1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam

63 299 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 854,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể nói chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm, chủ trương và biện pháp của nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ - tín dụng, ngân hàng và ngoại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN VĨNH THỤY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1- KHÁI NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1

2- MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2

3- NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 4

3.1- Chính sách cung ứng và điều hòa tiền tệ 4

3.2- Chính sách tín dụng 6

3.3- Chính sách ngoại hối 7

4- NHỮNG CÔNG CỤ ĐỂ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 8

4.1- Dự trữ bắt buộc 8

4.3- Tỷ giá hối đoái 10

4.5- Nghiệp vụ thị trường mở 13

4.6- Các công cụ khác 14

5- MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 15

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 20

1- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHNN VIỆT NAM 20

1.1- Khái quát sự ra đời của ngân hàng trung ương 20

1.2- Sự ra đời của ngân hàng nhà nước Việt Nam 21

1.3- Chức năng của ngân hàng trung ương 22

2- THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

TRONG THỜI GIAN QUA 23

Trang 3

2.2- Tỷ giá hối đoái 30

2.3- Dự trữ bắt buộc 35

2.4 Nghiệp vụ thị trường mở 37

3- ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

TRONG THỜI GIAN QUA 40

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1- MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TRONG ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 43

2- NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 43

3- ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 44

3.2- Nghiệp vụ thị trường mở 45

3.3- Tỷ giá hối đoái 47

3.5- Dự trữ bắt buộc 54

KẾT LUẬN 56

Trang 4

MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài

Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, phát triển và tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Trong khi nền kinh tế phát triển thấp, tích lũy từ nội bộ không nhiều, cá nguồn lực của nền kinh tế chưa có điều kiện để khai thác thì việc hỗ trợ của dòng vốn từ bên ngoài là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng đối với việc tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên để có thể thu hút dòng vốn từ bên ngoài này đòi hỏi chúng ta phải thực thị hàng loạt các chính sách kinh tế có liên quan, nhằm tạo môi trường cho dòng vốn được lưu chuyển dưới tác động của cung cầu tiền tệ trên thị trường

Bởi vì tiền tệ là vấn đề hết sức nhạy cảm, việc thực thi chính sách tiền tệ không những tác động đến tình trạng của nền kinh tế quốc gia mà còn ảnh hưởng đến các nước khác do xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới Mặt khác việc thực thi chính sách tiền tệ rất đa dạng, phần lớn tùy vào quan điểm nhận định của các nhà lãnh đạo, tuy nhiên cho dù thế nào thì những gì đúc kết từ thực tiễn điều hành chính sách vẫn là cơ sở quan trọng nhất cho việc định hướng, hoàn thiện về sau Trên tinh thần đó, đề tài “Sử dụng các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nuớc Việt Nam hiện nay” xin đóng góp một phần nhỏ vào việc phản ánh lại thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của nước ta trong thời gian qua và hiện nay

2- Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Như đã đề cập ở trên, đề tài đi sâu vào việc phản ánh thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời trên cơ sở đó cũng đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại trước mắt

Trang 5

nhằm bảo đảm các mục tiêu của chính sách tiền tệ Tuy nhiên do đề tài quá rộng lớn, đề tài vẫn chưa thể nghiên cứu một cách sâu sắc, mà chỉ

3- Phương pháp nghiên cứu

Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp, nội suy…

4- Kết cấu đề tài

Nội dung của đề tài được chia làm 3 chương :

- Chương 1 : Lý luận về chính sách tiền tệ

- Chương 2 : Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ

- Chương 3 : Định hướng hoàn thiện các công cụ chính sách tiền tệ

Trang 6

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1- KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Như ta đã biết, tiền tệ là kết quả tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, đóng vai trò là vật ngang giá chung để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác Chính vì tiền tệ biểu hiện giá trị của hàng hóa, mà kể từ khi tiền tệ ra đời sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa được phân ra thành 2 cực : một bên là khối lượng hàng hóa được sản xuất ra, một bên là khối lượng tiền tệ phản ánh giá trị của khối lượng hàng hóa đó

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các chế độ tiền tệ, chế độ tiền giấy ra đời (đặc biệt là khi chế độ bản vị vàng không còn nữa) lúc đó khối lượng tiền phản ánh giá trị các hàng hóa không còn là ý muốn khách quan nữa, mà nó phụ thuộc vào các nhà cầm quyền cung ứng tiền vào lưu thông là bao nhiêu, nhằm thực hiện

ý đồ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Những quyết định về cung ứng tiền, điều tiết lượng tiền trong lưu thông được thể hiện trong các chính sách quản lý kinh tế của các nhà nước và đó chính là chính sách tiền tệ Như vậy có thể nói chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm, chủ trương và biện pháp của nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ - tín dụng, ngân hàng và ngoại hối, tạo ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy kinh tế phát triển

Theo điều 2 của luật ngân hàng nhà nước Việt Nam thì :”Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân” Với chính sách này

“Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động của ngân hàng, động viên các nguồn lực trong nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế Trên cơ sở đó giữ vững định hướng XHCN, giữ vững chủ quyền

Trang 7

quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Theo điều 3 của luật ngân hàng nhà nước Việt Nam : Quốc hội quyết định việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, chính phủ thực hiện việc xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia trình Quốc hội phê duyệt, đồng thời tổ chức việc thực hiện chính sách tiền tệ thông qua các cơ quan chức năng

Ngân hàng nhà nước là cơ quan chức năng của chính phủ, giúp chính phủ soạn thảo để đề ra chính sách tiền tệ quốc gia trình quốc hội và là người trực tiếp điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia là cơ quan của chính phủ giúp tư vấn cho chính phủ trong các chính sách tiền tệ

Mục đích của chính sách tiền tệ là nhằm điều tiết lượng tiền trong lưu thông, sự điều tiết này thể hiện qua 2 hướng :

*/ Hướng chính sách mở rộng tiền tệ : chính sách này nhằm làm tăng khối

lượng tiền của nền kinh tế và vì thế sẽ làm tăng tiêu dùng, mở rộng đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện vực dậy nền kinh tế đang bị suy thoái, tạo công ăn việc làm, giải quyết các vấn đề về xã hội

*/ Hướng chính sách thắt chặt tiền tệ : chính sách này nhằm hạn chế cung

tiền cho nền kinh tế nhằm ngăn chặn lạm phát

Tóm lại : việc điều tiết lượng cung tiền như thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn là vấn đề nan giải của mỗi quốc gia, thiếu hày thừa tiền luôn có tác động tiêu cực của nó Tuy nhiên, trong thực tế điều hành chính sách tiền tệ tùy vào từng thời kỳ phát triển kinh tế, tùy vào hoàn cảnh cụ thể của kinh tế xã hội mà sử dụng chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ Đây cũng là vấn đề mang tính nhạy cảm của các nhà điều hành chính sách tiền tệ

2- MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

2.1- Chính sách tiền tệ phải hướng vào ổn định giá cả, ổn định giá trị đồng tiền

Trang 8

Như ta đã biết giá cả của hàng hóa thể hiện sức mua của đồng tiền quốc gia, chính vì vậy ổn định giá cả cũng chính là cơ sở bền vững để ổn định sức mua của đồng tiền

Một nền kinh tế với giá cả ổn định, lạm phát thấp sẽ làm cho mức tăng thu nhập của người dân thực tế sẽ dương, đời sống người lao động sẽ tốt hơn, đồng thời chi phí sử dụng vốn vay cũng thấp hơn sẽ kích thích đầu tư Bên cạnh đó là uy tín của chính phủ sẽ tăng lên, nhân dân sẽ tin tưởng vào đường lối, chính sách của nhà nước và đây là cơ sở để giữ vững ổn định xã hội Ngược lại, khi giá cả có tỷ lệ lạm phát cao, phần tăng thu nhập không tăng kịp với phần tăng giá sẽ làm cho đời sống người lao động thêm khó khăn, nạn đầu cơ phát sinh, khoảng cách giàu nghèo càng lớn dần và nhân dân sẽ mất niềm tin vào chính phủ Như vậy thực chất của mục tiêu này là kiểm soát được lạm phát làm cơ sở để bảo vệ giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền, đây là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ

2.2- Chính sách tiền tệ phải tạo nền tảng tài chính ổn định

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững cần phải có một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể hoạt động có hiệu quả Nền tảng tài chính ổn định được hiểu là bằng chính sách tiền tệ ngân hàng trung ương phải ổn định hoạt động của hệ thống tài chính trong nước một cách gián tiếp, bao gồm cả thu thập thông tin, hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính theo hướng quản lý các hoạt động của nó phù hợp với các mục tiêu của nền kinh tế Bởi vì bản thân hệ thống tài chính cũng có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi những mục tiêu này lại trái ngược với những mục tiêu chung của nền kinh tế Vì vậy mục tiêu của chính sách tiền tệ là phải hướng đến giải quyết hài hòa giữa các mục tiêu để phục vụ cho lợi ích chung mà không làm hạn chế khả năng phát triển của hệ thống tài chính

2.3- Chính sách tiền tệ phải hướng đến bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng

Trang 9

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu trong chính sách kinh tế của bất kỳ quốc gia nào Vì vậy đây là mục tiêu cơ bản và tất yếu của chính sách tiền tệ Muốn tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải mở rộng đầu tư, mở rộng tiềm năng sản xuất Do đó chính sách tiền tệ cần phải nhằm vào việc khuyến khích, động viên các nguồn lực trong và ngoài nước một cách có hiệu quả nhất, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế

3- NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

3.1- Chính sách cung ứng và điều hòa tiền tệ

Đây là chính sách nhằm duy trì một sự cân đối giữa tổng cung và tổng cầu về tiền tệ trong nền kinh tế Từ đó tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô như : giá cả, tổng cầu, lãi suất, thu nhập, sản lượng… Chính vì vậy mà khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền cũng có nghĩa là bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế Ảnh hưởng của cung ứng tiền đến nền kinh tế thể hiện qua hai chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc mở rộng tiền tệ

Chính sách mở rộng tiền tệ làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn với chi phí thấp, người tiêu dùng và nhà sản xuất không mấy khó khăn để có tiền Điều này kích thích họ tiêu dùng cho cuộc sống và tiêu dùng cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng trong tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất được mở rộng, sản xuất được mở rộng sẽ thu hút nhân công nhiều hơn, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân, nền kinh tế sẽ tăng trưởng Tuy nhiên áp lực của chính sách này là lạm phát có xu hướng tăng Ngược lại, chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho chi phí để có tiền trở nên cao hơn và tiền tệ trở nên khan hiếm hơn, người tiêu dùng và nhà sản xuất phải giảm tiêu dùng và đầu tư Tiêu dùng giảm kéo theo tổng cầu giảm và giá cả hạ, tổng cầu giảm làm cho sản xuất bị thu hẹp lại, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái

Để thấy rõ mức cung tiền tệ tác động đến điều tiết vĩ mô ta hãy xét biểu đồ sau (biểu đồ 1) :

Trang 10

- Giả sử ban đầu đường cung tiền là SM0 tương ứng với nhu cầu tiền trong nền kinh tế là DM Thị trường tiền tệ cân bằng tại điểm E0 có lãi suất R0 và mức cung tiền là M0 Với mức lãi suất và lượng cung tiền này, cân bằng cung - cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế là tại E’

0 tương ứng với chi phí biên của tiền là MC0 và sản lượng của nền kinh tế sản xuất ra là Y0

Với chính sách thắt chặt tiền tệ, ngân hàng trung ương sẽ thu hẹp cung tiền từ SM0 đến SM1, với mức cung tiền mới này lãi suất sẽ tăng từ R0 lên R1 do lượng tiền bị giảm từ M0 xuống M1 Tiền tệ khan hiếm với lãi suất cao trên thị trường tiền tệ đã làm cho chi phí biên của tiền trên thị trường hàng hóa tăng từ MC0 lên MC1

(tức chi phí để tạo ra một đơn vị sản lượng tăng) Do chi phí biên của tiền tăng, tiêu dùng và sản xuất đều thiếu vốn đã làm cho cung cầu về hàng hóa và dịch vụ giảm từ Y0 xuống Y1

(Biểu đồ 1 : tác động của mức cung tiền tệ)

Trang 11

- Giả sử sau một thời gian áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát, với đà sụt giảm về tiêu dùng và đầu tư đã buộc ngân hàng trung ương chuyển từ chính sách thắt chặt tiền tệ sang chính sách mở rộng tiền tệ Tổng cung tiền sẽ tăng từ SM1 lên SM2, cân bằng tiền tệ được xác lập với lãi suất R2 tương ứng với mức cung tiền mới là M2 Lãi suất hạ do lượng tiền cung ứng tăng lên đã làm cho chi phí biên của tiền giảm từ MC1 xuống MC2 đã kích thích tiêu dùng và đầu tư, thất nghiệp giảm, sản lượng quốc gia tăng từ Y1 lên Y2

*/ Thành phần của mức cung tiền :

Cơ cấu của lượng cung tiền trong nền kinh tế bao gồm :

n Tiền giao dịch : đây chính là khối lượng tiền dùng trực tiếp làm phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, bao gồm :

- Tiền mặt đang lưu hành : tức tiền trong tay nhân dân, tiền trong các đơn vị, tổ chức đoàn thể hoặc tiền mặt trong các quỹ nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng

- Tiền gửi không kỳ hạn

o Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn

p Các loại tiền gửi khác và các khoản khác coi như tiền ví dụ như : tiền ký quỹ, hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngắn hạn

*/ Cầu về tiền tệ : Cầu về tiền tệ không trực tiếp quyết định mức cung tiền tệ, bởi vì mức cung tiền tệ nhiều hay ít phụ thuộc vào quyết định của ngân hàng trung ương Cầu tiền tệ chỉ tác động gián tiếp đến cung tiền tệ tông qua các biến động về giá cả, lãi suất trên thị trường

Cầu tiền tệ được xác định :

Mc =

v

pq Mc : khối lượng tiền cần thiết

p.q : tổng giá cả hàng hóa và d/v

v : tốc độ lưu thông của tiền hay vòng quay của tiền

Trang 12

Để xác định nhu cầu tiền tệ thực tế, dựa vào tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát :

Nhu cầu tiền tệ = tiền cung ứng hiện có * (1 + %∆GDP + %∆P)

Ví dụ : %∆GDP = 8%, %∆P = 10% thì :

Nhu cầu tiền tệ = tổng tiền hiện có *1,18

3.2- Chính sách tín dụng

3.2.1- Tín dụng đối với nền kinh tế :

Đây là chính sách nhằm tạo cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển của nền sản xuất Ngân hàng trung ương sẽ tạo ra một sân chơi cho các ngân hàng thương mại hoạt động, cung cấp tín dụng qua con đường tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại Trong trường hợp này ngân hàng trung ương đóng vai trò như là người cho vay cuối cùng Tuy nhiên, cũng thông qua đó mà ngân hàng trung ương sẽ kiểm soát được các khoản tín dụng cả về chất lượng lẫn số lượng Như vậy tùy vào tình hình phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà ngân hàng trung ương sẽ có chính sách cung ứng tín dụng khác nhau tương ứng với việc thắt chặt hay mở rộng cung tiền

3.2.2- Tín dụng đối với ngân sách nhà nước :

Trong quá trình thực hiện vai trò và chức năng của mình, ngoài việc chi tiêu cho bộ máy hoạt động nhà nước còn chi cho phát triển cơ sở hạ tâ2ng, các dịch vụ công cộng, xây dựng các công trình trọng điểm tạo động lực cho phát triển kinh tế Việc cải thiện thâm hụt ngân sách có thể thực hiện thông qua vay nợ dưới hình thức phát hành trái phiếu, công trái, ngoài ra có thể vay ngân hàng trung ương hoặc vay nợ nước ngoài, các tổ chức thế giới Tuy nhiên, nếu vay ngân hàng trung ương hay nước ngoài nhiều sẽ làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế tăng lên sẽ dễ tạo nguy cơ lạm phát Nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là tạm ứng cho ngân sách nhà nước, thực hiện việc mua bán, chiết khấu trái phiếu, công trái của chính phủ

Trang 13

3.3- Chính sách ngoại hối

Chính sách này nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia Việc thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái có thể theo các cơ chế sau :

*/ Cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi :

Theo cơ chế này chính phủ hoàn toàn không can thiệp đến thay đổi của tỷ giá hối đoái, tỷ giá hối đoái biến động theo quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường Tuy nhiên cơ chế này chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro cho các nhà đầu tư do sự thay đổi liên tục của tỷ giá hối đoái, đặc biệt là nạn đầu cơ tiền tệ và vì thế có thể gây phương hại đến nền tài chính quốc gia

*/ Cơ chế tỷ giá cố định :

Đây là cơ chế ngược với cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, chính phủ sẽ ấn định một mức tỷ giá nào đó và sẽ duy trì mức đó bất chấp quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường là như thế nào, và để có thể duy trì mức tỷ giá này chính phủ phải dùng đến dự trữ ngoại tệ : nếu cầu ngoại tệ ở mức tỷ giá hiện hành cao hơn cung trên thị trường thì chính phủ sẽ rút bớt ngoại tệ của mình đưa ra bán để bù cho phần chênh lệch này, ngược lại chính phủ sẽ mua vào Mặc dù tỷ giá hối đoái ổn định sẽ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, tuy nhiên nếu dự trữ ngoại tệ không đủ mạnh thì áp lực đưa đến việc phá giá đồng tiền là không thể tránh khỏi

*/ Cơ chế tỷ giá thả nổi có sự quản lý của nhà nước :

Đây là cơ chế nhằm khắc phục những nhược điểm của 2 cơ chế trên, một mặt về dài hạn tỷ giá hối đoái phải được xác định trên cơ sở của quan hệ cung cầu về ngoại tệ, tuy nhiên trong ngắn hạn để bảo đảm một cơ chế tỷ giá ổn định, ít biến động nhà nước cần dùng dự trữ để can thiệp vào Hầu hết các nước hiện nay đều theo cơ chế này

Trang 14

4- NHỮNG CÔNG CỤ ĐỂ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Tùy vào từng thời kỳ và điều kiện cụ thể của nền kinh tế mà ngân hàng trung ương sẽ thực thi chính sách tiền tệ tương ứng Những công cụ để điều hành chính sách tiền tệ này bao gồm :

4.1- Dự trữ bắt buộc

Khái niệm dự trữ bắt buộc xuất phát từ chỗ ngân hàng luôn luôn cần phải có những khoản dự trữ tiền mặt tối thiểu cho những đợt rút tiền bất ngờ của công chúng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ % tính trên số tiền mà ngân hàng huy động được, phải lưu lại tại quỹ tiền mặt hoặc ký gửi tại ngân hàng trung ương Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định nhằm bảo đảm khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại, bên cạnh đó thông qua quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thắt chặt lượng cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng hay cung ứng tiền cho nền kinh tế nói chung Ví dụ bằng cách hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lượng tiền có thể cho vay của các ngân hàng sẽ tăng lên Việc điều hành công cụ dự trữ bắt buộc thường đi kèm với công cụ lãi suất thì mới phát huy được tính hiệu quả, chẳng hạn như khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm, khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại tăng, nhưng nếu lãi suất cho vay không giảm thì việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng không phát huy tác dụng được Để có cơ sở quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương phải căn cứ vào tình hình cụ thể của nền kinh tế, khối lượng tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại và từng loại ngân hàng

4.2- Lãi suất

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa khoản tiền người đi vay phải trả cho người cho vay trên tiền vốn trong những khoảng thời gian nhất định, thường là 1 tháng, 1 năm Chính vì vậy mà lãi suất luôn gắn liền với phạm trù tín dụng, thể hiện quan hệ vay mượn của người đi vay và người cho vay

Trang 15

Lãi suất được hình thành trên cơ sở cung cầu tín dụng trên thị trường, bao gồm :

- Tiết kiệm và nhu cầu tiêu dùng của dân cư

- Tiết kiệm và nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất của doanh nghiệp

- Tình trạng ngân sách quốc gia

Về mặt chủ thể, lãi suất bao gồm lãi suất cho vay và lãi suất huy động Đây chính là lãi suất danh nghĩa hay lãi suất giao dịch giữa người cho vay và người đi vay Tuy nhiên, do nền kinh tế luôn chứa đựng yếu tố lạm phát mà lãi suất thực người cho vay nhận được phải loại trừ yếu tố này :

Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát

Mặc dù lãi suất được hình thành do tác động của cung cầu tín dụng, tuy nhiên đây không phải là tác động một chiều mà ngược lại, lãi suất tăng hay giảm sẽ tác động trở lại đến cung cầu tín dụng trên thị trường, điều này biểu hiện ở chỗ làm thay đổi hành vi của người đi vay và người cho vay như : tiết kiệm, tích lũy hay tiêu dùng, đầu tư và như đã nói ở trên sự thay đổi trong tiết kiệm, tích lũy và tiêu dùng, đầu tư đã tác động đến việc hình thành lãi suất

Cung - cầu tín dụng Tiết kiệm, tích lũy, tiêu dùng, đầu tư

Lãi suất

Lãi suất được xem là công cụ tiền tệ chủ yếu nhất nhằm thay đổi trong cung ứng tiền thông qua tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng và đầu tư, từ đó tác động đến các biến số của kinh tế vĩ mô

- Để có thể phát huy được tính hiệu quả của công cụ lãi suất, trong khi vận dụng cần phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định sau :

Trang 16

) Lãi suất thực dương và không thể cao hơn lợi nhuận bình quân của nền kinh tế

) Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân

) Lãi suất dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn

Mặc dù lãi suất được xác định thông qua cung cầu tín dụng trên thị trường, tuy nhiên để phục vụ cho chính sách tài chính tiền tệ quốc gia thì lãi suất luôn bị can thiệp bởi ngân hàng trung ương thông qua việc ấn định khung lãi suất tối thiểu và tối đa, hoặc ấn định lãi suất lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các mức lãi suất khác, hoặc chỉ điều tiết cung cầu tín dụng bằng lãi suất tái cấp vốn còn các mức lãi suất khác sẽ do thị trường tiền tệ quyết định

4.3- Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được tính theo một đồng tiền khác Đây là cơ sở giá trị để hàng hóa lưu thông từ quốc gia này sang quốc gia khác Tức thông qua tỷ giá hối đoái cho phép ta so sánh giá cả của các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trên các nước khác nhau

Cách biểu diễn tỷ giá hối đoái :

Đồng tiền yết giá = n Đồng tiền định giáSự thay đổi về tỷ giá hối đoái sẽ kéo theo sự thay đổi giá cả các hàng hóa xuất nhập khẩu, vì vậy nó có tác động kích thích xuất nhập khẩu và đến lượt nó hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tác động trở lại đến cung cầu ngoại tệ và từ đó làm thay đổi tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái Xuất nhập khẩu

Cung - cầu ngoại tệ

Trang 17

Mặc khác, trong ngắn hạn tỷ giá hối đoái bị ảnh hưởng của cung ứng tiền của ngân hàng trung ương Thông qua thay đổi cung ứng tiền, ngân hàng trung ương có thể làm tăng giá hay giảm giá của đồng tiền trong nước so với nước ngoài

Ví dụ như khi ngân hàng trung ương bán ngoại tệ ra để rút nội tệ về (tức thu hẹp cung tiền) sẽ làm tăng giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ đem bán hoặc tung tiền

ra để mua ngoại tệ vào (tức mở rộng cung tiền) sẽ làm cho đồng ngoại tệ mua vào tăng giá so với đồng nội tệ

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong điều tiết thương mại quốc tế và góp phần làm ổn định nền kinh tế Để có thể so sánh, đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa trong thương mại quốc tế và để loại trừ sự chênh lệch về lạm phát giữa các quốc gia thường người ta dùng tỷ giá hối đoái thực :

e =

p

E

p * e : Tỷ giá hối đoái thực

p*E : giá hàng nước ngoài tính theo nội tệ

p : giá hàng trong nước tính theo nội tệ

- Nếu tỷ giá hối đoái thực e = 1 ta có quy luật 1 giá, tức giá hàng trong nước ngang bằng với giá hàng ở nước ngoài

- Nếu e > 1 : giá hàng nước ngoài cao hơn trong nước, trường hợp này xuất khẩu hàng hóa sẽ có ưu thế hơn, tức sức cạnh tranh tăng

- Nếu e < 1 : giá hàng nước ngoài rẻ hơn trong nước, trường hợp này xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn, tức sức cạnh tranh giảm

Lý do dẫn đến sức cạnh tranh giảm :

Đối với những nước áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái cố định và thường là những nước đang phát triển, những nuớc này thường có mức lạm phát tương đối cao lúc đó p > p*E do đó e < 1 Như vậy lạm phát làm cho sức cạnh tranh giảm, ngoài

Trang 18

ra bất cứ lý do nào dẫn đến p > p*E cũng đều làm cho sức cạnh tranh giảm, chẳng hạn như thuế xuất nhập khẩu…

Chính vì vậy mà nhiều lúc tỷ giá hối đoái danh nghĩa tăng mà vẫn không kích thích xuất khẩu thì cần phải xem xét lại tỷ giá hối đoái thực có thật sự tạo được sức cạnh tranh hay chưa, chẳng hạn như trường hợp của Việt Nam

Để thiết lập lại sức cạnh tranh như cũ, tức để đưa e về giá trị cũ (giá trị mà quốc gia đó chấp nhận được, trường hợp lý tưởng e = 1) thì tỷ giá hối đoái danh nghĩa phải thay đổi sao cho :

E = ecũ *

'*

'

p

p p’ : giá hàng trong nước

P’* : giá hàng nước ngoài

4.4- Tái cấp vốn

Tái cấp vốn là việc ngân hàng trung ương cung cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại trên cơ sở các hồ sơ tín dụng hoặc các chứng từ có giá được ngân hàng thương mại chiết khấu trước đây

Xuất phát từ chỗ có quá nhiều khách hàng hoặc nhu cầu vay của khách hàng quá lớn, vì vậy ngân hàng thương mại phải cầu cứu vay lại ngân hàng trung ương như là người cho vay cứu cánh cuối cùng, nhằm tăng cường nguồn vốn cho vay và bảo đảm tính thanh khoản cho các ngân hàng thương mại Nếu như cho vay và chiết khấu các chứng từ có giá là nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại thì tái cấp vốn được xem là nghiệp vụ cho vay và chiết khấu của ngân hàng trung ương, ở đây chỉ khác nhau về mặt chủ thể Như vậy thông qua tái cấp vốn ngân hàng trung ương đã cung ứng một lượng tiền cho nền kinh tế

Trong thực thi chính sách tiền tệ ngân hàng trung ương sử dụng tái cấp vốn như là cái van để bơm tiền cho nền kinh tế Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất tái cấp vốn sẽ làm cho các ngân hàng thương mại không thể vay của ngân hàng trung ương nhiều như trước, do vậy các ngân hàng thương mại phải tự mình giảm bớt cho vay để bảo đảm dự trữ để lại; ngược lại khi ngân hàng trung ương quyết

Trang 19

định giảm lãi suất tái cấp vốn sẽ khuyến khích các ngân hàng thương mại vay nhiều hơn, làm tăng khả năng cung ứng và dự trữ tiền của các ngân hàng thương mại, từ đó kích thích các ngân hàng thương mại cho vay nhiều hơn Mặt khác, việc thay đổi lãi suất tái cấp vốn sẽ tác động đến việc thay đổi lãi suất vay và cho vay của các ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến tiêu dùng, đầu tư và tác động đến sự phát triển nền kinh tế

4.5- Nghiệp vụ thị trường mở

Thị trường mở là nơi mà ngân hàng trung ương mua bán các chứng khoán Khi ngân hàng trung ương mua bán chứng khoán sẽ làm thay đổi lượng cung ứng tiền mặt trong lưu thông, từ đó tác động đến khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại Ví dụ như khi ngân hàng trung ương tiến hành bán chứng khoán thu tiền mặt về sẽ làm dự trữ của ngân hàng thương mại giảm, đồng thời nếu dân chúng mua chứng khoán của ngân hàng trung ương sẽ làm cho quỹ tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng của họ giảm đi, tức những khoản ký gửi tại ngân hàng thương mại giảm, hoặc làm khả năng huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại giảm Kết quả của việc bán chứng khoán này là cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt chặt Ngược lại khi ngân hàng trung ương mua chứng khoán về sẽ làm tăng khả năng cung cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại và đây là chính sách mở rộng tiền tệ của ngân hàng trung ương

Ưu điểm của nghiệp vụ thị trường mở :

- Nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt vừa chính xác, chủ động kiểm soát được khối lượng giao dịch, có thể sử dụng ở bất kỳ lúc nào, quy mô nào Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ dù nhỏ nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng khoán

- Dễ dàng dàng đảo ngược lại giao dịch nếu việc mua hoặc bán bị sai sót

Trang 20

- Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao, giao dịch trên thị trường mở hầu như không có rủi ro bởi vì cơ sở bảo đảm cho các giao dịch là là những giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao, không có rủi ro tài chính

- Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng, không vấp phải một sự chậm trễ của thủ tục hành chính

Như vậy với việc sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở ngân hàng trung ương có thể thực hiện chính sách mở rộng hay thắt chặt tiền tệ bất kỳ mức độ nào và bất kỳ lúc nào Tuy nhiên, tính hiệu quả của công cụ còn phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt mà điều này thường chỉ thấy ở các nước phát triển

4.6- Các công cụ khác

Ngoài các công cụ kể trên trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ ngân hàng trung ương còn có thể sử dụng một số công cụ khác như : kiểm soát tín dụng, ấn định hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại… Thông qua việc kiểm soát các khoản tín dụng của các ngân hàng thương mại đã làm thay đổi khối lượng cấp phát tín dụng, từ đó gián tiếp điều tiết cung tiền Ví dụ như khi lạm phát tăng, ngân hàng trung ương sẽ hạn chế các ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn hoặc cho vay tiêu dùng mà phải chuyển sang cho vay trung dài hạn, mà như chúng ta đã biết chỉ có cho vay ngắn hạn, cho vay tiêu dùng mới đưa nhanh khối lượng tiền vào lưu thông và lạm phát càng tăng cao; trong khi đó cho vay trung dài hạn thường lượng tiền được rút ra nhiều đợt vì thế làm thay đổi cung ứng tiền vào lưu thông Ngoài ra với việc ấn định hạn mức tín dụng cũng làm cho khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng thương mại bị hạn chế và vì thế sẽ làm hạn chế cung tiền

5- MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Tất cả các công cụ của chính sách tiền tệ đều có tác động đến mức cung tiền trong nền kinh tế, vì thế việc vận dụng các công cụ cần phải tiến hành một cách đồng bộ Trong số các công cụ của chính sách tiền tệ thì tái cấp vốn và lãi suất có

Trang 21

thể gộp chung thành nhóm lãi suất bởi nội dung và bản chất của chúng gần giống nhau, còn dự trữ bắt buộc chỉ có thể phát huy tác dụng khi kết hợp với lãi suất Chính vì vậy mà mối liên hệ giữa các công cụ của chính sách tiền tệ thể hiện ở mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở

*/ Quan hệ giữa lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở

Giữa lãi suất và thị trường mở vừa có tính loại trừ nhau, vừa có tính phụ thuộc nhau, tính phụ thuộc thể hiện ở chỗ : việc sử dụng công cụ thị trường mở sẽ tác động đến mức cung ứng tiền trong nền kinh tế, làm thay đổi quan hệ cung – cầu về tiền tệ và do đó tác động đến thay đổi lãi suất Tuy nhiên, giữa lãi suất và công cụ thị trường mở có tính loại trừ nhau bởi vì các chứng khoán hay giấy tờ có giá thường có một mức lãi suất nhất định, nếu lãi suất ngân hàng tăng cao hơn thì việc sử dụng công cụ thị trường mở sẽ không có hiệu quả và ngược lại chỉ có hiệu quả khi mức sinh lời của các chứng khoán lớn hơn mức lãi suất tiền gửi

*/ Quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái

Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đối và lãi suất được biểu thị ở sơ đồ sau :

Cung ngoại tệ (SFX) ≠ Cầu ngoại tệ (DFX) E

Md ≠ Ms i

∆R

Sự chênh lệch cung cầu về ngoại tệ dẫn tới tỷ giá hối đoái thay đổi, và để điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhà nước có thể sử dụng dự trữ để can thiệp vào bằng cách mua ngoại tệ nếu dư ngoại tệ hoặc bán ngoại tệ ra nếu thừa ngoại tệ Việc mua bán ngoại tệ này dẫn đến thay đổi về mức cung tiền trong nền kinh tế, làm chênh lệch cung cầu tiền nội tệ và vì thế lãi suất sẽ biến đổi theo

Trang 22

Để nghiên cứu tương quan giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái đối với dòng vốn luân chuyển, ta xét ví dụ sau :

i

i*

Tại thời điểm t1 : Lãi suất nước ngoài giả sử = i*

Lãi suất đồng VND = i Tỷ giá hối đoái = E1

Nếu bỏ 1 USD vào ngân hàng thì sau thời gian t2 sẽ được (1+i*) USD, còn nếu bỏ VND thì sẽ được (1+i)E1 VND Nếu quy đổi theo USD vào thời điểm t2 với tỷ giá hối đoái E2 thì được (1 )

2

1

i E

E

E E

i

− + +

Vì i*(

1

1 2

E

E

E − được xem là tỷ lệ mất giá dự kiến

của ngoại tệ

Ví dụ sau đây sẽ minh họa mối quan hệ trên :

Trang 23

Tỷ lệ mất giá dự kiến của USD so với

DM (

1

1 2

Trường hợp thứ 2 : chênh lệch về lãi suất cũng 4% nhưng lại bị bù trừ bằng tỷ lệ mất giá dự liến của đồng USD là 4% Như vậy cả hai khoản tiền gửi này đều có cùng tỷ suất lợi tức

Trường hợp 3 : chênh lệch về lãi suất cũng 4% nhưng lại bị bù trừ nhiều hơn

do USD dự kiến giảm giá 8%, như vậy các khoản tiền gửi bằng DM được những người tham gia trên thị trường ưa chuộng hơn

Trường hợp 4 : lãi suất đồng DM chênh lệch cao hơn đồng USD 2%, nhưng đồng USD dự kiến sẽ tăng giá 4% so với đồng DM Do đó tỷ suất lợi tức dự kiến đối với khoản tiền gửi bằng USD cao hơn 2% so với các khoản tiền gửi bằng DM

Từ phương trình : i = i* +

1

1 2

E

E

E − cho biết điều kiện ngang bằng lãi suất

đúng khi lãi suất trong nước bằng với lãi suất nước ngoài cộng với tỷ lệ tăng giá của đồng ngoại tệ Nói cách khác, khi thị trường tài chính hoạt động hiệu quả thì khoản khác biệt giữa các lãi suất phản ánh tỷ lệ thay đổi kỳ vọng của tỷ giá hối đoái

Trang 24

Mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất trong nước đối với những giá trị cho trước của lãi suất nước ngoài i* và tỷ giá hối đoái kỳ vọng E2

được biểu thị qua đồ thị sau :

Nếu lãi suất tăng từ i1 đến i2, tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ giảm từ E1 xuống

E2 Bây giờ cho trước lãi suất trong nước ở i2, một sự tăng lên của lãi suất nước ngoài từ i*

1 đến i*

2 sẽ dẫn đến một sự giảm giá của đồng nội tệ từ E2 xuống E3 Cách duy nhất đồng nội tệ có thể tránh mất giá khi đối mặt với lãi suất nước ngoài tăng là lãi suất trong nước phải tăng lên, trong trường hợp này i tăng từ i2 lên i3

Khủng hoảng tiền tệ như đã xảy ra ở các nước Đông Nam Á là kết quả tất yếu của một sự thay đổi đột ngột trong kỳ vọng của thị trường về giá trị dài hạn của tiền tệ Ví dụ như ở Thái Lan, những người tham gia vào thị trường mất lòng tin vào khả năng hay sự sẵn lòng của ngân hàng trung ương Thái trong việc giữ tỷ giá cố định ở mức 25 Baht = 1USD Theo như đồ thị trên, đường ngang bằng lãi suất đột ngột dịch chuyển sang phải lên trên và Thái Lan phải đối mặt với viễn cảnh chấp nhận đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng hoặc là một mức lãi suất cao hơn rất nhiều Thị trường đã dự đoán đúng là chính phủ Thái không chấp nhận sự tăng lên bắt buộc của lãi suất như vậy do những thiệt hại có thể gây ra cho cả khu vực tài chính cũng như hoạt động kinh tế, và thế là đồng Baht đã rớt giá từ 25Baht/USD xuống thấp đến mức 55Baht/1USD

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHNN VIỆT NAM

1.1- Khái quát sự ra đời của ngân hàng trung ương

Quá trình ra đời của ngân hàng trung ương trải qua 3 giai đoạn :

Giai đoạn 1 : Giai đoạn phát triển từ NHTM đến ngân hàng phát hành

Trong giai đoạn từ thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 17, ở các nước tư bản phát triển có nhiều ngân hàng thương mại Tuy nhiên trong số đó chỉ có những ngân hàng lớn hoạt động có uy tín, kỳ phiếu của những ngân hàng này phát hành ra có uy tín và lưu thông rộng rãi hơn so với các ngân hàng khác Do đó những ngân hàng này về sau đã trở thành những ngân hàng phát hành, còn các ngân hàng thương mại có quy mô vừa và nhỏ lúc đầu cũng được phát hành kỳ phiếu nhưng uy tín và phạm vi lưu thông bị thu hẹp, dần dần các ngân hàng này không còn phát hành kỳ phiếu nữa

Giai đoạn 2 : Giai đoạn phát triển từ ngân hàng phát hành sang ngân hàng

phát hành độc quyền

Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, trong một số nước có nhiều ngân hàng phát hành và chiếm lĩnh ở những vùng khác nhau trong nước, kỳ phiếu của những ngân hàng này phát hành ra cũng chỉ lưu thông trong phạm vi nhất định nào đó Trong số đó có những ngân hàng phát hành có quy mô lớn hơn, có uy tín rộng hơn thì đồng thời những ngân hàng này cũng được những sự ưu đãi của chính quyền nhà nước, và hầu như có sự xâm nhập lẫn nhau giữa các ngân hàng này với bộ máy nhà nước Trong điều kiện đó, một mặt để cho kỳ phiếu ngân hàng lưu thông rộng rãi hơn, mặt khác để chứng tỏ sức mạnh của chính quyền, các nhà nước tư bản đã công bố những quy định khắc khe nhằm chỉ cho phép một số ngân hàng được phép phát hành kỳ phiếu Đây là những ngân hàng phát hành độc quyền, còn những ngân

Trang 26

hàng phát hành trước đây bây giờ được nhà nước cho phép phát hành kỳ phiếu thì trở lại hoạt động theo các chức năng của một ngân hàng thương mại

Giai đoạn 3 : Giai đoạn từ ngân hàng phát hành độc quyền sang ngân hàng

trung ương

Giai đoạn này có sự can thiệp bằng pháp luật, nhà nước ra quyết định quốc hữu hóa các ngân hàng phát hành độc quyền, chuyển ngân hàng phát hành độc quyền thuộc sở hữu tư nhân thành ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước bằng cách mua lại các cổ phần của ngân hàng phát hành Từ đây ngân hàng trung ương đã ra đời

1.2- Sự ra đời của ngân hàng nhà nước Việt Nam

*/ Trước Cách mạng tháng tám năm 1945 :

Lúc bấy giờ là ngân hàng Đông Dương, đóng vai trò là ngân hàng trung ương đồng thời thực hiện các chức năng của một ngân hàng thương mại Đây là ngân hàng do chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương chi phối

*/ Sau cách mạng tháng tám đến nay :

Năm 1947 chính phủ ra sắc lệnh thành lập Nha tín dụng sản xuất và Cục ngân khố quốc gia với chủ trương xây dựng một nền tài chính tiền tệ độc lập

Đến 1951, theo sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước Việt Nam ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập trên cơ sở sát nhập 2 tổ chức trên Đến 1961 thì ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trong suốt thời gian từ năm 1951 đến năm 1988 ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa là ngân hàng trung ương giữ vai trò độc quyền phát hành tiền, đồng thời vừa thực hiện chức năng, nghiệp vụ của ngân hàng thương mại, còn gọi là hệ thống ngân hàng một cấp

Ngày 26/3/1988 theo nghị định 53/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã chính thức chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ hệ thống ngân hàng hai cấp Trong đó ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 27

chỉ thực hiện chức năng quản lý, còn các ngân hàng thương mại tồn tại dưới hình thức là các ngân hàng chuyên doanh hoạt động trong một lĩnh vực kinh tế hoặc một ngành nào đó

Năm 1990, hai pháp lệnh ngân hàng ra đời tạo khung khổ pháp lý quy định chức năng quản lý và kinh doanh của hệ thống ngân hàng hai cấp này Lúc này đã xuất hiện những ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Đến tháng 10/1998 thì hai pháp lệnh này được thay thế bằng hai văn bản luật : luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng nhằm tạo mội trường về mặt pháp lý cho ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại có thể hoạt động đúng chức năng

1.3- Chức năng của ngân hàng trung ương

1.3.1- Chức năng phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ

Đây là chức năng đặc thù cơ bản và quan trọng hàng đầu của ngân hàng trung ương, nó không những ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, tài chính của một nước mà có thể cả thế giới Việc phát hành tiền vào lưu thông cần tuân thủ những quy tắc nhất định :

*/ Tốc độ tăng của khối lượng tiền không được phép vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát

*/ Lượng tiền phát hành vào lưu thông phải theo những kênh nhất định để tránh lạm phát, bao gồm :

+/ Phát hành cho các ngân hàng thương mại vay, thông qua :

- Tái cấp vốn

- Cho vay thanh toán bù trừ

+/ Phát hành cho ngân sách nhà nước vay có đảm bảo bằng trái phiếu chính phủ

+/ Phát hành tiền để tăng dự trữ vàng và ngoại tệ

+/ Phát hành tiền thông qua thị trường mở

Trang 28

1.3.2- Chức năng ngân hàng của các ngân hàng

Ngân hàng trung ương là nơi tiếp nhận dự trữ tiền tệ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, mọi ngân hàng thương mại đều phải mở tài khoản tại ngân hàng trung ương Tiền gửi tại ngân hàng trung ương bao gồm dự trữ bắt buộc và tiền gửi để thanh toán bù trừ

Ngân hàng trung ương là nơi cung cấp vốn cho các tổ chức tín dụng thông qua hình thức tái cấp vốn, cho vay theo chỉ định

Ngân hàng trung ương là nơi trung tâm thanh toán giữa các ngân hàng thông qua hình thức thanh toán bù trừ, và là người hướng dẫn thực thi các quy trình nghiệp vụ để giúp các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo luật pháp và kinh doanh an toàn

1.3.3- Chức năng ngân hàng của nhà nước

Ngân hàng trung ương là người tham gia hoạch định chính sách tiền tệ quốc gia và thực thi chính sách đó,

Ngân hàng trung ương làm đại lý cho trái phiếu chính phủ, cho chính phủ vay vốn, và là người thay mặt nhà nước trong quan hệ thanh toán tín dụng quốc tế

- Thẩm định cấp giấy phép hoạt động cho các tổ chức tín dụng

- Kiểm soát tín dụng đối với các tổ chức tín dụng bằng công cụ dự trữ bắt buộc và hạn mức tín dụng…

- Ấn định khung lại suất tiền gửi và cho vay, lệ phí áp dụng trong các tổ chức tín dụng

- Kiểm tra, kiểm soát thường xuyên mọi mặt hoạt động của các tổ chức tín dụng

2- THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG THỜI GIAN QUA

2.1- Lãi suất

Thực trạng cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau :

*/ Giai đoạn từ 1986 - 1990 :

Trang 29

Đây là giai đoạn đầu của công cuộc cải cách kinh tế, chuyển dần từ cơ chế

kế hoạch, tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Và

mặc dù có nhiều cố gắng trong việc cải tổ hệ thống ngân hàng như tháng 3/1988 hệ

thống ngân hàng được chuyển thành ngân hàng 2 cấp : ngân hàng nhà nước chuyên

thực hiện chức năng quản lý và các ngân hàng thương mại tồn tại dưới hình thức

các ngân hàng chuyên doanh Tuy nhiên, trong điều kiện nền sản xuất còn quá

thấp kém và bối cảnh thế giới đang có những chuyển biến bất lợi cho hệ thống Xã

hội Chủ nghĩa Vì vậy mà chính sách lãi suất mang nặng biện pháp hành chính, chủ

quan, nhằm phục vụ cho mục tiêu cải tổ nền kinh tế của nhà nước

Điểm nổi bật của lãi suất trong thời kỳ này là lãi suất bao cấp tuyệt đối âm,

tức lãi suất cho vay bình quân thấp hơn lãi suất huy động bình quân và nhà nước

phải bù lỗ cho phần chênh lệch này Bên cạnh đó là lãi suất thực âm, mức lãi suất

còn thấp xa so với lạm phát được coi là phi mã trong thời kỳ này, đồng thời chính

sách lãi suất có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, ngành nghề kinh doanh

theo hướng ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước và các ngành được nhà nước quan

tâm

86 87 88 89 90

*/ Lãi suất tiền gửi (tháng)

+ TG không kỳ hạn

8

6 0,9

8

6 0,9

8

9 1,8

12

4,5 1,8

2,3 1,5 2,4

2,5 2,2 2,4

3,7 3,1 3,5

2,4 2,2 2,5

*/ Tỷ lệ lạm phát (năm) 776,9 223,1 393 34,7 66,3

Nguồn : “Tình hình kinh tế - XH Việt Nam thời kỳ 1986-1990 “ NXB Thống kê, Niên

giám thống kê năm 1989, 1990

Trang 30

*/ Giai đoạn từ 1991 - 1995 :

Kể từ khi 2 pháp lệnh ngân hàng ra đời (1990) đã tạo ra được khung pháp lý quy định các sản phẩm và nghiệp vụ mà các ngân hàng thương mại được phép thực hiện, lúc này đã xuất hiện những ngân hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau ngoài quốc doanh như : ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Chính sách lãi suất trong giai đoạn này không còn ấn định khung lãi suất như trước nữa mà đã tương đối linh hoạt hơn bằng việc quy định lãi suất tối đa và lãi suất tối thiểu Vì thế mà các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong việc điều chỉnh lãi suất phù hợp với thị trường Trong giai đoạn này việc ấn định lãi suất đã tính đến yếu tố lạm phát, tức lãi suất thực dương, lãi suất cho vay bình quân đã lớn hơn lãi suất huy động bình quân và đây chính là cơ sở để các ngân hàng thương mại tồn tại hoạt động

Chỉ số 1991 1992 1993 1994 1995

- Lãi suất tiền gửi bình quân tháng

- Lãi suất cho vay bình quân tháng

- Lạm phát

- Lãi suất danh nghĩa

- Lãi suất thực

2,9 3,5 67,6

42 -25,6

1,9 2,5 17,6 35,5 17,9

1,4 1,8 5,2 21,6 16,4

1,3 1,6 14,4 16,8 2,4

1,4 1,7 12,7 16,8 4,1

Nguồn : NHNN (Theo tạp chí TC T2/2000), niên giám thống kê năm 1989,1994,1996

Tuy nhiên, do thực hiện chính sách chống lạm phát nên lãi suất trong giai đoạn này vẫn rất cao đặc biệt là các năm 1991-1993 Nhờ đó mà lạm phát đã giảm xuống nhanh chóng, kết quả là lãi suất thực tăng lên, điều này khuyến khích lượng tiền gửi vào, và lần đầu tiên lạm phát được đẩy xuống mức thấp nhất một con số

Trang 31

(5,2%) Tuy nhiên, đây chỉ là nổ lực của chính sách đẩy lùi lạm phát chứ thật ra lạm phát vẫn chưa thật sự nằm trong tầm kiểm soát

Song song với những thành tựu đạt được của chính sách lãi suất như vậy đã bộc lộ những nhược điểm, đó là :

9 Vẫn còn bất hợp lý trong các mức lãi suất cho vay : lãi suất cho vay trung dài hạn thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, trong khi đó vay trung dài hạn thường có rủi ro cao hơn

9 Mức lãi suất quá cao đã hạn chế người kinh doanh vay vốn mở rộng đầu

tư, hoặc đã làm cho giá cả hàng hóa cao do chi phí sử dụng vốn cao và vì thế làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước

9 Có khoảng cách lớn giữa lãi suất bằng tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ vì vậy mà không thu hút được ngoại tệ gửi vào

9 Với việc quy định lãi suất sàn đã làm hạn chế tính cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bởi vì khi lãi suất thực còn ở mức cao thi ngân hàng thương mại có thể cạnh tranh bằng việc hạ lãi suất

Vì vậy có thể nói chính sách lãi suất trong giai đoạn này vẫn còn mang nặng biện pháp hành chính, chưa có quan hệ với cung cầu tín dụng trên thị trường

*/ Giai đoạn từ 1996 - 8/2000 :

Điểm nổi bật trong điều hành lãi suất trong giai đoạn này là thay thế cơ chế lãi suất tối đa và tối thiểu bằng cơ chế trần lãi suất Theo đó ngân hàng nhà nước công bố trần lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn để làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại căn cứ vào đó mà hình thành lãi suất huy động và cho vay cho riêng mình Tuy nhiên, chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân được khống chế ở mức 0,35%/tháng

Lãi suất trong giai đoạn này được điều chỉnh giảm dần do mức lạm phát giảm và lãi suất thực trước đó quá cao

Ngày đăng: 08/01/2018, 12:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w