quan trọng trong chiến lược ổn định nền

Trang 31

kinh tế nước ta, giử vững tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8% năm

@ Cây lúa: Sản lượng lúa năm 1999 tăng so năm 1998 là 127.408 tấn do năng suất tăng 2,79tạ/ha bảng số liệu cho thấy:

Biểu số 3: SẢN XUẤT LÚA CÁC NĂM 1995 – 1999

Diện tích (ha) 186880 206107 220844 223078 243812

Sản lượng(tấn) 529827 590400 549402 730028 857436

Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Cà mau

Sản lượng trên do tác động tổng hợp của nhiều yếu tố mà đặc biệt là hệ thống thủy lợi, mở rộng diện tích đất canh tác, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng Sản lượng lúa tăng, ổn định qua các năm là nhân tố quyết định tới sự tăng trưởng nông nghiệp và đảm bảo an toàn lương thực quốc gia và có xuất khẩu

*Ngành chăn nuôi: Ngành này phát triển còn chậm, không ổn định thường chiếm tỷ trọng 11% giá trị sản lượng ngành nông nghiệp Đàn heo: Năm

1995 đạt 222.740 con, năm 1999 có 240.697 con Đàn trâu bò có xu hướng giảm dần do có máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, Đàn trâu năm 1995 từ 4.929 con xuống còn 2.197 con năm 1999

* Riêng nuôi trồng thủy sản, Cà mau có ưu thế về điều kiện tự nhiên, là vùng sinh sôi nảy nở và phát triển của con tôm

Trang 32

Biểu số 4: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁC NĂM 1995 – 1999

1.Diện tích (ha) 160058 115062 154036 161598 141461Tr.đó: nuôi tôm 104834 104431 104371 106102 905112.Năng suất (tấn/ha) 0.292 0.376 0.298 0.262 0.330

Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Cà mau + Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: Tốc độ tăng trưởng bình quân

thời kỳ 1995 - 1999 đạt 9,73% bằng 1.044 tỷ đồng chiếm 7,57% GDP cả nước, công nghiệp chiếm 85%, xây dựng 15% Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường đáng kể, nhưng nhìn chung còn ít và chậm Ngành này đã thu hút lượng lao động đáng kể, khoảng 17.276 người

Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm 81%, chế biến lương thực 0,9%, vật liệu xây dựng 2,8 %, công nghiệp may& thuộc da 4,26% tổng giá trị sản lượng công nghiệp tỉnh Cà mau

+ Lĩnh vực dịch vụ, thương nghiệp: Ngành này phát triển nhanh chóng,

tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1995-1999 bình quân đạt 14,60 % năm Năm 1999, GDP đạt 1.011 tỷ đồng, về cơ cấu 19,80% thấp hơn so cả nước 21,85%

Thành phần quốc doanh đang sắp xếp lại trong các lĩnh vực quan trọng, đóng vai trò chủ đạo Tư nhân ngày càng tham gia tích cực vào khu vực dịch vụ: thương mại, giao thông, y tế, giáo dục

Về vận tải, du lịch : Giao thông đường thủy chiếm vị trí quan trọng trong

Trang 33

vận chuyển hàng hóa và giao thông bộ phục vụ cho vận chuyển hành khách Giao thông nông thôn quá ít ỏi, lượng cầu khỉ còn nhiều, nhiều xã chưa có đường ô tô Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch tỉnh Cà mau rất nghèo nàn, qui mô nhỏ, trang thiết bị thô sơ, khách sạn đạt tiêu chuẩn 1-2 sao còn quá ít so với nhu cầu

+Lĩnh vực xuất, nhập khẩu : Cà mau có xuất khẩu cao hơn nhập khẩu

liên tục, xuất siêu hàng năm tăng+30%, trong đó mặt hàng chủ lực là tôm đông lạnh và gạo

Biểu số 5: TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CÁC NĂM 1995-1999

Đơn vị :1.000 USD

1995 1996 1997 1998 1999 Xuất khẩu 95.075 90.272 136.658 132.032 150.178

Nhập khẩu 34.978 9.590 6.884 17.023 6.083

Xuất siêu 60.097 80.682 129.774 115.009 144.095

Nguồn : Chi cục thống kê tỉnh Cà mau

Từ thực tế trên, có thể rút ra một số nhận xét:

- Cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà mau theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp thuần túy, tăng tỷ trọng thủy sản và tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ

- Còn mất cân đối trong nội bộ cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu sản xuất nông nghiệp (giữa trồng trọt 79,75% và chăn nuôi11,10 %, cây lúa vẫn chiếm vị trí độc tôn), quá trình đa dạng hóa trong nông nghiệp thấp

2.1.3./ Những thuận lợi, khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở tỉnh Cà mau:

- Những thuận lợi:

+ Tỉnh Cà mau, một trong những tỉnh thuộc Châu thổ ĐBSCL là vùng

Trang 34

thủy sản lớn nhất của cả nước, và cũng là đối tác đầu tư quan trọng trong hợp tác kinh tế khu vực, rất thuận lợi cho việc giao lưu và hợp tác kinh tế với các vùng khác và hợp tác quốc tế

+ Hệ thống sông ngòi rộng khắp, thuận lợi cho giao thông thủy, ra biển dễ dàng, giao lưu với càc vùng trong nước và quốc tế, có vùng biển giàu nguồn lợi hải sản có thể phát triển với qui mô lớn

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Cà mau trong thời kỳ 1995-1999 là7,85% vượt cao hơn cả nước, đạt được kim ngạch xuất khẩu cao trên 100 triệu USD hàng năm, 11 tháng đầu năm 2000 đạt 225 triệu USD, đóng góp đáng kể nguồn ngoại tệ cho đất nước

+ Công tác thủy lợi căn bản đã định hình được kênh trục tạo nguồn, tiêu chua sổ phèn, bờ bao ngăn mặn đưa diện tích 2 vụ lên 50.000 ha Hệ thống thủy lợi đã tạo điều kiện để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống mới, thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng năng suất, thâm canh tăng vụ, góp phần không nhỏ vào việc bố trí lại dân cư, giao thông

+ Mạng lưới khuyến nông khuyến ngư đã phát triển, các mô hình canh tác mang lại hiệu qủa cao: Chuyên tôm, lúa - tôm, lúa - cá, VAC

+ Hộ gia đình đã trở thành đơn vị tự chủ sản xuất, phát huy được tính sáng tạo, yên tâm sản xuất, tận dụng tiềm năng sẳn có tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa và cho xuất khẩu Tỷ lệ hộ khá giàu có nâng lên Nhân dân trong vùng giàu truyền thống cách mạng, sáng tạo có kinh nghiệm trong sản xuất hàng hóa có thể thích ứng nhanh với điều kiện và đòi hỏi của khoa học và công nghệ tiên tiến

- Những khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi đó, nông nghiệp - nông thôn tỉnh Cà mau còn không ít trở ngại thách thức là chưa thoát khỏi tình trạng độc canh, tự cung, tự

Trang 35

cấp, sản xuất hàng hóa còn thấp, hiệu qủa chưa cao Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chưa cân đối, chưa tương xứng với tiềm năng sẳn có thể hiện như sau:

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa đạt yêu cầu Phát triển nông nghiệp chưa gắn bó với phát triển nông lâm ngư nghiệp, tỷ trọng ngành trồng trọt cao hơn chăn nuôi Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa gắn với cơ cấu kinh tế nông thôn Công nghiệp nông thôn kém phát triển nên giải quyết việc làm cho lao động thừa còn khó khăn

+ Điều kiện kết cấu hạ tầng nhất là giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc còn yếu kém, Cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp còn

ở trình độ thấp, cơ khí hóa, hóa học hóa chưa được quan tâm đúng mức, cần phải có vốn đầu tư cao Cơ chế đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, vốn đầu tư nhiều nhưng hiệu quả kinh tế mang lại chưa thiết thực lắm, do vốn trong dân còn quá ít so với nhu cầu

+ Hệ thống bảo vệ môi trường sinh thái chưa hiệu quả, thiếu vốn đầu tư, các dự án chương trình phát triển chưa thu hút thuyết phục được các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật còn ít và thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các ngành; việc tổ chức cung ứng vật tư nông nghiệp, con giống còn yếu kém, dịch vụ khuyến nông, ngư chưa quan tâm tới hộ nông dân

+ Cùng với việcï chuyển sang cơ chế thị trường, sự khác biệt và phân hóa xã hội giữa giàu - nghèo đã xuất hiện và có nguy cơ ngày càng trở nên trầm trọng Hộ nghèo đói ở tỉnh Cà mau là 35.146 hộ(31.10.2000)ä chiếm 16% tổng số hộ trong vùng Đây là vấn đề hết sức phức tạp, mặc dù chính phủ có chính sách rất thiết thực và có Ngân hàng phục vụ ngưới nghèo, nhưng cần thiết phải có mở rộng ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 36

tế nông thôn một cách hợp lý, thực hiện chính sách dạy nghề, khuyến nghề cho thanh niên nông thôn chuyển nghề

+ Giá nông sản thời gian qua biến động mạnh, không ổn định không có

lợi cho trồng trọt, chăn nuôi, không khuyến khích sản xuất và đa dạng hóa cơ cấu nông nghiệp Nhà nước chưa có chính sách trợ giá các nông sản chủ yếu Năm

1999 và 10 tháng đầu năm 2000 giá lúa giảm thấp khoảng 1.000- 1.200 đồng/kg (giá sàn nhà nước qui định là 1.500 đồng/kg) đã làm thất thu khỏang 500 tỷ đồng Giá cả nông sản ảnh hưởng lớn đến tính thời vụ và vòng quay vốn của ngân hàng

vì nông dân trả nợ chậm Do vậy, nhà nước cần thực hiện chính sách bảo hộ giá nông sản, bảo hiểm muà màng đảm bảo cho người nông dân an tâm sản xuất và sản xuất kinh doanh có hiệu quả

+ Tài sản thế chấp của hộ nông dân chủ yếu là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng hiện nay nhà nước chỉ mới cấp được khoảng 70%, cho nên việc vay vốn còn gặp nhiều khó khăn Nhà nước cần đảm bảo cho người nông dân có đủ điều kiện vay vốn và đảm bảo đầy đủ tính chất pháp lý cho ngân hàng thực thi nhiệm vụ của mình

+ Quy định mức hạn điền 3 ha là thấp cho việc áp dụng cơ giới hóa, hóa học hoá trong nông nghiệp, không thể nào đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn được, Mặt khác việc cho vay theo dự án của ngân hàng không thể thực hiện với qui mô sản xuất nhỏ trên diện tích canh tác đó

+ Các thành phần kinh tế chưa thực sự bình đẳng, chưa khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tích cực tham gia đầu tư vào nông thôn nhằm đưa nông nghiệp - nông thôn phát triển theo hướng Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

Những trở ngại thách thức to lớn đó đã làm ảnh hưởng rất lớn hoạt động của hệ thống tài chính tín dụng mà đặc biệt là NHNo & PTNT, một ngân hàng

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w