1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt nam trên đường tiến tới tự do hóa tài chính

139 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cũng chính vì thế, để giải quyết vấn đề được nêu ra trong bản luận văn này, chúng tôi tập trung xem xét 1 vấn đề lãi suất, vấn đề trọng tâm của thị trường tiền tệ và thị trường vốn ,

Trang 1

TRẦN THỊ KIM CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

TRẦN THỊ KIM CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 3

Chương 1: Tự do hoá tài chính, xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập

và tăng trưởng 4

1.1 Kiềm chế tài chính 4

1.2 Tự do hoá tài chính và mối quan hệ đồng biến với tăng trưởng 5

1.3 Các điều kiện tiên quyết để tự do hoá tài chính 10

1.3.1 Điều chỉnh lãi suất một cách phù hợp 10

1.3.2 Giảm số lượng các chương trình tín dụng chỉ định 10

1.3.3 Hệ thống pháp lý và kế toán phải có hiệu lực và minh bạch 10

1.3.4 Vấn đề tỷ giá hối đoái và bãi bỏ các biện pháp kiểm soát ngoại hối Chương 2: Thực trạng quá trình tự do hoá tài chính ở Việt Nam 13

2.1 Vấn đề lãi suất ở Việt Nam 13

2.1.1 Các yếu tố tác động đến lãi suất 14

2.1.2 Lãi suất trên thị trường tiền tệ 16

2.1.3 Lãi suất trên thị trường vốn 18

2.1.4 Thực trạng quản lý lãi suất ở Việt Nam 19

2.2 Vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam 20

2.2.1 Những yếu tố chủ yếu để lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái 20

2.2.2 Diễn biến tỷ giá hối đoái ở Việt Nam 21

2.3 Tình hình chỉ đạo phân bổ tín dụng ở Việt Nam 24

2.3.1 Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước … 25

2.3.2 Tình hình phân bổ tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước từ hệ thống ngân hàng 27

2.4 Môi trường pháp lý ở Việt Nam 28

2.4.1 Khung pháp lý và những qui định giám sát trong hệ thống tài chính

28

2.4.2 Tình hình “sân chơi” của các doanh nghiệp Việt Nam 30

Chương 3: Các giải pháp tự do hoá tài chính ở Việt Nam 32

3.1 Điều kiện để tự do hoá tài chính ở Việt Nam 32

3.1.1 Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới 32

3.1.2 Các quan điểm và điều kiện để tự do hoá tài chính ở Việt Nam 33

3.2 Các giải pháp tự do hoá tài chính ở Việt Nam 35

3.2.1 Sự quản lý vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước bằng công cụ lãi suất cơ bản 35

Trang 4

- Lãi suất thị trường tín dụng trung và dài hạn 37

b Điều kiện để sử dụng những công cụ điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Nhà nước 38

c Trình tự tự do hoá lãi suất 39

3.2.2 Giải pháp về chính sách tỷ giá hối đoái 41

3.2.3 Các giải pháp khác 44

a Giải pháp triệt để cho vấn đề chỉ đạo phân bổ tín dụng ở Việt Nam: Các đề xuất liên quan đến việc cổ phần hoá các DNNN 44

b Xây dựng những nền tảng định chế của một nền kinh tế thị trường c Tạo ra một sân chơi bình đẳng 51

Chương kết luận 52

Tài liệu tham khảo 55

Phần phụ lục

Trang 5

MỞ ĐẦU

Nền kinh tế thế giới đang ngày càng trở nên hội nhập với sự hình

thành của các tổ chức hợp tác kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do và tiến tới

nhất thể hoá ASEAN đã kết nạp thành viên thứ mười của mình Việt Nam

đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết và trang bị sức mạnh để đứng vững

trong tổ chức AFTA khi các rào cản thuế quan được bãi bỏ dần trước thềm

thiên niên kỷ mới Các hội nghị quốc tế về vấn đề toàn cầu hoá của WTO

đang diễn ra trong sự quan tâm của mọi giới Đồng Euro đã tham gia thị

trường tiền tệ toàn cầu trong các cuộc giao dịch thanh toán quốc tế Trong

xu thế toàn cầu đó, các quốc gia đang mở cửa biên giới của mình, bãi bỏ các

rào cản mậu dịch và nới lỏng các biện pháp kiểm soát tài chính để bước vào

quá trình hoà nhập toàn cầu nếu không muốn bị thiệt thòi, tụt hậu và đứng

lại bên lề cuộc chạy đua tăng trưởng Hội nhập kinh tế và tăng trưởng kinh

tế dường như là hai kẻ song hành trong thời đại ngày nay Dòng hàng hoá và

dịch vụ được trao đổi thông thoáng giữa các nước, và cùng với nó là dòng

vốn lưu chuyển trong một trào lưu chung

Đối với Việt Nam, chủ trương hội nhập cũng đã được khẳng định

trong Nghị quyết Đại hội VIII: “Xây dựng một nền kinh tế mở”, “Đẩy nhanh

quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Trong bối cảnh kinh tế thị

trường và trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá tài chính trở

nên một xu hướng tất yếu của thời đại để đạt được tăng trưởng cao và bền

vững Trực giác dường như mách bảo chúng ta rằng một hệ thống tài chính

hiệu quả là điều thiết yếu để tăng trưởng nhanh chóng Nhưng thực tế các

nước cũng phơi bày những bài học thương đau về các quá trình tự do hoá

thất bại, gây ra xáo trộn kinh tế vĩ mô hơn là tăng trưởng, khiến chính phủ

Trang 6

các nước ấy phải thoái lui và từ bỏ ý định bãi bỏ kiểm soát qui định đối với

các nguồn vốn Vậy thì, điều gì khiến nước này thành công nhưng nước khác

lại thất bại? Tại sao Đông Á một thời thành công còn châu Mỹ Latinh lại

xáo trộn? Tại sao sự thành công của Đông Á vẫn không ngăn được cuộc

khủng hoảng 1997-1998 dẫn đến suy thoái kinh tế và buộc các nước tìm đến

Quỹ Tiền tệ Quốc tế và chấp nhận những khoản vay có điều kiện để cứu

vãn nền kinh tế của họ? Tự do hoá tài chính quan hệ ra sao với tăng trưởng

kinh tế? Và nếu đó là mối quan hệ đồng biến, thì quốc gia cần phải hội đủ

những điều kiện gì để quá trình phát triển tài chính theo hướng tự do hoá đạt

được thành công? Việt Nam rút ra được những bài học gì từ quá trình tự do

hoá tài chính của các nước để thực hiện tiến trình này một cách xuôi chèo

mát mái hơn? Để tìm hiểu những vấn đề đó, trước tiên chúng tôi đã tìm hiểu

về lý thuyết kiềm chế tài chính và tự do hoá tài chính, xem xét các nghiên

cứu của Ngân hàng Thế giới về mối quan hệ của tự do hoá tài chính với

tăng trưởng cho nhiều quốc gia, từ đó đúc kết những biến số then chốt của

tự do hoá tài chính và tăng trưởng Trên cơ sở này, chúng tôi so sánh với

tình hình thực tế của Việt Nam, tìm hiểu thực trạng những vấn đề này ở Việt

Nam hiện nay và đi tới kết luận về những điều kiện cần thiết để Việt Nam

có thể thực hiện tự do hoá tài chính thành công Cuối cùng, chúng tôi đã cố

gắng tìm tòi một vài giải pháp khả dĩ cho những vấn đề được thảo luận

trong bối cảnh của Việt Nam nhằm chuẩn bị cho công cuộc tự do hoá tài

chính được tiến hành thuận lợi và hiệu quả

Căn cứ theo một báo cáo của ngân hàng Thế giới đã được phổ biến

rộng rãi và xem ra được công chúng các nước đang phát triển quan tâm và

có nhu cầu sử dụng cao [1, 5], có ba vấn đề chính được quan tâm hàng đầu

trong quá trình phát triển hệ thống tài chính theo chiều hướng tự do hoá tài

Trang 7

chính tại các nước đang phát triển Đó là: (1) điều chỉnh lãi suất một cách

phù hợp; (2) giảm các chương trình tín dụng chỉ định và (3) hệ thống pháp lý

và kế toán phải có hiệu lực và minh bạch

Mọi hoạt động trong nền kinh tế đều liên quan đến tài chính, nên tự

do hoá tài chính là một đề tài rộng lớn, quan hệ đến nhiều lĩnh vực và bao

trùm nhiều vấn đề Nói về tự do hoá tài chính, có thể kể đến lãi suất, lạm

phát, cung và cầu tiền, sự can thiệp của chính phủ, môi trường pháp lý và kế

toán, vấn đề tỷ giá hối đoái v.v Trong khuôn khổ có hạn của một luận

văn thạc sĩ kinh tế, chúng tôi không thể tiến hành một công việc nghiên cứu

toàn diện về tất cả mọi vấn đề có liên quan đến tự do hoá tài chính Vì thế,

chúng tôi xin được phép giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài này trong

ba vấn đề chính yếu: (1) vấn đề lãi suất ở Việt Nam (2) tỷ giá hối đoái ở

Việt Nam và (3) những giải pháp khác, trong đó bao gồm những vấn đề đã

được báo cáo của Ngân hàng Thế giới đề cập đến như vấn đề chỉ đạo phân

bổ tín dụng, hệ thống pháp lý và kế toán ở Việt Nam Như vậy, bản luận

văn này không nhằm xử lý vấn đề một cách toàn diện, tuy thế, nó bao trùm

những vấn đề được cho là quan trọng nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH, XU HƯỚNG TẤT

YẾU CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG

1.1 Kiềm chế tài chính

Từ năm 1973, McKinon và Shaw đã đặt nền tảng cho học thuyết tự

do hoá tài chính được nhiều nước theo đuổi và hiện nay Quỹ Tiền tệ Quốc

tế cũng như Ngân hàng Thế giới lấy đó làm kim chỉ nam đổi mới tài chính

trên toàn cầu: “Tự do hoá tài chính thành công là bộ phận cấu thành quan

trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của mỗi nước”[13] Mô hình

kiềm chế tài chính McKinnon và Shaw lập luận rằng lãi suất thấp không

khuyến khích đầu tư Đề xuất này thật khác thường so với kinh tế vĩ mô

trường phái Keynes truyền thống, trường phái này gắn liền lãi suất thấp với

mức đầu tư cao Lý thuyết tân cổ điển cho rằng lãi suất thấp thì khuyến

khích đầu tư dựa trên lập luận rằng, lãi suất thấp có nghĩa là chi phí sử dụng

vốn thấp, nên các nhà đầu tư tiếp tục đầu tư cho tới khi nào hiệu suất sinh

lợi biên tế của vốn (tuân theo qui luật sinh lợi giảm dần) trở nên nhỏ hơn chi

phí sử dụng vốn thì hành vi đầu tư mới dừng lại Nhưng McKinnon và Shaw

lập luận rằng, lãi suất thấp trong một môi trường kiềm chế tài chính sẽ

không khuyến khích tiết kiệm và do vậy sẽ làm thui chột các quyết định đầu

Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển một hệ

thống tài chính tốt đẹp, tối thiểu hoá các vấn đề khó khăn về thông tin

không hoàn hảo và việc cưỡng chế thực thi hợp đồng hạn chế Tuy nhiên,

thông thường chính phủ can thiệp vào hệ thống tài chính nhằm những mục

Trang 9

đích khác, thường là để tạo điều kiện dễ dàng cho các yêu cầu vay mượn

của riêng họ bằng cách tối đa hoá khả năng chi tiêu thông qua hành vi in

tiền (sovereign - thuế in đúc tiền) Điều đó dẫn tới kết quả ròng là cái mà ta

gọi là “kiềm chế tài chính” Trong môi trường tài chính bị kiềm chế, chính

phủ can thiệp quá mức vào các hoạt động và các quá trình tài chính Các

chính sách tài chính của chính phủ thiên về hệ thống ngân hàng hơn là các

định chế và công cụ tài chính khác Những biện pháp như áp đặt kiểm soát

ngoại hối, qui định trần lãi suất, dự trữ bắt buộc cao, trực tiếp phân bổ tín

dụng (thường ưu tiên cho quốc doanh) và kiềm chế hay không phát triển thị

trường vốn tư nhân đều vận hành nhằm gia tăng dòng chảy của các nguồn

lực tài chính trong nước về cho khu vực công mà không phải tăng thuế hay

tăng tỷ lệ lạm phát Môi trường kiềm chế tài chính còn biểu hiện ở sự bao

cấp tín dụng, lãi suất rất thấp hoặc âm Khu vực tư nhân hầu như không có

cơ hội vay vốn tín dụng, không phát triển khả năng đầu tư, dẫn tới hạn chế

tăng trưởng kinh tế và gây ra bất ổn định kinh tế vĩ mô Điều đó xảy ra theo

cơ chế nào?

Lý thuyết tân cổ điển nói rằng lãi suất thấp khuyến khích đầu tư,

nhưng lãi suất thấp kéo dài không khuyến khích dân chúng tiết kiệm dưới

dạng tiền gửi, mà tiết kiệm được lưu giữ dưới dạng vàng hoặc ngoại tệ

mạnh Cầu vốn lớn hơn cung vốn, cộng với cơ chế phân bổ tín dụng ưu tiên

cho khu vực quốc doanh khiến cho những danh mục đầu tư có lợi không

nhận được vốn làm hạn chế tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế đói vốn tác

động tới lạm phát, làm lạm phát gia tăng và không kiểm soát được tỷ giá

hối đoái, dẫn tới xáo trộn kinh tế vĩ mô Kiềm chế tài chính có thể giúp

chính phủ tài trợ cho thâm hụt của mình, nhưng làm cho tiết kiệm tư nhân

thấp, đầu tư tư nhân thấp và làm xấu đi môi trường ra quyết định đầu tư

Trang 10

1.2 Tự do hoá tài chính và mối quan hệ đồng biến với tăng trưởng

Kiềm chế tài chính rõ ràng không thể dẫn tới tăng trưởng nhanh

chóng và rõ ràng không thể tồn tại được khi một quốc gia muốn hội nhập

vào nền kinh tế thế giới Để hội nhập và tăng trưởng, quốc gia cần phải thực

hiện tự do hoá tài chính Tự do hoá tài chính là một nền tài chính mà trong

đó không có hoặc chỉ có sự can thiệp rất ít của chính phủ vào hoạt động và

các quá trình tài chính Trong môi trường tự do hoá tài chính, các quan hệ và

các giao dịch tài chính vận động theo cơ chế thị trường Các dòng vốn được

tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp đến nơi có hiệu suất sinh

lợi cao mà không gặp phải một rào cản nào Các dòng vốn đó bao gồm các

nguồn vốn đầu tư khu vực công và tư, vốn dân cư, vốn của các tổ chức tài

chính, của các tổ chức phi chính phủ trong nước và ngoài nước, vốn đầu tư

trực tiếp và gián tiếp Như vậy, có thể nói vắn tắt rằng tự do hoá tài chính

là một quá trình tiến tới hoạt động tự do trên các thị trường tài chính Thị

trường tài chính theo truyền thống bao gồm (1) thị trường tiền tệ và (2) thị

trường vốn Nhưng nói đến tự do hoá tài chính, không thể không kể đến

một thị trường thứ ba: thị trường ngoại hối, bởi vì tự do hoá tài chính không

chỉ ngụ ý sự lưu chuyển vốn trong nước mà cả trên phạm vi toàn cầu Vốn

khi lưu chuyển qua biên giới quốc gia thì tất yếu phải liên quan đến sự

chuyển đổi đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác Hay nói cách

khác, theo định nghĩa, tỷ giá hối đoái là giá của một tài sản này (tiền gửi

bằng nội tệ) tính bằng một tài sản khác (ngoại tệ) Do đó, lợi tức dự tính

của tiền gửi nước ngoài so với tiền gửi trong nước là nhân tố trung tâm của

việc xác định tỷ giá Lợi tức dự tính phụ thuộc vào lãi suất và vào phần

trăm thay đổi của tỷ giá dự kiến Chính ở đây, chúng ta gặp lại yếu tố lãi

suất, và cũng chính ở đây, chúng ta có thể thấy được sự giao thoa giữa thị

Trang 11

trường tiền tệ và thị trường vốn với thị trường ngoại hối Cả ba làm nên thị

trường tài chính Vì thế, thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái là một vấn

đề quan trọng trong tự do hoá tài chính Và cũng chính vì thế, để giải quyết

vấn đề được nêu ra trong bản luận văn này, chúng tôi tập trung xem xét (1)

vấn đề lãi suất, vấn đề trọng tâm của thị trường tiền tệ và thị trường vốn ,

(2) vấn đề tỷ giá hối đoái, biến số chính của thị trường ngoại hối, và (3) các

vấn đề còn lại có liên quan mật thiết đến việc tự do hoá tài chính

Có thể phân tự do hoá tài chính thành hai cấp độ:

• Tự do hoá tài chính nội địa: chủ yếu thể hiện qua việc xoá bỏ kiểm soát

lãi suất và phân bổ tín dụng Lãi suất sẽ được định đoạt dựa trên cơ chế

thị trường thông qua cung vốn và cầu vốn Các ngân hàng sẽ cạnh tranh

nhau để thu hút vốn, giúp mở rộng cung ứng tín dụng Mặt khác, việc

phân bổ tín dụng sẽ không chịu sự chi phối mạnh của chính phủ nữa mà

dựa trên tiêu chí hiệu quả đầu tư Muốn đạt được điều đó, chính các

ngân hàng thương mại phải gánh lấy trách nhiệm thẩm định và gánh chịu

kết quả việc cho vay của họ Chính phủ phải rút lui vào hậu đài như thể

người tạo ra môi trường chính sách và pháp lý mà thôi, không còn thực

hiện phân bổ tín dụng và không can thiệp vào việc bảo lãnh cho các

khoản vay ngoại trừ trường hợp hàng hoá và dịch vụ công Cơ chế này

giúp cho hệ thống tài chính ngân hàng lớn mạnh, cán bộ ngân hàng vững

vàng về nghiệp vụ và phát huy năng lực thực sự

• Tự do hoá tài chính quốc tế: thể hiện qua việc bãi bỏ các biện pháp kiểm

soát vốn và những hạn chế trong quản lý ngoại hối tiến tới tự do hoá

trong lĩnh vực chuyển đổi tiền tệ Chính ở nội dung này mà chính sách

Trang 12

tỷ giá hối đoái có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tự do hoá tài

chính

Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế chủ trương ủng hộ tự do

hoá tài chính trên cơ sở lập luận rằng tự do hoá tài chính làm gia tăng số

lượng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn Lý do là vì tự do hoá tài chính

gắn liền với mức lãi suất hình thành trên thị trường, cân bằng lợi ích hợp lý

giữa người cho vay, trung gian tài chính và người đi vay Người cho vay

nhận được mức lãi suất thực dương, nhà trung gian tài chính cân đối được lợi

ích và chi phí trên cơ sở chi phí tài trợ khoản vay hợp lý và bảo hiểm rủi ro;

và người đi vay nhận được nguồn vốn cho công việc đầu tư mà anh ta tin

rằng có được hiệu suất sinh lợi vượt hơn chi phí nợ vay Nhờ cơ chế đó, tiết

kiệm gia tăng, đầu tư gia tăng và nền kinh tế đạt được tăng trưởng Tự do

hoá tài chính đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn hiệu quả, hệ thống

tài chính ngân hàng phát triển lành mạnh và các loại thị trường tài chính

phát triển mạnh mẽ từ đó giúp cho các nguồn lực tài chính được phân phối

hợp lý dựa trên tiêu chí suất sinh lời xã hội và sử dụng hiệu quả

Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, nhiều nước đang phát triển đã

thực hiện cải cách tài chính bao gồm việc bãi bỏ trần lãi suất và bãi bỏ

kiểm soát các giao dịch tài chính Kết quả chẳng phải luôn luôn tốt đẹp dù

lý thuyết khẳng định tính đúng đắn của tự do hoá tài chính Nhìn lại bài học

các nước rơi vào thất bại và phân tích lý thuyết, chúng ta có thể đưa ra một

vài lý do giải thích sự thất bại của một vài quốc gia (không phải toàn bộ)

như sau:

• Trong một vài trường hợp, tăng lãi suất dẫn tới giảm vốn sở hữu thuần

của người đi vay, điều này dẫn tới việc làm tăng chứ không phải làm

Trang 13

giảm chi phí của việc cung ứng các khoản vay Vốn sở hữu thuần của

người đi vay (bao gồm lượng tài sản tích luỹ trong quá khứ và hiện giá

của thu nhập thuần trong tương lai) càng lớn thì người cho vay càng ít tốn

chi phí giám sát hoạt động và giải quyết tranh chấp với người đi vay, và

số tiền vay được của người đi vay càng lớn Vốn sở hữu thuần của người

đi vay càng giảm, người cho vay càng không muốn cho vay (do sợ rủi ro,

sợ tốn chi phí giám sát và giải quyết tranh chấp ), nền kinh tế càng ít có

những khoản vay lớn và dài hạn

• Trong một vài trường hợp, việc hoạch định thời gian cho tự do hoá là

kém cỏi Tự do hoá trùng hợp với các điều kiện bên ngoài xấu (lãi suất

thế giới gia tăng, giá hàng hoá giảm, tăng tỷ giá hối đoái, suy thoái kinh

tế thế giới…) cũng làm giảm vốn sở hữu thuần của người đi vay và làm

tăng chi phí của việc cung ứng các khoản vay Vì vốn sở hữu thuần của

người vay phụ thuộc vào các biến số kinh tế thực (thu hoạch quá khứ,

sức mạnh của nền kinh tế trong những năm gần đây, và những dự đoán

về triển vọng kinh tế trong tương lai), nên hệ thống tài chính có xu

hướng vận hành làm khuếch đại các dao động trong hoạt động kinh tế

Nói cách khác, hệ thống tài chính làm cho tình hình tồi tệ càng trở nên

tồi tệ hơn và tình hình tốt đẹp càng trở nên tốt đẹp hơn

• Cuối cùng, trong một vài trường hợp, các trung gian tài chính lạm dụng

sự tự do mới có được của mình để cung ứng những khoản vay kém dựa

trên tiền đề là họ sẽ được nhà nước bảo kê nếu sự việc trở nên tồi tệ

Các nghiên cứu trước đây (ví dụ như nghiên cứu của King và Levine)

đã cho thấy rằng các biện pháp phát triển trung gian tài chính theo hướng tự

do hoá báo trước cho sự tăng trưởng kinh tế trong 18 tới 30 năm sau tại

Trang 14

nhiều quốc gia Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng đã tìm hiểu xem

liệu tự do hoá tài chính có phải chỉ là một chỉ báo hàng đầu hay chính là

nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu nhận thấy rằng “tự do hoá

tài chính phát huy một tác động to lớn mang tính nhân quả đối với tăng

trưởng kinh tế” [16] Sau khi thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa

phát triển tài chính và tăng trưởng, công trình nghiên cứu đã xem xét các

yếu tố xác định sự phát triển tài chính Nghiên cứu cho thấy rằng, những

điểm khác biệt trong hệ thống pháp lý và tiêu chuẩn hạch toán giữa các

nước (không kể những cái khác) giải thích cho sự khác biệt trong quá trình

phát triển tài chính giữa các nước; họ đi đến kết luận sau:

(1) Những quốc gia nào mà hệ thống pháp luật và qui định pháp lý mang lại

sự ưu tiên cao cho những người cung ứng tín dụng (người tiết kiệm) được

hưởng toàn bộ hiện giá của các khoản cho vay của họ thì những quốc

gia ấy có các trung gian tài chính hoạt động tốt hơn so với những quốc

gia mà hệ thống pháp lý hỗ trợ những người cung ứng tín dụng một cách

yếu kém hơn

(2) Sự cưỡng chế thi hành hợp đồng xem ra rất quan trọng, thậm chí còn

quan trọng hơn các bộ luật và qui định pháp lý Những quốc gia nào áp

đặt được việc tuân thủ pháp luật một cách hữu hiệu thì có xu hướng có

được các trung gian tài chính phát triển tốt hơn so với các quốc gia mà

việc thi hành pháp luật lỏng lẻo hơn

(3) Việc truyền đạt thông tin rất quan trọng Những quốc gia nào mà ở đó,

các công ty công bố các báo cáo tài chính tương đối sâu rộng/toàn diện

và chính xác thì có các trung gian tài chính phát triển tốt hơn so với

Trang 15

những quốc gia mà những thông tin được công bố về các công ty kém

tin cậy hơn

1.3 Các điều kiện tiên quyết để tự do hoá tài chính

Tự do hoá tài chính là một vấn đề được thế giới đang phát triển hết

sức quan tâm Ngân hàng Thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu về đề tài

này và đúc kết ba vấn đề đáng quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển

hệ thống tài chính theo chiều hướng tự do hoá và hội nhập quốc tế tại các

nước đang phát triển [1, 5] Ở đây, chúng tôi xin tóm tắt lại những vấn đề

này nhằm sử dụng chúng làm một khung khổ chuẩn mực để so sánh nghiên

cứu thực trạng Việt Nam:

1.3.1 Điều chỉnh lãi suất một cách phù hợp: Đối với những nước có được

sự ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính tương đối phát triển,

thì nên để cho các lực lượng thị trường tác động lên lãi suất Ở những

quốc gia chưa đạt được sự ổn định vĩ mô và thị trường tài chính còn

non yếu, chính phủ có thể tiến hành kiểm soát lãi suất Việc kiểm

soát này phải hết sức linh hoạt để tính đến các tác động của lạm phát

và các sức ép của cung cầu vốn trên thị trường Việc điều chỉnh lãi

suất một cách phù hợp là hết sức quan trọng đối với những nền kinh

tế có thị trường vốn mở

1.3.2 Giảm số lượng các chương trình tín dụng chỉ định: Trong hệ thống

kiềm chế tài chính, chính phủ thường tham gia nhiều vào việc phân

bổ tín dụng Nhưng trong một thế giới có mức giá biến động, có cơ

cấu kinh tế phức tạp và có những thị trường tài chính phát triển thì

những biện pháp quản lý như thế có nguy cơ dẫn đến những kết quả

sai lệch, phương hại đến hiệu quả kinh tế Nghiên cứu của Ngân

Trang 16

hàng Thế giới đi đến kết luận rằng, nguồn vốn có thể được phân bổ

tốt hơn bằng cách giảm số lượng các chương trình tín dụng theo chỉ

định, giảm tỷ lệ tín dụng phải chịu tác động của việc chỉ định và giảm

mức độ trợ cấp lãi suất Tại những quốc gia mà chính phủ vẫn tiếp

tục chỉ đạo việc phân bổ tín dụng thì phải xác định phạm vi ưu tiên

hẹp hơn Thay vì trợ cấp lãi suất, một biện pháp gây nguy hại cho

quá trình hoạt động tài chính, tốt hơn là nên tập trung vào việc tạo

nguồn tín dụng

1.3.3 Hệ thống pháp lý và kế toán phải có hiệu lực và minh bạch: Ngân

hàng Thế giới nhấn mạnh rằng, bản thân việc tự do hoá các tổ chức

tài chính thoát khỏi sự kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng không

thôi thì chưa đủ để đảm bảo rằng hệ thống tài chính sẽ phát triển như

mong muốn Cần phải có một hệ thống pháp lý và kế toán minh bạch

và chuẩn xác, thiết lập được sự cưỡng chế thi hành hợp đồng một

cách hữu hiệu, đồng thời kiểm soát giám sát tốt thị trường tài chính

và các tổ chức tài chính thì mới hội đủ những điều kiện tiên quyết

cho sự phát triển và tự do hoá hệ thống tài chính Hệ thống pháp lý

và kế toán vững chắc giúp cho nền tài chính được lành mạnh và an

toàn, ít chứa đựng những nguy cơ gây ra khủng hoảng Tính lành

mạnh của hệ thống tài chính yêu cầu các hoạt động tài chính rõ ràng,

được kiểm tra kiểm soát tốt, có hệ thống kế toán công khai minh

bạch, được kiểm toán, chống lại mọi biểu hiện gian lận, đầu cơ tài

chính Mức độ an toàn của hệ thống tài chính đặc biệt quan trọng

trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay Hệ thống tài

chính cần vững mạnh, giảm tới mức thấp nhất những cú sốc từ bên

Trang 17

ngoài và hạn chế tới mức thấp nhất những khủng hoảng từ bản thân

1.3.4 Vấn đề tỷ giá hối đoái và bãi bỏ các biện pháp kiểm soát ngoại hối:

Vì một lý do nào đó, báo cáo của Ngân hàng Thế giới không phân

tích vấn đề chính sách tỷ giá hối đoái, mà chỉ đơn cử một vài ví dụ

của một số quốc gia đã bãi bỏ kiểm soát ngoại hối trong quá trình tự

do hoá tài chính [1, 7] nhưng như đã lập luận trong phần trên (trang 6

bản luận văn này), chúng tôi cho rằng thị trường tài chính theo nghĩa

rộng không những chỉ có thị trường tiền tệ và thị trường vốn mà còn

phải bao trùm cả thị trường ngoại hối trong xu thế hội nhập toàn cầu

và sự lưu chuyển vốn xuyên biên giới quốc gia hiện nay Và nói đến

tự do hoá tài chính mà không nhắc đến chính sách tỷ giá hối đoái sẽ

là một thiếu sót lớn Vì thế, dựa vào những kết luận đã được đúc kết

của Ngân hàng Thế giới và dựa vào lập luận trên, trong chương 2

chúng tôi sẽ phân tích thực trạng Việt Nam xoay quanh những vấn

đề, tuy không phải là đầy đủ mọi vấn đề có liên quan, nhưng được

cho là thiết yếu nhất đối với quá trình tự do hoá tài chính: vấn đề lãi

suất, vấn đề tỷ giá hối đoái và những vấn đề khác, trong đó có vấn

đề chỉ đạo phân bổ tín dụng, môi trường pháp lý và kế toán kiểm

toán Từ phân tích thực trạng mỗi vấn đề, chúng tôi sẽ đề xuất một

số giải pháp cho Việt Nam trên con đường tiến tới hội nhập tài chính

với thị trường quốc tế trong chương 3

Trang 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ TÀI

CHÍNH Ở VIỆT NAM

2.1 Vấn đề lãi suất ở Việt Nam

Trong xu thế tự do hoá tài chính, lãi suất thể hiện cung cầu vốn và

giúp luân chuyển nguồn vốn giữa các quốc gia từ nơi có sinh lợi thấp đến

nơi có sinh lợi cao Với vai trò là một công cụ để thực hiện chính sách tiền

tệ quốc gia, lãi suất là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới tiết

kiệm, đầu tư, và tiêu dùng, và từ đó ảnh hưởng lớn đến tổng cầu hay sự tăng

trưởng của quốc gia Trần lãi suất cho vay ở Việt Nam hiện đã nhiều lần

được hạ thấp nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và thực hiện chính

sách kích cầu rộng lớn của đất nước Nhưng tuy đã nhiều lần hạ lãi suất mà

tiền gửi tiết kiệm vẫn không giảm, số dư cho vay vẫn không tăng đáng kể

Điều đó cho thấy là lãi suất ấn định của Ngân hàng Nhà nước chưa điều

chỉnh cung cầu vốn như mong muốn Phải chăng lãi suất cần được tự do hoá

cũng như xu thế tự do hoá thị trường hàng hoá để phản ánh được cung cầu

vốn trong nền kinh tế? Phải chăng Ngân hàng Nhà nước cần chuẩn bị để tự

do hoá lãi suất, có thể xem như giá cả của nguồn vốn, để tạo môi trường

thuận lợi hơn về phiá cung, tức việc huy động vốn, và về phiá cầu, tức khiá

cạnh đầu tư của nền kinh tế? Vậy thì, trong xu thế tự do hoá lãi suất, ngân

hàng Nhà nước sẽ sử dụng những công cụ chính sách gì để quản lý điều tiết

sự biến thiên của lãi suất trên thị trường nhằm đạt được những mục tiêu của

chính sách kinh tế quốc dân nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng?

Chúng tôi xin được thảo luận về những yếu tố tác động đến lãi suất trên thị

trường và vấn đề lãi suất trên thị trường tài chính để làm cơ sở cho những

giải pháp liên quan đến vấn đề lãi suất, hay nói cụ thể hơn, những đề xuất

Trang 19

về vai trò của Ngân hàng Nhà nước sau khi bãi bỏ trần lãi suất, thực hiện tự

do hoá lãi suất trong phần 3 của bản luận văn này

2.1.1 Các yếu tố tác động đến lãi suất

Lãi suất tác động rõ rệt và mạnh mẽ đến lưu thông tiền tệ thông qua

việc ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay Bằng lãi suất tiền gửi,

ngân hàng huy động các nguồn vốn trong công chúng tích tụ thành một

nguồn tiền lớn rồi mang cho nguồn tiền đó cho khu vực doanh nghiệp vay

với lãi suất cho vay Lãi suất tiền gửi (hay lãi suất huy động) và lãi suất cho

vay biến thiên cùng chiều Hễ lãi suất huy động cao, lãi suất cho vay cao

Lãi suất huy động cao khuyến khích dân chúng gửi tiền nhiều, ngân hàng

huy động được nhiều vốn và khả năng cho vay tăng lên Nhưng mặt khác,

lãi suất cho vay cao không khuyến khích doanh nghiệp vay vốn, đầu ra khó

khăn và vốn tồn đọng trong ngân hàng Ngược lại lãi suất cho vay là yếu tố

thúc đẩy nhiều người đi vay ở ngân hàng Mà lãi suất cho vay thấp, tất

nhiên lãi suất huy động cũng thấp, đến mức nào đó, nó không khuyến khích

dân chúng tiết kiệm nữa

Lãi suất tín dụng thực chất là giá cả của tín dụng, giá cả của quyền sử

dụng vốn Marshall nói “Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn

trên một thị trường bất kỳ”

Lãi suất tăng hay giảm do sự thay đổi trong cung và cầu tiền; đến

lượt nó, cung và cầu tiền lại phụ thuộc vào các nhân tố sau đây:

• Thu nhập quốc dân: Khi thu nhập quốc dân càng cao thì cầu tiền gia tăng

do các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp và khu vực chính phủ có cần có

lượng tiền nhiều hơn để thực hiện các giao dịch, thỏa mãn nhu cầu về

Trang 20

tiêu dùng và đầu tư, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội v.v… Cầu

tiền tăng gây sức ép lên lãi suất Nếu cung tiền không tăng, lãi suất sẽ

gia tăng để đạt đến trạng thái cân bằng mới trên thị trường tiền tệ

• Sự can thiệp của chính phủ: Sự can thiệp của chính phủ, đặc biệt thông

qua chính sách tiền tệ là nhân tố tác động rất mạnh đến lãi suất, bởi vì

chính sách tiền tệ sẽ sử dụng các công cụ để tác động đến cung tiền (M)

của nền kinh tế Trên nguyên tắc, khi cung tiền tăng, nếu các yếu tố

khác không đổi, lãi suất có khuynh hướng giảm xuống; và ngược lại, khi

cung tiền giảm thì lãi suất tăng lên Giả sử khi cung tiền tăng, tiền gửi

tại ngân hàng cũng tăng lên, ngân hàng có dư thanh khoản, sẽ có khuynh

hướng chấp nhận một lãi suất cho vay thấp hơn thường lệ Ngược lại, khi

cung tiền giảm, ký thác không kỳ hạn tại ngân hàng cũng giảm, khả

năng cho vay của ngân hàng cũng yếu đi, ngân hàng có xu hướng cho

vay với lãi suất cao hơn thường lệ Nhưng đây chỉ là một mô hình tĩnh

trên lý thuyết, vì thông thường trong thực tế, khi cung tiền tăng, lạm phát

sẽ có xu hướng gia tăng Khi đó, lãi suất thực thỏa thuận giữa người đi

vay và người cho vay sẽ gia tăng để bù trừ lạm phát Nếu ngân hàng

trung ương muốn thực hiện chính sách nhằm kiểm soát lượng tiền cung

ứng và kiểm soát lạm phát, nhất định sẽ tác động rất lớn đến lãi suất,

chẳng hạn muốn giảm bớt cung tiền (thực hiện chính sách thắt chặt tiền

tệ), ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu, nhờ đó các mức

lãi suất tín dụng theo đó cũng sẽ được nâng lên và ngược lại Trên thực

tế, chính sách của ngân hàng trung ương đối với cung tiền thường đi đôi

với chính sách lãi suất Nói cách khác, khi ngân hàng trung ương muốn

gia tăng cung tiền, ngân hàng trung ương cũng áp dụng một chính sách

lãi suất thấp nhằm khuyến khích giới doanh nghiệp đi vay nhiều hơn Do

Trang 21

đó, ngân hàng trung ương sẽ hạ thấp lãi suất tái chiết khấu hoặc trần lãi

suất mà các ngân hàng thương mại không được vượt quá

• Tình hình lạm phát trong nước: Lãi suất thường biến động tỷ lệ thuận với

tốc độ lạm phát, thông thường ở những nước có tỷ lệ lạm phát cao thì lãi

suất cũng tăng cao Như đã trình bày ở trên, khi lạm phát tăng, người đi

vay và người cho vay thường thoả thuận một mức lãi suất sao cho bù đắp

được tỷ lệ lạm phát để đạt được lãi suất thực dương Từ đó dẫn đến khái

niệm lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực Lãi suất danh nghĩa là lãi suất

công bố để áp dụng trong các mối quan hệ tài chính tín dụng Còn lãi

suất thực là lãi suất danh nghĩa đã loại trừ tỷ lệ lạm phát Khi cho vay

trong tình hình đang có lạm phát cao, người cho vay có xu hướng đòi hỏi

mức lãi suất danh nghĩa cao hơn để bù trừ tỷ lệ lạm phát, do đó ta có mối

quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa như sau:

Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát dự kiến

2.1.2 Lãi suất trên thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ, như chúng ta đã biết, là một bộ phận của thị trường

tài chính, là nơi mua bán các giấy nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm

Các công cụ của thị trường tiền tệ bao gồm trái phiếu, tín phiếu kho bạc, các

loại thương phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng, các

khế ước cho vay v.v… Đã là nợ thì phải trả lãi Người chủ trái phiếu được

hưởng lãi sau một thời gian Người bán trái phiếu là người cần tiền và

người mua trái phiếu là người có tiền muốn đầu tư để sinh lợi sau một thời

gian ngắn Điều này cho thấy rằng lãi suất trên thị trường tiền tệ có tác

dụng lôi cuốn một số lượng tiền tiết kiệm hoặc tiền dư tạm thời từ nơi thừa

sang nơi thiếu hoặc nơi cần

Trang 22

Sự biến đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ tuân theo một vài yếu tố

chính: (1) giá của trái phiếu, (2) sự tương quan cung và cầu trái phiếu, (3) sự

dự đoán của những người tham gia trên thị trường tiền tệ về giá trái phiếu,

(4) sự can thiệp của ngân hàng trung ương trên thị trường tiền tệ

Trước hết, lãi suất biến đổi ngược chiều với giá của các trái phiếu

Ví dụ, một trái phiếu kho bạc có thời hạn trả là 3 tháng, được bán với giá

970.000 đồng, đáo hạn được hoàn trả 1.000.000 đồng, sai biệt là tiền lãi của

trái phiếu, vào khoảng 1% một tháng Nếu giá lên 980.000 đồng, lời chỉ

còn 20.000 đồng, lãi suất hạ xuống dưới 1% Hãy xem một ví dụ khác: nếu

một trái phiếu có ghi tiền lời được lãnh mỗi năm là 5.000 đồng, người ta

mua với giá 50.000 đồng, thì lãi suất là 10% Nếu giá trái phiếu này tăng

lên 100.000 đồng, lãi suất giảm còn 5% Thứ hai, lãi suất tùy thuộc vào mối

tương quan giữa cung và cầu các trái phiếu Nếu có nhiều người muốn bán

các trái phiếu (cung trái phiếu tăng) trong khi cầu đối với trái phiếu ấy

không đổi, thì giá của trái phiếu có xu hướng giảm, nghĩa là lãi suất tăng

lên Thứ ba, lãi suất phụ thuộc sự dự đoán và hành vi của những người tham

gia thị trường Giả sử trong trường hợp sự biến động cung cầu làm giảm giá

trái phiếu và tăng lãi suất Khi đó, lãi suất tăng là một yếu tố hấp dẫn

người mua trái phiếu nhiều hơn, tức làm tăng cầu Mặt khác, khi giá các

trái phiếu giảm, những người đầu cơ trên thị trường tiền tệ có thể tiên đoán

rằng giá cả các trái phiếu sẽ không giảm nữa, vì nó đã giảm nhiều rồi Do

đó, họ có khuynh hướng mua trái phiếu trước khi nó lên giá trở lại Điều

này làm tăng cầu thêm nữa, có ảnh hưởng làm tăng giá trái phiếu, tức làm

giảm lãi suất

Trang 23

Nhưng những người đầu cơ cũng có thể dự đoán ngược lại Tình

huống của thị trường tiền tệ lẽ tất nhiên biến đổi nhiều mặt, tuỳ dự đoán và

sự tính toán của tất cả những người tham gia thị trường Nếu ngược lại,

người ta tiên đoán giá trái phiếu sẽ còn giảm nữa, trong tình hình khủng

hoảng chính trị hay kinh tế, họ sẽ vội vã bán trái phiếu trước khi giá của nó

tụt giảm trầm trọng làm bùng nổ khủng hoảng trên thị trường tài chính

Ngoại trừ trường hợp cực đoan đó, vả lại còn có sự can thiệp của ngân hàng

trung ương trên thị trường tiền tệ để tránh tình huống xấu này có thể xảy ra,

thông thường giá các trái phiếu xuống tới mức độ nào đó rồi lại tăng lên vì

những tiên đoán lạc quan của những người đầu cơ Lãi suất sau khi đứng lại

rồi lại sụt giảm khi giá trái phiếu bắt đầu tăng lên Nói tóm lại, lãi suất trên

thị trường tiền tệ luôn luôn biến đổi tùy theo tương quan cung cầu, và tuỳ

theo những dự đoán của những người tham gia trên thị trường này Và thứ

tư, đó cũng là lý do khiến ngân hàng trung ương can thiệp vào lãi suất trên

thị trường tiền tệ thông qua các nghiệp vụ thị trường mở: những hành vi mua

hay bán trái phiếu ra thị trường

Ngân hàng trung ương có thể mua hay bán trái phiếu để duy trì mức

lãi suất trên thị trường tiền tệ ở một mức tương đương với lãi suất tín dụng

trong hệ thống ngân hàng, vì ngân hàng trung ương không muốn thay đổi

mức lãi suất hiện hành Ngân hàng trung ương cũng có thể chủ động tăng

hay giảm lãi suất theo chính sách tiền tệ của mình: nếu muốn tăng lãi suất,

ngân hàng trung ương sẽ tung trái phiếu ra bán, làm giá trái phiếu giảm, lãi

suất tăng Ngược lại, muốn giảm lãi suất, ngân hàng trung ương mua trái

phiếu vào làm cho giá trái phiếu đắt hơn, lãi suất tăng

Trang 24

2.1.3 Lãi suất trên thị trường vốn

Trên thị trường vốn, các giấy nợ trung hạn, dài hạn (chứng khoán có thời

hạn trên một năm) và các loại cổ phiếu được mua bán Lãi suất trên thị

trường tiền tệ là lãi suất ngắn hạn, còn lãi suất trên thị trường vốn là lãi suất

dài hạn

Những biến đổi của lãi suất trên thị trường vốn cũng phụ thuộc vào

những yếu tố giống như trên thị trường tiền tệ, tức lãi suất biến đổi ngược

chiều với giá cổ phiếu và trái phiếu dài hạn, và tuỳ thuộc vào mối tương

quan giữa cung và cầu của chứng khoán Nếu so với trái phiếu ngắn hạn

trên thị trường tiền tệ, vốn biến động rất mạnh với lãi suất, thì giá trái phiếu

dài hạn biến động chậm hơn Nhưng đối với cổ phiếu, những thông tin về

lãi suất tác động rất mạnh đến giá cổ phiếu Tuy nhiên, trên thị trường tín

dụng trung và dài hạn này, không có sự can thiệp trực tiếp của ngân hàng

trung ương Ngân hàng trung ương không mua bán chứng khoán, mà chỉ có

ảnh hưởng gián tiếp qua việc can thiệp trên thị trường tiền tệ từ đó tác động

đến lãi suất thị trường vốn Nói chung, lãi suất ngắn hạn biến đổi mạnh

hơn, sâu rộng hơn lãi suất dài hạn và thường thấp hơn lãi suất dài hạn Mặc

dầu vậy, khuynh hướng biến đổi của hai loại lãi suất ngắn và dài hạn vẫn

theo cùng một chiều hướng như nhau

2.1.4 Thực trạng quản lý lãi suất ở Việt Nam

Từ những khái quát trên, ta thấy lãi suất là giá phải trả để sử dụng một

số tiền vay thông qua hợp đồng vay hay bán trái phiếu trong một thời gian

nhất định Nhưng tiền tệ là một mặt hàng hoàn toàn khác với bất kỳ sản

phẩm hay dịch vụ nào khác Đối với tiền tệ, người cho vay phải thu hồi lại

Trang 25

“món hàng” của mình cùng với cái giá nhận được sau một thời gian để cho

người đi vay sử dụng sản phẩm của mình, và “món hàng” lại tiếp tục được

cho vay để các doanh nghiệp tạo ra thêm hoặc lưu thông hàng hoá và dịch

vụ khác cho xã hội Người bán sản phẩm, tức người cho vay, chỉ nhận được

một khoản tiền bán sản phẩm (lãi vay) chiếm một tỷ lệ nhỏ so với giá trị

của sản phẩm (khoản vay) Vì thế, yếu tố rủi ro đóng một vai trò rất lớn

trong lĩnh vực kinh doanh này Mặt khác, tiền lại là một công cụ để nhà

nước quản lý vĩ mô trong nền kinh tế nên “món hàng kinh doanh” này phải

được nhà nước quản lý chặt chẽ Các ngân hàng thương mại vừa là đối

tượng vừa là chủ thể chính thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà

nước Trong thời gian vừa qua, cho dù Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần hạ

trần lãi suất nhưng cầu vốn vẫn không tăng lên được, trái lại, mức cung vẫn

không giảm, và tiền gửi ở các ngân hàng vẫn tồn đọng nhiều Như vậy có

nghĩa là qui định trần lãi suất của ngân hàng vẫn không phản ánh được mức

cung cầu của đồng vốn, ta không thể định mức trần hay mức sàn để khống

chế nhằm mục tiêu thúc đẩy doanh nghiệp đi vay hay bảo vệ người cho vay

Qui định lãi suất bằng mệnh lệnh hành chính vẫn không phải là một công cụ

thích hợp trong xu thế tự do hoá ngày nay, và rõ ràng không đạt được mục

tiêu chính sách mong muốn trong mục tiêu chung của hệ thống chính sách là

kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng

Bảo vệ an toàn tiền gửi cho khách hàng dĩ nhiên phải là mục tiêu

hàng đầu của ngân hàng vì có như thế ngân hàng mới xây dựng được uy tín

để tồn tại Chính vì vậy mà mỗi ngân hàng phải tự đánh giá khách hàng

của mình để ấn định một lãi vay cho phù hợp Trong hệ thống ngân hàng

thương mại, lãi suất cho vay ưu đãi của một số ngân hàng hàng đầu đối với

các khách hàng lớn, có uy tín, có điều kiện thuận lợi về thị trường, thường là

Trang 26

lãi suất nền để các ngân hàng khác dựa vào đó ấn định lãi suất cho vay,

thay đổi đối với từng khách hàng vì lẽ đương nhiên, các doanh nghiệp luôn

luôn khác nhau về tình hình tài chính, khả năng kinh doanh, uy tín doanh

nghiệp v v… Trong quá trình xem xét hồ sơ xin vay, ngân hàng phải đánh

giá tình hình tài chính và uy tín của doanh nghiệp nói riêng, môi trường kinh

tế nói chung Như vậy, lãi suất cho vay không thể thống nhất mà phải khác

biệt để vừa tránh rủi ro, vừa không khuyến khích doanh nghiệp đi vay nếu

không đáp ứng tiêu chuẩn do ngân hàng đặt ra Lãi suất phải là một sự thoả

thuận giữa bên đi vay và bên cho vay theo từng hợp đồng ngay cả trong

trường hợp có thế chấp Hay nói cách khác, lãi suất phải quyết định bằng

cung cầu vốn trên thị trường thì mới đáp ứng được nhu cầu của người cần

vốn và khả năng cung ứng của thị trường Khống chế trần lãi suất có thể

nhằm khuyến khích doanh nghiệp đi vay nhưng tình hình tài chính của

doanh nghiệp không đảm bảo mà không được tính đến sẽ gây tác hại lớn

cho hệ thống ngân hàng sau này Nhưng nếu bãi bỏ trần lãi suất, Ngân hàng

Nhà nước làm thế nào để điều tiết được lưu thông tiền tệ, kiểm soát lãi suất

và hoạt động vốn của thị trường để đảm bảo một môi trường tài chính lành

mạnh? Chúng tôi xin được phép đưa ra câu trả lời cho vấn đề này trong

phần 3, các giải pháp tự do hoá tài chính ở Việt Nam

2.2 Vấn đề tỷ giá hối đoái

2.2.1 Những yếu tố chủ yếu để lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái:

Một điểm quan trọng khác trong tự do hoá tài chính gắn với tự do hoá

tài chính quốc tế là chính sách tỷ giá hối đoái Hiện nay trên thế giới tồn tại

nhiều quan điểm về chính sách này: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá thả nổi

Trang 27

có quản lý và tỷ giá thả nổi hoàn toàn Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã tổng kết

những yếu tố chủ yếu để lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái như sau [23]:

- Qui mô và độ mở của nền kinh tế: nếu ngoại thương chiếm tỷ trọng lớn

trong GDP thì cái giá phải trả do tiền tệ không ổn định rất cao Nếu tỷ

trọng này nhỏ thì một nền kinh tế mở có thể giữ tỷ giá hối đoái cố định

- Tốc độ lạm phát: nếu một nước có tỷ lệ lạm phát cao hơn nhiều so với

nước bạn hàng thì tỷ giá hối đoái cần mềm dẻo để đảm bảo khả năng

cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới Nếu chênh lệch tốc độ

lạm phát không nhiều thì tỷ giá hối đoái cố định tỏ ra thích hợp hơn

- Mức độ năng động của thị trường lao động: tiền lương càng đông cứng

thì càng cần một tỷ giá hối đoái mềm dẻo để giúp nền kinh tế chống lại

những cú sốc từ bên ngoài

- Mức độ phát triển tài chính: các nước đang phát triển có thị trường tài

chính yếu ớt, không nên thả nổi tỷ giá hoàn toàn vì chỉ cần một số nhỏ

các giao dịch đối ngoại cũng có thể gây ra những biến động tiền tệ lớn

- Mức độ tín nhiệm của các nhà hoạch định chính sách: uy tín của ngân

hàng trung ương càng thấp thì càng phải cố gắng cố định tỷ giá để thuyết

phục về khả năng kiểm soát lạm phát của ngân hàng trung ương

- Tính năng động của vốn: một nền kinh tế mở hướng tới các nguồn vốn

quốc tế càng mạnh thì càng khó giữ tỷ giá cố định

Trang 28

2.2.2 Diễn biến tỷ giá hối đoái ở Việt Nam:

Nhìn lại thời gian qua, chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đã

từng bước đổi mới trong quá trình thích ứng với nền kinh tế thị trường

Trước năm 1988, Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá cố định Bắt đầu từ

ngày 20-10-1988, theo quyết định 271/CTHĐBT, tỷ giá hối đoái của Việt

Nam từng bước được điều chỉnh phù hợp với thị trường, Việt Nam chuyển

sang chính sách tỷ giá hối đoái cố định có điều chỉnh

Tháng 8-1991, Trung tâm Giao dịch Ngoại tệ ra đời làm nền tảng cho

việc thực hiện ý tưởng giải quyết vấn đề ngoại tệ theo quan điểm thị trường

Ngày ấy, các phiên giao dịch được tiến hành hàng tuần vào mỗi chiều thứ

hai, sau khi các ngân hàng và doanh nghiệp đăng ký lượng mua và bán

ngoại tệ, mà thực chất chỉ là đi mua ngoại tệ, nên các phiên giao dịch của

trung tâm này chỉ thực hiện việc gán ghép nhu cầu mua với nguồn bán chủ

yếu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hoặc các ngân hàng thương mại quốc

doanh Lượng giao dịch như thế rất phiến diện và thường rất ít ỏi, nhưng tỷ

giá đóng cửa của phiên giao dịch lại được sử dụng cho việc định giá mua

bán ngoại tệ của cả hệ thống ngân hàng Về sau, Ngân hàng Nhà nước

nhận thấy rằng sự có mặt của các doanh nghiệp trong các phiên giao dịch

này là không cần thiết, chỉ có các ngân hàng thương mại mới thực hiện đúng

nhất chức năng giao dịch với khách hàng Ý tưởng về một thị trường ngoại

tệ liên ngân hàng ra đời từ đó

Nếu như thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời nhằm mục đích điều

hoà vốn đồng tiền Việt Nam giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) thì thị

trường ngoại tệ liên ngân hàng (TTNTLNH) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu

cân đối cung cầu mua bán ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng Ngày

20-9-1994, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân

Trang 29

hàng, và chỉ có các ngân hàng mới được giao dịch trên thị trường này Có

nghĩa là từ bấy giờ không còn sự nhóm họp hàng tuần nữa Ngân hàng Nhà

nước định ra khung pháp lý, tức là qui chế của thị trường ngoại tệ liên ngân

hàng, để các ngân hàng thành viên được giao dịch trong phạm vi điều chỉnh

của khung pháp lý Tỷ giá chính thức được công bố mỗi ngày, và tỷ giá

mua bán trên thị trường chỉ được dao động trong một biên độ qui định là

±0,5% so với tỷ giá chính thức Tháng 11-1996, biên độ này được điều

chỉnh là ±1% Trong những năm 1994-95, khi lượng vốn đầu tư nước ngoài

chảy vào Việt Nam khá ồ ạt, làm tăng cung ngoại tệ, thì hoạt động của

TTNTLNH rộ lên tương đối nhộn nhịp, bởi lúc đó một số ngân hàng có

nhiều ngoại tệ để bán cho NHNN thu về tiền đồng Việt Nam Trong khi

một số ngân hàng khác có qui mô hoạt động hạn chế hơn thì cần đến ngoại

tệ phục vụ cho nhu cầu thanh toán của khách hàng Nhưng kể từ năm 1996,

tình hình thay đổi rất nhiều trên thị trường ngoại hối, đặc biệt là từ năm

1997 khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực bùng nổ, sự thiếu hụt ngoại

hối đã bộc lộ ở đỉnh điểm NHNN liên tục mở rộng biên độ giao dịch

Ngày 27-2-1997, NHNN nâng biên độ từ 1% lên ±5% Chưa đầy tám tháng

sau, ngày 13-10-1997, biên độ giao dịch lại được mở rộng lên ±10%, đánh

dấu một giai đoạn cầu ngoại tệ hết sức căng thẳng Ngày 16-2-1998,

NHNN thông báo tăng tỷ giá chính thức từ 11.175 VND/USD lên 11.800

VND/USD tức là phá giá 5,3% Trong thời gian này, do tỷ giá chính thức

được công bố luôn thấp hơn tỷ giá trên thị trường nên tỷ giá trên thị trường

luôn luôn chạm trần biên độ Ngày 7-8-1998, NHNN thu hẹp biên độ giao

dịch ngoại tệ xuống ±7%, đồng thời nâng tỷ giá chính thức từ 11.800

VND/USD lên 12.998 VND/USD (phá giá 10%) Theo đó, tỷ giá thị trường

liên ngân hàng từ 12.998 VND tăng lên 13.908 VND/USD Bất chấp những

Trang 30

cố gắng của NHNN, cầu ngoại tệ vẫn vượt xa cung, sự thiếu hụt ngoại hối

trở nên gay gắt, hoạt động của TTNTLNH đi vào giai đoạn cực kỳ khó

khăn, buộc Chính phủ phải điều chỉnh chính sách ngoại hối thông qua việc

ban hành một nghị định quan trọng là Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày

17-8-1998 về quản lý ngoại hối, trong đó qui định tỷ giá hối đoái của đồng Việt

Nam so với các ngoại tệ được hình thành dựa trên cơ sở cung cầu ngoại tệ

trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Hàng ngày NHNN công bố tỷ

giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng giữa đồng

Việt Nam với đô-la Mỹ trên các phương tiện thông tin đại chúng Căn cứ

vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, NHNN qui định biên độ

dao động so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân

hàng, để các ngân hàng được phép xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán giữa

VND và USD

Thế là chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam chuyển sang cơ chế

thả nổi có quản lý, một bước đi phù hợp theo chiều hướng tự do hoá một

cách thận trọng sau mười năm chuyển đổi sang cơ chế thị trường Có thể

nói, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực, đây có thể là một sáng

kiến có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng Vì nếu nhìn lại quá khứ, sau khi Nhà

nước xoá bỏ việc ngăn sông cấm chợ lương thực, thì từ một nước thiếu ăn,

Việt Nam đã đi lên trở thành một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu

gạo Cho nên, lượng ngoại tệ trước đây dân cư nắm giữ, bây giờ có dịp chảy

vào ngân hàng mà vẫn bảo đảm an toàn và thu nhập thông qua lãi suất

Ngày 25-2-1999, NHNN công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị

trường ngoại tệ liên ngân hàng thay cho việc công bố tỷ giá chính thức, và

công bố tỷ giá liên ngân hàng vào ngày 26-2-1999 là 13.880 VND/USD

(thay cho tỷ giá chính thức trước đó là 12.972 VND/USD) Đồng thời,

Trang 31

NHNN cũng thông báo biên độ để các tổ chức tín dụng kinh doanh ngoại tệ

xác định tỷ giá mua bán là ±0,1% so với tỷ giá giao dịch thực tế bình quân

trên thị trường liên ngân hàng do NHNN công bố hàng ngày

Qua quá trình tiến hoá của tỷ giá hối đoái Việt Nam, chúng tôi nhận

thấy việc áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý hiện nay là

một quá trình chuyển hoá dần dần với bao nỗi thăng trầm của đồng tiền

Việt Nam, chứ không phải kết quả có được một sớm một chiều, và tỏ ra

thích hợp trong xu thế hội nhập tài chính quốc tế Tuy nhiên, phải chăng

chính sách tỷ giá hối đoái như thế đã là hoàn hảo? Sự hoạt động của

TTNTLNH như thế là nhịp nhàng êm thắm và có tính chu chuyển cao? Cần

có chăng một vài đề xuất về vấn đề quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam?

Chúng tôi xin cố gắng giải đáp những câu hỏi này trong phần 3 của bản luận

văn này: các giải pháp tự do hoá tài chính ở Việt Nam

2.3 Tình hình chỉ đạo phân bổ tín dụng ở Việt Nam

Một cách khái quát, nói đến việc chỉ đạo phân bổ tín dụng cũng có

nghĩa là nói đến tài chính doanh nghiệp nhà nước bởi vì gần như toàn bộ tín

dụng chỉ đạo là dành cho các doanh nghiệp nhà nước

2.3.1 Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước

Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một

vấn đề quan trọng đối với Việt Nam bởi vì nó ảnh hưởng lớn đến thu nhập

quốc dân và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ

phần lớn trong nền kinh tế (khoảng 30 phần trăm GDP) và được hưởng một

tỷ trọng tiết kiệm quốc dân không cân xứng theo tỷ lệ, đặc biệt là lượng tiết

kiệm được phân bổ thông qua hệ thống chính thức (khoảng 50 phần trăm tín

dụng ngân hàng chưa thanh toán) Các doanh nghiệp nhà nước không hấp

thu nhiều lao động như tương đương theo tỷ lệ (chỉ có 5 phần trăm tổng lực

Trang 32

lượng lao động và 15 phần trăm lực lượng lao động phi nông nghiệp), nhưng

đây hầu như không phải là lời khen ngợi vì người ta ước lượng rằng hơn hai

phần năm lực lượng lao động (khoảng 12-15 triệu người) đang thất nghiệp

hay khiếm dụng.1

Cũng như tại đa số các nước, các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

cũng bị nhiễm tính chất không hiệu quả Biểu thị chính của tính không hiệu

quả ở khu vực doanh nghiệp nhà nước là lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ, thậm

chí sau khi được bảo hộ trước sự cạnh tranh trong nước và quốc tế, và trong

nhiều trường hợp còn được ban cho lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa

Vì các khoản lỗ của các doanh nghiệp nhà nước phải được tài trợ bằng ngân

sách nhà nước hoặc bằng các khoản vay từ hệ thống ngân hàng, nên vấn đề

không hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh

tế hoặc thông qua sự bất ổn kinh tế vĩ mô và/hoặc chèn lấn những người vay

mượn xứng đáng khác ra khỏi hệ thống tài chính Khi các doanh nghiệp nhà

nước không thể hoàn trả nợ vay, toàn bộ hệ thống tài chính có thể bị rơi vào

tình thế nguy nan

Những chứng cứ sẵn có cho thấy rằng tình trạng không hiệu quả ở các

doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã đặt hệ thống tài chính vào cảnh hiểm

nghèo, tiếp tục lấn át đầu tư tư nhân và đang bắt đầu tạo thành mối đe dọa

sự ổn định kinh tế vĩ mô Cho dù những chứng cứ sẵn có chưa nêu được hết

tầm vóc của vấn đề không hiệu quả biểu hiện trên lĩnh vực tài chính của các

doanh nghiệp nhà nước, nhưng nó cũng đã vẽ nên một bức tranh u ám

Bảng 2.1 trình bày kết quả nghiên cứu của Bộ Tài chính cho 5.429 doanh

nghiệp nhà nước (trong tổng số 5.800) được xếp loại thành các loại doanh

nghiệp có lãi, tạm thời thua lỗ, và thường xuyên thua lỗ [15, 42-53] Theo

Trang 33

bảng ta thấy, chỉ khoảng 40 phần trăm các doanh nghiệp nhà nước (chiếm

khoảng 58 phần trăm công việc làm của doanh nghiệp nhà nước) được ghi

nhận là có lãi theo báo cáo của Bộ Tài chính năm 1999.2

Bảng 2.1: Các tỷ số tài chính của doanh nghiệp nhà nước

Số

DNNN (số)

Nợ/

Tài sản(%)

Nợ quá hạn/

Nợ ngắn hạn(%)

Sản lượng/

Lao động (triệu đồng)

Xuất khẩu/

Doanh thu (%)

Nguồn: Báo cáo quốc gia của IMF số 99/55, trang 55

Những doanh nghiệp nhà nước thua lỗ có một số đặc điểm chung

Các doanh nghiệp này có xu hướng là những công ty nhỏ, năng suất lao

động tương đối thấp, phụ thuộc nhiều vào thị trường trong nước và có đòn

cân nợ cao, bình quân tỷ số nợ trên tài sản vào khoảng 0,8 và khoảng một

phần ba nợ ngắn hạn chưa thanh toán quá hạn Điều quan trọng là, như báo

cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế lưu ý, “Trong hầu hết mọi trường hợp, nguồn

nợ chính [của những doanh nghiệp không có lãi] là hệ thống ngân hàng

trong nước.” Từ khi nghiên cứu của Bộï Tài chính hoàn tất, tình hình trong

khu vực doanh nghiệp nhà nước còn trầm trọng hơn, cầu nội địa suy yếu và

lượng tồn kho các mặt hàng công nghiệp chủ chốt gia tăng đáng kể, được tài

trợ phần lớn bằng vay mượn từ hệ thống ngân hàng với tỷ lệ ngày càng

tăng

2 Rõ ràng số doanh nghiệp gọi là có lãi lẽ ra còn ít hơn nếu như tiêu chí là một suất sinh lợi bằng

hoặc lớn hơn chi phí sử dụng vốn, và thậm chí còn ít hơn nữa nếu như ta điều chỉnh các khoản trợ

cấp chính thức và ngầm ẩn, trong đó có bảo hộ mậu dịch chẳng hạn

Trang 34

2.3.2 Tình hình phân bổ tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước từ hệ

thống ngân hàng

Tác động của tình trạng không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà

nước đối với khả năng tồn tại và sức mạnh của hệ thống tài chính trong nước

được trình bày trong bảng 2.2 Các doanh nghiệp nhà nước là người vay

mượn chủ yếu trong hệ thống tài chính nói chung, và tại các ngân hàng

thương mại quốc doanh (NHTMQD) nói riêng Ngoài ra, rõ ràng là với tình

trạng lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước giảm sút trong những năm

1995-1998, vấn đề chèn lấn sự vay mượn của kinh tế tư nhân càng trầm trọng

hơn, khi các doanh nghiệp nhà nước gia tăng vay mượn để tài trợ cho sự tồn

đọng hàng hoá và thua lỗ tài chính Chẳng những các doanh nghiệp nhà

nước hấp thu phần lớn tín dụng nội tệ, mà còn được hưởng quyền tiếp cận

ưu tiên hơn với tín dụng ngoại tệ, họ nhận được hơn 90 phần trăm tín dụng

ngoại tệ do các ngân hàng thương mại quốc doanh phát hành

Bảng 2.2: Phân bổ tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước

từ Hệ thống Ngân hàng: 1995-98

1995 1996 1997 1998 Tín dụng cho DNNN/Tín dụng cho nền

Tín dụng của NHTMQD cho DNNN/Tổng

tín dụng của NHTMQD

62.5 57.5 55.4 57.2

Vay ngoại tệ của DNNN từ

NHTMQD/Tổng cho vay ngoại tệ của

NHTMQD

90.6 93.2 90.0 91.0

Tỷ lệ gia tăng tín dụng cho nền kinh tế 26.9 20.1 22.6 16.4

Tỷ lệ gia tăng tín dụng cho DNNN 17.7 11.3 15.6 21.7

Tỷ lệ gia tăng tín dụng cho sản xuất công

Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực 9.5 9.3 8.2 5.8

Nguồn: Báo cáo Quốc gia của IMF số 99/55, phụ lục thống kê

Trang 35

Nếu tình trạng phân bổ tín dụng ở Việt Nam cứ tiếp tục duy trì theo

chiều hướng này thì còn gì là tự do hoá tài chính nữa? Hướng giải quyết vấn

đề này ra sao, một lần nữa, chúng tôi xin dành câu trả lời cho chương 3 bản

luận văn này

2.4 Môi trường pháp lý ở Việt Nam

Yếu tố môi trường pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát

triển thị trường tài chính và tự do hoá tài chính Hệ thống tài chính cần có

được một khung pháp lý vững chắc với các luật liên quan đến thế chấp và

tịch thu tài sản thế chấp có hiệu lực Mặt khác, để đảm bảo hệ thống tài

chính hoạt động ổn định và ngăn ngừa người cho vay tiến hành những hoạt

động không trung thực, những biện pháp giám sát của chính phủ đối với thị

trường tài chính và các tổ chức tài chính cũng có tầm quan trọng tương tự

trong việc kiểm tra chất lượng các khoản vay cũng như mức độ đầy đủ vốn

của các ngân hàng Đó cũng chính là vấn đề ẩn chứa đàng sau những câu

chuyện vụ án có liên quan đến hoạt động cho vay của các ngân hàng gần

đây, như vụ án công ty Minh Phụng-EPCO, công ty Ngọc Thảo…

2.4.1 Khung pháp lý và những qui định giám sát trong hệ thống tài

chính

Một trong những yếu tố quan trọng để nền kinh tế có thể thực hiện

tốt quá trình hội nhập tài chính là một khung pháp lý vững chắc, vốn chẳng

phải chỉ có một hệ thống luật lệ và qui định, mà còn bao hàm các định chế

cần thiết để thực hiện và cưỡng chế thi hành luật và giải quyết tranh chấp,

bao gồm toà án, các cơ quan cưỡng chế thi hành luật, các cơ quan đăng ký

đất đai, tài sản thế chấp và doanh nghiệp [24, 2] Trong các nền kinh tế thị

trường, phần lớn các giao dịch là dựa trên hợp đồng Khi những luật lệ qui

định quyền sở hữu được rõ ràng và cơ chế cưỡng chế thi hành luật vận hành

Trang 36

tốt đẹp thì chi phí hoạt động kinh doanh thấp hơn và thị trường vận hành

hiệu quả hơn

Có một mối liên kết rất chặt chẽ giữa sức mạnh của khung pháp lý

quốc gia, trình độ phát triển hệ thống tài chính và thành quả tăng trưởng

kinh tế Căn cứ theo một nghiên cứu gần đây cho nhiều quốc gia [17, 4]:

“Số liệu cho thấy rằng những quốc gia nào có hệ thống pháp luật qui định

quyền ưu tiên cho những người cung ứng tín dụng nhận được toàn bộ hiện giá

của các khoản cho vay của họ đối với công ty trong trường hợp phá sản hay

tái tổ chức công ty thì có các trung gian tài chính phát triển hơn Tương tự,

những quốc gia nào có hệ thống pháp luật cưỡng chế thi hành hợp đồng một

cách hiệu quả hơn thì có các trung gian tài chính phát triển tốt hơn so với

những quốc gia mà việc cưỡng chế thi hành hợp đồng lỏng lẻo hơn Ngoài

ra, vấn đề tiếp cận thông tin cũng hết sức quan trọng Mặc dù kém mạnh mẽ

hơn so với các biến số quyền ưu tiên của người cung ứng tín dụng và hiệu quả

pháp lý, số liệu cũng minh họa mối quan hệ đồng biến mạnh giữa sự phát

triển trung gian tài chính và mức độ các công ty công bố các thông tin tương

thích và toàn diện.”

Tầm quan trọng của một khung luật pháp và qui định đối với sự phát

triển tài chính là nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho vay có bảo đảm

Khả năng mà người cho vay có thể thu giữ vật thế chấp, cưỡng chế thực thi

các điều khoản hợp đồng vay, và yêu cầu thực hiện các hình thức bảo đảm

nghĩa vụ nợ của con nợ tại toà án và nếu cần, với lực lượng công an nhà

nước, giúp gia tăng tính hiệu quả [24] Nó giúp người cho vay giảm chi phí

thu thập thông tin về người đi vay vì người cho vay chỉ cần biết thông tin về

vật thế chấp, chứ không phải về toàn bộ doanh nghiệp Nó giúp người cho

Trang 37

vay giảm chi phí giám sát người đi vay để bảo đảm họ đang sử dụng khoản

vay một cách hiệu quả [21, 156] Thông qua giảm chi phí, việc cho vay có

bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho một khối lượng giao dịch tín dụng lớn

hơn và cho phép mức đầu tư và tăng trưởng cao hơn

Ở Việt Nam, sự phát triển tài chính, được đo lường bằng tỷ lệ cung

tiền (M2) trên GDP, tương đối thấp so với một số nước trong khu vực mà

chúng tôi có được số liệu, như thể hiện qua bảng 2.3 Tại sao và làm thế

nào giải quyết những vấn đề này? Một lần nữa, chúng tôi xin dành câu trả

lời cho chương 3

Bảng 2.3: So sánh trình độ phát triển tài chính ở các nước:

M2 tính theo phần trăm GDP trong những năm chọn lọc

Hàn Quốc Đài Loan Thái Lan Trung Quốc Việt Nam

1970: 44 1960: 24 1970: 28 1980: 43 1994: 24

1980: 33 1970: 25 1980: 38 1990: 80 1996: 24

1997: 48 1990: 143 1997: 90 1997: 120 1998: 27

Nguồn: IMF, International Financial Statistics

2.4.2 Tình hình sân chơi của các doanh nghiệp Việt Nam

Có nhiều nghiên cứu của các nhà quản trị kinh doanh đã dẫn chứng

bằng tư liệu cho một nhận định phổ biến rằng sân chơi cho các nhà doanh

nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa bình đẳng Một nghiên cứu mới đây của

Saigon Economic Times đã tường thuật rằng hơn một nửa các nhà quản trị

không tin rằng “luật pháp nhà nước liên quan chặt chẽ với thực tế làm ăn

kinh doanh ở Việt Nam”[20, 5] Một số đông các nhà quản trị cho rằng “hệ

thống luật pháp hiện hành không dành cho các loại hình doanh nghiệp

Trang 38

những cách đối xử công bằng” [20] Những phát hiện tương tự cũng được

trình bày trong một điều tra của IFC/MPDF về 95 công ty tư nhân lớn hơn.3

• “Những nhà sản xuất tư nhân này không cảm thấy rằng họ có thể trông

mong ở sự bảo vệ của chính phủ về những quyền hợp pháp của họ như

một công ty [25, 18].”

• “Các nhà quản trị cay đắng than phiền về những qui định nhà nước

không rõ ràng và thường xuyên thay đổi, gây ra những tác động trực tiếp

đối với công việc kinh doanh của họ Theo nhận định của họ, qui định

của chính phủ quá thường xuyên thay đổi mà không thông báo, và tình

trạng thiếu cụ thể của luật pháp và qui định đã trao cho các viên chức

bậc trung quá nhiều sự tuỳ tiện [25, 19].”

• Khi nói đến các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, báo cáo viết “Bộ máy

hành chính của Việt Nam phức tạp và không rõ ràng, và hơn một trăm

loại giấy phép khác nhau—đa số phải được thay mới hàng năm—theo

như đưa tin là phải được cấp phát để hoạt động Giấy phép đầu tư phải

được sự phê duyệt của 12 bộ và ban ngành khác nhau [25, 20].”

Lẽ dĩ nhiên chính phủ cũng ý thức rõ những vấn đề này và đang nỗ

lực khắc phục Đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực này là Luật Doanh

nghiệp mới với mục đích là đơn giản hoá hệ thống cấp phép cho các công ty

mới và mở rộng phạm vi hoạt động trong đó các công ty đã đăng ký có thể

tham gia Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp, có hiệu lực từ tháng giêng năm

2000, vẫn còn thiếu những qui định thực hiện xác định tính hữu hiệu của

luật trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng

3 Đoạn sau đây trích từ một bản tóm tắt các kết quả điều tra được báo cáo trong Leila Webster,

Trang 39

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở

VIỆT NAM

3.1 Điều kiện để tự do hoá tài chính ở Việt Nam

3.1.1 Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới

Theo như các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới đã lưu ý, để phân

tích mức độ phát triển tài chính, chúng ta muốn có “các số đo về khả năng

của các hệ thống tài chính khác nhau trong việc nghiên cứu và nhận diện

được những dự án có lời, giám sát và kiểm soát các nhà quản lý, giúp quản lý

rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực” [16, 7]

Đáng tiếc thay, không một biện pháp nào như thế hiện hữu cả Nghiên cứu

của Ngân hàng Thế giới sử dụng ba chỉ báo về phát triển trung gian tài

chính mà dựa vào đó chúng ta có thể đối chiếu suy ra những điều kiện cần

thiết để Việt Nam có thể tự do hoá tài chính thành công:

(1) Tài sản nợ thanh khoản trên GDP: Biến số này là các tài sản nợ có tính

thanh khoản của hệ thống tài chính (tiền mặt cộng với tài sản nợ kỳ hạn

có tính lãi của các ngân hàng và các định chế tài chính ngoài ngân hàng

trên GDP) Đây là số đo “độ sâu tài chính”

(2) Tài sản có của ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương:

Biến số này là tỷ số của tài sản có của ngân hàng thương mại chia cho

tổng tài sản có của ngân hàng thương mại và của ngân hàng trung ương

Tiền đề đưa ra là: tỷ số này càng cao, hệ thống tài chính càng có khả

năng hơn trong việc nhận diện được những cuộc đầu tư có lời, giám sát

các nhà quản lý, tạo thuận lợi cho việc quản lý rủi ro và huy động tiết

kiệm

“SMEs in Vietnam: On the Road to Prosperity,” Báo cáo của MPDF số 10, tháng 11-1999

Trang 40

(3) Tín dụng tư nhân trên GDP: Biến số này là tín dụng của các trung gian

tài chính cung cấp cho khu vực tư nhân chia cho GDP Nghiên cứu trên

cũng lưu ý rằng ”chúng ta lý giải mức tín dụng tư nhân càng cao là biểu

hiện cho mức độ dịch vụ tài chính càng cao và do đó sự phát triển trung

gian tài chính càng cao”

Suy ngẫm từ các biến số này, ta có thể rút ra được những điều kiện

gì cho Việt Nam? Nền kinh tế Việt Nam phải đạt được những gì để đảm bảo

tự do hoá tài chính thành công?

3.1.2 Các quan điểm và điều kiện để tự do hoá tài chính ở Việt Nam

Tư tưởng tự do hoá tài chính đã thể hiện trong sự đổi mới các quan

điểm của chính sách tài chính trong giai đoạn hiện nay; các quan điểm đó

là:

™ Xây dựng một nền tài chính lành mạnh, dựa trên cơ sở một nền kinh tế

hàng hoá phát triển với cơ cấu nhiều thành phần Từ đó mở rộng khả

năng, tăng nhanh tốc độ tạo vốn từ nội bộ kinh tế, mau chóng hình thành

và phát triển thị trường tài chính, thị trường tiền tệ thông suốt từ trong

nước và hoà nhập với thị trường quốc tế, nhằm tận dụng mọi nguồn tài

lực, đẩy nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế quốc dân

™ Các chủ trương và biện pháp của chính sách tài chính phải được xây

dựng trên cơ chế kinh tế thị trường mở, nhìn từ góc độ tạo nguồn, phân

phối vốn và xác lập cơ chế vận hành của hệ thống tài chính Trong đó,

phải phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về mặt kinh tế trên

phương diện quản lý ngân sách quốc gia với chức năng quản lý kinh

doanh của tài chính các doanh nghiệp

™ Chính sách động viên các nguồn tài chính phải tạo điều kiện thu hút vốn

từ nhiều nguồn và bằng nhiều hình thức kể cả vốn trong và ngoài nước

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm