1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược phát triển bảo hiểm nhân thọ của tổng công ty bảo hiểm việt nam đến năm 2010

92 312 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 1996 – 1999, với kinh nghiệm hoạt động và khả năng tài chính của một doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam cộng với sự độc quyền khai thác thị trường đã giúp cho Bảo Việt có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ THỊ THU HẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC-

BẢO HIỂM- BẢO HIỂM NHÂN THỌ .1

1.1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1

1.1.1 Định nghĩa về Quản trị chiến lược .1

1.1.2 Các giai đoạn quản trị chiến lược .1

1.1.3 Các chiến lược đặc thù 1

1.1.3.1 Các chiến lược kết hợp trong thực tiễn 1

1.1.3.2 Các chiến lược chuyên sâu trong thực tiễn 2

1.1.3.3 Các chiến lược mở rộng trong thực tiễn 2

1.1.4 Các bước nghiên cứu hình thành chiến lược 3

1.1.4.1 Nghiên cứu môi trường hoạt động của ngành 3

1.1.4.1.1 Phân tích môi trường bên ngoài 3

a/ Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 3

b/ Các yếu tố thuộc môi trường vi mô 3

1.1.4.1.2 Phân tích môi trường nội bộ 3

1.1.4.2 Xác định mục tiêu phát triển ngành 4

1.1.4.3 Xây dựng chiến lược 4

a/ Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) 4

b/ Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) 4

c/ Ma trận SWOT-đ.giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ4 1.2 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ 5

1.2.1 Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm 5

Trang 3

1.2.1.1 Rủi ro và các biện pháp xử lý rủi ro 5

a/ Khái niệm rủi ro 5

b/ Một số biện pháp xử lý rủi ro – Bảo hiểm 6

c/ Rủi ro có thể được bảo hiểm 6

1.2.1.2 Số tiền bảo hiểm 6

1.2.1.3 Phí bảo hiểm 6

1.2.2 Các khái niệm liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và trung gian bảo hiểm 7 1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm 7

1.2.2.2 Trung gian bảo hiểm 7

1.2.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm .7

1.2.4 Phân loại bảo hiểm 8

1.2.4.1 Phân loại căn cứ vào đối tượng bảo hiểm 8

1.2.4.2 Phân loại theo phương thức triển khai 8

1.2.4.3 Phân loại căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm .8

1.2.5 Bảo hiểm nhân thọ 9

1.2.5.1 Khái niệm bảo hiểm con người .9

1.2.5.2 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ 9

1.2.6 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến bảo hiểm nhân thọ .10

1.2.6.1 Mức phát triển của nền kinh tế 10

1.2.6.2 Lạm phát 10

1.2.6.3 Môi trường đầu tư 10

1.2.6.4 Thuế và những ưu đãi của Nhà nước 11

1.2.6.5 Quy định của luật pháp về bảo hiểm .11

1.2.6.6 Tỷ lệ tử vong và các nhân tố ảnh hưởng 11

1.2.6.7 Văn hóa – xã hội .12

1.2.6.8 Hệ thống bảo hiểm xã hội 12

Trang 4

Chương 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ CỦA

TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM 14

2.1 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NHÂN THỌ 14

2.1.1 Sự phát triển bảo hiểm nhân thọ trên thế giới 14

2.1.2 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bảo hiểm nhân thọ 16

2.1.2.1 Đa dạng hóa hệ thống phân phối 16

2.1.2.2 Nâng cao khả năng hoạt động kinh doanh bằng biện pháp tăng vốn 18 2.1.2.3 Đội ngũ lãnh đạo và quản lý giỏi 18

2.1.2.4 Đầu tư ổn định và ít rủi ro .18

2.1.2.5 Hợp tác với quốc tế về sản phẩm, công nghệ tiếp thị 18

2.1.2.6 Xạy dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9002 .19

2.1.2.7 Phát triển nhiều loại hình bảo hiểm phong phú theo yêu cầu 19 2.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM 19

2.2.2 Vài nét về Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam 19

2.2.3 Sự ra đời và tình hình hoạt động của BHNT Bảo Việt thời gian qua 25

1/ Sự ra đời của Bảo Việt Nhân thọ 25

2/ Mô hình tổ chức của hệ thống bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt 25

3/ Phân tích hoạt động bảo hiểm nhân thọ Bảo Việt thời gian qua .27

Chương 3: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM NHÂN THỌ CỦA BẢO VIỆT ĐẾN NĂM 2010 31

3.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG VÀ BÊN NGOÀI31 3.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô 31

1/ Yếu tố kinh tế 31

2/ Yếu tố chính trị, luật pháp 32

Trang 5

4/ Các yếu tố về văn hóa – xã hội 33

5/ BHNT thay thế và hỗ trợ cho hệ thống BHXH, BHYT quốc gia 34

3.1.2 Phân tích môi trường vi mô 35

1/ Đối thủ cạnh tranh 35

2/ Khách hàng 37

3/ Hệ thống phân phối – Đại lý 38

3.1.3 Đánh giá các yếu tố nội bộ 39

1/ Hệ thống phân phối sản phẩm 39

2/ Hoạt động marketing bán hàng 41

3/ Công nghệ tin học 41

4/ Nhân sự 42

5/ Nghiên cứu và phát triển sản phẩm .42

6/ Bộ phận đầu tư .43

3.2 CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM NHÂN THỌ BẢO VIỆT ĐẾN NĂM 2010 43

3.2.1 Định hướng phát triển ngành bảo hiểm của Chính phủ 43

3.2.2 Mục tiêu của Bảo Việt Nhân thọ 44

3.2.3 Các công cụ hoạch định chiến lược 45

1/ Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài (EFE) .45

2/ Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên trong (IFE) 45

3/ Ma trận SWOT .47

3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH BHNT CỦA BV 49 3.3.1 Các chiến lược tăng trưởng tập trung 49

1/ Theo hướng thâm nhập thị trường 49

2/ Phát triển sản phẩm 49

3.3.2 Chiến lược phát triển hội nhập về phía trước .50

Trang 6

3.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CÁC CHIẾN LƯỢC

QUAN TRỌNG 50

3.4.1 Đẩy mạnh hoạt động marketing: Chính sách marketing hỗn hợp .50

1/ Chính sách sản phẩm 50

2/ Chính sách giá 51

3/ Chính sách chiêu thị 51

4/ Chính sách phân phối 522

3.4.2 Phát triển mạng lưới đại lý và các kênh phân phối khác 52

1/ Phát triển đại lý về số lượng 52

2/ Nâng cao trình độ, chất lượng đại lý 53

3/ Hình thành các kênh phân phối khác 53

4/ Đầu tư .54

3.5 KIẾN NGHỊ 54 KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Trang

Bảng 2 Doanh thu bảo hiểm các khu vực chia theo BHNT và BHPNT năm

1995 14

Bảng 3 Năm thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới năm 1997 15

Bảng 4 Tỷ trọng doanh thu phí BHNT trong GDP ở các nước Châu Á 1997 15

Bảng 5 Tỷ trọng DT phí BHNT trong tổng DT phí BH các nước Châu Á 199715

Biểu đồ 4 Tình hình phát triển kinh doanh BHNT của Bảo Việt qua các năm 27

Biểu đồ 5 Tỷ trọng phí BHNT trong tổng phí BH của Bảo Việt 28

Biểu đồ 6 Thị phần của bảo hiểm nhân thọ VN năm 2000 (ước tính) 29

Bảng 11 Một số chỉ tiêu kinh doanh năm 2000 (dự kiến) của các DN BHNT 37

Bảng 14 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài (EFE) 46

Bảng 15 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên trong (IFE) 47

Trang 8

Lời mở đầu

Ngành bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ tuy đã tồn tại, phát triển và trở thành một nhu cầu thiết yếu cho mọi người ở các quốc gia trên thế giới từ hơn 200 năm qua nhưng ở Việt Nam, nó hãy còn là một khái niệm mới mẻ Cho tới trước tháng 10/1999, chỉ có duy nhất Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) thực hiện việc triển khai kinh doanh bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt Nam, và hoạt động này cũng chỉ mới bắt đầu từ

1996

Từ năm 1996 – 1999, với kinh nghiệm hoạt động và khả năng tài chính của một doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam cộng với sự độc quyền khai thác thị trường đã giúp cho Bảo Việt có được lợi thế tuyệt đối trong ngành kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại thị trường Việt Nam Với lợi thế đó, việc phân tích các yếu tố môi trường, xây dựng một chiến lược và chính sách kinh doanh không phải là mối quan tâm lớn Tuy nhiên, với định hướng phát triển mạnh và đa dạng hóa thành phần thị trường bảo hiểm Việt Nam, từ tháng 10/1999, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép kinh doanh cho 4 công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài và liên doanh, đó là:

Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam (Anh quốc ); vốn điều lệ 14 triệu USD

Trang 9

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam thực sự trở nên sôi động và khởi sắc Với sức cạnh tranh mạnh mẽ từ các công ty bảo hiểm nhân thọ có tiềm lực tài chính rất mạnh cũng như kinh nghiệm tổ chức từ các tập đoàn tài chính đa quốc gia; việc xây dựng một chiến lược phù hợp cho Bảo Việt Nhân thọ trong thời gian tới có một tầm quan trọng hơn nhiều và có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển ổn định của Bảo Việt Nhân thọ trên thị trường Việt Nam; đồng thời giúp hoàn thiện năng lực cạnh tranh để ganh đua với các công ty bảo hiểm khác, đảm bảo vai trò “doanh nghiệp Nhà nước nắm vai trò chủ đạo” đối với Chính phủ

Với mong muốn được góp phần vào sự thành công của Bảo Việt Nhân thọ,

tôi đã chọn đề tài : ”Chiến lược phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao

học Kinh tế

Mục tiêu của luận văn nhằm trình bày những nghiên cứu trong việc xây dựng chiến lược phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt trong giai đoạn từ 2001 đến 2010

Đối tượng phạm vi của luận văn sẽ giới hạn trong hoạt động ngành Bảo hiểm nhân thọ của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ 2001 đến 2010

Kết cấu của luận văn gồm 3 chương chính sau:

ª Chương 1: Một số khái niệm cơ bản về Quản trị chiến lược - Bảo hiểm – Bảo hiểm nhân thọ: trong đó nêu rõ những điểm cơ bản của lý thuyết hoạch định

chiến lược làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam Ngoài ra, bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ nói riêng là ngành có nhiều khái niệm, định nghĩa riêng biệt Để nội dung 2 chương sau được dễ hiểu, trong chương này sẽ trình bày thật ngắn gọn một số khái niệm và vấn đề có liên quan

Trang 10

ª Chương 2: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam Trong chương này sẽ giới thiệu một số kinh nghiệm và tình

hình phát triển bảo hiểm nhân thọ trên thế giới, đặc biệt là của các nước trong khu vực Phân tích và đánh giá một số kết quả hoạt động thời gian qua, một số các tồn tại cần giải quyết khi xây dựng chiến lược Những đánh giá này được đưa ra trên cơ sở số liệu và tình hình thực tế từ năm 1996 – 2000

ª Chương 3: Chiến lược phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ của TCT bảo hiểm

VN đến năm 2010: Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường bên

trong và bên ngoài trong thời gian tới, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ cho việc phát triển ngành, trên cơ sở đó đề xuất những một số định hướng chiến lược cho ngành

Để nghiên cứu đề tài này, người viết đã vận dụng các kiến thức về Chiến lược và Quản trị chiến lược, các phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích dữ liệu thu thập trong các báo cáo, quan sát thực tế hoạt động kinh doanh của Bảo Việt và của các công ty khác trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã thu thập và sử dụng các nguồn tài liệu trong các bản báo cáo hoạt động của Bảo Việt, tài liệu từ các tạp chí trong ngành và phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 11

Chương 1:

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ

CHIẾN LƯỢC – BẢO HIỂM – BẢO HIỂM NHÂN

1.1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC:

1.1.1 Định nghĩa về quản trị chiến lược:

Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai

1.1.2 Các giai đoạn quản trị chiến lược:

Quản trị chiến lược bao gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn hình thành chiến lược

- Giai đaọn thực thi chiến lược

- Giai đoạn đánh giá chiến lược

1.1.3 Các chiến lược đặc thù:

Có 14 loại chiến lược đặc thù Thuật ngữ “đặc thù” (generic) được dùng ở đây vì mỗi một chiến lược có vô số những khác biệt Chẳng hạn, thâm nhập thị trường có thể gồm gia tăng lực lượng bán hàng, tăng chi phí quảng cáo, cấp phiếu tặng thưởng, và những hoạt động tương tự để gia tăng thị phần trong một khu vực địa lý

1.1.3.1 Các chiến lược kết hợp trong thực tiễn:

Các chiến lược kết hợp cho phép công ty có được sự kiểm soát đối với các

Trang 12

a/ Kết hợp về phía trước

Kết hợp về phía trước liên quan đến việc tăng quyền sở hữu hoặc sự kiểm soát đối với các nhà phân phối hoặc các nhà bán lẻ

b/ Kết hợp về phía sau

Kết hợp về phía sau là một chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát các nhà cung cấp của công ty Chiến lược này đặc biệt thích hợp khi các nhà cung cấp hiện tại của công ty không thể tin cậy được, quá đắt, hoặc không thể thỏa mãn đòi hỏi của công ty

c/ Kết hợp theo chiều ngang

Kết hợp theo chiều ngang là một chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các đối thủ cạnh tranh của công ty Sự hợp nhất, mua lại và chiếm lĩnh quyền kiểm soát giữa các đối thủ cạnh tranh cho phép tăng hiệu quả về phạm vi và làm tăng trao đổi các nguồn tài nguyên và năng lực

1.1.3.2 Các chiến lược chuyên sâu trong thực tiễn

Những chiến lược này đòi hỏi những nỗ lực tập trung, để cải tiến vị thế cạnh tranh của công ty với những sản phẩm hiện có

a/ Thâm nhập vào thị trường

Một chiến lược thâm nhập thị trường nhằm làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có trong các thị trường hiện có bằng những nỗ lực tiếp thị lớn hơn Chiến lược này được sử dụng rộng rãi như một chiến lược đơn độc hoặc được kết hợp với những chiến lược khác Thâm nhập thị trường gồm có việc tăng số lượng nhân viên bán hàng, tăng chi phí quảng cáo, tăng các sản phẩm khuyến mãi rộng rãi, hoặc gia tăng các nỗ lực quảng cáo

b/ Phát triển thị trường

Phát triển thị trường liên quan đến việc đưa những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có vào những khu vực địa lý mới Môi trường phát triển thị trường đang trở

Trang 13

nên ngày càng dễ chịu hơn Trong nhiều ngành công nghiệp, sẽ rất khó khăn duy trì vị trí cạnh tranh nếu chỉ gắn bó với thị trường quốc nội

Tuy nhiên việc mở rộng ra thị trường thế giới không đảm bảo cho thành công nếu công ty bị hạn chế trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng

c/ Phát triển sản phẩm

Phát triển sản phẩm nhằm tăng doanh thu bằng việc cải tiến hoặc sửa đổi những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại Phát triển sản phẩm thường đòi hỏi những chi phí nghiên cứu và phát triển lớn Việc nghiên cứu phát triển sản phẩm thành công sẽ mang lại cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận cho công ty Tuy nhiên chi phí cao cho phát triển sản phẩm cũng là nguyên nhân tại sao một số công phải thu hẹp hoạt động của mình vì sau nhiều năm nghiên cứu không thành công

1.1.3.3 Các chiến lược mở rộng hoạt động trong thực tiễn

Có ba loại:

a/ Đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Thêm vào các sản phẩm hoặc dịch vụ

mới nhưng có liên hệ với nhau

b/ Đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Thêm vào những sản phẩm

hoặc dịch vụ mới liên hệ theo khách hàng hiện có

c/ Đa dạng hóa hỗn hợp: Thêm vào những sản phẩm hoặc dịch vụ mới

không có sự liên hệ

1.1.3.4 Các chiến lược khác

a/ Các chiến lược suy giảm:

b/ Chiến lược tổng hợp: Kết hợp 2 hay nhiều chiến lược cùng một lúc

1.1.4 Các bước nghiên cứu hình thành chiến lược:

Trang 14

Với mục tiêu là hoạch định chiến lược chung cho ngành BHNT (của Bảo Việt), luận văn chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hình thành chiến lược, bao gồm bước cơ bản sau đây:

1.1.4.1 Nghiên cứu môi trường hoạt động của ngành:

1.1.4.1.1 Phân tích môi trường bên ngoài:

a/ Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:

Œ Phân tích các yếu tố chính trị, chính phủ và luật pháp: các chủ trương, chính sách của Chính phủ Nhà nước có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ngành Môi trường pháp lý cho hoạt động của ngành

Œ Phân tích các yếu tố kinh tế: tình hình phát triển của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua tạo ra những yếu tố tác động tới sự phát triển của ngành

Œ Phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội: ảnh hưởng của mức sống, tuổi thọ, dân số, quan niệm xã hội, tín ngưỡng, trình độ dân trí… đối với ngành

Œ Phân tích các yếu tố công nghệ: trình độ công nghệ, khả năng và tốc độ đổi mới công nghệ…

b/ Các yếu tố thuộc môi trường vi mô:

Œ Khách hàng: phân nhóm khách hàng, đặc điểm nhu cầu khách hàng và dự báo

xu thế thay đổi nhu cầu trong thời gian sắp tới để từ đó xác định ngành phải làm gì để tạo ra hoặc/và đáp ứng nhu cầu mới, phải đề ra phương cách nào để phục vụ khách hàng tốt nhất

Œ Đối thủ cạnh tranh: tình hình phát triển của các đối thủ cạnh tranh trên cùng ngành kinh doanh

Œ Nguồn cung cấp: nghiên cứu hệ thống cung cấp các yếu tố đầu vào cho ngành để xác định mức độ nguồn lực có thể huy động cho các chiến lược phát triển sắp tới

Œ Sản phẩm thay thế: mức độ ảnh hưởng của sản phẩm thay thế đối với ngành

1.1.4.1.2 Phân tích môi trường nội bộ:

Trang 15

Œ Kênh phân phối sản phẩm Œ Nhân sự

Phân tích, đánh giá môi trường là bước đi đầu tiên trong quá trình thiết lập chiến lược, cho ta một cái nhìn tổng thể về mọi mặt, thấy được những vận hội và nguy cơ, điểm yếu quan trọng làm căn cứ cho việc thiết lập mục tiêu và chiến lược

1.1.4.2 Xác định mục tiêu phát triển của ngành:

Nghiên cứu mục tiêu của ngành là tiền đề, cơ sở cho việc hình thành chiến lược Mục tiêu dùng để chỉ kết quả cụ thể mà ngành mong muốn trong một giai đoạn nhất định Các mục tiêu chỉ rõ điểm kết thúc của các nhiệm vụ chiến lược, là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên trong phân bổ các nguồn lực

1.1.4.3 Xây dựng chiến lược:

Xây dựng chiến lược được thực hiện trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh, nhận biết những cơ hội và nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu tác động đến sự tồn tại của doanh nghiệp Từ đó xác định và lựa chọn các phương án chiến lược để đạt được mục tiêu đề ra Để thực hiện được điều này có thể áp dụng rất nhiều phương pháp Sau đây là một số công cụ có thể được sử dụng:

a/ Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE):

Ma trận EFE cho phép tóm tắt và nhận diện cơ hội, nguy cơ của ngành từ các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài Ma trận EFE được phát triển theo 5 bước:

1 Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu như đã xác định trong quy trình phân tích các yếu tố bên ngoài (nên tối thiểu 10 yếu tố chủ yếu)

2 Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) tới 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại của các yếu tố phải =1,0

Trang 16

3 Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố để cho thấy cách thức các chiến lược hiện tại của ngành phản ứng với yếu tố đó: 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình và 1 là phản ứng ít

4 Nhân tầm quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó để xác định số điểm về tầm quan trọng

5 Cộng tổng số điểm quan trọng của các yếu tố để xác định tổng số điển quan trọng cho ngành Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5; tổng số điểm quan trọng cao nhất là 4,0: ngành đang phản ứng tốt với các cơ hội và mối đe doạ hiện tại trong môi trường của họ; thấp nhất là 1,0: cho thấy những chiến lược hiện tại không tận dụng được các cơ hội hay tránh được các mối đe dọa từ bên ngoài

b/ Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE):

Ma trận IFE cho phép tóm tắt và nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của ngành từ các yếu tố thuộc môi trường bên trong Cách phát triển ma trận IFE tương tự ma trận EFE đã nêu trên

c/ Ma trận SWOT- Đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ:

Bảng 1: Mẫu ma trận SWOT O: Những cơ hội

1

2 …

Các chiến lược S/O Sử dụng điểm mạnh để tận dụng cơ hội

Các chiến lược S/T Sử dụng điểm mạnh để tránh mối đe dọa

Các chiến lược W/T Tối thiểu hóa điểm yếu và tránh khỏi mối đe dọa

Trang 17

SWOT là chữ viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội), Threats (đe dọa) Ma trận này được phát triển theo các bước sau:

Từ ma trận IFE và EFE, liệt kê các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ cơ bản của ngành vào các ô S,W,O,T

Lập các chiến lược kết hợp SO ST, WO, WT

Từ ma trận này có thể lựa chọn các chiến lược thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của ngành

Tóm lại, thiết lập chiến lược là giai đoạn đầu cho quá trình quản trị chiến lược tại một tổ chức Thực tế cho thấy sự thành công của một tổ chức thường gắn liền với một chiến lược đúng đắn, nó giúp cho tổ chức xác định rõ hướng đi của mình trong tương lai, tập trung nguồn lực vào phát triển

1.2 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ:

1.2.1 Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm :

1.2.1.1 Rủi ro và các biện pháp xử lý rủi ro:

a/ Khái niệm rủi ro:

Có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro Theo Allan Willett: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan tới việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”

Theo tác giả Nguyễn Hải Sản: “Rủi ro thường được định nghĩa là xác suất có thể xảy ra một thiệt hại Nó là sự may rủi về một hậu quả không có lợi hay là sự tiến triển dẫn tới kết quả gây ra một thiệt hại kinh tế đối với cá nhân hoặc một công ty”

Nhìn chung, các quan điểm dù có nhiều điểm khác nhau, nhưng đều có đề cập đến 2 khía cạnh chính:

- Sự không chắc chắn

- Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi

Trang 18

Như vậy, rủi ro được hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không như dự tính.1

b/ Một số biện pháp xử lý rủi ro:

Kiểm soát rủi ro

Né tránh rủi roGiảm thiểu rủi ro

Ngăn ngừa tổn thất

Chuyển giao rủi ro

Giảm thiểu t.thấtLưu giữ rủi ro

Tài trợ rủi ro

” Bảo hiểm: Là một trong những biện pháp chuyển giao rủi ro Kỹ thuật bảo hiểm dựa trên nguyên tắc luật số đông sẽ giúp quy tụ được một số đông người, trong đó sẽ chỉ có một số ít người gặp rủi ro và bị tổn thất Họ sẽ được người bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường đó được lấy từ quỹ bảo hiểm do đám đôngcùng tham gia đóng góp dưới hình thức phí bảo hiểm Bằng cách này, rủi ro có thể sẽ được cả cộng đồng gánh chịu hay nói cách khác nó được hoán chuyển từng phần nhỏ qua từng người khác

c/ Rủi ro có thể được bảo hiểm:

Œ Rủi ro được bảo hiểm: chỉ sự cố dự tính, nếu xảy ra gây thiệt hại hoặc ảnh

hưởng đến đối tượng bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của người bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm là phạm vi giới hạn những rủi ro mà theo thỏa thuận nếu những rủi ro đó xảy ra, người bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm

Œ Rủi ro loại trừ: Chỉ sự cố dù có gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến đối tượng

bảo hiểm, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm

1.2.1.2 Số tiền bảo hiểm:

Trang 19

Là khoản tiền nhất định, ghi trong hợp đồng bảo hiểm để xác định giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm trong bồi thường (trong BHPNT) hoặc trả tiền bảo hiểm (trong BHNT) Đối với bảo hiểm con người, số tiền bảo hiểm được ấn định tùy sự thỏa thuận giữa 2 bên

Phí bảo hiểm được cấu thành bởi 2 phần:

Œ Phí thuần: Khoản phí thu cho phép người bảo hiểm thực hiện việc chi trả bồi

thường hoặc trả tiền bảo hiểm đối với các trách nhiệm phát sinh từ những hợp đồng ký kết

Œ Phụ phí: Khoản phí thu cho phép người bảo hiểm bảo đảm các chi phí cần

thiết trong hoạt động kinh doanh, bao gồm: chi phí ký kết hợp đồng (hoa hồng đại lý, môi giới…); chi phí quản lý; thuế

1.2.2 Các khái niệm liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và trung gian bảo hiểm:

1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm:

Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa 2 bên, theo đó bên được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bồi thường hoặc tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Như vậy, một hợp đồng bảo hiểm liên quan tới 2 bên:

9 Bên bảo hiểm: là người bảo hiểm, chính là tổ chức/công ty bảo hiểm được

pháp luật cho phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm

9 Bên được bảo hiểm: liên quan đến 3 người:

Trang 20

Người tham gia bảo hiểm là người đứng ra yêu cầu bảo hiểm: thỏa thuận và

ký kết hợp đồng

Người được bảo hiểm là người có tài sản, trách nhiệm (trong bảo hiểm phi

nhân thọ) hoặc thân thể (bảo hiểm nhân thọ) bị rủi ro đe dọa và được đảm bảo bằng hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm cũng có thể là người tham gia bảo hiểm

Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm (còn gọi là người thụ hưởng) là người

được hưởng khoản tiền bồi thường hoặc tiền trả bảo hiểm từ người bảo hiểm

1.2.2.2 Trung gian bảo hiểm:

Trong một tổ chức kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, hệ thống phân phối dịch vụ bảo hiểm là các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động tiếp thị nhằm đem

sản phẩm bảo hiểm từ người bảo hiểm đến khách hàng gọi là trung gian bảo

hiểm Thông thường trung gian bảo hiểm gồm 2 loại chính: môi giới (broker) và

đại lý (agent)

Œ Môi giới: là cá nhân hay công ty thực hiện công việc tư vấn về các vấn đề bảo hiểm đối với khách hàng và thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm (người bảo hiểm), hoạt động độc lập và không phụ thuộc công ty bảo hiểm nào

Œ Đại lý: là người được trả tiền (dưới hình thức hoa hồng) để làm việc cho công

ty bảo hiểm : bán các dịch vụ bảo hiểm của công ty cho người mua và thu phí, hoạt động dựa trên cơ sở hợp đồng đại lý và chịu sự ràng buộc đối với công ty bảo hiểm

1.2.3 Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm:

Hoạt động bảo hiểm phải đảm bảo 2 nguyên tắc cơ bản: hoạt động theo quy luật số đông và sự trung thực tối đa

Thống kê là cơ sở kỹ thuật quan trọng giúp cho nguyên tắc thứ nhất được bảo đảm Thống kê cung cấp cho người bảo hiểm con số các rủi ro tổn thất đã xảy

ra trong quá khứ và trị giá của nó nhằm xác định tần suất xảy ra biến cố và giá

Trang 21

phí trung bình của rủi ro Trên cơ sở đó, người bảo hiểm biết được mức độ sẽ phải chi trả cho các rủi ro và tương ứng là số phí phải thu từ người tham gia bảo hiểm

Để đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc hoạt động theo quy luật số đông, người bảo hiểm phải đảm bảo các nội dung cơ bản: phải tập hợp được số lượng lớn các đơn vị rủi ro đồng nhất, phải dàn trải rủi ro theo không gian và thời gian, phải phân tán rủi ro bằng cách sử dụng các phương thức đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm

1.2.4 Phân loại bảo hiểm:

Tùy theo căn cứ phân loại mà người ta có nhiều cách phân loại, tiêu biểu có các cách phân loại sau:

1.2.4.1 Phân loại căn cứ vào đối tượng bảo hiểm:

Theo tiêu thức này, các nghiệp vụ bảo hiểm được xếp vào 3 nhóm:

- Bảo hiểm tài sản

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

- Bảo hiểm con người

Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự là những loại bảo hiểm thiệt hại, có mục đích giúp cho người được bảo hiểm giảm bớt hoặc tránh được thiệt hại vật chất khi tài sản của họ gặp rủi ro hoặc khi họ phải bồi thường thiệt hại của người khác theo trách nhiệm pháp lý phát sinh

Bảo hiểm con người gồm có bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm con người phi nhân thọ

1.2.4.2 Phân loại theo phương thức triển khai:

- Hình thức bảo hiểm tự nguyện: Hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý nguyện của bên được bảo hiểm và hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận

Trang 22

- Hình thức bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm được triển khai theo quy định của luật pháp và các bên buộc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định liên quan đến hợp đồng bảo hiểm

1.2.4.3 Phân loại căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm (Cách thức quản lý hợp đồng):

a/ Những nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng kỹ thuật phân chia:

Gồm có bảo hiểm thiệt hại (bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự), bảo hiểm con người phi nhân thọ Đây là những NVBH có đặc tính cơ bản:

- HĐBH có thời hạn ngắn và có thể tái tục

- Rủi ro tương đối ổn định (độ trầm trọng không lớn trong thời hạn bảo hiểm)

b/ Những nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng kỹ thuật tồn tích:

Gồm có các NVBH (chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ) có đặc tính:

- Hợp đồng ký kết cho một thời hạn dài (qua nhiều năm tài chính)

- Rủi ro thay đổi (độ trầm trọng của rủi ro tăng giảm rõ rệt trong thời hạn hợp đồng)

- Phí bảo hiểm có thể nộp một lần toàn bộ hoặc thông thường thành nhiều kỳ (hàng năm, hàng quý hoặc hàng tháng)

Vì những đặc tính này, BHNT luôn được tổ chức kinh doanh, triển khai một cách riêng rẽ Việc hạch toán riêng 2 nhóm nghiệp vụ là một quy định bắt buộc bởi luật pháp

1.2.5 Bảo hiểm nhân thọ:

1.2.5.1 Khái niệm bảo hiểm con ngườiï:

Bảo hiểm con người là loại bảo hiểm có mục đích thanh toán những khoản trợ cấp hoặc số tiền ấn định cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng bảo hiểm, trong trường hợp xảy ra những sự kiện tác động đến chính bản thân người được bảo hiểm

Trang 23

Khác với những loại bảo hiểm khác, Bảo hiểm con người không bảo hiểm những rủi ro về đồ vật và trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm, mà bảo hiểm những rủi ro xảy ra tác động đến bản thân người được bảo hiểm Những rủi

ro này là tai nạn, bệnh tật, ốm đau, tử vong, tuổi già và những bấp bênh khác về tuổi thọ con người Khi những sự kiện này xảy ra tác động đến người được bảo hiểm, người bảo hiểm không tham gia một cách trực tiếp vào việc khắc phục hậu quả của chúng Sự can thiệp của người bảo hiểm chính là việc thanh toán một số tiền, một khoản trợ cấp được ấn định trên HĐBH Khoản trợ cấp này có thể được thanh toán cho người được bảo hiểm hoặc cho người khác- người thụ hưởng bảo hiểm, tùy vào từng loại bảo hiểm và mức đích ký kết HĐBH của người tham gia bảo hiểm

1.2.5.2 Bảo hiểm nhân thọ:

a/ Định nghĩa bảo hiểm nhân thọ:

Định nghĩa BHNT trên phương diện pháp lý:

“BHNT là bản HĐ trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (người ký kết hợp đồng), người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (số tiền bảo hiểm hoặc một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hoặc người được bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được ghi rõ trên hợp đồng”

Định nghĩa BHNT trên phương diện kỹ thuậtù:

BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết, mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con người

Dù định nghĩa BHNT trên góc độ nào thì nó cũng thể hiện rõ nét là loại bảo hiểm phụ thuộc vào tuổi thọ con người

Mục đích của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:Trong khi tất cả các loại bảo

hiểm phi nhân thọ có một mục đích là nhằm bồi thường cho những hậu quả của một sự cố, thì BHNT có thể có rất nhiều mục đích Từng loại HĐ BHNT sẽ đáp

Trang 24

ứng một nhu cầu nhất định Chẳng hạn HĐBH hưu trí lập ra cá khoản tiền hưu cho người được bảo hiểm; HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm trong trường hợp anh ta tử vong; hoặc các hợp đồng trợ cấp sẽ lập ra một khoản trợ cấp trọn đời cho người được bảo hiểm đến một độ tuổi nhất định ở các trường hợp người được bảo hiểm đi vay vốn, HĐ BHNT là một tài sản thế chấp trong trường hợp người được bảo hiểm bị chết

1.2.6 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến bảo hiểm nhân thọ:

1.2.6.1 Mức phát triển của nền kinh tế:

BHNT chỉ có thể phát triển ở những nước có mức tổng GDP và GDP bình quân đầu người đủ cho người dân đáp ứng được các nhu cầu căn bản và bắt đầu có tích tích luỹ

Khi BHNT chưa phát triển mạnh thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn: nền kinh tế đi xuống thì BHNT cũng sẽ đi xuống do người dân chưa đủ khả năng tiếp tục tham gia bảo hiểm và do những ưu điểm của BHNT chưa được thấy rõ Khi BHNT đã phát triển thì ảnh hưởng của yếu tố này giảm xuống: trong khi các yếu tố khác không đổi thì khi nền kinh tế đi xuống, BHNT sẽ càng chứng tỏ là một công cụ đảm bảo an toàn tài chính cho cá nhân

Quỹ bảo hiểm, trong đó có quỹ BHNT, chính là một phần của quỹ tổng sản phẩm xã hội, do đó chỉ khi tổng sản phẩm xã hội phát triển, nền kinh tế phát triển thì quỹ bảo hiểm mới phát triển

1.2.6.2 Lạm phát:

Aûnh hưởng đến các nhà bảo hiểm nhân thọ qua hai hướng:

— Hướng thứ nhất là qua người tham gia bảo hiểm Khi lạm phát cao người dân cảm thấy đồng tiền bị mất giá nhanh chóng và sẽ không còn quan tâm tới các vấn đề dài hạn, trong đó có BHNT

— Aûnh hưởng thứ hai của lạm phát là qua những khó khăn trong việc xác định phí bảo hiểm cũng như dự đoán khuynh hướng phát triển trong dài hạn Hơn

Trang 25

nữa, lạm phát làm cho lãi suất từ các khoản đầu tư dài hạn của Công ty BHNT (trong đó có cả các khoản cho vay của nhà bảo hiểm cho người tham gia đối với các hợp đồng đã có giá trị giải ước) trở thành quá thấp so với thị trường và dự kiến Như vậy, bảo hiểm chỉ phát triển được ở một nền kinh tế có lạm phát được giữ ở mức vừa phải, đủ để kích thích nền kinh tế phát triển và không gây nên lạm phát quá cao hay thiểu phát

1.2.6.3 Môi trường đầu tư:

Trong khoảng thời gian kể từ lúc thu phí của người tham gia đến lúc trả tiền cho người thụ hưởng, nhà bảo hiểm sẽ dùng số phí bảo hiểm thu được để đầu

tư Có 3 lý do để Công ty BHNT dùng quỹ từ phí bảo hiểm thu được để đầu tư Lý

do thứ nhất là sản phẩm BHNT mang tính tiết kiệm, số phí thu được một phần đã được dùng để phân bổ cho rủi ro thương tật và cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong năm, còn phần lớn được dồn tích lại cho trường hợp sống; vì vậy Công ty BHNT cần phải đầu tư phần này để đáp ứng được lãi suất kỹ thuật mà Công ty đã xác định khi tính phí bảo hiểm Lý do thứ hai là việc đầu tư còn mang lại khoản lãi để trả cho các khoản chia lời mang tính pháp định hoặc cam kết từ trước trong hợp đồng của nhà bảo hiểm Lý do thứ ba là việc đầu tư tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả Công ty lẫn khách hàng của mình, tăng tính cạnh tranh của Công ty trên thị trường

Do hợp đồng bảo hiểm thường là những hợp đồng mang tính chất dài hạn,

do đó danh mục đầu tư của Công ty BHNT thường khác biệt so với các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Danh mục đầu tư của Công ty BHNT tập trung vào thị trường dài hạn hơn là thị trường ngắn hạn như đối với các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ và danh mục đầu tư này bao gồm cả cổ phiếu, giấy tờ có giá, những loại đầu tư mang lại lợi nhuận cao Thường thì các Công ty BHNT đầu tư vào trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu công ty, bất động sản…

Trang 26

Thị trường đầu tư phải đảm bảo yêu cầu ổn định trong dài hạn, hàng hóa trên thị trường phải đa dạng để đảm bảo cho Công ty BHNT vừa có lợi nhuận đủ cao, vừa có thể phân tán rủi ro

Có thể nói đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt đối với Công ty BHNT, thậm chí ở một số Công ty BHNT Hoa Kỳ, chỉ số bồi thường trên phí bảo hiểm thu được lớn hơn 100% nhưng công ty vẫn thu được lợi nhuận do kết quả thu được từ đầu tư

Vì vậy bất cứ sự biến động nào trên thị trường đầu tư cũng sẽ ảnh hưởng tới quỹ BHNT

1.2.6.4 Thuế và những ưu đãi của Nhà nước:

Với những ưu điểm của mình, BHNT thường được hưởng nhiều ưu đãi về thuế cả trực thu lẫn gián thu

Một số ưu đãi có thể kể ở một số nước là người nhận tiền bảo hiểm trả từ Công ty BHNT được miễn thuế thu nhập hoặc tiền đóng phí bảo hiểm cho các hình thức hưu trí tự nguyện (đối với cá nhân và doanh nghiệp) không bị coi là thu nhập hay lợi nhuận phải đóng thuế

1.2.6.5 Quy định của luật pháp về bảo hiểm:

Cũng như các ngành khác, BHNT cũng chịu sự chi phối của hệ thống luật pháp Do tính chất riêng có của mình, ngoài pháp luật về thuế như đã kể trên, BHNT còn chịu những quy định ngặt nghèo về một số yếu tố kỹ thuật như tỷ lệ lãi suất kỹ thuật, khả năng thanh toán giới hạn, bảng tỷ lệ tử vong và cách xác định, việc chia lời… để mang lại sự đảm bảo tốt nhất cho cả người tham gia lẫn nhà bảo hiểm

1.2.6.6 Tỷ lệ tử vong và các nhân tố ảnh hưởng:

Đối tượng bảo hiểm của BHNT chính là tính mạng của những người được bảo hiểm, do đó khi tỷ lệ tử vong của những người này thay đổi khác với dự tính của nhà bảo hiểm thì sẽ có những ảnh hưởng đến không những nhà bảo hiểm mà còn tới quỹ đảm bảo chung

Trang 27

BHNT là loại hình bảo hiểm trong dài hạn, do đó trong suốt thời hạn bảo hiểm, tỷ lệ tử vong của nhóm người được bảo hiểm lúc ban đầu có thể thay đổi theo điều kiện của nền kinh tế- xã hội sau này Theo thời gian, càng có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tử vong của con người mà nhà bảo hiểm phải tính đến và phải tính được Do BHNT là một sự đảm bảo cho cả hai trường hợp sống và chết, vì vậy các Công ty BHNT phải tính đến cả hai mặt này Hơn nữa, đối tượng của các loại hình BHNT thường là khác nhau, do đó tỷ lệ tử vong của các nhóm đối tượng là khác nhau Nhà bảo hiểm đối với từng nghiệp phải xây dựng được bảng tỷ lệ tử vong cho phù hợp (cho các nhóm đối tượng nam – nữ, hút – không hút thuốc, tham gia bảo hiểm “chết”, “sống”…)

1.2.6.7 Văn hóa, xã hội:

Một số yếu tố thuộc văn hóa – xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của BHNT

Yếu tố thứ nhất là tín ngưỡng Do BHNT là bảo hiểm có liên quan đến cái chết, mà cái chết lại liên quan đến các cách giải thích hoặc điều luật trong tôn giáo Tuỳ vào tôn giáo mà cách giải thích này có phù hợp với việc phát triển của bảo hiểm hay không

Yếu tố thứ hai là trình độ Yếu tố này thể hiện ở mức độ hiểu biết về bảo hiểm nói chung cũng như về BHNT nói riêng, thói quen mua bảo hiểm, hiểu biết và mối quan hệ với ngân hàng, các hình thức tiết kiệm và đầu tư

Trình độ dân trí và văn hóa của một khu vực cũng thể hiện ở tỷ lệ gia tăng dân số và “chất lượng” dân số Điều này lại ảnh hưởng tới tỷ lệ tử vong mà đã đề cập ở phần trên

Yếu tố thứ ba là thói quen tiết kiệm Thói quen này được phản ánh qua chỉ số tích lũy của nền kinh tế nói chung, BHNT sẽ phát triển mạnh hơn ở khu vực mọi người có thói quen tiết kiệm

Trang 28

Yếu tố thứ tư là lòng tin, tin vào hệ thống chính trị, sự phát triển kinh tế, hệ thống ngân hàng và bảo hiểm Do BHNT là một dịch vụ tài chính dài hạn nên niềm tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng

Yếu tố văn hóa – xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến nhu cầu trong BHNT, đặc biệt là nhu cầu “bậc cao” như nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định; mặc dù những nhu cầu này cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế Rõ ràng xã hội càng văn minh thì các nhu cầu này càng lớn

1.2.6.8 Hệ thống bảo hiểm xã hội:

BHNT là một hình thức tiết kiệm, hơn nữa sản phẩm niên kim còn là một hình thức của quỹ hưu trí tự nguyện, do đó việc thay đổi trong hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ đem đến những thay đổi lớn trong BHNT

Ở các nước phát triển thì hệ thống bảo hiểm xã hội đã phát triển mạnh đem lại cho nhân dân sự đảm bảo khi thất nghiệp, hưu trí hay không còn khả năng lao động Ở Pháp năm 1995 chi cho hệ thống bảo hiểm xã hội bằng 30% GDP năm đó, con số này ở Đức là 28%, Hoa Kỳ là 16% Tuy nhiên hiện nay ở các nước phát triển số người hưởng bảo hiểm xã hội ngày càng tăng khiến cho quỹ này không đáp ứng được nhu cầu của mọi người Hơn nữa, đôi khi các nước này trong chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Chính phủ phải cắt giảm chi tiêu cho các lĩnh vực công cộng (trong đó có hệ thống bảo hiểm xã hội) Do đó một trong những nguyên nhân khiến những người dân ở các nước phát triển tham gia BHNT mạnh là do hệ thống bảo hiểm xã hội của họ đã trở nên quá tải, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của họ trong khi nhu cầu thì ngày càng tăng

Ở các nước đang phát triển, hệ thống bảo hiểm xã hội chưa được phát triển một cách hoàn hảo, nhất là vấn đề hưu trí, lương hưu ít và thường chậm trễ Tuy nhiên, do các điều kiện về y tế ngày càng được cải thiện nên số người già ở các nước này cũng sẽ ngày càng tăng, vì vậy quỹ bảo hiểm xã hội đã và sẽ quá tải

Do đó BHNT cũng sẽ phát triển vì lý do này

Trang 29

Chương 2:

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN

THỌ CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM

2.1 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NHÂN THỌ:

Việc xem xét sự phát triển của BHNT trên thế giới và những kinh nghiệm của các nước, nhất là trong khu vực Châu Á trong việc phát triển BHNT sẽ là sự tham khảo và gợi ý cho việc hình thành Chiến lược phát triển ngành BHNT của Bảo Việt

2.1.1 Sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới:

Năm 1583, tại nước Anh, hợp đồng BHNT đầu tiên đã được thực hiện Đến

1759, Công ty BHNT đầu tiên được thành lập tại Châu Mỹ cuối thế kỷ 18, BHNT mới xâm nhập vào lục địa Châu Aâu nhưng chủ yếu là hai thị trường béo bở Pháp và Đức

Ở Châu Á, BHNT cũng bắt đầu hình thành từng bước tại Nhật năm 1881, Singapore năm 1908, tại Indonesia và Malaysia năm 1965, tại Trung Quốc năm

1991

Đến gần cuối thế kỷ XX tức là năm 1992 thì phí BHNT đã chiếm tới khoảng 40% trong toàn bộ phí bảo hiểm (nhân thọ và phi nhân thọ) trên thế giới và tỷ trọng này ngày càng tăng Trong đó (trong 100% phí bảo hiểm nhân thọ), Mỹ là nước đứng đầu chiếm 40%, Châu Aâu chiếm 31,1% và Châu Á 26,9% (Tới năm 1997, thị phần BHNT của Mỹ đã tụt xuống và Nhật là nước dẫn đầu) Cho

Trang 30

khoảng từ 1.200 – 2.500 USD và đa số là dành cho BHNT; ở các thị trường đang phát triển, mức chi tiêu cho bảo hiểm thường dưới 100 USD và chủ yếu dành cho bảo hiểm phi nhân thọ.

Bảng 2: Doanh thu bảo hiểm các khu vực chia theo BHNT và BHPNT năm 1995

(Nguồn: Tạp chí Tái bảo hiểm 1/1997)

Số phí BHNT tính trên đầu người của một số nước có ngành BHNT khá phát triển là Nhật (khoảng 1.900 USD/người/năm), kế đến là Mỹ (khoảng 1.000

USD), Hàn Quốc (khoảng 650 USD), Châu Aâu (khoảng 500 USD) (Năm 1997)

Bảng 3: Năm thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới năm 1997

Trang 31

Bảng 4: Tỷ trọng doanh thu phí BHNT trong GDP ở các nước Châu Á 1997

HỒNG

KÔNG

2,3% 2,4% 12,2% 3,7% 2,7%

(Nguồn: Tạp chí Tái bảo hiểm 1999 – Thông tin thị trường bảo hiểm 1999, 2000)

Bảng 5: Tỷ trọng DT phí BHNT trong tổng DT phí BH các nước Châu Á 1997

TRUNG

QUỐC

THÁI LAN

SINGAPOR

E

MALAYSIA

PHILIPPI

NS

INDONESI

A 47,3% 47,7% 67,1% 49,3% 43,4% 38,8%

(Nguồn: Tạp chí Tái bảo hiểm số 4/1998)

Theo thống kê của các nhà chuyên môn, điều đáng chú ý là trong khi GDP của Châu Á chỉ chiếm 23% GDP của thế giới, thì BHNT lại chiếm tới 38% tổng giá trị BHNT của thế giới Tuy nhiên, với dân số chiếm tới hơn nửa dân số thế giới (60%), ngoại trừ Nhật Bản (chiếm 83% thị phần BHNT của Châu Á), Singapore, Hàn Quốc hầu như đã có một mức phát triển rất cao, Châu Á vẫn chưa khai thác hết tiềm năng về nhu cầu BHNT trong dân chúng Vì vậy, hiện nay với sự phát triển vượt bậc về kinh tế ở các nước đang phát triển: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ,… đặc biệt là đối với các nước mà thị trường BHNT đang được mở cửa như Trung Quốc, Việt Nam…, Châu Á được xem là một thị trường BHNT đầy tiềm năng trong nhiều năm tới và là điểm “dòm ngó” của các tập đoàn bảo hiểm trên thế giới

2.1.2 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bảo hiểm nhân thọ:

2.1.2.1 Đa dạng hóa hệ thống phân phối (Chuyển đổi cơ cấu của hệ thống phân

phối):

Theo truyền thống, kênh phân phối sản phẩm BHNT tại các nước phần lớn

Trang 32

và phục vụ khách hàng Tuy nhiên việc sử dụng đại lý cũng bộc lộ những nhược điểm: thứ nhất là việc quản lý một đội ngũ hoạt động tự do trên thị trường theo các mục tiêu của công ty là rất khó khăn; thứ hai, các công ty phải sử dụng lực lượng đại lý thường tập trung đầu tư vào đại lý, dẫn tới xa rời khách hàng và làm cho các công ty khó khăn trong việc phát hiện và phục vụ nhu cầu khách hàng; thứ ba, công ty sẽ gặp phải tổn thất lớn khi bị các công ty khác cạnh tranh lôi kéo các đại lý giỏi; thứ tư, chi phí đào tạo, tổ chức, khuyến khích đại lý, hoa hồng cho đại lý rất tốn kém

Chính những hạn chế trong sử dụng đại lý và điều kiện phát triển kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng đã đặt ra yêu cầu phải đa dạng hóa kênh phân phối Công

ty John HanCock Mutual Life đã đạt được những thành công đáng kể khi áp dụng sách lược này từ 1990 Tỷ trọng doanh số thu được qua kênh phân phối đại lý truyền thống giảm từ 99% năm 1990 xuống còn 40% năm 1997, 60% doanh thu còn lại do các hệ thống phân phối khác đảm nhiệm Trên thị trường Singapore, chi nhánh của Công ty cũng đạt thành công tương tự, tỷ trọng này giảm từ 100% năm 1990 xuống khoảng 80% năm 1997 Theo Oâng Robert S Morette, lãnh đạo tập đoàn tư vấn Boston, việc mở rộng và phát triển hệ thống đại lý chất lượng cao mặc dù có thể giúp công ty đạt được những mục tiêu ngắn hạn nhưng không phải là một giải pháp dài hạn cho tương lai tăng trưởng của các công ty BHNT Châu Á

Đây không phải một sự thay thế cho kênh truyền thống qua đại lý mà là một sự bổ sung và đa dạng hóa cho hệ thống phân phối Mặc dù hiện tại, doanh thu BHNT qua các hệ thống phân phối mới chưa cao, tuy nhiên do sự phát triển đa dạng các nhu cầu của khách hàng và cùng với nó là sự đa dạng hóa sản phẩm của công ty, sự phát triển các mối quan hệ đa chiều đã hấp dẫn sự nghiên cứu của các công ty Đây là xu hướng mới trong kinh doanh BHNT của các công ty BHNT trên thị trường Đông Nam Á Có 2 kênh phân phối không qua đại lý thường được sử dụng ở khu vực này là:

Trang 33

9 Kênh phân phối phản hồi trực tiếp: Công ty BHNT, bằng các phương pháp tác

động trực tiếp tới các nhóm khách hàng qua thư tín, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, Internet nhằm dẫn dụ khách hàng trực tiếp liên hệ mua sản phẩm tại đây Kênh phân phối này hiện đang thu hút nhiều sự chú ý của các công ty trong giai đoạn phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin toàn cầu Hiện nay tỷ trọng sản phẩm được phân phối qua kênh này còn nhỏ (2%) nhưng rất có triển vọng

9 Kênh phân phối qua môi giới, các tổ chức trung gian: Các tổ chức môi giới có

thể là các công ty môi giới độc lập cung cấp dịch vụ cho nhiều công ty BHNT khác nhau, Các tổ chức trung gian là các tổ chức có quan hệ rộng rãi với khách hàng và được sử dụng như “đại lý” Các tổ chức này thường là ngân hàng, hệ thống các cơ quan hành chính… Trên thị trường Singapore, tỷ trọng phân phối qua các môi giới chiếm 10,7% và qua các tổ chức trung gian chiếm 12%

Bảng 6: Các kênh phân phối của thị trường BHNT Đức

(Nguồn:Báo Thị trường bảo hiểm 11/2000)

Tuy nhiên, để thành công trong việc đa dạng hóa cần có một số nhân tố quyết định:

Trang 34

® Điều kiện phát triển kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng là nhân tố cơ bản tác động tới nhu cầu và sự lựa chọn của người dân Các dịch vụ tài chính như ngân hàng, tín dụng kém phát triển thì sự đa dạng hóa sẽ không hiệu quả Nhân thức của dân chúng về BHNT rất quan trọng, giúp họ có thể nhanh chóng ra quyết định mua mà không cần tiếp xúc trực tiếp đại lý

® Sản phẩm được phân phối qua các kênh này là các sản phẩm đơn giản, hướng tới một nhóm khách hàng đã được phân loại, phí thấp, không yêu cầu cao về đánh giá rủi ro

® Việc đa dạng hóa được thực hiện nhằm lấp chỗ trống trên thị trường hoặc việc sử dụng đại lý không có hiệu quả

nghiên cứu chi tiết về khách hàng (môi trường sống, thói quen sở thích…) để lựa chọn sản phẩm và hình thức phân phối thích hợp

Nhìn chung, việc đa dạng hóa kênh phân phối là xu hướng và yêu cầu cần thiết trong điều kiện cạnh tranh

2.1.2.2 Nâng cao khả năng hoạt động kinh doanh bằng biện pháp tăng vốn

Vốn của công ty bảo hiểm thể hiện khả năng tài chính, khả năng thanh toán bồi thường của công ty khi xảy ra tổn thất Để có thể nhận những hợp đồng bảo hiểm có mức trách nhiệm cao hàng tỷ đồng, các công ty có vốn nhỏ phải chuyển bớt trách nhiệm cho các công ty khác bằng cách tái bảo hiểm nhằm đảm bảo khả năng chi trả khi khách hàng bị rủi ro, tổn thất yêu cầu phải chi trả số tiền bảo hiểm rất lớn Nếu không tái bảo hiểm thì khi xảy ra rủi ro, việc phải chi trả số tiền bảo hiểm quá lớn (nhất là trong thời gian đầu số phí thu vào còn thấp) sẽ có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khác của công ty bảo hiểm Khả năng vốn càng nhỏ thì mức tái bảo hiểm càng lớn, lợi nhuận giảm, đồng thời khả năng phục vụ khách hàng lại không được chủ động (bị lệ thuộc vào quyết định của công ty nhận tái bảo hiểm), dễ mất uy tín với khách hàng

Trang 35

Để tăng vốn, các công ty bảo hiểm thường tiến hành những phương thức sau:

Œ Các công ty nhỏ sáp nhập lại để trở thành công ty có vốn lớn

Œ “Liên kết ngang”: gọi vốn góp từ các công ty lớn/tổng công ty thuộc ngành khác tạo ra sự hợp tác toàn diện và đa dạng theo mô hình “Tập đoàn Đại công ty”, tăng cường khả năng tài chính và khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường Đây là mô hình đang phát triển tại các nước Đông Á và Đông Nam Á

Ở Việt Nam, với đặc điểm riêng của mình và của nền kinh tế, Bảo Việt có thể thực hiện “liên kết ngang” với các Tổng công ty Nhà nước cỡ lớn (các Doanh nghiệp hạng đặc biệt) nhằm liên kết hoạt động, gia tăng tích lũy lớn

2.1.2.3 Đội ngũ lãnh đạo và quản lý giỏi:

Khi thị trường bảo hiểm càng cạnh tranh quyết liệt hơn, các sản phẩm bảo hiểm càng trở nên giống nhau hơn thì sự nỗ lực của công ty bảo hiểm cần phải hướng vào một đội ngũ lãnh đạo và quản lý giỏi, việc tuyển chọn người tốt, có năng lực trở thành vấn đề trọng tâm Cơ hội đến với các công ty theo một trong hai con đường: hoặc là phí bảo hiểm hoặc là đội ngũ lãnh đạo Những công ty tồn tại là những công ty quan tâm đến đội ngũ lãnh đạo, chứ không phải là phí bảo hiểm

2.1.2.4 Đầu tư ổn định và ít rủi ro :

Đầu tư của BHNT nhằm mục tiêu chắc chắn và đủ để bù đắp cho tỷ lệ lãi đầu tư đã xác định trong cơ cấu phí Vì vậy, hoạt động đầu tư của các công ty BHNT thường mang tính ổn định hơn là mạo hiểm, nhiều rủi ro, điều đó thể hiện

ở việc tăng đầu tư vào trái phiếu và giảm đầu tư vào các công cụ tín thác

2.1.2.5 Hợp tác với quốc tế về sản phẩm, công nghệ tiếp thị:

Đây là vấn đề mà các nước đang phát triển về BHNT đang gặp phải Để giải quyết, các công ty có thể hợp tác học tập thông qua các tổ chức bảo hiểm

Trang 36

quốc tế dưới các hình thức: nghiên cứu, hội thảo, du học… Thường thì các công ty nội địa được sự phối hợp giúp đỡ của Chính phủ

.1.2.6 Xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9002:

Để thể hiện rõ chất lượng phục vụ khách hàng, các công ty bảo hiểm lớn ở Châu Á- Thái Bình Dương đều có giấy chứng nhận chất lượng quản lý ISO 9002, là bộ tiêu chuẩn đánh giá trình độ phục vụ khách hàng trong các ngành tín dụng, tiền tệ, bảo hiểm Đây được xem như một phương tiện quảng cáo hữu hiệu làm tăng uy tín của công ty bảo hiểm ngoài việc hoàn thiện năng lực phục vụ

2.1.2.7 Phát triển nhiều loại hình BH phong phú theo yêu cầu

Thị trường BHNT hiện nay có khuynh hướng phân hóa Rất nhiều sản phẩm bảo hiểm ra đời, nhất là các SP có tính tiết kiệm và bảo toàn vốn đáp ứng cho đòi hỏi của người dân

2.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM

Ở Việt Nam, BHNT là một ngành kinh doanh chỉ mới ở giai đoạn sơ khai Trước năm 1954, nước ta còn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp Trong thời gian này một số quan chức Việt Nam làm việc cho Pháp đã được bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm của Pháp và một số người đã được hưởng quyền lợi

Từ năm 1970 Ỉ 1975 tại miền Nam, chỉ duy nhất Công ty bảo hiểm Hưng Việt đã có triển khai các loại hình bảo hiểm nhân thọ

Mãi cho đến năm 1996, hoạt động này mới bắt đầu được Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) khởi xướng lại và cho triển khai với qui mo,â phạm vi khắp cả nước

2.2.2 Vài nét về Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam:

Ngày 15/1/1965, theo quyết định số 197/CP ngày 17/12/1964 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Công ty bảo hiểm Việt Nam đã ra đời và chính

Trang 37

thức đi vào hoạt động ở miền Bắc, đồng thời thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, là đơn vị kinh doanh bảo hiểm duy nhất tại miền Bắc; có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh ở Hải Phòng Tuy nhiên, do nhiều điều kiện (chiến tranh, nền kinh tế bao cấp và chủ yếu phục vụ cho cuộc giải phóng dân tộc …), hoạt động kinh doanh của Công ty chỉ hạn chế ở một số nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, bảo hiểm tai nạn hành khách

Năm 1975, sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam đã dẫn đến việc thành lập một chi nhánh của Công ty Bảo hiểm Việt Nam tại Tp.HCM (năm 1976) Đồng thời, Công ty cũng bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm trên các tỉnh phía Nam

Năm 1980, Công ty chính thức có mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả nước

Năm 1989, Công ty Bảo hiểm Việt Nam được chuyển đổi thành Tổng Công

ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) có các chi nhánh tại các tỉnh thành trong cả nước Từ đây, Bảo Việt triển khai hàng loạt các chính sách cải tiến về hệ thống, tổ chức, con người, và liên tiếp đưa ra các dịch vụ bảo hiểm mới

Năm 1992, Bảo Việt thành lập Công ty đại lý tái bảo hiểm trực thuộc tại Anh Quốc với tên là BAVINA (UK) LTD

Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, với mục đích tạo điều kiện phát triển ngành bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung, vào ngày 18/12/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP qui định mới về hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt và cho phép nhiều doanh nghiệp gồm nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài) ra đời và phát triển như: VINARE, Bảo Minh, Bảo Long, PJICO, PVIC …

Năm 1996 được xem là năm đánh dấu những thay đổi lớn trong tổ chức và

Trang 38

phủ, Bộ Tài chính đã ra quyết định thành lập lại Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam, tiếp đó, ngày 8/10/1996, Chính phủ có quyết định công nhận Bảo Việt là một trong 25 doanh nghiệp Nhà nước (là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất) được xếp hạng doanh nghiệp đặc biệt và đồng thời tổ chức giao vốn Không chỉ thay đổi về cơ cấu tổ chức, bắt đầu từ ngày 1/8/1996, được phép của Bộ Tài Chính, Bảo Việt đã bước đầu triển khai loại hình BHNT và là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam được phép kinh doanh cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ

Từ số vốn ban đầu được giao khi thành lập lại Tổng công ty là 776 tỷ đồng,

cho đến nay tổng tài sản của Bảo Việt đã lên tới 2 200 tỷ đồng - nhiều gấp hơn hai

lần tổng số vốn của tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm khác ở Việt Nam cộng lại, số quỹ dự phòng bảo hiểm trên 1600 tỷ đồng- gấp hơn ba lần tổng số quỹ dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm khác tại Việt Nam, với số nhân viên khoảng 3000 người, chiếm 70% tổng số lao động toàn ngành Những con số này thể hiện sự thành công và vị thế của Bảo Việt Bảo Việt luôn là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường với thị phần toàn quốc từ 63 – 67% Với vị thế đó, Bảo Việt còn đóng vai trò tư vấn đắc lực cho Chính phủ, Bộ Tài Chính về những vấn đề và chính sách có liên quan đến ngành bảo hiểm nói riêng và tài chính nói chung

Bảo Việt hiện nay hoạt động trên 4 lĩnh vực chính: kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ, đầu tư tài chính và kinh doanh chứng khoán

Về cơ cấu tổ chức, Bảo Việt có các thành viên trực thuộc được chỉ đạo tập

trung thống nhất toàn ngành gồm:

(hạch toán kinh tế phụ thuộc);

(hạch toán kinh tế phụ thuộc);

(hạch toán kinh tế độc lập);

9 01 Trung tâm đào tạo (đơn vị hành chánh sự nghiệp) Năm 1998, được Bộ Tài

Trang 39

Và hệ thống dịch vụ gồm 300 phòng bảo hiểm khu vực đặt tại các Quận, Huyện cùng hệ thống đại lý và cộng tác viên rộng khắp trên toàn quốc gần 10 000 người

Hoạt động đầu tư: Trong những năm qua, Bảo Việt thực hiện tập trung vốn

từ quỹ bảo hiểm để đầu tư, góp vốn vào các dự án của Nhà nước, tạo đầu ra cho kinh doanh bảo hiểm Từ 1993, hoạt động đầu tư của Bảo Việt đã có những biện pháp cải tiến nhằm đảm bảo lựa chọn được các dự án đầu tư thích hợp, an toàn cho nguồn vốn và đem lại hiệu quả kinh tế cao Các hình thức đầu tư chủ yếu mà Bảo Việt đang thực hiện là: mua công trái, mua tín phiếu kho bạc, gửi tại ngân hàng, kinh doanh bất động sản Ngoài ra, Bảo Việt còn tham gia góp vốn vào các công ty liên doanh, cổ phần trong cả nước, tuy nhiên tỷ lệ góp vốn vào các đơn vị này còn khiêm tốn, chủ yếu là tham gia vào các công ty bảo hiểm

Bảng 7: Các Công ty Bảo Việt tham gia góp vốn

ST

T

GÓP

5 Công ty cổ phần khách sạn du lịch Sài Gòn – Hạ Long (Saha

(Nguồn: Trang web Bảo Việt)

Việc Bảo Việt thành lập Công ty CP chứng khoán Bảo Việt (ngày 26/11/1999), một trong hai công ty chứng khoán đầu tiên của Việt Nam đã được Chính phủ cấp giấy phép kinh doanh, và tham gia vào quá trình hình thành thị

Trang 40

trường chứng khoán Việt Nam đã cho phép mở rộng hoạt động đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh được dự báo là có nhiều triển vọng phát triển

Do hoạt động đầu tư của Bảo Việt chỉ mới bắt đầu được đẩy mạnh từ năm

1993 và bị hạn chế bởi còn thiếu kinh nghiệm, nhất là do hệ thống pháp lý và môi trường đầu tư nước ta chưa hoàn chỉnh và cả tình hình bất ổn của thị trường thời gian qua do tác động của khủng hoảng tài chính- tiền tệ đã phần nào gây khó khăn cho Bảo Việt trong việc lực chọn danh mục đầu tư có lãi suất cao và ổn

định Tuy nhiên trong những năm gần đây (từ 1996 Ỉ nay), hoạt động này đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, lãi thu đươc gần 100 tỷ đồng/ năm, trong đó, chủ yếu là thu từ các danh mục đầu tư tiền gửi có kỳ hạn và trái phiếu chính phủ, chiếm khoảng 90% tổng thu lãi

Biểu đồ 1: THU NHẬ P ĐẦ U TƯ CỦ A BẢ O VIỆ T QUA CÁ C NĂ M

81

98 87

Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo hoạt động qua các năm của Bảo Việt)

Về quan hệ quốc tế, Bảo Việt có quan hệ bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới

bảo hiểm, đại lý giám định, đại lý xét bồi thường với trên 100 công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm trên toàn thế giới; Trong đó có hầu hết các Công ty danh tiếng như Lloyd’s, CGU, Sedwick, Heath R/I Brockers, TRB (Anh); AIG, CIGNA (Mỹ), AXA, GAN (Pháp); TOKYO Marine, Chiyoda (Nhật); Munich RE (Đức); Swiss

RE, Zurich (Thụy Sĩ); Asia Ins (Singapore); A&A (Đài Loan)… Có quan hệ quốc

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w