1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính hiện nay ở việt nam

106 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, ở Việt nam, khi nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước thì hệ thống kế toán DN nói chung và hệ thống thông tin trên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

BÙI XUÂN TRÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

*******

BÙI XUÂN TRÀNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH

HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH : KẾ TOÁN TÀI VỤ & PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

MÃ SỐ : 5.02.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS VÕ VĂN NHỊ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2000

Trang 3

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT CHỮ TẮT

• AICPA : American Institute of Certified Public Accountants – Học viện Kế toán viên Công có bằng cấp của Mỹ

• FASB : Financial Accounting Standards board – Ban Chuẩn mực Kế toán – Tài chính

• GAAP : Genrally Accepted Accounting Principles – Nguyên tắc Kế toán Quốc tế

• IASC : International Accounting Standards Committee – Uûy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế

• IFA : International Federation of Accountants – Liên đoàm Kế toán viên Quốc tế

• FIFO : First In, First Out – Nhập trước, xuất trước

• LIFO : Last In, First Out – Nhập sau, xuất trước

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU Trang 1

I Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Trang 1

II Mục đích nghiên cứu của đề tài Trang 2 III Đối tượng nghiên cứu Trang 2

IV Phương pháp nghiên cứu Trang 2

V Bố cục Trang 2

1.2.1- Môi trường kế toán .Trang 6

1.2.2- Mục đích của Báo cáo tài chính .Trang 7 1.3- Tiêu chuẩn của thông tin kế toán hữu ích trên Báo cáo tài chính Trang 8

1.3.1- Sự cần thiết Trang 8 1.3.2- Các tiêu chuẩn Trang 9 1.3.2.1- Tính dễ hiểu Trang 9 1.3.2.2- Tính thích hợp Trang 9 1.3.3.3- Tính đáng tin cậy .Trang 10 1.3.3.4- Tính so sánh được Trang 11 1.4- Thông tin trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính Trang 12

1.4.1- Aûnh hưởng của cơ chế quản lý kinh tế đối với những

thông tin trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính Trang 12

1.4.2- Chuẩn mực kế toán quốc tế, cơ sở quan trọng để hình

thành các thông tin trình bày trên hệ thống BC tài chính Trang 12

1.4.2.1- Uûy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) Trang 12

1.4.2.2- Mục đích của các chuẩn mực kế toán quốc tế Trang 13

1.4.3- Thông tin trình bày trên hệ thống báo cáo tài chính Trang 13

Trang 5

1.4.3.1- Bảng Cân đối kế toán Trang 13

1.4.3.2- Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh Trang 14 1.4.3.3- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Trang 14 1.4.3.4- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Trang 15

* Kết luận Chương I Trang 16

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

ÁP DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.1- Giới thiệu tổng quát về hệ thống BC tài chính Việt Nam Trang 18

2.2- Nguyên tắc lập các báo cáo tài chính và một số nội dung

cần hoàn thiện Trang 22

2.2.1- Những quy định chung. .Trang 22 2.2.2.1- Mục đích Trang 22 2.2.2.2- Nội dung Trang 22 2.2.2.3- Trách nhiệm, thời hạn lập và gởi Trang 23 2.2.2- Những quy định cụ thể .Trang 23 2.2.2.1- Bảng Cân đối kế toán Trang 23

1- Tổng quát 2- Nội dung và kết cấu 3- Cơ sở số liệu

4- Một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện

2.2.2.2- Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh Trang 24

1- Tổng quát 2- Nội dung và kết cấu 3- Cơ sở số liệu

4- Một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện

2.2.2.3- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Trang 25

1- Tổng quát 2- Nội dung và kết cấu 3- Nguyên tắc lập và cơ sở số liệu 4- Một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện

2.2.2.4- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Trang 29

1- Tổng quát 2- Nội dung và kết cấu 3-Cơ sở số liệu

4- Nguyên tắc lập 5- Một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện

* Kết luận Chương II Trang 30

Trang 6

CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÍNH HỮU

ÍCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC DOANH NGHIỆP

3.1- Phương hướng và nội dung hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính

đang áp dụng ở các doanh nghiệp Việt nam hiện nay Trang 31 3.1.1- Các quan điểm về soạn thảo và trình bày BC tài chính Trang31

- Trên thế giới

- Ở Việt nam

3.1.2- Phương hướng, mục tiêu hoàn thiện hệ thống Báo cáo

tài chính ở Việt nam hiện nay Trang36 3.1.3- Các điều kiện cần thiết để hoàn thiện hệ thống BCTC Trang36

3.3.1.1- Khuôn khổ pháp lý về kế toán

3.3.1.2- Xây dựng và ban hành chuẩn mực kế toán Việt nam

3.3.1.3- Công tác kiểm toán Báo cáo tài chính

3.1.4- Nội dung hoàn thiện Trang38

3.1.4.1- Bảng Cân đối kế toán Trang39 3.1.4.2- Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh Trang40 3.1.4.3- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Trang42 3.1.4.4- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Trang44 3.2- Hiệu chỉnh mức giá báo cáo tài chính Trang46

3.2.1- Hạn chế của số liệu trên Báo cáo tài chính do tác động của

biến đổi mức giá Trang46

3.2.2- Nội dung và phương pháp điều chỉnh mức giá

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

I Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu :

Báo cáo kế toán là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định một cách có hệ thống nhằm cung cấp thông tin cần thiết, quan trọng về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin có liên quan khác nhau Trong nền kinh tế thị trường , đối tượng sử dụng thông tin kế toán không chỉ giới hạn là những người quản lý

ở bên trong doanh nghiệp hay những nhà quản lý Nhà nước với mục đích kiểm tra, kiểm soát các doanh nghiệp mà đối tượng sử dụng thông tin kế toán còn bao gồm cả các đối tượng, các thể nhân, pháp nhân bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các đối tác kinh doanh và mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán với mục đích cũng rất khác nhau Do vậy, việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán cho từng đối tượng cũng rất khác nhau Bộ phận kế toán trong doanh nghiệp phải phân tích, phán đoán để nắm chính xác nhu cầu về thông tin của từng đối tượng sử dụng khác nhau đó để tổ chức hệ thống báo cáo kế toán một cách khoa học đảm bảo đầy đủ yêu cầu của một báo cáo kế toán cũng như đáp ứng tốt nhất việc cung cấp thông tin kinh tế kịp thời cả về số lượng và chất lượng

Nghiên cứu về vấn đề này, trên thế giới, các hiệp hội kế toán và các tổ chức kế toán quốc gia, quốc tế đã đề ra những định hướng, những thủ tục và nguyên tắc có căn cứ khoa học và thực tiễn, trong đó đặc biệt là UB chuẩn mực kế toán quốc tế đã xác lập những tiêu chuẩn định tính và những nội dung cơ bản cấu thành hệ thống thông tin trên báo cáo tài chính, đồng thời xây dựng hệ thống

Trang 8

các chuẩn mực kế toán cụ thể để hạch toán các khoản mục trên báo cáo tài chính

Trong khi đó, ở Việt nam, khi nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước thì hệ thống kế toán

DN nói chung và hệ thống thông tin trên các báo cáo tài chính nói riêng đã có một sự thay đổi sâu sắc nhằm đáp ứng kịp thời với tinh hình thực tế về yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp, đa dạng và tạo điều kiện hội nhập với hệ thống thông tin trong khu vực, trên thế giới cũng như theo thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế

Tuy nhiên, qua nghiên cứu về lý luận cũng như thực tế về hệ thống báo cáo kế toán nói chung cũng như hệ thống báo cáo tài chính nói riêng, chúng tôi cũng xin mạn phép được tham gia một số ý kiến nhỏ bé với mong muốn được có điều kiện cùng trao đổi thêm với các bậc thầy cũng như các đồng nghiệp trong vấn đề này, với giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ riêng về hệ thống báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp

II Mục đích nghiên cứu của đề tài :

Trên cơ sở khái quát lý luận về hệ thống báo cáo kế toán, báo cáo tài chính trên thế giới và ở Việt nam, tìm hiểu thực trạng hệ thống báo cáo tài chính áp dụng tại các doanh nghiệp Việt nam hiện nay nhằm đề ra một số ý kiến về phương hướng và nội dung hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính

III Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài, một mặt là lý luận và thực tiễn về hệ thống báo cáo tài chính đã và đang áp dụng trên thế giới; mặt khác, đó là hệ thống báo cáo tài chính đang được sử dụng ở các doanh nghiệp Việt nam hiện

Trang 9

nay Qua nghiên cứu, đề xuất một số ý kiến để góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính cả về mặt lý luận và thực tiễn kế toán Việt nam

IV Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu các vấn đề trong mối quan hệ phổ biến và trong sự vận động, phát triển; kết hợp sử dụng đồng bộ phương pháp phân tích, phương pháp đối chiếu, so sánh và quá trình nghiên cứu được chia thành 3 buớc cơ bản :

Bước 1 : Nêu lên một cái nhìn chung về mặt lý luận về hệ thống báo cáo

tài chính : từ mục đích đến tiêu chuẩn của thông tin trên báo cáo tài chính cũng như các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan và các thủ tục, nguyên tắc lập báo cáo tài chính

Bước 2 : Nêu lên thực trạng về hệ thống báo cáo tài chính đang áp dụng

tại các doanh nghiệp Việt nam hiện nay về nội dung, phương pháp lập và những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc hoàn thiện

Bước 3 : Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích trên, đề xuất một số giải

pháp nhằm nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính trong công tác quản lý ở các doanh nghiệp hiện nay

V Bố cục : Ngoài phần mở đầu và kết luận (3 trang) , đề tài gồm 3

chương:

Chương I : TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH (15 trang) Chương II : THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM.(13 trang)

Chương III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÍNH HỮU ÍCH CỦA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC DOANH NGHIỆP (26 trang)

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1- Vị trí của thông tin kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.1- Mục đích và ý nghĩa của thông tin kế toán

Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, thông tin là một yếu tố cực kỳ quan trọng nếu không muốn nói là không thể thiếu được và kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến, trình độ phát triển kinh tế ngày càng cao, mức độ cạnh tranh để tồn tại, để phát triển trên thị trường càng trở nên gay gắt thì yếu tố này cũng ngày càng bức thiết

Tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh đều phải nhận thông tin như một yếu tố sản xuất trực tiếp để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiến hành các hoạt động đầu tư, liên doanh, đối tác Trong đó, có thể nói, kế toán ra đời tồn tại và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại và có lẽ cũng là một trong những phát minh to lớn nhất của loài người và hệ thống thông tin kế toán là hệ thống thông tin kinh doanh được sử dụng rộng rãi và lâu đời nhất, nó theo dõi, phản ảnh và báo cáo hoạt động kinh doanh và các sự kiện kinh tế khác Hệ thống thông tin này dựa vào việc lưu giữ thông tin trên các loại sổ sách kế toán thông qua khái niệm ghi sổ kép đã có từ rất lâu cũng như các khái niệm kế toán khác hiện đại hơn như khái niệm trách nhiệm, khái niệm lợi tức Hệ thống này còn ghi chép và báo cáo các dòng vốn lưu chuyển qua doanh nghiệp dựa trên các số liệu phát sinh và đưa ra các bản BC tài chính như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết qủa kinh doanh Ngoài ra hệ thống này còn lập nên các dự đoán về tình hình tương

Trang 11

lai như các BC tài chính dự tính và dự toán ngân sách tài chính; sau đó, tình hình thực hiện tài chính thực tế được đem đối chiếu với các dự tính trên cơ sở các BC kế toán phân tích khác nhau

1.1.2- Các loại thông tin kế toán

Để tổ chức hệ thống thông tin một cách khoa học, có thể có nhiều cách phân loại hệ thống thông tin khác nhau Cách phân loại tương đối phổ biến hiện nay dựa theo đối tượng nhận thông tin với mục đích sử dụng thông tin khác nhau Theo cách phân loại này, kế toán được chia ra : Kế toán tài chính và kế toán

quản trị với các đặc điểm cung cấp thông tin khác nhau :

1.1.2.1- Kế toán tài chính :

- Chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế cho đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế (Cơ quan chủ quản, tài chính, thanh tra, ), các cơ quan nghiên cứu, thông tấn báo chí, các chủ sở hữu, các chủ nợ, công nhân viên chức doanh nghiệp nhằm mục đích kiểm tra, kiểm soát và đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Thông tin kinh tế phải đảm bảo tính thống nhất chung, bắt buộc chung, hình thành nguyên tắc thống nhất

- Thông tin của báo cáo tài chính sử dụng đơn vị đo lường tiền tệ, gắn liền với nguyên tắc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp trên phương diện giá trị

- Nhằm cung cấp thông tin để kiểm tra, kiểm soát, thông tin của báo cáo tài chính chỉ cần được cung cấp theo định kỳ

- Thông tin của BC tài chính phản ảnh những cái đã thực hiện trong quá khứ

1.1.2.2- Kế toán quản trị :

Trang 12

- Chỉ cung cấp thông tin kinh tế bên trong cho các đối tượng bên trong doanh nghiệp nhằm mục đích ra các quyết định quản trị và đồng thời cũng nhằm đảm bảo được nguyên tắc bí mật về thông tin kinh tế

- Thông tin kinh tế phải đảm bảo nguyên tắc tự chủ của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin sát thực tế kinh doanh cho bộ máy quản trị doanh nghiệp : Mọi số liệu được tính toán trên cơ sở thực tế kinh doanh của doanh nghiệp

- Thông tin của báo cáo quản trị sử dụng các loại đơn vị đo lường, trong đó chủ yếu là đơn vị đo lường hiện vật, gắn liền với nguyên tắc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp trên phương diện hiện vật

- Nhằm cung cấp thông tin để ra các quyết định sản xuất kinh doanh, thông tin của báo cáo quản trị phải được cung cấp thường xuyên, liên tục

- Cũng nhằm cung cấp thông tin để ra các quyết định sản xuất kinh doanh, thông tin của báo cáo quản trị không chỉ đề cập đến cái đã xảy ra trong thực tế kinh doanh mà còn phải đề cập đến cái sẽ xảy ra trong tương lai Nói cách khác, chỉ có kế toán quản trị mới có số liệu kế hoạch

Trên đây là một số khác biệt mang tính nguyên tắc, nó chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của kế toán ở hai bộ phận vừa mang tính độc lập tương đối vừa có quan hệ gắn bó với nhau là kế toán tài chính và kế toán quản trị Có phân biệt như vậy, ta mới vận dụng đúng đắn các thông tin kinh tế để phục vụ cho yêu cầu quản lý kinh doanh đạt hiệu qủa cao nhất

1.1.3- Bản chất và vai trò của Báo cáo tài chính

1.1.3.1 Mục đích : Qua nghiên cứu về thông tin của báo cáo kế toán ở trên, ta biết ràng báo cáo tài chính là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính

Trang 13

Theo Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA) thì : “Hệ thống báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết qủa đạt được trong thời kỳ báo cáo Hệ thống báo cáo tài chính phản ảnh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện Những đánh giá đúng đắn tùy thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán đã được chấp nhân rộng rãi”

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) : Báo cáo tài chính được lập nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng bao gồm : Các nhà đầu tư, nhà quản lý và nhân viên, những người cho thuê, các nhà cung cấp, các khách hàng, chính phủ, công chúng

Còn theo hai tác giả Bryan Carsberg và Susan Dev thì hệ thống báo cáo tài chính được thiết kế để trình bày những kết qủa của những nghiệp vụ và những sự kiện xảy ra trong quá khứ và là kênh truyền đạt thông tin chính của những hoạt động quản lý với thế giới bên ngoài Báo cáo tài chính được yêu cầu phải tuân thủ luật công ty, quy chế của thị trường chứng khoán nếu chứng khoán của công ty được niêm yết Vì thế việc kiểm toán báo cáo tài chính nên được yêu cầu bởi luật pháp, bởi vì nhà quản lý có thể là một nhóm khác biệt với những cổ đông, những người đã giao phó tài sản của họ cho nhà quản lý Báo cáo tài chính được yêu cầu phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán bên ngoài, nên khả năng có thể thẩm tra là một thuộc tính chủ yếu của những con số xuất hiện trên báo cáo tài chính

Trang 14

Như vậy, có thể nói bản chất của báo cáo tài chính là thể hiện sự kết hợp của những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá của cá nhân nhằm chủ yếu là cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng ở bên ngoài doanh nghiệp Đồng thời báo cáo tài chính yêu cầu phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập vì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính chủ yếu chịu sự chi phối bởi những đánh giá của người lập báo cáo tài chính cũng như có sự tách biệt giữa sự sở hữu và khả năng kiểm soát của những người cung cấp vốn cho hoạt động của doanh nghiệp

1.3.2 Vai trò : Vai trò của báo cáo tài chính được xem xét thông qua một số đối tượng liên quan chủ yếu như sau :

- Đối với Nhà nước : Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp

cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế; giúp cho việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan tài chính Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất KD của doanh nghiệp cũng như làm cơ sở cho việc tính thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước

- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp : Các nhà quản lý cần công bố

công khai các thông tin trên báo cáo tài chính định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thuyết phục các nhà đầu tư cũng như các chủ nợ rằng doanh nghiệp đang có mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất Hơn nữa, thông tin trên báo cáo tài chính cũng phục vụ cho công tác điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà quản lý

Trang 15

- Đối với các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ, người cho vay,

cho thuê : Nói chung, các đối tượng này cần thông tin trên báo cáo tài chính để

giám sát và bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết và để thực hiện các quyết định đầu tư hoặc cho vay, cho thuê, cho nợ của họ

- Đối với các kiểm toán viên độc lập : Báo cáo tài chính là đối tượng của

kiểm toán độc lập vì các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng yêu cầu tính chính xác, trung thực của các thông tin trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán, để họ có thể có những quyết định đúng đắn nhất

1.2- Môi trường kế toán và mục đích của Báo cáo tài chính

1.2.1- Môi trường kế toán

Kế toán phát triển và được nuôi dưỡng trong môi trường kế toán nhiều tác giả đã khẳng định và trình bày cũng như phân tích rõ về vấn đề này như Radebaugh (1975), Seidler (1976), Nobes (1988) Trong đó, tiên phong là Mueller (1968) đã phân tích môi trường kinh doanh trong nước có thể bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố : Tình trạng của sự phát triển kinh tế, các giai đoạn phát triển trong kinh doanh, tác động của những phe nhóm chính trị; sự tín nhiệm với một hệ thống luật pháp cụ thể Theo đó, mỗi môi trường kinh doanh sẽ tương ứng với

một mô hình phát triển của kế toán

1.2.1.1 Hệ thống luật pháp : Hệ thống kế toán thế giới được phân thành 2 loại : Theo quan điểm hướng luật hay quan điểm thương mại hợp lý :

- Ở những quốc gia theo quan điểm hướng luật (Quan điểm điển chế luật) : Sự tuân thủ theo luật kế toán trong hệ thống luật quốc gia là mang tính pháp lệnh

Trang 16

- Ở những quốc gia theo quan điểm thương mại hợp lý (Quan điểm thông luật) : Luật chỉ giới hạn về sự bất hợp pháp, trong vòng giới hạn này là phạm vi hoạt động tự do

1.2.1.2 Bản chất mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các nhà cung ứng vốn : Mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính có khuynh hướng nhiều hơn khi có một số lượng lớn các nhà cung cấp vốn với nhu cầu thông tin rất đa dạng Ngược lại, mức độ cung cấp thông tin sẽ ít hơn khi doanh nghiệp chỉ dựa với một số ít nguồn tài chính với nhu cầu thông tin giống nhau

1.2.1.3 Luật thuế : Tuỳ theo sự ấn định của luật thuế đến luật kế toán trong từng quốc gia : Nếu kế toán tài chính và kế toán thuế tách biệt nhau thì lợi tức chịu thuế sẽ là lợi tức kế toán với những điều chỉnh nhất định Ngược lại, thì các doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu và chi phí trong báo cáo theo yêu cầu của luật thuế để phục vụ cho việc tính thuế

1.2.1.4 Mức độ lạm phát :

- Ở những quốc gia có mức độ lạm phát cao thì thông tin trên báo cáo tài chính áp dụng phương pháp tính toán theo sự biến động của giá cả

- Ở những quốc gia ít lạm phát : Thông tin trên báo cáo tài chính cũng ít được quan tâm hạch toán theo sự thay đổi của giá cả

1.2.1.5 Sự ràng buộc về kinh tế và chính trị :

Yếu tố này đã ảnh hưởng đến sự phát triển kế toán của mỗi quốc gia thông qua việc chi phối đến vấn đề xác lập các kiểu mẫu kế toán giữa các nước

ở những mức độ nhất định Đặc biệt là ảnh hưởng về mặt tổ chức, phương pháp và kỹ thuật kế toán của các quốc gia với các thuộc địa hoặc các nước được bảo hộ

Trang 17

1.2.1.6 Yếu tố văn hóa xã hội : Ngoài những ảnh hưởng về thực hành kế toán, môi trường văn hoá xã hội còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, do đó nó cũng tác động lên những thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp : Trong xã hội nhấn mạnh với sự độc lập và những mối quan hệ khách quan, trung thực đối với doanh nghiệp và xã hội thì có khuynh hướng phản ảnh theo định hướng chung Ngược lại, trong xã hội chỉ nhấn mạnh vào những quan hệ cá nhân, không chú ý những người bên ngoài thì lại có khuynh hướng phản ảnh theo định hướng riêng biệt

Nói tóm lại, nghiên cứu những yếu tố của môi trường tác động đến sự phát triển của kế toán rất cần thiết, đặc biệt đối với các quốc gia đang muốn nỗ lực để hòa nhập với kế toán của các quốc gia trên thế giới như nước ta

1.2.2- Mục đích của Báo cáo tài chính

Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và những biến động về tình hình tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này rất hữu ích, giúp cho người sử dụng ra các quyết định kinh tế một cách kịp thời

Như vậy, thông tin của báo cáo tài chính đáp ứng những yêu cầu chung của hầu hết những người sử dụng Nhưng chúng không cung cấp toàn bộ các thông tin mà người sử dụng yêu cầu để ra các quyết định về quản lý kinh tế vì chúng chỉ đưa ra các ảnh hưởng tài chính quá khứ, và cũng không bắt buộc cung cấp các thông tin phi tài chính

Báo cáo tài chính cũng trình bày kết qủa về khả năng và trách nhiệm quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp đối với những nguồn lực mà họ được phép sử dụng Những người sử dụng muốn đánh giá về khả năng và trách nhiệm

Trang 18

quản lý của các nhà quản lý nhằm giúp họ có những quyết định quản lý kịp thời

Ví dụ, họ quyết định giữ lại hay bán đi các khoản đầu tư, bổ nhiệm lại hay thay thế các nhà quản lý

Qua bảng cân đối kế toán, người sử dụng nắm được thông tin về tình hình tài chính Đó là các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính và khả năng thanh toán Cụ thể, giúp cho người sử dụng :

- Đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai

- Dự đoán nhu cầu phải đi vay vốn trong tương lai và phương thức phân phối lợi tức

- Dự đoán khả năng thành công của doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn tài chính

- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn

1.3- Tiêu chuẩn của thông tin kế toán hữu ích trên Báo cáo tài chính

1.3.1- Sự cần thiết

Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu được nhận các thông tin hữu ích cung cấp bởi hệ thống báo cáo tài chính là một đòi hỏi khách quan của các đối tượng có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp Nói cách khác chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính thể hiện ở tính trung thực, đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời nhằm phục vụ cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định đúng đắn về đầu tư, cho vay, kiểm tra, tính thuế hoặc quản trị doanh nghiệp Muốn vậy, báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập và phải được công bố công khai các thông tin trên báo cáo tài chính và báo cáo tài chính phải được soạn thảo và trình bày dựa trên

Trang 19

chuẩn mực kế toán quốc gia

Ở Việt nam, khi nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới thì việc xây dựng và phát triển chuẩn mực kế toán quốc gia là một việc làm thực

sự cấp thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng thông tin kế toán (Bộ Tài chính

đã có quyết định số 38/2000/QĐ/BTC về việc ban hành và công bố các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và các công ty kiểm toán hoạt động tại Việt nam) Chuẩn mực kế toán

đưa ra các khái niệm khuôn mẫu làm nền tảng cho việc lập báo cáo tài chính, trong xác định các tiêu chuẩn để đánh giá thế nào là thông tin kế toán hữu ích, đồng thời cũng qui định các chuẩn mực kế toán cụ thể cho việc lập báo cáo tài chính để vừa đảm bảo tuân thủ luật pháp lại vừa đảm bảo tính trung thực, hợp lý

1.3.2- Các tiêu chuẩn

Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) có đưa ra các tính chất định tính làm tiêu chuẩn cho việc thiết lập báo cáo tài chính nhằm đảm bảo tính hữu ích của chúng, đó là : Tính dễ hiểu, tính thích hợp, tính đáng tin cậy và tính so sánh được IASC còn đưa ra một số khái niệm nhằm làm cho các thông tin trên báo cáo tài chính đạt được các tính chất trên như : Khái niệm trọng yếu, trình bày trung thực, nội dung hơn hình thức, tính khách quan, thận trọng và đầy đủ

1.3.2.1- Tính dễ hiểu Chất lượng cơ bản của thông tin tài chính do các báo cáo tài chính cung cấp là những thông tin phải dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế, hiểu biết về kế toán ở mức vừa phải, sẵn lòng nghiên cứu các thông tin được cung cấp với mức độ tập trung suy nghĩ vừa phải Tuy nhiên, thông tin về những vấn đề phức tạp cần được kèm theo báo cáo tài chính vì nó phục vụ yêu cầu ra quyết định về

Trang 20

quản lý kinh tế của người sử dụng Những thông tin này không thể bị loại ra, vì lý do nó sẽ là rất khó hiểu đối với người sử dụng

1.3.2.2- Tính thích hợp Để hữu dụng, thông tin tài chính phải phù hợp để đáp ứng kịp thời các yêu cầu đưa ra các quyết định kinh tế của người sử dụng Những thông tin có chất lượng thích hợp là những thông tin có tác động đến quyết định kinh tế của người sử dụng bằng cách giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, hay để xác nhận, điều chỉnh việc đánh giá trong quá khứ của họ Tuy nhiên, tính thích hợp của thông tin còn chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của thông tin đó Các thông tin được coi là trọng yếu nếu không có hoặc xác định sai những thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin Mức độ trọng yếu lại tùy thuộc vào mức độ khoản mục hoặc mức độ của sai lầm mà trong hoàn cảnh cá biệt nào đó đã bị bỏ sót hoặc xác định sai; vì vậy khái niệm trọng yếu đưa ra một ngưỡng hơn là một định tính mà thông tin phải chứa đựng nếu nó là hữu ích Trong một số trường hợp, chỉ cần bản chất của thông tin cũng đủ để xác nhận tính phù hợp của những thông tin đó

Ví dụ, khi báo cáo về một bộ phận mới có thể sẽ ảnh hưởng đến sự đánh giá các rủi ro và các thuận lợi mà doanh nghiệp sẽ gặp trong tương lai bất kể tính trọng yếu của những kết qủa mà bộ phận mới đạt được trong kỳ báo cáo Trong những trường hợp khác, cả bản chất và tính trọng yếu đều quan trọng, ví dụ giá trị hàng tồn kho hiện có của đơn vị được phân theo các chủng loại chính phù hợp với hoạt động kinh doanh

3.3.3- Tính đáng tin cậy Để hữu ích, thông tin cũng phải đáng tin cậy Tức là khi chúng không mắc những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ảnh méo mó sự thực một cách cố ý và có

Trang 21

thể phụ thuộc vào người sử dụng khi sử dụng thông tin cho mục đích khách quan hợp lý Ngoài ra, các thông tin có thể thích hợp nhưng lại không đáng tin cậy về bản chất hay cách trình bày vì các thông tin này có thể có những sai lầm mà người ta chưa phát hiện ra Ví dụ trị giá của khoản tiền đòi bồi thường trong một vụ kiện tụng tranh chấp có thể sẽ không hợp lý khi ta công nhận số tiền này trong báo cáo tài chính nhưng sẽ hợp lý khi trình bày khoản tiền đó ở tài liệu bổ sung

Để đảm bảo tính đáng tin cậy của thông tin về bản chất hoặc cách trình bày, thông tin trong các báo cáo tài chính phải thoả mãn các tính chất sau :

ª Trình bày trung thực : Các thông tin phải được trình bày trung thực về những giao dịch và các sự kiện khác có liên quan nhằm trợ giúp cho việc trình bày hoặc có thể được dự kiến là hợp lý để trình bày Do vậy, bảng cân đối kế toán nên trình bày một cách trung thực các nghiệp vụ, sự kiện khác có liên quan đến đánh giá tài sản, công nợ và nguồn vốn của doanh nghiệp vào thời điểm lập báo cáo mà những chỉ tiêu đó đáp ứng được yêu cầu của các tiêu thức hạch toán

Hầu hết các thông tin tài chính đều phụ thuộc vào một số rủi ro do việc trình bày chưa xác thực với tình hình thực tế Điều này không phải do không khách quan, vô tư mà có thể do những khó khăn tiềm tàng trong việc xác định các nghiệp vụ được đánh giá, việc đặt ra và áp dụng các kỹ thuật đánh giá, việc trình bày làm sao để truyền đạt được những thông tin phù hợp với những nghiệp vụ đó Trong một số trường hợp việc đánh giá ảnh hưởng tài chính của các chỉ tiêu có thể không thật chắc chắn đến nỗi làm cho các doanh nghiệp không dám công nhận chúng trong báo cáo tài chính Ví dụ, mặc dù hầu hết các doanh nghiệp hoạt động lâu đời đều có lợi thế thương mại nhưng thật khó khi tính toán hoặc xác định chỉ tiêu này một cách đáng tin cậy Nhưng trong một số trường hợp

Trang 22

khác, có thể sẽ là thích hợp khi hạch toán các khoản mục và trình bày các rủi ro sai lầm xung quanh việc hạch toán và đánh giá chúng

ª Nội dung hơn hình thức : Điều cần thiết là những thông tin phải được tính tóan và trình bày phù hợp với nội dung và tính xác thực kinh tế của chúng chứ không chỉ đơn thuần là hình thức pháp lý của chúng; vì nội dung của những nghiệp vụ, sự kiện không phải lúc nào cũng phù hợp với hình thức bên ngoài hoặc hình thức pháp lý của chúng

ª Tính khách quan : Thông tin không được bị xuyên tạc, bóp méo một cách cố ý Các báo cáo tài chính sẽ không được coi là khách quan nếu như bằng việc lựa chọn hoặc trình bày thông tin của chúng có ảnh hưởng đến quyết định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó nhằm đạt được kết qủa mà người lập báo cáo đã biết trước

ª Tính thận trọng : Người lập báo cáo tài chính thưòng phải trình bày các nội dung về các sự kiện, tình thế không chắc chắn, chẳng hạn như khả năng thu hồi các khoản phải thu khó đòi, thời gian hữu dụng của máy móc thiết bị hoặc số lượng trái quyền có thể phát sinh Các yếu tố không chắc chắn như vậy được hạch toán bằng cách trình bày nội dung bản chất của nó và thực hiện nguyên tắc thận trọng trong việc lập báo cáo tài chính Thận trọng gồm cả mức độ lường trước các sự kiện cần xét đoán trong quá trình hạch toán trên cơ sở những dữ liệu không thật chắc chắn, ví dụ tài sản và thu nhập không được tính cao, ngược lại chi phí và công nợ không được tính thấp Tuy nhiên tính thận trọng cũng không cho phép che dấu nguồn dự trữ hoặc lập các qũy dự phòng lớn hơn yêu cầu thực tế

ª Tính đầy đủ : Các thông tin trong báo cáo tài chính phải được hoàn tất trong phạm vi những vấn đề trọng yếu và chi phí bỏ ra Sự bỏ sót có thể gây ra

Trang 23

những thông tin sai lệch dẫn đến những kết luận nhầm lẫn và như vậy các thông tin không được coi là thích hợp vì chúng không đầy đủ và không đáng tin cậy

1.3.3.4- Tính so sánh được Người sử dụng phải có khả năng so sánh các thông tin trong báo cáo tài chính kỳ này với kỳ trước để xác định xu hướng biến động về tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp Họ cũng phải so sánh các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá mối tương quan về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các thay đổi tình hình tài chính giữa các doanh nghiệp Muốn vậy, người sử dụng phải được thông báo về chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng để lập báo cáo tài chính cũng như mọi thay đổi về các chính sách này, ảnh hưởng của những thay đổi đó Tuy nhiên, sự cần thiết cho việc so sánh được không bị lẫn lộn với tính đồng nhất đơn thuần và không được phép trở thành trở ngại cho việc áp dụng và nâng cao chuẩn mực kế toán Nếu tiếp tục thực hiện các phương pháp kế toán như nhau cho các nghiệp vụ và sự kiện sẽ có thể không thích hợp khi chính sách kế toán được tuân theo không đảm bảo được tính chất về định tính, tính phù hợp và độ tin cậy

Mâu thuẫn về tính phù hợp và độ tin cậy của thông tin : Nếu có sự chậm

trễ trong việc báo cáo các thông tin, thì sự chậm trễ có thể làm mất đi tính phù hợp của thông tin Do đó, các nhà quản lý cần cân đối giữa việc cần báo cáo đúng kỳ hạn với việc cung cấp thông tin đáng tin cậy :

- Cân đối giữa lợi ích và chi phí : Lợi ích từ các thông tin phải cao hơn chi phí bỏ ra để có thông tin đó Tuy nhiên việc đánh giá lợi ích và chi phí là quá trình xét đoán

- Cân đối giữa các đặc điểm định tính : Việc cân đối nhằm để đáp ứng mục đích của báo cáo tài chính luôn luôn là mục tiêu của người lập và sử dụng

Trang 24

báo cáo tài chính Tầm quan trọng tương đối của các tính chất định tính này là vấn đề thuộc về xét đoán chuyên môn

1.4- Thông tin trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính

1.4.1- Aûnh hưởng của cơ chế quản lý kinh tế đối với những thông tin

trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính

Khác với trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhu cầu thông tin kế toán giữa Nhà nước và doanh nghiệp là thống nhất nên thông tin kế toán chỉ được trình bày trên một hệ thống báo cáo kế toán duy nhất do Nhà nước qui định Hơn nữa, do những kế hoạch được lập ra không mang tính thực tế, thậm chí thoát ly nhu cầu thực tế, nên nhiều khi thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán không phản ảnh trung thực tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp mà chỉ là những tài liệu để chứng minh và hợp pháp hóa việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch cũng như việc thực hiện những qui định của chế độ kế toán thống kê Trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất đầu tư theo nhu cầu thị trường và việc đánh giá kết qủa hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

Do vậy, báo cáo kế toán phải cung cấp những thông tin hữu ích nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin của bản thân doanh nghiệp cũng như của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, trong đó Nhà nước lúc này với vai trò là chủ sở hữu vốn của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn là đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính bao gồm cả thông tin tài chính, được trình bày dưới hình thái giá trị và thông tin sử dụng cho việc quản lý nội bộ doanh nghiệp, ngoài hình thái giá trị, thông tin còn được trình bày dưới hình thái khác và còn được mô tả

Trang 25

phân tích một cách chi tiết tỉ mỉ

1.4.2- Chuẩn mực kế toán quốc tế, cơ sở quan trọng để hình thành các thông tin trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính

1.4.2.1 Uûy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) :

Nội dung, hình thức cũng như nguyên tắc và thủ tục lập báo cáo tài chính

ở các quốc gia khác sẽ khác nhau, thậm chí rất khác nhau do nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, luật pháp, môi trường kinh doanh hoặc do yêu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính Từ sự khác nhau nói trên, dẫn đến việc sử dụng các khái niệm của các yếu tố trong báo cáo tài chính cũng có thể khác nhau và thường rất đa dạng, làm cho việc sử dụng chuẩn mực để ghi chép vào các khoản mục trong báo cáo tài chính sẽ khác nhau và cuối cùng là làm cho việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính ở mỗ quốc gia cũng trở thành khác nhau Do đó, ngày 29/6/2973 Uûy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ra đời, có nhiệm vụ thu hẹp những khác biệt nói trên bằng cách soạn thảo ra các qui định, các thủ tục với các chuẩn mực kế toán có liên quan để cho

ra đời chuẩn mực kế toán quốc tế

1.4.2.2 Mục đích của các chuẩn mực kế toán quốc tế :

- Hình thành và công bố những chuẩn mực kế toán làm cơ sở cho việc lập báo cáo tài chính, nhằm phục vụ cho quyền lợi của nhiều đối tượng sử dụng khác nhau và để nâng cao sự chấp nhận và tôn trọng trên phạm vi toàn thế giới

- Tiến tới việc cải tiến và tạo nên sự hoà hợp các qui định, chuẩn mực và thủ tục kế toán liên quan đến việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính

IASC tin rằng, nhờ vậy chất lượng của các báo cáo tài chính sẽ được cải tiến và sẽ gia tăng khả năng so sánh của hệ thống báo cáo tài chính giữa các quốc gia với nhau, và như vậy cũng làm gia tăng độ tin cậy và tính hữu dụng của

Trang 26

báo cáo tài chính trên toàn thế giới, từ đó tạo ra tiếng nói chung của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính

1.4.3- Thông tin trình bày trên hệ thống Báo cáo tài chính

Các bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính được trình bày bao gồm :

+ Bảng Cân đối kế toán + Báo cáo kết qủa kinh doanh + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ + Phần ghi chú cho các báo cáo tài chính Cụ thể :

1.4.3.1- Bảng Cân đối kế toán : Thông tin được trình bày trên bảng cân đối kế toán gồm các yếu tố cơ bản sau :

a) Tài sản : Là tiềm lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và là

kết qủa của các sự kiện đã qua, từ đó, doanh nghiệp có thể thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp - là tiềm năng đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp tới các nguồn tiền và tài sản tương đương tiền của doanh nghiệp

Theo định nghĩa này thì hình thái vật chất không phải là yếu tố thiết yếu khẳng định sự tồn tại các một tài sản : Tài sản có thể hữu hình hoặc vô hình Ngoài ra tài sản cũng có thể do doanh nghiệp sở hữu, nhưng cũng có thể do doanh nghiệp đi thuê để sử dụng Tài sản được chia thành 2 loại : Tài sản lưu động : Tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi hay luân chuyển trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường Tất cả các tài sản còn lại không thỏa điều kiện trên là tài sản cố định

b) Nợ phải trả : Gồm những khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt

động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải thanh toán cho các chủ nợ như các khoản tiền nợ và tiền đi vay Ngoài ra trong phần này cũng phản ảnh các

Trang 27

khoản nợ phải trả mang tính chất dự phòng mà chưa có chủ nợ cụ thể Nợ phải trả gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, được coi là nguồn vốn được tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp

c) Nguồn vốn chủ sở hữu : Là số vốn của các chủ sở hữu của doanh

nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Tùy theo hình thức sở hữu vốn mà doanh nghiệp có chủ sở hữu khác nhau với số lượng một hoặc nhiều chủ sở hữu Ngoài ra các khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá ngoại tệ chưa được xử lý, các qũi doanh nghiệp và lợi nhuận chưa phân phối được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng được tính vào nguồn vốn chủ sở hữu, nên nguồn vốn chủ sở hữu được coi là nguồn tài trợ vốn từ bên trong của doanh nghiệp

1.4.3.2- Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh : Thông tin được trình bày trên báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh gồm các yếu tố cơ bản sau :

a) Doanh thu và thu nhập : Gồm các khoản thu làm tăng tài sản

hoặc giảm bớt công nợ Riêng thu nhập có thể gồm những khoản mang tính chất doanh thu (chưa trừ chi phí liên quan) và cả những khoản mang tính chất lãi (đã trừ chi phí liên quan)

b) Chi phí : Là các khoản chi làm giảm tài sản hoặc phát sinh công

nợ của doanh nghiệp Trong đó, có những khoản chi phí mang tính chất của một khoản lỗ, thiệt hại thuần túy (không có thu tương ứng)

c) Lãi, lỗ : Khoản chênh lệch sau khi lấy doanh thu, thu nhập trừ đi

chi phí của các hoạt động tương ứng Lã hay lỗ sẽ dẫn đến việc làm tăng hay giảm vốn chủ sở hữu, nhưng lại không phải do các chủ sở hữu đóng góp hay do phân phối cho các chủ sở hữu

Trang 28

1.4.3.3- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ : Thông tin được trình bày trên bảng báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh cũng chính là theo các yếu tố của báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh và sự biến động của các yếu tố trên bảng cân đối kế toán Báo cáo này phản ảnh các luồng tiền thu vào hay chi ra chia theo các hoạt động của doanh nghiệp :

- Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh : Bắt nguồn từ các hoạt

động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp nên thường gồm các thông tin như :

+ Tiền nhận được do bàn hàng hoá sản phẩm dịch vụ

+ Tiền trả các nhà cung cấp hàng hoá sản phẩm dịch vụ, trả chi phí kinh doanh, trả lương, nộp thuế

- Các luồng tiền từ hoạt động đầu tư : Thể hiện phạm vi các khoản

liên quan đến hoạt động đầu tư nhằm tạo thêm lợi nhuận trong tương lai cho doanh nghiệp nên thường gồm các thông tin như :

+ Tiền chi ra để mua cổ phần, cho vay, góp vốn hoặc mua sắm máy móc thiết bị, tài sản vô hình và các chi phí liên quan đền các hoạt động trên

+ Tiền nhận được do thu hồi vồn đầu tư, vốn cho vay, bán lại co3 phần, nhà xưởng máy móc thiết bị và các khoản tiền lãi do đầu tư

- Các luồng tiền từ hoạt động tài chính : Thể hiện phạm vi các

khoản liên quan đến việc tăng giảm nguồn vốn của doanh nghiệp nên thường gồm các thông tin như :

+ Tiền thu được từ việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu, nhận vốn đầu tư, đi vay

+ Tiền chi trả vốn đã nhận của các chủ sở hữu, vốn đi vay và các chi phí về vốn

Nói một cách tổng quát, nếu bảng cân đối kế toán và báo cáo kết qủa hoạt động

Trang 29

kinh doanh ghi nhận nội dung các nghiệp vụ kinh tế trên cơ sở dồn tích

(accrual bassis) thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ lại ghi nhận theo cơ sở thực thu, thực chi (cash bassic)

1.4.3.4- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính : Phản ảnh các thông tin bổ sung và các giải thích rõ ràng, chi tiết hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp nên thường gồm các thông tin như : Khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp

* Thông tin được trình bày trên các báo cáo tài chính theo qui định của IASC :

- Tình hình thuê và mua tài sản trong kế hoạch mua sắm tài sản

- Định mức đối với số dư tiền

- Giá trị thị trường của khoản đầu tư khi có sự khác biệt giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách

- Các khoản công nợ có thời hạn trên một năm

- Hình thức và kế hoạch trợ cấp hưu trí

- Các khoản phải thu, phải trả nội bộ

- Các khoản phải thu, phải trả các đơn vị thành viên

Cụ thể :

Bảng cân đối kế toán : Theo IAS, những thông tin được trình bày gồm :

- Tài sản cố định : Tài sản hữu hình, Tài sản vô hình, Tài sản tài chính

- Tài sản lưu động : Hàng tồn kho, Các khoản phải thu thương mại và các khoản phải thu khác, các khoản ứng trước, tiền mặt và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn

- Vốn chủ sở hữu và các qũi

- Các khoản nợ dài hạn, các khoản nợ chịu lãi, các khoản dự phòng

Trang 30

- Các khoản nợ ngắn hạn : Các khoản phải trả thương mại và các khoản phải trả khác, các khoản nợ chịu lãi, các khoản dự phòng

Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh : Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, những thông tin được trình bày gồm : Doanh thu, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, các chi phí tài chính thuần, thu từ các khoản đầu tư , lãi hoặc lỗ trước thuế trong niên độ, thuế lợi tức, cổ phần thiểu số, lãi hay lỗ thuần từ hoạt động bất thường, các khoản mục bất thường, lãi hay lỗ thuần trong niên độ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ : Theo của chuẩn mực kế toán quốc tế, những thông tin được trình bày gồm :

- Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh : Tiền nhận được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ, tiền nhận được từ bản quyền, phí, hoa hồng và các doanh thu khác, tiền trả cho nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ, tiền trả cho người lao động, tiền trả và nhận của công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, các khoản bồi thường, tiền trả hay khoản hoàn trả thuế lợi tức, tiền trả hay nhận từ các hợp đồng dùng cho các mục đích kinh doanh

- Các luồng tiền từ hoạt động đầu tư : Tiền mua nhà xưởng, máy móc thiết

bị, tài sản vô hình , tiền nhận từ việc bán nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình ,trả tiền mua cổ phần và tiền thu từ việc bán lại cổ phần, tiền tạm ứng và các khoản cho bên ngoài vay, tiền nhận từ bên ngoài về các khoản cho vay

- Các luồng tiền từ hoạt động tài chính : Tiền thu được từ việc phát hành cổ phiếu, tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ phiếu của doanh nghiệp, tiền thu từ việc phát hành trái phiếu, thương phiếu, thế chấp và các khoản đi vay ngắn hạn, dài hạn khác, tiền trả cho các khoản đã đi vay, tiền trả cho nghiệp vụ đi thuê tài chính

Các bộ phận cấu thành của hệ thống báo cáo tài chính có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau vì chúng phản ảnh theo từng khía cạnh khác nhau của cùng một số nghiệp vụ, sự kiện Tuy mỗi loại báo cáo chỉ cung cấp những thông tin

Trang 31

khác nhau nhưng không có loại báo cáo nào chỉ phục vụ cho một mục đích hoặc cung cấp mọi thông tin cần thiết có thể đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng Chẳng hạn, báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh sẽ chỉ có thể cung cấp một bức tranh không hoàn chỉnh về tình hình kinh doanh nếu nó không được sử dụng cùng với bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng bản thuyết minh báo cáo tài chính

KẾT LUẬN CHƯƠNG I :

Vị trí, vai trò của thông tin kinh tế trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng đều cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, điều này lại càng được khẳng định Báo cáo tài chính là một bộ phận chủ yếu của báo cáo kế toán được hình thành từ việc ghi nhận, phản ảnh, tính toán, đo lường, tổng hợp của nghiệp vụ kế toán tài chính nhằm chủ yếu cung cấp các thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp

Kế toán được phát sinh và phát triển trong những môi trường kế toán cụ thể với các yếu tố làm tác động đến hoạt động của kế toán

Tuy nhiên, những thông tin của kết toán chỉ thực sự hữu ích khi nó đáp ứng được các tiêu chuẩn như : Dễ hiểu, thích hợp, đáng tin cậy Những thông tin này, đã được IASC qui định thành những nội dung cụ thể và cũng được hệ thống kế toán của Việt nam nghiên cứu để xây dựng cho mình các mẫu báo cáo vừa phục vụ cho việc cung cấp thông tin theo tính chất đặc thù của nền kinh tế nước

ta, vừa đảm bảo vào sự hòa nhập chung với kế toán quốc tế

Trang 32

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP

DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu tổng quát về hệ thống Báo cáo tài chính tại Việt nam :

Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế nước ta từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới hệ thống công cụ quản lý mà trong đó kế toán là một công cụ quan trọng Kế toán có vai trò tích cực đối với việc quản lý vốn, tài sản và việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như cung cấp thông tin và số liệu đáng tin cậy để Nhà nước điều hành, quản lý nền kinh tế, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các ngành, các khu vực kinh tế

Do đó, việc đổi mới và không ngừng hoàn thiện công tác kế toán nói chung cũng như chế độ kế toán nói riêng nhằm thích nghi với yêu cầu và nội dung của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là một vấn đề cấp thiết hiện nay Hạch toán kế toán với tư cách là công cụ quản lý đã và cần có sự đổi mới, không chỉ dừng lại ở việc ghi chép và lưu giữ các dữ liệu, mà quan trọng hơn là thiết lập một hệ thống thông tin cho quản lý

Trong những năm qua, sau thời gian áp dụng thử nghiệm ở một số doanh nghiệp điển hình, Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống kế toán mới theo Quyết định số 1141 TC-QĐ-CĐKT ngày 1-11-1995 và được áp dụng chính thức thống nhất trong cả nước từ ngày 1-1-1996 Hệ thống này áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế Điều này khẳng định tầm quan trọng của công tác kế toán trong quá trình quản lý doanh nghiệp

Hệ thống kế toán mới về nội dung và yêu cầu đã có những thay đổi cơ bản so với hệ thống kế toán trước đây Hệ thống này đã và đang được cải cách toàn diện, triệt để nhằm đáp ứng với yêu cầu và năng lực quản lý của nền kinh

Trang 33

tế, phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ có tính phổ biến của kế toán ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển trong khu vực và trên thế giới Trong phạm vi phần này của đề tài, chúng tôi chỉ xin giới hạn trong việc trình bày về

hệ thống báo cáo tài chính trong hệ thống kế toán nói chung

Qua nghiên cứu về tổng quan về báo cáo tài chính ở trên, ta biết ràng báo cáo tài chính là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính

Ở Việt nam, báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn và tình hình kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau và mang tính pháp lệnh nhằm cung cấp cho người đọc toàn bộ tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Nhìn dưới góc độ tổng quát, quá trình xây dựng, ban hành và ứng dụng hệ thống báo cáo tài chính ở nước ta có thể phân thành 3 giai đoạn :

Giai đoạn 1 : Thời kỳ quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bắt đầu từ lúc ban hành quyết định 233 CP ngày 1/12/1970 của HĐCP đến 18/4/1990 khi quyết định 224 TC-CĐKT

Quyết định 233 CP đã chính thức ban hành hệ thống báo cáo kế toán thống kê thống nhất gồm 13 biểu báo cáo có 4 loại :

Loại 1 : Gồm các báo cáo phản ảnh vốn và nguồn vốn kinh doanh của xí nghiệp với 3 biểu :

+ Bảng tổng kết tài sản (23 CN) + Tăng giảm tài sản cố định và qũy khấu hao (24 CN) + Tăng giảm nguồn vốn cơ bản (25 CN) Loại 2 : Gồm 5 báo cáo phản ảnh chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :

+ Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất (26 CN)

Trang 34

+ Chi phí sản xuất theo yếu tố (27 CN) + Giá thành sản phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm khoản

Ngoài các báo cáo trên, khi quyết toán, các doanh nghiệp còn phải lập bảng giải thích báo cáo quyết toán nhằm trình bày, phân tích một cách tỉ mỉ tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng, tình hình quản lý vốn bằng tiền và phân tích các nguyên nhân của thành tích và khuyết điểm

Mục tiêu của hệ thống báo cáo trong giai đoạn 1 :

- Cung cấp thông tin có hệ thống và toàn diện về tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kỹ thuật tài chính của các đơn vị kinh tế

- Cung cấp những số liệu cần thiết để tiến hành phân tích hoạt động kinh tế xí nghiệp, đánh giá kết qủa và phát hiện các khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu qủa kinh doanh của xí nghiệp

- Cung cấp các tài liệu cần thiết để xây dựng, bảo vệ, điều chỉnh, xét duyệt các chỉ tiêu trong kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của xí nghiệp giúp cơ quan quản lý cấp trên nắm tình hình và kiểm soát các hoạt động kinh tế

Trang 35

- Tóm lại, mục tiêu của hệ thống báo cáo trong giai đoạn này nhằm chủ yếu phục vụ cho công tác lãnh đạo và quản lý của xí nghiệp cũng như của cơ quan quản lý cấp trên

Với mục tiêu như trên, hệ thống báo cáo tài chính có những ưu điểm :

- Cung cấp được các thông tin về việc thực hiện kế hoạch, những thành tích triển vọng của xí nghiệp và cung ứng thông tin phục vụ cho việc phân tích hoạt động kinh tế của xí nghiệp

- Thông qua số liệu trong các báo cáo tài chính giúp các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế của xí nghiệp

- Tăng cường tính thống nhất của kế toán thông qua việc sử dụng một hệ thống mẫu biểu in sẵn cũng như các qui định về nội dung lập từng chỉ tiêu

Tuy nhiên, chúng cũng bộc lộ những tồn tại và nhược điểm như :

- Chi phí cho việc điều hành, soạn thảo các báo cáo tăng cao và không tương xứng với lợi ích do chúng mang lại, thể hiện :

+ Cấu trúc hệ thống báo cáo tài chính quá rườm rà với qui định tính toán nhiều chỉ tiêu phức tạp

+ Tần số báo cáo dày đặc làm tăng khối lượng công việc kế toán

- Chưa phân định được hệ thống báo cáo phục vụ cho việc quản lý vĩ mô và vi mô

- Được xây dựng chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu kiểm tra và kiểm soát của Nhà nước nên khi chuyển sang một mô hình kinh tế khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì hệ thống trên tỏ ra không thích hợp với các nhu cầu mới

Giai đoạn 2 : Thời kỳ chuyển qua nền kinh tế thị trường, bắt đầu từ lúc ban hành quyết định 224/TC_CĐKT ngày 18/4/1990 của Bộ Tài chính đến 1/11/1995 khi quyết định 1141/CĐKT

Trang 36

Do nhận thức được các khuyết điểm của hệ thống báo cáo tài chính trong giai đoạn 1, Bộ Tài chính ban hành quyết định 224 /TC-CĐKT đã rút gọn hệ thống báo cáo tài chính lại chỉ còn 4 biểu báo cáo như sau :

- Bảng tổng kết tài sản (01-BCKT)

- Báo cáo kết qủa kinh doanh (02-BCKT)

- Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố (03-BCKT)

- Bảng giải trình kết qủa sản xuất kinh doanh (04-BCKT) Với sự thay đổi như trên, hệ thống báo cáo tài chính có những ưu điểm :

- Đơn giản hơn so với hệ thống báo cáo tài chính cũ, thể hiện :

+ Số lượng báo cáo giảm đi khá rõ rệt

+ Các chỉ tiêu trong báo cáo được cấu trúc lại theo hướng gọn nhẹ với tổng số chỉ tiêu phải lập ít hơn nhiều so với hệ thống cũ

+ Tần số lập và gởi báo cáo giảm nhiều (như không còn báo cáo tháng ) + Kết cấu các mẫu biểu đơn giản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập và nghiên cứu báo cáo

- Mặc dù với số lượng báo cáo ít và cấu trúc đơn giản hơn nhưng hệ thống báo cáo mới cũng có thể đáp ứng một khối lượng thông tin tương đương so với hệ thống báo cáo cũ

Tuy nhiên, hệ thống này ít nhiều vẫn còn mang dấu ấn cùng nhược điểm của hệ thống báo cáo của cơ chế tập trung, thể hiện :

- Các nguyên tắc và chuẩn mực thiết lập báo cáo kế toán vẫn chưa thực sự thay đổi Các chỉ tiêu tính toán đã được đơn giản hóa nhưng về cơ bản không thay đổi nhiều so với trước đây

- Các chỉ tiêu được cấu tạo lại vẫn chưa thể hiện hết nội dung hoạt động tài chính trong nền kinh tế thị trường

Trang 37

- Chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu các tác giả, độc giả thông tin trong nền kinh tế thị trường

Giai đoạn 3 : Thời kỳ thực sự đi vào kinh tế thị trường, khởi điểm từ lúc ban hành quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/1/1995 của Bộ Tài chính Hệ thống báo cáo tài chính có 4 biểu báo cáo như sau :

- Bảng cân đối kế toán (B 01-DN)

- Báo cáo kết qủa hoạt động kinh doanh (B 02-DN)

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B 03-DN)

- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính (B 09-DN) Một số nhận định sơ bộ :

- Hệ thống báo cáo được thiết kế với quan điểm và nhận thức mới về đối tượng sử dụng thông tin trong nền kinh tế thị trường Do đó, các chỉ tiêu trong báo cáo được xây dựng vừa nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước, vừa nhằm đáp ứng nhu cầu đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp giúp cho các đối tượng có quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp có thể đưa

ra các quyết định phù hợp

- Tuy số lượng báo cáo còn nguyên 4 biểu, nhưng nội dung và quan điểm thiết kế báo cáo cũng như nội dung các chỉ tiêu có nhiều thay đổi

- Hệ thống báo cáo thể hiện sự nhận thức đầy đủ các yêu cầu của nền

kinh tế thị trường, tôn trọng và vận dụng một cách có chọn lọc các chuẩn mực kế toán quốc tế, đồng thời có xem xét đến đặc điểm của kinh tế Việt nam

- Hệ thống báo cáo được xây dựng trên cơ sở sự nhận thức về các hoạt động kinh tế mới phát sinh hoặc sẽ phát sinh Nhờ vậy, hệ thống dễ tương thích với cơ chế mới và những thay đổi do sự phát sinh các hoạt động đa dạng của nền kinh tế thị trường

Trang 38

2.2 Nguyên tắc lập các báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và một số nội dung cần hoàn thiện :

2.2.1- Những qui định chung :

2.2.1.1- Mục đích :

a- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết qủa hoạt động SXKD của DN trong một kỳ hạch toán

b- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài khoản chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết qủa hoạt động SXKD của DN, đánh giá thực trạng tài chính của DN trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành SXKD hoặc đầu tư vào DN của các chủ DN, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của DN

2.2.1.2- Nội dung :

Ngoài 4 biểu báo cáo đã nêu ở trên, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế, tài chính, yêu cầu chỉ đạo điều hành, các ngành, các Cty liên doanh có thể qui định thêm các báo cáo tài chính khác như :

- Chi tiết và tổng hợp công nợ, nợ vay

- Chi tiết hàng tồn kho

- Chi tiết các khoản mục chi phí

- Chi tiết doanh thu bán hàng

Nội dung, phương pháp tính toán, hình thức trình bày các chỉ tiêu trong từng báo cáo qui định theo chế độ được áp dụng thống nhất cho các DN Trong qúa trình áp dụng, nếu thấy cần thiết thì có thể sửa đổi, bổ sung hoặc chi tiết cho

Trang 39

phù hợp với đặc điểm kinh doanh của DN, nhưng phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản

2.2.1.3- Trách nhiệm, thời hạn lập và gởi báo cáo tài chính :

1- Tất cả các DN độc lập (không nằm trong cơ cấu tổ chức của một DN khác), có tư cách pháp đầy đủ đều phải lập và gởi báo cáo tài chính theo đúng qui định của chế độ này Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tạm thời chưa quy định là báo cáo bắt buộc phải lập và gởi, nhưng khuyến khích các DN lập và sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ

2- Các báo cáo tài chính được lập và gởi vào cuối mỗi qúi (cuối tháng thứ 3, thứ 6, thứ 9, thứ 12 kể từ ngày bắt đầu niên độ kế toán) để phản ảnh tình hình tài chính quí đó và vào cuối niên độ kế toán để phản ảnh tình hình tài chính niên độ kế toán đó Các DN có thể lập báo cáo tài chính hằng tháng để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành SXKD

3- Báo cáo tài chính hằng quí đuợc gởi chậm nhất là sau 15 ngày, kể từ ngày kết thúc quí và báo cáo tài chính cuối năm đuợc gởi chậm nhất là sau 15 ngày, kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán

4- Nơi nhận báo cáo tài chính :

Ngoài các qui định đã nêu trên (Xem phần 5.1.3 Chương I), theo chế độ kế

toán , ngành thuế có những yêu cầu hàng tháng DN phải nộp các báo cáo sau đây để cơ quan thuế làm căn cứ tính thuế tạm thu hàng tháng :

- Bảng cân đối tài khoản

- Tờ khai tạm nộp thuế

- Một số tờ kê chi tiết khác (nếu có yêu cầu của cơ quan thuế)

Trang 40

Thường vào cuối tháng (có thể bắt đầu từ ngày 25 hàng tháng đến ngày cuối tháng), kế toán phải lập các báo cáo nêu trên, được phép gởi chậm nhất đến ngày 5 tháng sau

2.2.2- Những qui định cụ thể :

2.2.2.1-Bảng Cân đối kế toán (Xem mẫu biểu ở bảng phụ lục số 1)

1- Tổng quát :

Bảng cân đối kế toán là báo cáo kế toán chủ yếu, phản ảnh tổng quát

tình hình tài sản và nguồn vốn tài trợ nên tài sản của DN dưới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định

2- Nội dung và kết cấu :

- Dạng hàng ngang : Bên trái là TÀI SẢN, bên phải là NGUỒN VỐN

- Dạng hàng dọc : Bên trên là TÀI SẢN, bên dưới là NGUỒN VỐN (Hiện nay kế toán Việt nam chủ yếu theo mẫu kết cấu này)

Phần tài sản : Phản ảnh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN tại

thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN Tài sản được phân chia như sau :

A- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

B- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn

Phần nguồn vốn : Phản ảnh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện

có của DN tại thời điểm báo cáo Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của DN đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại DN Nguồn vốn được phân chia như sau :

A- Nợ phải trả

B- Nguồn vốn chủ sở hữu

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm